LỜI
NGÕ
Kinh
Di Giáo là một trong những bản kinh căn bản mà người xuất
gia nào cũng phải học. Bắt đầu vào chùa là bắt đầu
bằng bản kinh này. Trong ý hướng đúc kết một số
tài liệu để chuẩn bị cho việc thiết lập chúng xuất gia
thường trú, Trung tâm Phật giáo Hayward xin phép in lại một
số kinh sách căn bản.
Lần
này, chúng con xin Hòa thượng Giáo thọ cho chúng con in lại
bản Kinh Di Giáo này. Cũng như mọi lần trước, chúng
con xin hướng về chư vị Tôn Đức bày tỏ lòng biết ơn
sâu xa đối với các công tác trước tác, dịch thuật của
quý Ngài.
Nội
dung của Kinh Di Giáo là những lời dạy của đức Thế Tôn
trước khi nhập diệt. Lời lẽ đã tha thiết, ý nghĩa
lại sâu xa và thực tế. Do đó, đọc bản kinh này ta
học được không những tấm lòng từ bi vô bờ của đức
Phật, mà trong đó ta còn rút tỉa ra những bài học quý giá
để thực tập. Nuôi dưỡng ý chí xuất gia là điều
rất quan trọng trên con đường tu học của mình.
Bằng vào sức sống trong lời kinh và tấm lòng thành khẩn
của người hậu học, cọng chung với sự thực tập, ắt
con đường tu của chúng ta sẽ thênh thang mở rộng!
In
lại lần này, chúng tôi bỏ bớt đi phần Hán tự. Cho
nên quý vị nào muốn tra cứu cho rõ ràng, thì xin xem bản
do Hoa Đạo in năm 1970.
Cũng
xin được phép nhắc lại ở đây là công tác ấn hành kinh
sách, các tài liệu học Phật do Trung tâm chủ trương vẫn
được tiến hành. Hiện nay đã có một vài bạn sinh
viên nhận lời giúp đỡ đánh máy và nhận thù lao tượng
trưng. Hy vọng rằng, có sự hợp tác của họ và chúng
ta đủ sức tài trợ thì mỗi năm có thể in được nhiều
cuốn hơn. Kính xin chư vị thiện hữu xa gần cùng góp
tay, góp sức trong công tác này. Mọi sự đóng góp của
quý vị, dù nhiều hay ít, chúng tôi cũng xin thành tâm cầu
nguyện chư vị Hộ pháp, Thiện thần gia hộ cho quý vị được
nhiều lợi lạc, an vui.
Sau
hết, xin thành kính dâng lời cầu nguyện lên ba ngôi Thường
trú: cầu nguyện chư vị xuất gia cầu đạo giải thoát luôn
được đầy đủ phước duyên để tiến tu đạo nghiệp,
cùng cầu nguyện mọi loài chúng sanh có duyên gặp Phật, nghe
Pháp và phát tâm tu hành, quyết vượt tham sân, đến bờ giác
ngạn.
Hayward ngày 12 tháng 3 năm 1994
Thích Từ Lực cẩn đề
LỜI
NÓI ĐẦU
I.
GIẢI THÍCH ĐỀ KINH
Phật
tiếng Phạn, nói tắt của chữ Phật đà (Bouddha) các sách
xưa còn gọi là Phù đồ, nhưng hiện nay danh từ Phù đồ
ít được thông dụng. Chữ Phật, Trung hoa dịch là Giác
giả, có nghĩa là sáng suốt hoàn toàn, tức là chỉ cho những
bậc Đại giác, Đại ngộ. Những bậc ngày biết rõ
tất cả sự lý trong vũ trụ một cách chân chính, cùng tột
và không còn một chút mê lầm, điên đảo, do đó còn được
gọi là Vô thượng Biến Chánh giác. Danh từ Vô thượng
Biến Chánh Giác cũng là để lựa khác với hàng Ngoại đại,
Tiểu thừa và Bồ Tát.
Hàng
Ngoại đạo có hiểu biết sự lý trong vũ trụ nhưng hiểu
biết một cách điên đảo mê lầm, để lựa khác với hàng
Ngoại đạo gọi là Chánh Giác.
Hàng
Nhị thừa có hiểu biết được sự lý trong vũ trụ, nhưng
hiểu biết một cách thiên lệch (chấp không), không được
cùng khắp, để lựa khác với hàng Nhị thừa gọi là Biến
Chánh Giác.
Hàng
Bồ Tát tuy có hiểu biết tất cả sự lý trong vũ trụ,
nhưng không cùng tột, để lựa khác với hàng Bồ Tát gọi
là Vô Thượng.
Những
bậc Vô Thượng Biến Chánh Giác này chẳng những tự mình
được Đại giác, Đại ngộ (tự giác) mà còn đem chỗ giác
ngộ của mình giác ngộ cho kẻ khác (giác tha); hơn nữa không
chỉ riêng giác ngộ cho mình và cho người thôi, lại còn khiến
cho tất cả chúng sanh đều đến chỗ vô thượng (giác hạnh
viên mãn). Giác ngộ như thế, mới được gọi là Phật
đà.
Phật
đà là một danh từ phổ thông chung chỉ cho đức Phật; riêng
ở kinh này là chỉ cho đức Thích Ca Mâu Ni.
Di
giáo là lời dặn dò, dạy bảo của đức Phật để lại
cho đệ tử. Thật ra những lời dạy bảo của đức
Phật để lại cho chúng ta có đến ba tạng Giáo điển: Kinh,
Luật và Luận. Nhưng bộ kinh này là lời giáo huấn cuối
cùng của đức Phật Thích ca Mâu ni khi sắp nhập Niết bàn
để lại cho hàng đệ tử Tỳ kheo làm quy tắc giữ gìn Phật
pháp, nên bộ kinh này đặc biệt gọi là Di Giáo.
Lời
di giáo này, chẳng khác nào lời di chúc của cha mẹ khi sắp
lâm chung để lại dặn dò, chỉ bảo con cái.
Kinh
là một danh từ phổ thông chung chỉ các thứ kinh, gồm có
ba nghĩa:
1.
Thường: Có nghĩa là giáo lý của đức Phật nói ra luôn
luôn đúng chân lý, không vì thời gian mà thay đổi, không
theo quốc độ mà sai khác. Nghĩa là đối trong ba thời:
quá khứ các Đức Phật đã nói thế nào thì hiện tại đức
Thích Ca cùng nói thế ấy, mà cho đến vị lại, các đức
Phật khác cũng nói đúng như thế.
2.
Khế (Hợp): Có nghĩa là hợp lý và hợp cơ. Nghĩa
là trên hợp với chân lý của chư Phật, dưới hợp với
mọi căn cơ, mọi trình độ của chúng sanh.
3.
Tuyến (Đường canh): Tức là đường dọc của tấm vải.
Tấm vải nhờ những đường dọc xâu kết, tổ hợp mà thành.
Cũng thế, bao nhiêu giáo lý của đức Phật vì đại chúng
diễn nói, về sau các vị đại đệ tử như ngài A Nan, Ưu
Ba Ly v.v... xâu kết, kiết tập lại mới thành.
Kinh
Phật Di Giáo còn gọi là Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược Thuyết
Giáo Giới. Thùy Bát Niết Bàn có nghĩa là: sắp đến
giờ vào Niết bàn. Lược Thuyết Giáo Giới có nghĩa
là: lược nói những lời dạy bảo cần yếu.
Giờ
phút sắp vào Niết Bàn, Đức Phật còn để lời dặn dò
cặn kẽ cho các đệ tử được ghi lại trong kinh này, nên
gọi là Kinh Phật Di Giáo hay Kinh Thùy Bát Niết Bàn Lược
Thuyết Giáo Giớị Danh từ tuy khác nhưng ý nghĩa vẫn
đồng. Tuy nhiên danh từ Kinh Phật Di Giáo gọn gàng, dễ
đọc nên được phổ thông hơn.
II.
LƯỢC SỬ DỊCH GIẢ
Bổn
kinh này do ngài Cưu Ma La Thập (Kumàrajiva) dịch ra văn Trung
hoa vào đời vua Diêu Tần. Ngài La Thập là người nước
Qui Từ, một tiểu quốc thuộc xứ Ấn độ thời bấy
giờ. Ngài theo mẹ xuất gia vào lúc bảy tuổi, châu du
khắp xứ Ấn độ, thông suốt các sách vở. Ngài rất
giỏi về kinh điển Đại thừa. Nhân vua nhà Tần là
Phù Kiên (năm thứ 19 tức là vào đầu thế kỷ thứ 5) đem
binh đi đánh nước Qui Từ và bắt ngài về. Sau ngài
vào Trường An, được vua tôn làm quốc sư và thỉnh ngài
ở Tây minh các và Tiêu diêu viện lo việc dịch kinh.
Ngài dịch được hơn 380 quyển.
Ngài
là vị Pháp sư thông cả ba tạng giáo điển. Sự nghiệp
dịch thuật của ngài ở Trung hoa, trừ ngài Huyền Trang ra
chưa có ai sánh kịp. Những thứ kinh do ngài dịch rất
được phổ thông như Pháp Hoa, Bát Nhã, Di Đà v.v...
Ngài
viên tịch tại Trường An vào đời vua Tần Hoàng Thỉ năm
thứ mười một.
PHẦN
TỰA
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni, trước hết chuyển pháp luân độ
anh em ông A Nhã Kiều Trần Như; cuối cùng thuyết pháp độ
ông Tu Bạt Đà La. Những người đủ duyên được độ
đều đã độ hết, ở trong rừng Ta La Song Thọ, Phật sắp
nhập Niết Bàn, khi ấy giữa đêm thanh vắng không một tiếng
động, ngài vì các đệ tử lược thuyết pháp yếu.
GIẢNG
NGHĨA
Chuyển
pháp luân: Lăn bánh xe pháp. Giáo pháp của đức Phật
gọi là Pháp Luân. Luân là chỉ cho xe báu của Chuyển
luân Thánh vương, gồm có hai nghĩa: đi khắp và dẹp trừ,
nghĩa là xe của vua Chuyển Luân đi khắp trong bốn châu thiên
hạ, dẹp trừ những bọn oán địch. Cũng thế, giáo
pháp của đức Phật đi khắp trong các cõi chúng sanh và dẹp
trừ bọn giặc phiền não, nên "Giáo pháp" dụ cho bánh xe;
còn "Chuyển" (lăn) là dụ cho việc nói giáo pháp. Nói
tóm, chuyển pháp luân là chuyển vận giáo pháp nơi tự tâm
mình vào tâm của kẻ khác y như chuyển bánh xe từ chỗ này
đến chỗ khác.
Niết
Bàn (Nirvana): Có chỗ gọi là nê hoàn, nê bạn hay Niết
bàn na, các nhà dịch có nhiều nghĩa khác nhau: Diệt, Diệt
độ, Diệt tịch, Bất sanh, Vô vi, An lạc, Giải thoát... Niết
bàn còn một tên khác là Ba Lị Nật Phược Nẫm (Parinirvàna)
dịch là Viên tịch, đầy đủ phước trí, hoàn toàn vắng
lặng sạch tất cả các thứ phiền não trần lao. Niết
bàn có bốn thứ khác nhau:
1.
Bản lai tự tánh thanh tịnh Niết bàn: Mặc dù chúng ta
bị khách trần phiền não mà tự tánh vẫn thường thanh tịnh,
rỗng rang như hư không, xa lìa các tướng phân biệt, bặt
sự nói năng, dứt đường suy nghĩ. Cái tánh ấy xưa
nay vẫn thường vắng lặng (Niết Bàn này thuộc về phàm
phu).
2.
Hữu dư y Niết bàn: Hàng Nhị thừa do đoạn hết được
phiền não chướng (sự ngăn ngại do phiền não gây ra) mà
hiển ra Chân như. Hữu dư y là còn nương nơi thân hữu
lậu. Nghĩa là đối với các phiền não đã đoạn hết
mà vẫn còn thân hữu lậu, mặc dù còn thân hữu lậu nhưng
các chướng phiền não đã vắng bặt.
3.
Vô dư ý Niết bàn: Hàng Nhị thừa đã đoạn được
phiền não chướng và cũng đã đoạn được báo thân hữu
lậu rồi. Nghĩa là chân như sau khi ra khỏi sanh tử mà
được hiển bày.
4.
Vô trụ xứ Niết bàn: Chân như do đoạn sở tri chướng
(sự ngăn ngại chơn trí do hiểu biết gây ra) mà được hiển
bày. Đây là Niết Bàn của chư Phật. Hàng Nhị
thừa vì chưa đoạn được sở tri chướng nên chẳng hiểu
được lẽ "sanh tử chẳng khác Niết Bàn". Do đó họ
còn chấp có sanh tử đáng chán, Niết Bàn đáng ưa; còn chư
Phật đã đoạn sở tri chướng được chân trí bồ đề,
nên không còn thấy sanh tử và Niết Bàn khác nhau. Nghĩa
là chư Phật đầy đủ trí huệ nên không ở trong sanh tử,
nhưng vì lòng đại bi, nên cũng không trụ Niết Bàn; không
sanh diệt mà thị nhập sanh diệt để hóa độ chúng sanh.
A Nhã
Kiều Trần Như (Ajnata Kaundinya): A Nhã là tên, dịch nghĩa
là Giải (hiểu biết), cũng dịch là Vô Tri (không có điều
nào là không biết). Trần Như là họ, dịch là Hỏa Khí.
Khi
Phật mới thành đạo, liền đi thẳng đến vườn Lộc Giả
nói pháp tứ đế độ năm anh em ông Kiều Trần Như, trong
số đó ông Kiều Trần Như hiểu được lý "Vô Tri Diệu Trí"
trước nhất nên được gọi là A Nhã.
Tu
Bạt Đà La (Subhadra): Dịch là Hảo Hiền, ông là người đệ
tử cuối cùng của Phật. Khi ông quy y Phật thì đã 120
tuổi rồi.
Nguyên
trước kia ông là người ngoại đạo, khi nghe Phật sắp nhập
Niết Bàn, ông hối hả đến chỗ Phật xin vào yết kiến
và cầu pháp. Ông xin gặp Phật hai ba phen nhưng ngài A
Nan sợ ông khuấy rầy Phật nên chẳng chịu cho ông vào.
Hai bên tranh chấp giằng co, Phật nghe thấy mới kêu cho vào
và nói pháp Bát Chánh Đạo cho ông nghe. Nghe xong, ông
Tu Bạt Đà La chứng được sơ quả.
ĐẠI
Ý
Đây
là lời dẫn khởi thuộc về phần Tựa của bộ kinh Di Giáo.
Đoạn nầy cũng có thể thay cho sáu món Thành Tựu. Sáu
món Thành Tựu là:
1.
Pháp sư thành tựu.
2.
Pháp môn thành tựu.
3.
Đệ tử thành tựu.
4.
Đại tổng tướng thành tựu.
5.
Nhân quả tự tướng thành tựu.
6.
Phân biệt tổng tướng thành tựu.
Đại
phàm đoạn mở đầu của các bộ kinh đều nói đến sáu
món thành tựu, nhưng riêng sáu món thành tựu của bộ kinh
Di Giáo nầy không đồng với các bộ kinh khác. Các bộ
kinh khác thường mở đầu bằng câu "Pháp này tôi, nghe, một
thuở nọ...". Kinh này thì không thế, câu mở đầu lại
là "Phật Thích Ca Mâu Ni ..."
Năm
chữ "Phật Thích Ca Mâu Ni" là nói Pháp sư thành tựu.
Thích Ca là họ của Phật. Trung hoa dịch là Năng Nhân,
có nghĩa là Tài năng và Đức hạnh. Nguyên nhân Phật
lấy họ Thích Ca là vì trong dòng dõi của ngài, ở các trào
vua trước, ra đời đều là những vị vua thông minh, nhân
từ nên về sau đổi ra họ Thích Ca, có ý ca ngợi tài trí
thông minh của dòng dõi.
Mâu
Ni là danh xưng của đức Phật. Trung hoa dịch là Tịch
Mặc. Trước kia đức Phật tên là Tất Đạt Đa (Siddhàratha)
chính âm là Tát Ba Kiệt Thích Tha Tất Đà (Savrãthásiddha),
nhưng về sau do sự tôn trọng, khen ngợi ngài, vì ngài ở
trong cảnh vắng lặng mà thành tựu được trí huệ phi thường,
không giờ khắc nào không ở trong đại định, nên gọi là
Mâu Ni.
Trong
câu "trước hết, chuyển Pháp luân độ anh em ông A Nhã Kiều
Trần Như; cuối cùng, thuyết pháp độ ông Tu Bạt Đà La"
gồm nói hai món thành tựu: Pháp môn thành tựu và Đệ tử
thành tựu.
Câu
"Những người đủ duyên được độ Phật đã độ hết"
là nói đến sự nghiệp của đức Phật ra đời và việc
đô sanh đã được viên mãn là Đại tổng tướng thành tựu.
Ta
La Song Thọ: Ta la nghĩa là kiên cố, là cây có bốn mặt.
Mỗi mặt: trên hai nhánh hiệp nhau, dưới hai gốc liền nhau,
có một khô một tươi, tiêu biểu cho Tứ đức phá trừ Bát
đão của phàm phu và Nhị thừa.
Câu
"Trong rừng cây Song thọ" là Nhân tự tướng. Câu "Sắp
vào Niết bàn" là Quả tự tướng. Rồi câu "Khi ấy giữa
đêm" là nói Tổng tự tướng, gồm chung là Nhân quả Tự
tướng thành tựu.
Câu
"Vì các đệ tử lược nói pháp yếu" là phân biệt Tổng
tướng thành tựụ "Các đệ tử" là tiêu biểu cho nhân
sai biệt; "Lược nói pháp yếu" là tiêu biểu cho pháp thế
gian và xuất thế gian sai biệt.
Mặc
dù đức Phật sắp nhập Niết Bàn, tự mình khổ não, vẫn
còn cố gắng vì chúng đệ tử chỉ dạy cặn kẽ những điều
cần thiết. Ấy là biểu lộ lòng từ bi vô hạn, chẳng
khác nào người cha đối với các con khi sắp lâm chung vậy.
PHẦN
CHÁNH TÔN
I.
PHÁP YẾU CHUNG
1.
Đối trị tà nghiệp
a.
Căn bản thanh tịnh
Tỳ
kheo các ông! Sau khi ta nhập diệt, phải tôn trọng quý
kính Ba là đề mộc xoa (giới luật), như đêm tối gặp ánh
sáng, như người nghèo gặp của báu. Phải biết pháp
nầy là Thầy của các ông, dù ta có trụ ở đời cũng không
khác pháp nầy vậỵ
b.
Phương tiện thanh tịnh
Người
trì giới chẳng được mua bán đổi chác, tạo ruộng cất
nhà, nuôi người mướn tớ, và chăn nuôi gia súc; tất
cả mọi sự trồng trọt và các thứ của báu đều phải
xa bỏ, như tránh hầm lửa; chẳng được đốn chặt cây cỏ,
đào xới đất đai, điều chế thuốc thang, coi tướng kiết
hung, trông xem tinh tú, tìm tòi suy thạnh, coi ngày đoán số
đều không nên làm. Phải tiết chế nơi thân, ăn uống
đúng giờ, nếp sống trong sạch. Không được tham dự
việc đời, đi sứ, thông tin; luyện bùa chú, nấu tiên dược,
giao hảo người quyền quý, thân hậu kẻ khinh mạn, đều
không nên làm. Phải tự giữ tâm chánh niệm mong cầu
giải thoát. Chẳng được che dấu tội lỗi, khoe bày
dị tướng dối gạt mọi người. Đối với bốn món
cúng dường phải biết lượng và biết đủ; được
vật cúng dường không nên chứa cất.
GIẢNG
NGHĨA
Ba
la đề mộc xoa (Patrimoksa): Dịch là Biệt giải thoát.
Nghĩa là người giữ được giới nào, phần nào thì sẽ giải
thoát được giới đó, phần đó. Cũng có nghĩa là người
giữ giới luật sẽ giải thoát được tội Thất chi ở thân
khẩu, và giản biệt được Định cộng giới và Đạo cộng
giới, gọi là Biệt giải thoát.
Khinh
mạn: Khinh lờn kiêu mạn
Dị
tướng: Hình tướng khác lạ. Mặc dù bên trong không
tu hành chơn chất, che giấu những điều bất chánh, nhưng
bên ngoài làm ra vẻ con người chân thật, ai nấy nhìn vào
phải lầm; hay làm các điều chú thuật mê hoặc chúng sanh.
ĐẠI
Ý
Đoạn
nầy Phật dạy các đệ tử phải giữ gìn giới luật, có
hai phần:
1.
Lấy giới luật làm căn bản và tôn trọng như bậc thầỵ
2.
Tránh xa những điều có thể làm suy kém việc trì giới.
GIẢI
THÍCH
Phàm
là đệ tử xuất gia mong cầu giải thoát phiền não đều
gọi là Tỳ kheo. Tỳ kheo có bốn nghĩa:
1.
Trừ cẩn: Ý khen ngợi Tỳ kheo là bậc Phước điền.
2.
Bố ma: Vì người xuất gia mong cầu giải thoát, tiêu diệt
tất cả vọng tưởng điên đảo, do đó bọn ma vương thấy
thì sanh lòng sợ sệt.
3.
Khất sĩ: Hàng Tỳ kheo thọ 250 giới, bỏ tất cả tài
sản chỉ còn một bình bát và ba tấm y, lấy việc khất thực
mà nuôi sống.
4.
Phá ác: Hàng Tỳ kheo đêm ngày chuyên tâm tu Giới, Định,
Huệ, để phá trừ ác nghiệp, làm các thiện nghiệp, nên
gọi là Phá ác.
Đức
Phật khi sắp nhập Niết Bàn, ngài dạy chúng đệ tử tỳ
kheo phải nên tôn trọng, gìn giữ ba la đề mộc xoa.
Ba la đề mộc xoa có nghĩa là Biệt giải thoát hay Xứ giải
thoát.
Sở
dĩ đức Phật dạy chúng đệ tử phải tôn trọng giới luật
là vì đức Phật đã nhờ nó mà tự mình được đại Niết
Bàn, nên đức Phật muốn cho chúng Tỳ kheo đối với những
hành chỉ có chỗ nào chưa quyết, thì trực tiếp hỏi Phật,
chứ để khi Phật nhập Niết bàn rồi thì không còn biết
hỏi ai.
Vì
thế khi chế định giới luật, đối với chúng Tỳ kheo, ngài
dạy rằng: "Sau khi ta nhập Niết Bàn các ông phải tôn trọng
giới luật và y đó hành trì sẽ được giải thoát.
Tôn trọng giới luật, chính là tôn trọng ta, ta còn ở đời
lãnh đạo các ông, sau khi ta nhập Niết Bàn, người lãnh đạo
các ông chính là giới luật. Có giới luật thì chẳng
khác nào đi trong đêm tối gặp được ngọn đèn sáng, quyết
không bao giờ bị lạc đường. Các ông đã có giới
luật phải nên vui mừng như được của báu. Phải biết
rằng: Giới luật là vị Đạo sư sau này của các ông,
cũng như ta còn ở đời không khác vậỵ
Đoạn
thứ hai nói đến các Phương tiện trì giới, có xa lìa chúng,
giới thể mới được thanh tịnh. Đoạn văn nầy gồm
có ba phần:
- Từ
câu "Người trì giới...đến đào xới đất đai" là Phật
răn dạy hàng Tỳ kheo không được lo việc sanh sản sự nghiệp
như người thế tục để gây thêm tội lỗi, có mười một
việc:
1. Không được mua bán.
2. Không được mua sắm.
3. Không được đổi chác.
4. Không được mua ruộng tậu nhà.
5. Không được nuôi chứa nhân dân.
6. Không được nuôi chứa tôi tớ.
7. Không được chăn nuôi súc vật.
8. Không được trồng trọt mọi thứ.
9. Không được chứa cất của báu.
10. Phải xa nơi thị tứ.
11. Không được đốn chặt cây cỏ, đào xới đất đai.
Mười
một điều này đều khiến cho Tỳ kheo có thể tăng trưởng
tội lỗi, tiêu mất công đức, nên người xuất gia tất chẳng
nên làm.
-
Từ câu "Điều chế thuốc thang... đến coi ngày đoán số"
là Phật dạy hàng Tỳ kheo chẳng nên đồng với ngoại đạo
làm các thứ kỹ thuật không đáng để súc tích của cải
mà thương tổn đến trí huệ. Có năm việc như sau:
1. Không được điều chế thuốc thang.
2. Không được coi tướng kiết hung.
3. Không được trông xem tinh tú.
4. Không được tìm tòi suy thạnh.
5. Không được coi ngày, đoán số.
Năm
việc này là của hàng ngoại đạo đều có thể làm ngăn
ngại chánh niệm.
-
Từ câu "Phải tiết chế nơi thân... đến vật cúng dường
không nên chứa cất" là Phật dạy hàng Tỳ kheo phải gắng
sức giữ gìn Tịnh giới chẳng được lo việc kinh doanh, sanh
sản sự nghiệp như kẻ phàm phu thế tục, mà phải khất
thực nuôi sống để cho chủng tử thiện căn được dẫn
sanh. Chẳng vậy, các công đức lành không sao phát khởi
được.
Phải
biết, giới là nguyên lưu của công đức lành, là nơi an trụ
yên ổn nhất. Vì thế, hàng Tỳ kheo phải tôn trọng
giới pháp, tiết chế nơi thân chẳng để buông lung, tiết
chế việc ăn uống cho khỏi no chán; không tham dự việc
đời để tránh điều phiền phức; tôn trọng tự tánh, cột
lấy tâm mình, giữ gìn chánh niệm, chẳng nên che dấu tội
lỗi làm ô uế Tịnh giới, chứa chất tâm nhơ; đối với
bốn món cúng dường phải tự biết lượng, và được sự
cúng dường không nên cất giữ vì nó sẽ làm mờ ám trí
tuệ.
Tóm
lại, đoạn văn nầy nói: "Trước phải xa lìa công việc của
phàm phu thế tục, sau là xa lìa các tà thuật, giữ mình trong
Tịnh giới để cầu chứng Pháp thân thanh tịnh của Như lai".
c.
Công đức trì giới
Đây
là lược nói về tướng trì giới. Giới là căn bản
chính, thuận dòng giải thoát, nên gọi là Ba la đề mộc xoa;
nhân y nơi giới này mà được sanh các thứ thiền định và
trí tuệ diệt khổ.
d.
Lợi ích của giới
Thế
nên Tỳ kheo phải giữ Tịnh giới, chớ khiến hư kém.
Nếu người nào hay giữ gìn Tịnh giới thì người ấy có
được Thiện pháp, nếu không giữ Tịnh giới, các công đức
lành đều không sanh được. Do đây phải biết giới
là chỗ ở công đức an ổn nhất.
GIẢNG
NGHĨA
Giải
Thoát: Tiếng phạn gọi là Mộc đề (Muti) hay Mộc xoa (Moksa).
Nghĩa là lìa sự ràng buộc mà được tự tại, tức là giải
được sự trói buộc của nghiệp, thoát khỏi khổ quả Tam
giới. Giải thoát còn là biệt danh của Niết Bàn vì
Thể của Niết Bàn lìa tất cả sự trói buộc; lại
cũng là biệt danh của Thiền định, như: Tam Giải thoát và
Bát Giải thoát.
Thiền
định: Thiền là thiền na (dhyàna), dịch là Tư duy tu,
cũng gọi là Tịnh lự. Tư duy tu nghĩa là tư duy cảnh
sở đối mà nghiên tập. Tịnh lự nghĩa là Tâm thể
vắng lặng mà hay nghiệm xét. Định là dịch chữ Tam
muội của Phạn ngữ, có nghĩa là Tâm định, chỉ ở một
cảnh mà xa lìa mọi sự tán động. Nghĩa là Tâm khảo
sát nơi vật là Thiền, đối với một cảnh tịnh niệm là
Định. Vì thế sanh từ Định thì rộng, chỉ cho tất
cả việc dứt Tưởng ngưng Tâm; danh từ Thiền thì hẹp, chỉ
là một phần của Định. Bởi vì sự suy nghĩ xét nét
của Thiền na tự nó có nghĩa "định chỉ tịch tịnh", nên
được gọi là Định, còn Tam muội không có nghĩa suy nghĩ
xét nét, nên được gọi là Thiền. Hiệp chung cả Tổng
và Biệt gọi là Thiền định.
Trí
huệ: Tiếng Phạn gọi là Nhã na (jnàna); Trung hoa dịch
là Trí; hay Bát Nhã (Prajna); Trung hoa dịch là Huệ. Quyết
đoán là Trí, giản trạch là Huệ; lại biết được Tục
đế là Trí, rõ lý Chơn đế là Huệ.
Trong
đại thừa nghĩa chương quyển chín nói: "Thấy rõ gọi
là Trí, hiểu rõ gọi là Huệ, hai Pháp đều riêng khác:
Biết Tục đế là Trí, hiểu Đệ nhất nghĩa đế là Huệ,
hiệp chung lại thì nghĩa đồng".
Trong
Pháp hoa sớ quyển hai nói: "Huệ thì quán Không, còn Trí
thì quán Hữu".
Công
đức: Công là công năng của Phước lợi, công năng nầy
là đức của Thiện hạnh, nên gọi là Công đức. Lại
Đức có nghĩa là Được, do tu Công mà có được những sở
đắc, gọi là Công đức. Theo sự giải thích của ngài
Thiên Thai trong kinh Nhân Vương thì: “Thí cho người là
Công, qui về mình là Đức.”
ĐẠI
Ý
Bài
này đức Phật dạy: Hàng Tỳ kheo phải cố gắng giữ gìn
Tịnh giới không cho yếu kém để gieo trồng công đức và
sẽ được nhiều lợi ích.
GIẢI
THÍCH
Đoạn
thứ nhất nói: Giới có công năng tăng trưởng công đức
thiện căn, vì thế Giới chính là căn bản thuận dòng giải
thoát. Nếu Tỳ kheo có thể trì giới sanh Định thì giải
thoát được khổ phiền não. Ấy là do Giới sanh Định,
nhơn Định phát Huệ. Do đó biết rằng Chân Trí Huệ
không thể xa lìa Giới Định mà sanh ra được.
Đoạn
thứ hai nói về sự lợi ích của Giới để khuyên tu Giới.
Nghĩa là Tỳ kheo phải nên trụ trong Tịnh giới, chớ để
cho Giới Thể bị thương tổn và Giới Tướng bị yếu kém.
Ấy là Phật khuyên Tỳ kheo không nên xa lìa Giới Hạnh.
Mặc
dầu có Thiện pháp mà không trì giới thì Thiện pháp sẽ
lần lần tan mất. Vì thế Tỳ kheo phải an trụ trong
Tịnh giới, tinh tấn siêng tu.
2.
Đối trị khổ vọng
a.
Khổ do Căn và Dục buông lung
Khổ
do Căn buông lung.
Tỳ
kheo các ông! Đã có thể an trụ trong giới rồi, phải
kềm chế ngũ căn chớ để buông lung vào trong ngũ dục.
Thí như người chăn trâu, cầm roi nhìn nó, chẳng cho tuông
rông phạm nhằm lúa mạ người.
Nếu
thả lỏng ngũ căn, chẳng những chạy theo ngũ dục không bờ
mé, không thể kềm chế được, mà còn gây hại rất nặng,
cũng như ngựa chứng, chẳng dùng dây cương chế ngự chính
nó sẽ đưa người ta vào hầm hố. Giả sử như bị
giặc cướp, khổ chỉ một đời, còn họa ương của giặc
ngũ căn phải đền nhiều kiếp, không thể không cẩn thận!
Thế
nên người trí chế phục ngũ căn mà không theo, giữ chúng
như giặc chẳng thể buông lung; dẫu cho chúng có buông
lung, chẳng bao lâu cũng phải làm cho chúng đều tiêu diệt.
GIẢNG
NGHĨA
Ngũ
căn: Nhãn căn, Nhĩ căn, Tỷ căn, Thiệt căn và Thân căn.
Căn có nghĩa là Sanh trưởng và Tăng thượng. Căn của
cây cỏ có sức tăng thượng sanh ra nhánh lá; căn của Mắt
có sức mạnh phát sanh ra Nhãn thức. Căn có hai thứ:
Phù trần căn và Thắng nghĩa căn.
Ngũ
dục: Ngũ dục là năm thứ khiến cho người ta sanh tâm
ham muốn. Năm thứ Dục ấy là: Sắc, Thanh, Hương, Vị
và Xúc. Năm thứ nầy làm ô nhiễm chân lý, nên cũng
gọi là Ngũ trần. Theo trong kinh Hoa nghiêm sớ sao quyển
27, Ngũ dục còn chỉ cho: Tài dục, Sắc dục, Ẩm thực dục,
Danh dục và Thùy miên dục.
Chế
ngự: Ngăn ngừa, bắt phải theo.
ĐẠI
Ý
Bài
này đức Phật dạy hàng Tỳ kheo phải giữ gìn ngũ căn
chớ cho chạy theo trần cảnh.
GIẢI
THÍCH
Ngũ
căn còn được gọi là Ngũ quan. Phật dạy hàng xuất
gia phải giữ Căn môn của mình, đừng để cho chúng chạy
theo Trần cảnh. Nếu để chúng chạy theo trần cảnh
thì sẽ gây ra không biết bao nhiêu sự tai hại, thống khổ,
như: tà dâm, vọng ngữ v.v... cũng do đó mà phát sanh.
Vì
thế, hàng Tỳ kheo cần nhất phải giữ gìn năm căn.
Nghĩa là: Tai đừng nghe tiếng tà. Mắt đừng nhìn ngó
điều bất chánh. Mũi đừng nên ham thích những mùi thơm.
Miệng đừng để cho thèm khát vị ngon. Thân chẳng nên
ăn mặc xa hoa. Có như vậy, sau mới chuyên tâm tu niệm
được. Bằng không, năm căn sẽ tha hồ chạy theo năm
trần, để rồi dẫn sanh ra các thứ phiền não: tham,
sân, si ...
Vì
thế, hàng Tỳ kheo phải cột giữ căn môn chớ để chúng
buông lung mà gây ra các khổ. Cũng như người giữ trâu
cầm roi đứng nhìn, chẳng để cho nó xâm phạm lúa mạ của
người mà phải bị chủ nhơn bắt thường làm khổ.
Bị
trâu làm hại lúa mà khổ, khổ ấy vẫn còn nhẹ, chứ buông
thả ngũ căn chẳng những ngũ dục thêm nhiều không kềm chế
được mà nó còn làm mất luôn cả pháp thân, huệ mạng,
vĩnh kiếp trầm luân trong biển sanh tử, không biết chừng
nào ra khỏi. Bị con ngựa chứng làm hại rớt xuống
hầm sâu, khổ chỉ một đời, còn bị ngũ căn làm hại, tai
họa có thể muôn kiếp và lan tràn cho cả thế giới chúng
sanh!
Khổ
do dục buông lung.
Năm
căn này tâm là chủ tể, thế nên các ông phải khéo chế
phục tâm mình. Tâm rất đáng sợ còn hơn là độc xà,
ác thú, giặc cướp, lửa dữ. Ngoài những thứ dụ trên
chưa đủ lấy gì để so sánh. Thí như người ta bưng
chén mật, bước đi hốp tốp, chỉ nhìn chén mật mà không
thấy hầm sâu. Lại như voi điên không móc sắt, khỉ
vượn gặp được cây, nhảy nhót, ngồi chuyền, khó mà cấm
cản. Phải mau kiềm nó không cho dông ruổi. Nếu
buông thả tâm này sẽ làm mất việc lành của người; kiềm
nó một chỗ, thì không việc nào là không làm được.
Thế nên Tỳ kheo phải siêng năng tinh tấn chế phục tâm mình.
b.
Khổ về tham cầu ăn uống
Tỳ
kheo các ông! Thọ các thức ăn uống phải coi như uống
thuốc, dầu ngon dầu dở cũng chớ sanh tâm lựa chọn, cốt
để thân nầy trừ được đói khát. Như con ong hút mật,
chỉ hút vị hoa chẳng làm hại đến hương sắc. Tỳ
kheo cũng vậy, thọ người cúng dường cốt tự trừ khổ,
không được cầu nhiều, làm thương tổn thiện tâm của người.
Thí như kẻ trí, biết trù liệu sức trâu chở được bao
nhiêu chẳng cho quá nặng làm nó kiệt sức.
GIẢNG
NGHĨA
Chủ
tể: Đứng đâu coi sóc công việc. Người có quyền
lực tuyệt đối thống trị hết thảy.
Chế
phục: Kiềm giữ, bắt buộc phải phục tùng theo ý mình.
Tinh
tấn: Tinh thuần và tấn tới. Tâm mạnh dạn làm
các điều lành và đoạn các điều ác. Nghĩa là tinh
thuần không xen lộn các việc ác, tấn tới không giải đải
sụt lùi.
ĐẠI
Ý
Bài
này đức Phật lại khuyên các Tỳ kheo phải kiềm chế
tự tâm, và không nên mong cầu được nhiều sự thọ dụng,
có hai phần:
1.
Đối trị tâm ngũ dục.
2.
Đối trị tâm mong cầu được nhiều thức ăn uống.
GIẢI
THÍCH
Trong
bài này, đoạn thứ nhất, tiến lên một bước, đức Phật
khuyên hàng Tỳ kheo ngăn dứt Tâm buông lung, tức là phải
đối trị Tâm ngũ dục. Vì đối với ngũ căn, Tâm là
chủ tể, nên Tâm rất đáng sợ hơn ngũ căn. Tai hại
còn hơn là độc xà, ác thú. Ở đây Phật đưa ra hai
thí dụ:
Thí
dụ thứ nhất là: "Người bưng chén mật, chỉ vì mắc
lo nghĩ đến chén mật mà phải bị rớt xuống hầm sâu."
Chén mật là dụ cho tâm ngũ dục dắt dẫn con người.
Rớt xuống hầm sâu là dụ cho sự đọa lạc.
Thí
dụ thứ hai là: “Con voi điên không móc sắt, giống
khỉ vượn gặp được cây thì nhảy nhót, leo chuyền không
bao giờ ngừng nghỉ.”
Tâm
của chúng ta chạy theo ngũ dục cũng thế, nó sẽ gây ra không
biết bao nhiêu tai hại, chẳng khác nào như người chỉ lo
nhìn chén mật, hay con voi điên bị sút dây, giống khỉ vượn
được đại thọ.
Nếu
ai có thể giữ tâm mình, chuyên tu thiện pháp, thì không có
pháp nào là không thành tựu.
Cho
nên chúng ta nếu kiềm chế tâm mình trong giới luật, trong
việc bố thí hay trong việc tu trí huệ để khiến cho nó tập
trung lại một chỗ, không sanh ra vọng tưởng, điên đảo,
thì chẳng những phiền não, vô minh thảy đều tiêu dứt mà
còn làm được công đức cứu độ chúng sanh.
Vì
thế, người xuất gia cần nhất là phải ngăn ngừa tâm ngũ
dục bằng cách dùng giới luật tinh tấn tu hành các thiện
pháp để chế phục không cho nó chạy theo ngũ trần mà hại
các công đức.
Đoạn
thứ hai là đối trị cái khổ cầu được nhiều thức ăn
uống. Phàm là kẻ xuất gia đối với việc ăn uống
cần phải biết lượng và biết đủ, chớ có tham lam quá
nhiều, mà phải nên coi đó như là uống thuốc. Vì uống
thuốc cốt trị bệnh hoạn, ăn uống cốt trị bịnh đói.
Thế
nên, người xuất gia chẳng quản gì thức ăn ngon dở, chỉ
đủ no là được. Chẳng khác nào con ong lấy mật, chỉ
hút vị hoa mà không làm hại đến hương sắc. Cũng thế,
người xuất gia lãnh thọ sự cúng dường, không nên mong nhiều
mà sanh ra tham niệm, chỉ cần lành được bệnh đói mà thôi.
Do
đó, hàng Tỳ kheo dùng bát để thọ thức ăn, tùy theo lượng
lớn nhỏ vừa chừng. Người lớn thì dùng bát lớn,
người nhỏ thì dùng bát nhỏ. Thí như người trí biết
lượng sức trâu, không nên chở quá nặng mà làm cho hao tổn
sanh lực.
Cũng
thế, người xuất gia không nên thọ dụng quá nhiều mà làm
mất lòng tin và sức chịu đựng của đàn na tín thí.
c.
Khổ về biếng nhác và ngủ nghỉ
Tỳ
kheo các ông! Ngày thì chuyên tâm tu tập thiện pháp không
nên để mất thì giờ; đầu hôm và gần sáng cũng chớ có
bỏ bê; giữa đêm tụng kinh để tự tiêu tức, không vì nhân
duyên ngủ nghỉ khiến cho một đời luống qua, chẳng được
một sự gì!
Phải
nghĩ đến ngọn lửa vô thường thiêu đốt các thế gian mà
phải sớm cầu tự độ, chớ nên ngủ nghỉ. Các thứ
giặc phiền não thường rình rập giết người còn hơn là
oan gia, đâu nên ngủ nghỉ không tự thức tỉnh? Con rắn
độc phiền não ngủ ở trong tâm các ông, chẳng khác nào
con hắc nguyên đang ở trong thất các ông mà ngủ vậỵ
Các ông phải sớm dùng móc sắt trì giới đuổi trừ nó,
khi con rắn ngủ ra rồi, mới có thể yên giấc. Nếu
nó chưa ra mà các ông ham ngủ, ấy là người không biết hổ
thẹn. Áo mặc hổ thẹn, đối với các thứ trang sức,
rất là hơn hết. Hổ thẹn ví như móc sắt có thể ngăn
dứt được sự phi pháp của người. Thế nên Tỳ kheo
thường phải biết hổ thẹn, không được tạm bỏ.
Nếu xa lìa hổ thẹn thì mất các công đức.
Người
có hổ thẹn thì có thiện pháp, nếu người không biết hổ
thẹn cùng với những loài cầm thú không khác chút nào vậỵ
GIẢNG
NGHĨA
Tiêu
tức: Mòn dần là tiêu, thở ra là tức. Làm cho phiền
não tự nó tiêu mòn dần theo hơi thở.
Hắc
nguyên: Con rắn hổ mang, giống rắn cực độc cùng loại
với rắn mai gầm, dụ cho phiền não.
Hổ
thẹn: Hổ là hổ han. Thẹn là thẹn thùa. Khi
thua sút người về việc thiện, hay làm điều gì sái quấy
sanh lòng xấu xa, đối với người là hổ, đối với mình
là thẹn.
ĐẠI
Ý
Bài
này nói về những khổ do biếng nhác và ngủ nghỉ gây ra
và phương tiện đối trị.
GIẢI
THÍCH
Mục
đích chính của người xuất gia là mong cầu thoát ly sanh tử
để tự độ và độ người. Đó là công việc trọng
đại nhất và cần thiết nhất. Thế mà mạng sống của
con người như mây trôi, như bóng sổ thì công viêc cấp bách
lại càng cấp bách hơn. Chúng ta không thê chần chờ,
biếng nhác được!
Vì
thế, ở đây đức Phật dạy chúng ta đối với việc mong
cầu giải thoát phải chuyên cần tinh tấn, phải ngày đêm
gia công tu tập các pháp lành không nên giải đải; không
vì sự biếng nhác vì ngủ nghỉ để rồi một đời trôi
qua, rốt cuộc không được gì hết.
Để
đối trị chứng bệnh biếng nhác và ngủ nghỉ, đức Phật
dạy cho chúng ta ba phương pháp:
1.
Quán vô thường.
2.
Quán phiền não.
3.
Biết hổ thẹn.
-
Phải nghĩ đến ngọn lửa vô thường thiêu đốt các thế
gian mà chúng ta lại đang sống trong biển lửa ấy. Chúng
ta phải mau siêng năng tu tập các pháp lành để sớm cầu
tự độ.
-
Phải biết phiền não chẳng khác nào bọn giặc giết người,
đang rình rập chực giết hại chúng ta. Nó lại ở ngay
trong tâm chúng ta, chẳng khác nào con rắn độc đang nằm ngủ
trong nhà, nó có thể giết chết chúng ta bất cứ lúc nào.
Vậy chúng ta không nên biếng nhác, ham mê ngủ nghỉ, phải
siêng năng dùng thứ móc sắt Giới luật để đuổi trừ nó.
Chừng nào nó ra rồi, chúng ta mới có thể yên giấc được.
-
Thêm nữa, chúng ta phải luôn luôn biết hổ thẹn. Có
hổ thẹn, khi thấy điều tốt chẳng bằng người chúng ta
mới cố gắng. Có hổ thẹn, khi làm những điều dở,
chúng ta mới biết xấu hổ mà không dám làm.
Vì
thế, cổ đức có nói: "Hổ thẹn là mẹ sanh ra muôn
công đức lành".
3.
Đối trị phiền não
a.
Đối trị Giận dữ
Tỳ
kheo các ông! Giả như có người đến cắt đứt mỗi mỗi
thân phần, phải tự nhiếp tâm không để sân hận, và cũng
phải giữ gìn nơi miệng chớ thốt ra lời nói ác. Nếu
buông thả lòng sân thì tự ngăn chánh đạo, mất công đức.
Công đức của Nhẫn, trì giới, khổ hạnh không thể sánh
kịp. Người tu hạnh Nhẫn, mới gọi là người có sức
mạnh.
Nếu
ai không thể vui vẻ nhận lãnh những sự cay độc của lời
mắng ác như uống nước cam lồ, thì không thể gọi là người
Trí huệ nhập đạo. Vì sao? Vì hại của giận dữ
sẽ phá hoại các pháp lành và cả danh thơm tiếng tốt, đời
này và đời sau người không ưa thấy. Phải biết lòng
sân còn hơn là lửa dữ, thường phải đề phòng, không cho
nó xâm nhập. Giặc cướp công đức, không gì hơn giận
dữ.
Người
thế tục thọ hưởng dục lạc, chẳng phải là người hành
đạo, không biêt pháp ngăn ngừa giận dữ, còn có thể tha
thứ; người xuất gia học đạo không còn thọ hưởng dục
lạc mà vẫn còn ôm lòng giận dữ, càng không thể được!
Thí như trong lúc trời quang mây tạnh mà sấm chớp nỗi lên
là điều không thể có.
GIẢNG
NGHĨA
Nhẫn:
Tức là nhẫn nhục. Tiếng Phạn gọi là san đề (ksanti).
Nghĩa là nhận lãnh mọi sự khinh khi, nhục mạ, não hại mà
không giận tức.
Theo
trong kinh Duy Ma Cật thì Nhẫn nhục là Tịnh độ của Bồ
tát. Bồ tát khi thành Phật đủ 32 tướng tốt trang nghiêm
đều do tu hạnh Nhẫn nhục. Vì Nhẫn nhục sẽ làm cho
nhan sắc dịu hòa, dung mạo đoan chánh, do đó mà được quả
báo thân tướng tốt đẹp.
Nhẫn
nhục là một pháp trong sáu pháp Ba la mật của Bồ tát.
Khổ
hạnh (Dushara-carya hay Tapas): Làm cho thân thể chịu các
hạnh khổ cực không sao chịu được. Đây là chỉ cho
những hạnh nghiệp của ngoại đạo dạy bảo. Họ cho
khổ hạnh là đạo xuất ly giải thoát. Pháp khổ
hạnh, các nhà tư tưởng Ấn độ thường thực hành.
Đức Phật cũng đã từng sáu năm tu theo khổ hạnh.
ĐẠI
Ý
Đoạn
này đức Phật dạy: Muốn đối trị lòng sân phải tu pháp
Nhẫn nhục.
GIẢI
THÍCH
Muốn
cải thiện đời sống cần phải cải thiện tự tâm, tức
là xây dựng tâm lý; cũng như muốn có một cuộc cách mạng,
trước cần phải triệt để cải cách những thói xấu ở
nơi tự tâm của con người, khiến cho tự tâm được tốt
đẹp, mới mẽ, đó là xây dựng một tinh thần hoàn bị.
Sau đó, chúng ta mới có thể xây dựng một xã hội toàn thiện,
toàn mỹ được. Ấy chính là chế phục phiền não vậỵ
Hàng
Tỳ kheo xuất gia, phải coi Pháp thân huệ mạng là sanh mạng
thứ nhất, còn nhục thân, nhục thể là sanh mạng thứ hai.
Do đó, hàng Tỳ kheo cần phải duy trì sanh mạng thứ nhất
mới có thể đạt đến mục đích cứu cánh, đồng thời
cũng bảo tồn được ý nghĩa của sanh mạng thứ hai vậy.
Đức
Khổng tử và Mạnh tử có nói: "Sát thân thành nhân"
và "Xả thân thủ nghĩa". Nghĩa là: "Sát thân này
để thành điều nhân" và "Bỏ kiếp này để giữ lấy điều
nghĩa".
Người
quân tử trọng điều "nhân nghĩa" hơn là "sự sống", thì
người xuất gia học đạo cũng phải giữ Pháp thân, Huệ
mạng hơn là nhục thân, nhục thể của mình.
Do
đó, người tu hành muốn cầu Phật đạo, khi có người đến
cắt đứt mỗi mỗi thân phần, phải tự an tâm vào trong Phật
pháp, chớ để mặc cho lòng sân nổi dậy. Nếu để
một chút lòng sân nổi dậy là người ấy không có trí huệ,
bỏ mất Phật pháp mà làm theo việc điên đảo rồi!
Vì thế, người nhẫn nhục mới có thể gọi là người tu
hành có trí huệ.
Tuy
nhiên, nhẫn nhục ở đây hoàn toàn không đồng với lối
nhẫn nhục thông thường của người đời. Người đời
nhẫn nhục chỉ vì sợ kẻ cường bạo làm hại mà nhịn
nhục cho qua chuyện; còn Nhẫn nhục trong đạo Phật là
một phương pháp cảm hóa con người mà không phải dùng đến
bạo lực. Ấy mới gọi là bậc Đại Nhân đầy đủ
sức mạnh.
Nếu
người xuất gia thường nổi tâm sân hận thì các công đức
lành sẽ bi hư hoại, phải chịu trầm luân sanh tử. Do
đó, người xuất gia đối với tâm sân hận coi như lửa dữ.
Nó có thể đốt cháy cả rừng công đức (nhất sân chi hỏa
năng thiêu vạn khoảnh công đức chi lâm).
Người
thế tục, không biết Phật pháp, không chế phục được tâm
sân, vì thế khi gặp việc trái ý liền nổi giận, đó cũng
chỉ là thường tình có thể tha thứ được. Còn người
xuất gia đã bỏ ngũ dục rồi, phải y theo Phật pháp mà chế
phục tâm sân không cho nó phát khởi, nếu trái lại thì không
phải là người xuất gia mong cầu giải thoát.
b.
Đối trị Kiêu mạn
Tỳ
kheo các ông! Phải tự vò đầu, đã bỏ những đồ trang
sức tốt đẹp, mặc áo hoại sắc, mang bình bát để khất
thực tự sống, nếu còn khởi tâm kiêu mạn phải mau diệt
nó đi. Tăng trưởng lòng kiêu mạn, kẻ thế tục bạch
y còn không nên có huống gì người xuất gia nhập đạo; vì
mong cầu giải thoát nên tự hạm mình mà đi khất thực lại
còn kiêu mạn hay sao?
c.
Đối trị Dua nịnh
Tỳ
kheo các ông! Tâm Dua nịnh cùng với Đạo trái nhau.
Vì thế, phải nên chất trực tâm mình. Phải biết tâm
Dua nịnh chỉ là lừa đảo, người nhập đạo không nên có.
Do đây, các ông phải nên thẳng lòng, dùng chất trực làm
gốc.
GIẢNG
NGHĨA
Hoại
sắc: Tiếng Phạn gọi là ca sa (kasàpa), Trung hoa dịch
là hoại sắc. Vì muốn tránh năm sắc chánh là Xanh, Vàng,
Đỏ, Trắng và Đen, nên người ta dùng những màu đã phá
hư màu sắc chánh để nhuộm, gọi đó là hoại sắc.
Hoại
sắc có 3 thứ: Màu Xanh hoại sắc, màu Đen hoại sắc và màu
Mộc Lan hoại sắc (Mộc Lan: một thứ cây có hoa thơm (maguphia).
Hoa như hoa sen, có màu hồng, màu vàng và màu trắng. Người
ta còn gọi là Mộc Liên).
Khất
thực: Là một hạnh trong 12 hạnh đầu đà. Hàng
Tỳ kheo đi khất thực để nuôi thân, đó là chánh mạng thanh
tịnh. Nếu làm cá thứ nghề nghiệp mà nuôi sống ấy
là tà mạng.
Theo
trong kinh Thập Nhị Đầu Đà nói, thì Tỳ kheo có ba pháp:
1/ Ăn do người thỉnh, 2/ Ăn cùng chúng Tăng, và 3/ Ăn do thường
đi khất thực.
Hai
pháp trước là nhân duyên khỏi ra phiền não. Vì sao?
Vì ăn do người thỉnh, nếu được thỉnh thì tự cho mình
là người tốt, có đầy đủ phước đức, rồi sanh tâm kiêu
mạn tự tôn. Nếu không được thỉnh thì lại sanh tâm
giận ghét hoặc tự bỉ bạc lấy mình. Ấy là pháp tham
ái, làm ngăn trở Đạo niệm.
Còn
ăn cùng chúng Tăng, thì phải theo phép tắc của chúng tăng,
giúp đỡ, coi sóc mọi công việc của chúng Tăng. Do đó
tâm thường tán loạn bỏ bê việc tu niệm.
Vì
cả hai Pháp thực trên đều la nhân duyên sanh phiền não và
loạn Đạo tâm, nên phải theo pháp đi Khất thực.
Khất
thực còn được gọi là Đoàn Tùy hay là Bát Tùy. Tiếng
Phạn gọi là Phân Vệ (nhưng danh từ Phân Vệ có lẽ là dùng
lầm của danh từ Hán ngữ). Chính tiếng Phạn là Tân
Trà Ba Đa (Pindapàta). Tân Trà dịch là Đoàn; Ba Đa dịch
là Tùy có nghĩa là ăn tùy theo thứ lớp vật thực đựng
trong bình bát, còn chữ Đoàn (hay chữ Bát) có nghĩa là ăn
từng nắm, từng vắt. Do vì bên Ấn độ phần nhiều
vắt cơm sắp theo thứ lớp ở trong bình bát.
Phân
Vệ: Theo trong Luật Tăng Kỳ thì nghĩa là: những thức
ăn khất thực được, đem Phân phát cho Tăng ni để hộ Vệ
khiến họ tu hành. Lại còn có nghĩa là Phân thân của
đức Phật bảo hộ chúng sanh.
Kiêu
mạn: Kiêu căng và Ngã mạn. Tứ là tâm tự cao và
khinh người, một trong sáu thứ phiền não. Theo trong Câu
xá luận thì Mạn có bảy thứ:
1.
Mạn: Đối với người thấp kém hơn mình khinh khi cho
mình là hơn.
2.
Quá Mạn: Đối với người bằng mình, khinh khi cho mình
là hơn.
3.
Mạn Quá Mạn: Đối với người hơn mình, ngược lại
khinh khi cho mình là hơn.
4.
Ngã mạn: Đối với mình và vật sở hữu của mình mà
sanh tâm khinh thị mọi người.
5.
Tăng thượng mạn: Chưa chứng được thánh đạo mà tự cho
mình đã chứng.
6.
Ty mạn (Hạ liệt mạn): Đối với người hoàn toàn hơn
mình, tự thấy mình kém mà sanh tâm tự cao.
7.
Tà mạn: Làm những điều xấu khi được thành công,
rồi ỷ vào đó mà sanh tâm khinh người.
Bạch
y: Người tại gia, người thế tục. Vì người đời
thường mặc đồ trắng nên gọi là bạch ỵ
Chất
trực: Thành thật, thẳng thắn, không lừa dối.
ĐẠI
Ý
Bài
này Phật dạy: Chúng ta phải giữ gìn đức thành thật,
khiêm cung để gây cho mọi người một niềm tin và lòng tôn
kính đối với Tam bảo, ngõ hầu hoàn thành chí nguyện Tự
lợi, Lợi tha.
GIẢI
THÍCH
Tâm
kiêu mạn là một trong sáu phiền não, nếu chúng ta không dứt
trừ thì: một, không thâu phục được nhân tâm; hai, không
thành được Phật đạo. Không thâu phục được nhân
tâm tức nhiên không thể hóa độ được chúng sanh; không
thành được Phật đạo thì phí uổng chí xuất gia của mình.
Do
đó Phật dạy hàng Tỳ kheo phải diệt trừ tâm kiêu mạn.
Muốn diệt trừ tâm kiêu mạn phải tự nghĩ rằng: hàng Tỳ
kheo đã cạo tóc xuất gia, bỏ tất cả sự giàu sang, danh
lợi và đồ trang sức tốt đẹp, mặc áo hoại sắc, mang
bình khất thực, đã sống một cuộc đời như thế, sao còn
sanh tâm kiêu mạn? Nếu có khởi tâm kiêu mạn, phải
mau vò đầu để tự cảnh tỉnh.
Kiêu
là tự cho mình hơn người, khinh thị kẻ khác; còn Mạn là
tự ỷ thế lực lăng mạ mọi người. Thí như chúng
ta được sự ăn ngon mặc đẹp, nhà cao cửa rộng, tự nhiên
tâm kiêu căng, hống hách nổi lên.
Tâm
kiêu mạn, hàng tại gia thế tục còn không nên có, huống
gì là kẻ xuất gia học đạo!
Đức
Thích ca Mâu ni vốn là bậc vương tử, giàu sang, quyền quý,
Ngài có thể coi rẻ tất cả mọi người. Thế mà, Ngài
bỏ hết vương vị, diệt trừ tâm ngã mạn, tu hành khổ hạnh
không màng đến lợi danh, quyền thế, xem vàng bạc như ngói
gạch, coi vương vị như không hoa. Nhưng ở thời mạt
pháp, nguyên tử này, đệ tử của Ngài, thì ôi! phần
nhiều đi ngược lại!
Tâm
dua nịnh là tâm khi dối, không thật. Người dua nịnh
là kẻ tiểu nhơn, họ chỉ vì chút lợi danh quyền lực mà
phải vào lòn ra cúi, hùa theo kẻ khác để mong người ban
cho mình một vài ân huệ.
Trong
đây, đức Phật dạy hàng Tỳ kheo phải dứt trừ tâm dua
nịnh, sự thật là đức Phật dạy cả hai chúng tại gia và
xuất gia, chứ không riêng gì hàng Tỳ kheo mà thôi đâu.
Vậy
thì, dầu là giới nào, chúng ta cũng phải giữ cho lòng mình
được ngay thật. Trong kinh Duy Ma Cật, về phẩm Phật
Quốc có nói: Trực tâm thị Bồ tát tịnh độ (Tâm ngay
thật là cõi Tịnh độ của Bồ Tát), và phẩm Đồng Bồ
Tát cũng nói: Trực tâm tức thị đạo tràng (Tâm ngay
thật tức là đạo tràng).
PHẦN
CHÁNH TÔN
II.
PHÁP YẾU RIÊNG
1.
Thiểu dục
Tỳ
kheo các ông! Phải biết người đa dục vì cầu lợi
nhiều nên khổ não cũng nhiều; người thiểu dục, không mong
cầu không ham muốn thì không khổ não.
Ngay
nơi hạnh Thiểu dục còn phải tu tập huống gì là Thiểu
dục để sanh ra các công đức?
Người
thiểu dục thì không dua nịnh để vừa ý người, cũng không
bị các căn dẫn dắt. Người tu hạnh Thiểu dục, tâm
được thản nhiên không sự lo sợ, gặp việc có dư, thường
không thiếu thốn. Người có thiểu dục, thì có Niết
Bàn. Ấy là công đức Thiểu dục.
2.
Tri túc
Tỳ
kheo các ông! Nếu muốn khỏi các khổ não. Phải
quán Tri túc, vì pháp 'Tri túc tức là chỗ giàu có, vui vẻ
và an ổn. Người tri túc tuy nằm dưới đất cũng được
an vui; người không Tri túc tuy giàu mà nghèo, người biết
Tri túc tuy nghèo mà giàu. Người không Tri túc thường
bị Ngũ dục sai khiến, bị người Tri túc thương xót.
Ấy là công đức Tri túc.
GIẢNG
NGHĨA
Thiểu
dục: Ít dục vọng, ít ham muốn.
Đa
dục: Nhiều dục vọng, nhiều ham muốn.
Thản
nhiên: Xem như thường, không bị ngoại cảnh làm động
tâm.
Tri
túc: Biết đủ. Biết được phân lượng hay tài
sức của mình, được bấy nhiêu là đủ rồi, không cần
quá phần.
ĐẠI
Ý
Bài
này đức Phật dạy: hàng xuất gia phải ít muốn và
biết đủ. Có ít muốn và biết đủ mới có thể tu
hành và dứt trừ được phiền não.
GIẢI
THÍCH
Trước
đã nói qua những Pháp yếu chung, đây nói về những Pháp
yếu riêng. Pháp yếu chung là những Pháp yếu dạy chung
cho hàng Tam thừa và Ngũ thừa. Còn Pháp yếu riêng là
Pháp yếu chỉ thành tựu các công đức của bậc Thánh nhơn
xuất thế. Phần này có chia làm 8 đoạn:
1.
Công đức Thiểu dục.
2.
Công đức Tri túc.
3.
Công đức xa bỏ.
4.
Công đức siêng năng.
5.
Công đức không quên chánh niệm.
6.
Công đức Thiền định.
7.
Công đức Trí huệ.
8.
Công đức không Hý luận.
Bài
này nói về công đức Thiểu dục và Tri túc. Câu:
"Ngay nơi hạnh Thiểu dục còn phải tu tập, huống gì là Thiểu
dục hay sanh ra các công đức," là nói: ít lòng ham muốn là
để diệt trừ một ít phần phiền não, còn phải dụng công
tu tập hạnh Thiểu dục mới được huống gì là ít lòng
tham muốn để được sanh ra công đức thì lẽ tất nhiên
phải dụng công tu tập hạnh Thiểu dục càng nhiều hơn.
Lòng
tham muốn của con người là một cái hang không đáy, nên chúng
ta đối với Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc (hay Tài, Sắc, Danh,
Thực, Thùy) đòi hỏi mong cầu không lúc nào biết nhàm chán.
Được thì vui, mất thì giận, do đó mà gây ra không biết
bao nhiêu tội lỗi, nào sát sanh, trộm cướp, nào tà dâm,
vọng ngữ... để rồi đọa lạc vào nơi địa ngục,
ngạ quỷ và súc sanh.
Người
xuất gia mong cầu giải thoát, lẽ tất nhiên phải Thiểu dục
để lần lần đến chỗ tuyệt dục. Thiểu dục không
phải chỉ đối với ái dục không thôi, mà đối với năm
thứ dục đều nên chán bỏ.
Ít
tham muốn để thành một vị sư; không tham muốn để
thành một vị Phật. Nói một cách khác, có "ít tham muốn"
vị sư đó mới đủ tư cách dẫn dắt tín đồ; có "không
tham muốn" vị Phật đó mới đầy đủ công đức độ tận
chúng sanh.
Trong
nhất thời, chúng ta không thể làm đúng như lời dạy của
ngài Phù Dung là: "Ngộ thinh ngộ sắc như thạch thượng
tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết".
Những kẻ xuất gia học đạo lúc nào cũng phải lấy đó
làm phương châm tiến thủ.
Muốn
được Thiểu dục, chúng ta cần phải biết pháp Tri túc.
Có Tri túc chúng ta mới thấy nhẹ nhàng, sung sướng, mới
không bứt rứt trong lúc thất thời, mới không kiêu hãnh trong
khi đắc thế, mới không thấy thiếu thốn một thứ gì;
nếu không Tri túc thì dù trong địa vị nào cũng thấy khổ
sở, cũng thấy chán ngán. Như câu chuyện vua Ả Rập
với cái áo lót mình của bác Tiều phu.
Người
học Phật nếu biết Tri túc, chẳng những được sự an ổn,
sung sướng, tự mình có thể giải thoát được sự phiền
não khổ đau, mà còn có thể cứu độ được mọi người
khỏi điều đau khổ. Vì thế đức Phật thường đem
pháp Tri túc dạy cho chúng đệ tử của Ngài.
Người
biết Tri túc, một giỏ cơm, một bầu nước, cũng thấy sung
sướng lắm rồi. Vậy nên, người học Phật luôn luôn
phải nhớ nghĩ pháp Tri túc; nếu không Tri túc sẽ bị
Ngũ dục quấy nhiễu, chẳng những không thể học đạo, thành
Phật mà còn phải trầm luân sanh tử, mai một chí xuất gia
của mình.
Vậy
chúng ta cũng nên đọc thêm hai bài thơ cổ dưới đây, để
cùng nhau suy gẫm.
Bài
thứ nhất:
Đồ
lợi tham danh mãn thế gian
Bất
như dưỡng tánh tự thanh nhàn
Lung
kê hữu thực than oa cận
Dã
hạt vô lương thiên địa khoang
Phú
quí bách niên nan bảo thủ
Luân
hồi lục đạo dị tuần hoàn
Khuyến
quân tảo mích tu hành lộ
Nhất
thất nhơn thân vạn kiếp nan.
Dịch
nghĩa:
Chen
chúc lợi danh khắp cõi trần
Sao
bằng dưỡng tánh chốn am vân
Gà
lòng lứa đủ, không toàn mệnh
Hạt
nội lương oi, được vẹn phần
Phú
quí trăm năm không giữ mãi
Luân
hồi sáu nẻo dễ xoay vần
Khuyên
ai sớm tính đường tu tiến
Kẻo
mất thân này khó gặp thân.
Bài
thứ hai:
Đản
tự vô tâm ư vạn vật
Hà
sầu vạn vật thường vi nhiễu
Thiết
ngưu bất phạ sư tử hống
Khắp
tợ mộc nhơn khán hoa điểu
Hoa
điểu phùng nhơn diệc bất kinh
Do
mộc nhân thể tự vô tình
Tâm
cảnh như như chỉ giá thị
Hà
lự Bồ đề đạo bất thành.
Dịch
nghĩa:
Tự
tâm, vạn vật lặng yên
Lo
gì vạn vật theo phiền nhiễu ta
Xưa
nay ngựa sắt đâu mà
Khiếp
uy sư tử gầm la, phải hờ
Dóng
như người gỗ đứng trơ
Nhìn
con chim vẽ hững hờ trêu ngươi
Dẫu
khi chim vẽ gặp người
Tịch
nhiên nào có mấy đời hãi kinh.
Vì
chưng người gỗ vô tình,
Trong
tâm, ngoại cảnh thinh thinh một màu
Lo
gì giác đạo cao sâu,
Tự
nhiên sẽ được cơ cầu mà chị
3.
Xa bỏ
Tỳ
kheo các ông! Muốn cầu quả vị tịch tịnh vô vi an lạc,
phải xa lìa chỗ ồn ào náo nhiệt. Riêng ở nơi vắng
vẽ. Người ở nơi vắng vẽ được Đế thích, chư Thiên
thảy đều kính trọng, thế nên phải bà con, bầu bạn một
mình ở chốn rảnh rang, lo diệt gốc khổ. Nếu thích
đông người sẽ bị các sự phiền nhiễu. Ví như cây
lớn phải bị lũ chim lót ổ, sẽ có mối lo khô gãy.
Còn dính líu với thế gian tất bị dìm trong các khổ;
ví như voi yếu mắc lầy, không thể tự ra được. Ấy
là công đức Xa bỏ.
4.
Siêng năng
Tỳ
kheo các ông! Nếu chuyên cần tinh tấn thì không có việc
gì là khó, thế nên các ông phải chuyên cần tinh tấn.
Ví như giọt nước chảy luôn có thể soi thủng phiến đá.
Nếu như tâm của hành giả thường thường biếng nhác bỏ
bê chẳng khác nào kéo lửa chưa nóng mà ngưng, tuy muốn được
lửa, lửa cũng khó được. Ấy là công đức siêng
năng.
GIẢNG
NGHĨA
Tịch
tịnh Vô vi An lạc: Tức là Niết Bàn, vì đức tánh của
Niết Bàn xa lìa phiền não gọi là Tịch. Dứt hết tất
cả khổ hoạn gọi là Tịnh. Không phải do công phu tu
chứng mới có, nên gọi là Vô vi. Xa hẵn các sự khổ
lụy, đầy đủ các công đức lành, nên gọi là an lạc.
Đế
thích: Chủ cõi trời Đao lợi, ở thành Hỷ kiến trên
đỉnh núi Tu di thống lãnh 32 cõi trời khác (cõi Đao lợi
là cõi trời thứ 33). Tiếng Phạn gọi là Thích Ca Đề
Hoàn Nhơn Đà La (Sákra devànàm Indra), cũng gọi là Năng, tức
là họ của Thiên đến, Đề Hoàn dịch là Thiên, Nhơn Đà
La dịch là Đế, tức là Năng Thiên Đế. Nay dùng cả
Phạn ngữ lẫn Hoa ngữ gọi là Đế Thích. Tức là một
chúng trong Thích ca viện thuộc về Thai tạng giới Mạn trà
la.
Trong
Pháp hoa sớ, quyển hai thì giải thích như sau: "Thích
Đề Hoàn Nhơn, theo ngoại ngữ nói đủ là Thích ca Đề Hoàn
Nhơn Đà Lạ Thích ca dịch là Năng, Đề Hoàn dịch là
Thiên, Nhơn Đà La dịch là Chủ. Vì vị trời này cai
trị giáo hóa Thiện pháp đường, là nơi trung tâm quần hội
của chư thiên, nên gọi là Năng Thiên Chủ".
Chư
Thiên: Dục giới có 6 vị thiên, gọi là lục dục thiên;
Tứ thiền thuộc về sắc giới có 18 vị thiên; Bốn
xứ thuộc về Vô sắc giới có bốn vị thiên; ngoài
ra còn có Nhật thiên, Nguyệt thiên, và Di đà thiên v.v... các
vị thiên thần thuộc về thiên hộ, gọi đó là Chư thiên.
ĐẠI
Ý
Bài
này đức Phật dạy: Người xuất gia phải xa lánh tất
cả, siêng năng tinh tấn lo tu thiện nghiệp không nên lười
nghỉ.
GIẢI
THÍCH
Trong
bài này đọan thứ nhất nói về công đức Xa bỏ, tránh sự
ồn ào nhiều sự ô tạp, vì nơi đó khiên cho tán loạn tâm
người, không làm sao yên định thần chí được. Do đây
người muốn cầu quả vị Tịch tịnh Vô vi An lạc phải tránh
xa chỗ đông người. Như đóng cửa ẩn mình ở nơi hang
sâu núi thẳm hay nương mình trong một túp lều tranh, đó đều
là công việc tấn tu đức xa bỏ. Nếu ai có thể tránh
xa được nơi ồn náo, riêng ở chỗ vắng vẻ an nhàn thì
người ấy tất được Đế thích và Chư thiên cùng nhau kính
trọng.
Nhưng
ở chỗ vắng vẻ an nhàn không phải là biếng nhác, chỉ vì
không muốn cho nhiều người làm bận rộn, cốt để tư duy
nguồn gốc phát sanh ra khổ mà bồi đắp cho cây trí huệ
ngày một tốt tươi.
Nếu
người ưa ở chỗ huyên náo, chẳng những không thể tinh chuyên
tu tập pháp tư duy mà còn phải bị các nhân duyên làm tăng
khổ thọ. Chẳng khác nào cây lớn thường bị các giống
chim quần tụ trên những nhác nhóc, tất không sao tránh khỏi
sự khô gãy do chúng gây nên.
Người
mê tâm bị thế tục buộc ràng hằng bị chìm đắm trong biển
khổ phiền não, không có thời kỳ ra khỏi, chẳng khác nào
con voi già say rượu mắc trong bùn lầy, không đủ sức tự
ra. Hàng Tỳ kheo đã xuất gia phải tự tiên liệu chớ
để thâm nhiễm thế gian mà không thể tự cứu lấy mình.
Đoạn
thứ hai là nói đến công đức siêng năng. Bất cứ nghề
nghiệp gì, được tinh xảo là do chuyên cần, bị hư hỏng
là do biếng trễ. Cần thì không bỏ phế, tinh thì không
xen tạp. Do đấy mà đức Phật dạy chúng đệ tử tinh
tấn siêng tu trí huệ và phải bền lòng chuyên nhất.
Nếu
tinh tấn siêng tu trí huệ, thì trí huệ không sao không sáng
tỏ, còn chán nản biếng lười thì một việc nhỏ cũng không
thành. Giọt nước tuy không lớn, nhưng rốt lại có thể
xoi thủng được phiến đá. Kéo cây lấy lửa nếu chẳng
ngừng tay thì lửa ắt sẽ được. Còn như siêng năng
một lúc, trễ nải nhiều ngày thì chỉ uổng công vô ích
mà thôi. Thế nên Tỳ kheo phải luôn luôn tinh tấn.
5.
Không quên chánh niệm
Tỳ
kheo các ông! Cầu thiện tri thức, cầu thiện hộ trợ,
không bằng không quên chánh niệm. Nếu có người không
quên chánh niệm, các giặc phiền não sẽ không vào được.
Thế nên các ông cần phải nhiếp niệm tại tâm, nếu để
mất niệm sẽ mất các công đức. Nếu niệm lực được
vững chắc, tuy vào trong giặc Ngũ dục cũng không bị chúng
làm hại. Ví như mặc giáp vào trận thì không còn phải
lo sợ điều gì. Ấy là công đức không quên chánh niệm.
6.
Thiền định
Tỳ
kheo các ông! Nếu người nhiếp tâm thì tâm ở trong định,
nên có thể biết được pháp tướng sanh diệt trong thế gian.
Thế nên các ông phải thường tinh tấn tu các thiền định,
nếu được định rồi thì tâm không còn tán động.
Ví như người giữ nước, khéo giữ đê điều. Cũng
thế, hành giả vì nước trí huệ, khéo tu thiền định khiến
cho không bị chảy mất. Ấy là công đức thiền định.
GIẢNG
NGHĨA
Thiện
tri thức: Tri là biết được lòng, Thức là biết
được tánh. Đây chính là bạn tốt, là những người
làm cho ta được lợi ích, dẫn ta tiến trên con đường Đạo
nghiệp, chứ không phải chỉ những người học rộng, hiểu
nhiều (xin xem lời giải trong kinh Tứ thập nhị chương, bài
thứ 9 cùng dịch giả đã xuất bản).
Thiện
hộ trợ: Những người bạn tốt, bảo hộ và giúp đờ
ta trên con đường tiến tu đạo nghiệp, nhưng khác hơn thiện
tri thức là chỉ giúp đỡ mà không biết được lòng và hiểu
được tánh.
Nhiếp
niệm: Nhiếp là thu nhỏ lại. Niệm là ý niệm,
tâm niệm. Nhiếp niệm là gom giữ những ý niệm ở tâm
lại một chỗ, không để cho nó suy nghĩ, vọng tưởng.
Niệm
lực: Là một trong Ngũ lực. Do sự chuyên niệm mà
được sức mạnh có thể chống lại các sự chướng ngại
khác, gọi là niệm lực.
Pháp
tướng: Là những pháp cùng một tánh có hình tướng
bên ngoài có thể thấy được, tức là phần cảnh, trái với
pháp tánh là những pháp không có hình tướng thuộc về nội
tâm không thể thấy được
Trong
Đại thừa nghĩa chương, quyển hai nói: "Tất cả những
pháp hữu vi, thuộc về thế đế đều gọi là pháp tướng".
Sanh
diệt: Các pháp hữu vi y nơi nhân duyên hòa hiệp, tuy
chưa có pháp mà vẫn có, gọi là sanh; y như nhân duyên ly tán,
tuy đã có pháp mà vẫn không, gọi đó là diệt. Những
pháp có sanh, nhất định có diệt, ấy là pháp hữu vi.
Những pháp có diệt mà nhất định không có sanh, ấy là pháp
vô vi.
Nếu
đứng về chánh kiến Trung đạo mà nói thì: Pháp hữu
vi sanh diệt là giả sanh giả diệt mà chẳng phải thật sanh
thật diệt.
ĐẠI
Ý
Bài
nầy đức Phật dạy chúng ta phải giữ gìn Chánh niệm và
nhiếp tâm vào trong định lực.
GIẢI
THÍCH
Không
quên chánh niệm tức là không để tà niệm chen vào.
Chúng ta cầu Thiện tri thức giúp đỡ biết cách phát triển
đường lối tu hành cũng không bằng luôn luôn giữ gìn được
chánh niệm chẳng hề để mất trong một phút giây nào.
Chánh niệm được kiên cố rồi dù cho có vào trong cảnh đời
Ngũ dục cũng không còn e ngại; nếu rời bỏ chánh niệm,
tà niệm ắt sẽ thừa cơ xâm nhập, chẳng khác nào con điên
đã ngự trị trong tâm chúng ta vậỵ
Đệ
nhị tổ của thiền tôn, ngài Huệ Khả, nói rằng: "Ta
điều phục được tự tâm thì đâu có can gì đến việc
của kẻ khác". Nếu chúng ta giữ gìn được chánh niệm,
chẳng khác nào người mặc giáp sắt ra trận. Vì nhờ
có giáp sắt che chở nên không còn sợ bị giặc làm hại
nữa.
Tâm
của chúng ta là tâm tán loạn, thường do tâm tán loạn này
mà vào trong lục trần, ngũ dục và chịu các thứ khổ não.
Vì thế hàng Tỳ kheo muốn được sanh trí huệ, cần phải
nhiếp tâm tu tập thiền định. Nhờ định phát
huệ mới có thể được quả giải thoát vô thượng, thành
tựu được việc rất hiếm có. Chẳng khác nào người
giữ nước, việc tiên quyết phải sửa sang đê điều nước
mới không tràn ra bên ngoài gây nhiều tai hại. Hàng Tỳ
kheo muốn cho nước trí huệ khỏi bị chảy mất cũng phải
nhiếp tâm tu tập Thiền định.
7.
Trí huệ
Tỳ
kheo các ông! Nếu người có trí huệ thì không có tham
trước, thường tự tinh sát không để sanh ra tội lỗi.
Thế là ở trong pháp của ta có thể được sự giải thoát.
Nếu chẳng vậy, đã chẳng phải là bậc đạo nhân, lại
cũng chẳng phải là kẻ bạch y, không biết gọi là gì!
Người có trí huệ chân thật, ấy là chiếc thuyền tốt có
thể vượt qua biển già, bịnh, chết; cũng là ngọn đèn sáng
chiếu phá cảnh tối tăm, mờ ám; là món thuốc hay trị
tất cả các chứng bịnh, là lưỡi búa bén chặt đứt cây
nghiệp phiền não. Thế nên các ông phải dùng huệ:
Văn, Tư, Tu mà tự làm cho thêm phần lợi ích. Nếu là
người có trí huệ chiếu soi, dù cho nhục nhãn cũng là người
thấy được rõ ràng. Ấy là công đức Trí huệ.
8.
Không Hý luận
Tỳ
kheo các ông! Các thứ hý luận làm cho tâm mình rối loạn,
dù đã xuất gia vẫn chưa được giải thoát. Thế nên
Tỳ kheo phải mau dứt bỏ loạn tâm hý luận. Nếu các
ông muốn được quả vui Tịch diệt, tức phải khép trừ
mối hoạn hý luận. Ấy là công đức không hý luận.
GIẢNG
NGHĨA
Tham
trước: Tham lam nhiễm trước theo sở thích của mình.
Tinh
sát: Suy xét kỹ càng mà tự thức tỉnh.
Hý
luận: Lời nói đùa, lời luận bàn phi lý, vô nghĩa.
Lại không luận là lời lẽ nói đúng lý hay không đúng lý
tất cả những ngôn thuyết đều thuộc về hý luận.
Trong
Đại thừa huyền luận, quyển hai nói rằng: “Hý luận là
tên giả muộn để ví dụ, đối với đạo không có lợi
ích, như đứa bé nói đùa mà thôi.”
Trong
kinh Tối thắng vương, quyển một nói rằng: Tánh thật
tế không có hý luận, duy riêng đức Như lai chứng được,
hý luận hằng dứt, gọi là Niết bàn.
Như
thế, danh từ Hý luận, ta có thể hiểu theo nghĩa: Giả
dối, không thật. Tất cả các pháp hữu vi, sanh diệt
đều gọi là Hý luận.
ĐẠI
Ý
Bài
này đức Phật dạy: Hàng Tỳ kheo phải dùng trí huệ làm
gốc và phải mau dứt bỏ các thứ hý luận vô nghĩa.
GIẢI
THÍCH
Có
trí huệ thì có thể tránh được tất cả chướng ngại;
người có trí huệ thường phải suy xét kỹ càng mà tự thức
tỉnh, không để cho công việc làm thêm tội lỗi. Tội
lỗi ít mới có thể vượt qua biển cả sanh, lão, bịnh, tử,
có thể tự độ và độ người, đó mới là bậc Đạo nhân.
Tỳ kheo không như pháp này mà tu hành đạo nghiệp thì không
phải là hàng xuất gia, cũng không phải là hàng bạch y, không
thuộc về lớp nào, hạng nào, không biết gọi bằng gì ?
Trí
huệ chính là chiếc bè báu qua biển sanh tử, lưỡi búa bén
đốn chặt cây phiền não. Tỳ kheo nếu không bảo trì
trí huệ, bằng cách tự tinh sát thì dù có được nghe Phật
pháp, cũng chẳng khác nào người được thuốc hay, thầy giỏi
mà chẳng chịu sắc uống, chắc chắn phải chết một cách
oan uổng.
Trí
huệ có ba thứ: Văn huệ, Tư huệ, và Tu huệ. Tất
cả thiện nghiệp đều nhờ trí huệ mới tăng trưởng.
Bảy
đoạn trước nói về công đức phương tiện trưởng dưỡng
tự tánh. Riêng đoạn thứ tám là chỉ bày tự tánh ly
khai các lậu. Vì không phải là một pháp đối trị nên
không đồng với bảy đoạn trước. Vì thế công đức
này ở sau cùng.
Tự
tánh của mỗi người xưa nay thanh tịnh, chỉ vì Hý luận
khuấy nhiễu nên lần lần trái với bản tánh thanh tịnh sẵn
có của mình. Tuy nhiên, khi chứng được thật trí của
Sơ quả thì đã thấy được lý Tứ đến, dứt được Phân
biệt phiền não, nhưng Câu sanh phiền não vẫn còn tiềm phục
để chờ cơ hội hoạt động. Nhân vì thứ phiền não
này từ vô thỉ đến nay do Hý luận luân thành, hết sức
vi tế rất khó đoạn trừ. Vì vậy mà từ bậc Kiến
đạo đến đệ Tứ quả muốn được niết bàn cứu cánh,
phải dứt bỏ các thứ Hý luận, thường quan sát khiến cho
hai chướng tập khí hoàn toàn không còn sanh trưởng nữa.
Kinh
văn đến đây đã hết phần chánh tôn.
PHẦN
LƯU THÔNG
1.
SIÊNG TU
Tỳ
kheo các ông! Đối với các công đức thường phải nhất
tâm bỏ các sự buông lung như tránh bọn giặc cướp.
Những điều lợi ích, đức Đại Bi Thế Tôn nói ra trước
sau đã cạn, các ông chỉ phải siêng năng mà thực hành nó.
Hoặc ở chốn núi non, hoặc ở nơi đ