QUYỂN
THỨ MƯỜI (PHẦN TRƯỚC)
Sa
môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn.
PHẨM
TÙY HỈ CÔNG ĐỨC
Ba
môn phân biệt :
I.
NÓI RÕ DỤNG Ý.
II.
GIẢI THÍCH TÊN PHẨM.
III.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC.
I.
NÓI RÕ DỤNG Ý.
Có
ba ý :
1.
Trong bảy phẩm học hành lưu thông, sáu phẩm cuối thuyết
minh về người năng hành. Chia làm bốn phần. Từ phần thứ
ba trở xuống có hai phẩm thuyết minh về công đức của Bàng
tu hành và Chính y hành nhiều ít bao nhiêu. Phẩm này thuyết
minh về phúc của Bàng tu hành. Cho nên mới có phẩm này.
2.
Trong quả nhất thừa, hai phẩm trên thuyết minh về quả đã
mãn. Còn ba phẩm dưới thuyết minh về quả chưa mãn, chia
làm hai. Phẩm này thuyết minh về phúc quả Bàng tu hành tùy
hỉ nhiều ít bao nhiêu. Hai phẩm sau thuyết minh về phúc quả
Chính y hành nhiều ít bao nhiêu. Cho nên mới có phẩm này.
3.
Luận nói rằng : pháp lực có 5 môn, trước đã thuyết minh
3 môn. Đây là môn thứ tư : nghe pháp, ý như trong phẩm Tùy
Hỉ Công Đức đã nói. Do nghe người khác nói, rồi có thể
sinh ra tùy hỉ cho nên gọi là nghe pháp. Phẩm này thuyết minh
về ý ấy, cho nên phải có phẩm này.
II.
GIẢI THÍCH TÊN PHẨM.
“Tùy”
: có nghĩa là thuận theo.
“Hỉ”
: có nghĩa là vui thích.
Thân
tâm thuận theo, rất là vui thích, lấy đó làm nhân sinh quả
“Công Đức”.
Phẩm
này thuyết minh rộng về ý ấy, cho nên đặt tên phẩm như
thế. Có nghĩa là tùy theo các điều sở Văn, sở Tư, sở
Tu mà sinh tâm tùy hỉ.
Luận
theo kinh cho nên lúc đầu chỉ nói về Văn (nghe pháp).
III.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC.
-Hỏi
: phẩm này chẳng những (nói về) tự mình sinh ra tùy hỉ,
mà còn giáo dục khuyến khích người khác (tùy hỉ). Vậy
cớ sao chẳng đặt tên phẩm này là phẩm Khuyến Nhân ?
Đáp
: đó là vì đặt tên theo cái gốc : nhân tự tùy hỉ rồi
mới khuyên người khác.Ngoài ra, cả hai (tự mình và khuyên
người) đều bao gồm trong Tùy Hỉ, cho nên hợp lại làm tên
Tùy Hỉ.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Di Lặc” tới
“thì được bao nhiêu phúc ?”.
Tán
rằng : phẩm văn chia làm hai phần :
-
Phần đầu là Di Lặc thỉnh.
-
Phần sau là Thế tôn đáp.
Đây
là phần đầu, gồm 2 mục : trường hàng và kệ tụng.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Phật bảo” tới
“ngươi hãy lắng nghe”.
Tán
rằng : dưới là Thế tôn đáp. Chia làm ba phần :
1.
Phần đầu : dùng hình thức so sánh để mà hỏi.
2.
Phần hai : Di Lặc đáp.
3.
Phần cuối : Phật mách bảo để thành tựu cho.
Văn
phần đầu lại chia làm ba mục :
1)
Mục đầu : thuyết minh về người hay tùy hỉ.
2)
Mục hai : thuyết minh về cảnh được so sánh.
3)
Mục ba : là đoạn từ “ý ngươi thế nào” trở xuống
: chính thức đặt ra câu hỏi.
Văn
mục đầu này có hai phần :
-
Phần đầu : thuyết minh về người đầu tiên tùy hỉ.
-
Phần hai : chỉ người tùy hỉ sau khi đã so đọ.
Văn
phần đầu lại chia làm ba mục :
a)
Mục đầu thuyết minh về lúc ban đầu.
b)
Mục hai thuyết minh về chốn đi tới (vãng xứ).
c)
Mục cuối thuyết minh về việc lần lượt đi tới các ngõ
ngách.
*
Chữ [陌] Mạch, theo sách Ngọc Thiên là chỉ đường ruộng
theo hướng Đông Tây. Vậy Mạch có nghĩa như Đạo, tức là
đường vậy.
*
-Kinh
văn : “Nếu bốn trăm vạn ức” tới
“đủ tám mươi năm rồi”.
Tán
rằng : dưới là cảnh được so sánh. Trong có bốn phần :
1.
Chủng loại số lượng chúng sinh.
2.
Các dụng cụ được bố thí.
3.
Tuổi tác.
4.
Đắc đạo.
Đây
là ba phần đầu.
Trong
phần nói về chủng loại chúng sinh có hai phần :
-
Phần 1 : tách riêng ra mà bảo thì có năm môn :
a)
Lục thú (sáu nẻo chúng sinh).
b)
Tứ sinh (bốn loại chúng sinh, sinh ra theo bốn cách khác nhau).
c)
Hình loại.
d)
Tư tưởng khác nhau (tưởng thù).
e)
Số lượng chân khác nhau (túc dị).
Nghĩa
của các môn này như chương khác đã nói.
“Vàng
Diêm phù đề” : Diêm phù đề là tên loại cây ở Thiệm
bộ châu, ở dưới nước gần cây này tại bờ bắc châu
này có loại tử kim ánh sáng át cả ánh mặt trời, mặt trăng
cho nên lấy tên cây ấy mà đặt tên cho loại vàng đó.
-
Phần 2 : đoạn từ “Các loại chúng sinh như vậy” trở
xuống : kết luận.
*
-Kinh
văn : “Mà nghĩ như vầy” tới
“đủ tám giải thoát”.
Tán
rằng : đây là khiến cho đắc đạo. Trong có hai mục
:
1)
Khởi niệm.
2)
Hóa đạo.
*
-Kinh
văn : “Ý ngươi thế nào ?” tới
“há phải là nhiều chăng ?”.
Tán
rằng : đây là chính thức đặt câu hỏi.
*
-Kinh
văn : “Di Lặc bạch Phật” tới
“quả A la hán”.
Tán
rằng : đây là Di Lặc đáp. Thế quả đã nhiều, huống hồ
lại còn khiến đắc thánh (quả).
*
-Kinh
văn : “Phật bảo Di Lặc” tới
“điều chẳng thể biết”.
Tán
rằng : dưới là Phật dạy về thành tựu. Có hai phần :
1)
Đầu tiên : thành tựu của người thứ năm mươi.
2)
Sau đó : thành tựu của người thứ nhất.
Đây
là phần đầu.
Một
niệm tùy hỉ, khiến sẽ chứng được Bồ đề. Số chúng
sinh được giáo hóa sẽ gấp bội số trên. Cho nên sẽ được
nhiều phúc.
Khiến
đắc quả A la hán, thì chẳng thể thành Phật để tế độ
rộng rãi cho chúng sinh, cho nên phúc sẽ kém.
Cũng
như so sánh tướng Phạm âm của Phật với tướng âm thanh
của phàm phu.
*
-Kinh
văn : “A Dật Đa” tới “chẳng
thể so sánh được”.
Tán
rằng : dưới là thành thứ nhất. Văn chia làm năm phần :
-
Phần đầu : thuyết minh chung về người đầu tiên tùy hỉ
công đức hơn người thứ 50 nêu ở phần trước không gì
sánh nổi.
-
Phần thứ hai : quả tùy hỉ của người đi nghe pháp.
-
Phần thứ ba : quả tùy hỉ của người khuyên người khác
nghe, hoặc chia chỗ cho người khác ngồi nghe pháp.
-
Phần thứ tư : quả tùy hỉ của người vâng lời đi nghe
pháp.
-
Phần thứ năm : nêu cái kém để thành tựu cái hơn.
Đây
là phần đầu.
*
-Kinh
văn : “Lại nữa, A Dật Đa” tới
“chốn nơi ngồi”.
Tán
rằng : đây là phần hai và phần ba : quả tùy hỉ nghe pháp
và quả tùy hỉ khuyên người khác nghe pháp : cũng được
lục thông, tòa kim cương.
Đây
là căn cứ vào thế quả, chẳng phải là xuất thế quả.
Nếu có bệnh thì được phép nằm nghe, đây là căn cứ vào
lúc chẳng có bệnh, chỗ rộng thì chỉ khuyên nên ngồi mà
nghe, chỗ hẹp thì khuyên chia chỗ mà ngồi nghe.
*
-Kinh
văn : “A Dật Đa” tới “cùng
sinh một chỗ”.
Tán
rằng : dưới là phần thứ tư : quả tùy hỉ thụ giáo đi
nghe pháp. Có ba mục :
-
Mục đầu : nói rõ được thiện hữu tốt.
-
Mục hai : thuyết minh về phúc tuệ trang nghiêm.
-
Mục cuối : thấy Phật, nghe pháp.
Đây
là mục đầu : được bạn hiểu pháp làm thiện hữu.
*
-Kinh
văn : “Lợi căn trí tuệ” tới
“không có những điều đáng ghét”.
Tán
rằng : dưới là phúc tuệ trang nghiêm, đó là lợi căn trí
tuệ vậy. Các thứ khác đều bao gồm trong phúc. Trong phúc
có 5 thứ :
1)
Thanh tướng (tướng giọng nói).
2)
Khẩu tướng (tướng miệng).
3)
Tị tướng (tướng mũi).
4)
Diện tướng (tướng mặt).
5)
Chúng tướng (các tướng mạo).
Đoạn
từ “trăm ngàn vạn đời” trở xuống : là nói về các
quả (khác).
Khẩu
tướng có 5 thứ :
1/-
Khí (hơi thở).
2/-
Thiệt (lưỡi).
3/-
Lợi, vòm miệng v.v… không có bệnh.
4/-
Răng không có 6 khuyết tật xấu.
5/-
Môi không có 10 tướng xấu.
“Chẳng
vẩu chẳng ngắn” :
*
Chữ Khiên [褰] ở đây có nghĩa là khểnh, vẩu (chỉ răng).
Chữ Súc [縮] ở đây là ngắn (vốn chữ này nghĩa là rút
ngắn).
“Chẳng
thô tháp” : có nghĩa là nhỏ mịn.
“Chẳng
lở loét (miệng)” :
*
Chữ [ ] đọc là Chẩn, chỉ mụn nhọt ở môi.
Có
bản chép là “môi khít chẳng có mụn nhọt”.
“Chẳng
méo” : có nghĩa là miệng chẳng méo.
*
Chữ [ ] đọc là Khỏa (thường đọc là Oa) : méo miệng.
*
-Kinh
văn : “Mũi chẳng tẹt dí” tới
“tướng chẳng đáng ưa”.
Tán
rằng : đây là tướng mũi và tướng mặt.
“Biển
thê” : vốn có nghĩa là mỏng (bẹt), ở đây chỉ mũi tẹt
dí.
*
Chữ [ ] đọc là Biển, vốn
nên viết là [遍]. Chữ [睇] đọc là Thê, vốn nên viết là
[ ].
“Khúc
lệ” : có nghĩa là gãy gập.
*Hai
chữ [窊曲] đọc là Oa Khúc . [窊] Oa : có nghĩa là lõm xuống.
Chữ [曲] Khúc : có nghĩa là “cong vạy”, nghĩa như chữ
[枉] Uổng. Chữ [細] Tế, nghĩa như Tiểu [小], nghĩa là nhỏ.
*
-Kinh
văn : “Môi, lưỡi, răng, lợi” tới
“tướng người đầy đủ”.
Tán
rằng : đây là các tướng (khác), có sáu.
*
-Kinh
văn : “Đời đời sinh ra” tới
“tin tưởng tiếp thụ sự dạy bảo (của Phật)”.
Tán
rằng : đây là thấy Phật nghe pháp.
*
-Kinh
văn : “A Dật Đa” tới “tu
hành đúng như lời (Phật) thuyết”.
Tán
rằng : đây là phần thứ năm : nêu cái kém để thành tựu
cái hơn.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Thế tôn” tới
“chẳng thể làm thí dụ”.
Tán
rằng : đây là 18 tụng, chia làm hai phần :
-
8 tụng đầu : Bàng tùy hỉ.
-
10 tụng sau : Chính tùy hỉ.
Đây
là phần đầu. Có ba mục :
+
2 tụng đầu : nêu lên việc tùy hỉ.
+
5 tụng sau : so sánh.
+ 1
tụng cuối : kết luận thành tựu.
*
-Kinh
văn : “Nghe lần hồi như vậy” tới
“thường từ miệng đó ra”.
Tán
rằng : dưới là 10 tụng, tụng về Chính tùy hỉ. Có 5 phần,
đây có 2 phần :
-
1 tụng : thuyết minh chung về người đầu tiên tùy hỉ.
-
5 tụng : tụng về người tùy hỉ vâng lời đi nghe (pháp).
*
-Kinh
văn : “Nếu cố tới tăng phường” tới
“phúc ấy chẳng thể lường”.
Tán
rằng : đây có ba phần :
-
2 tụng đầu : tùy hỉ nghe pháp.
-
1 tụng sau : tùy hỉ chia chỗ khuyên người khác nghe.
-
1 tụng cuối : nêu cái kém để thành tựu cái hơn.
***
PHẨM
PHÁP SƯ CÔNG ĐỨC
Ba
môn phân biệt :
I.
NÓI RÕ DỤNG Ý.
II.
GIẢI THÍCH TÊN PHẨM.
III.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC.
I.
NÓI RÕ DỤNG Ý.
Có
ba ý :
1.
Trong sáu phẩm nói về người có khả năng tu hành trước
đây, đã nói về phúc của người gián tiếp có khả năng
tu hành, chưa nói về phúc của Pháp sư trực tiếp có khả
năng tu hành. Nay chính thức thuyết minh về điều này. Cho
nên mới có phẩm này.
2.
Hai phẩm dưới nói rõ Chính y hành, phúc quả nhiều ít bao
nhiêu. Trong đó, phẩm đầu thuyết minh chung về đắc quả
nhiều ít bao nhiêu, phẩm sau dẫn đã chứng thành (đắc quả).
Cho nên mới có phẩm này.
3.
Luận giải rằng : Pháp lực có năm loại, loại thứ năm là
Đọc tụng trì thuyết. Phẩm Thường Tinh Tiến đã thị hiện
rõ. Trong phẩm này Phật bảo với Thường Tinh Tiến về công
đức của Trì thuyết v.v… Cho nên mới có phẩm này.
II.
GIẢI THÍCH TÊN PHẨM.
Y
theo pháp mà tu hành, có thể làm mẫu mực, cho nên gọi là
“Pháp sư”.
Chỉ
nói về người năng hành, chứ chẳng phải là nói về pháp
sở hành.
Phẩm
này nói rõ công đức của Pháp sư, cho nên gọi là phẩm “Pháp
Sư Công Đức”.
III.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC.
-Hỏi
: vì sao trong phẩm Pháp Sư trước đây thì Phật bảo Dược
Vương ; trong các phẩm Bảo Tháp, Thiên Thụ thì Phật bảo
các Bồ tát và bốn chúng trời người ; trong phẩm An Lạc
Hạnh thì Phật chỉ bảo một mình ngài Văn Thù ; trong các
phẩm Như Lai Thọ Lượng, Phân Biệt Công Đức, Tùy Hỉ Công
Đức thì Phật chỉ bảo riêng một mình ngài Di Lặc, thế
mà phẩm Pháp Sư Công Đức này thì Phật lại bảo Thường
Tinh Tiến, mà chẳng bảo các vị khác ?
Đáp
: Phẩm Pháp Sư thuyết minh về hai loại thầy: nhân và pháp.
Dược Vương trước kia chẳng tiếc thân mệnh để hoằng
dương Kinh pháp, lấy pháp làm thầy, lấy thân làm Pháp sư.
Bởi vậy Phật mới bảo riêng Dược Vương.
Phẩm
Bảo Tháp nói về pháp chứng, phẩm Thiên Thụ nói về nhân
chứng, cốt để khuyến khích mọi người, cho nên Phật đã
bảo chung.
Phẩm
An Lạc Hạnh thuyết minh về ba nghiệp thiện hành để tránh
sự hủy hoại thương tổn, ngài Văn Thù thường khuyên chúng
sinh tu hành, thường làm bậc thiện hữu của chúng sinh, bản
thân ngài cũng tự mình đi đầu trong việc tu hành, cho nên
Phật chỉ bảo riêng ngài Văn Thù.
Phẩm
Thọ Lượng thuyết minh về ba Phật Bồ đề. Phẩm Phân Biệt
Công Đức thuyết minh về thứ bậc chứng đạo. Phẩm Tùy
Hỉ Công Đức so sánh khuyến khích mọi người mong cầu Phật
quả. Nếu tự mình chẳng phải là bậc địa vị ngang với
Chính giác, trí tuệ cỡ bậc đại thánh thì làm cách nào
mà biết được sự huyền vi của chân hóa, xét tỏ được
sự viên chứng của đạo đức ? Cho nên ba phẩm này Phật
chỉ bảo riêng cho ngài Di Lặc.
Phẩm
này cũng có thể bảo chung cả ngài Di Lặc nhưng vì ngài Thường
Tịnh Tiến về Danh và Hạnh cả hai đều phù hợp, cho nên
Phật mới bảo riêng Thường Tinh Tiến.
Tu
hành diệu hạnh của ngũ sư, thu được thắng đức sáu ngàn.
Nếu tự mình chẳng thật tu hành thành đạt từ kiếp trước
thì chẳng chứng được, và nếu chẳng thường xuyên tinh
tiến thì cũng chẳng chứng được. Há phải là do lười nhác
chơi bời mà có thể thành tựu được ? Cho nên Phật chỉ
bảo riêng ngài Thường Tinh Tiến vậy.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Phật bảo” tới
“nếu sao chép”.
Tán
rằng : văn toàn phẩm chia làm ba phần :
1.
Phần đầu : bảo rõ các loại tu hành Pháp sư khác nhau.
2.
Phần hai : nói rõ công đức sẽ đạt được nhiều ít là
bao nhiêu.
3.
Phần cuối : nói rõ quả dụng thù thắng của sáu căn.
Đây
là phần đầu.
Căn
cứ vào thực tế thì Pháp sư tổng cộng có mười loại.
Đây chỉ nói sơ qua về năm loại :
1)
Trì. 4) Thuyết.
2)
Đọc. 5) Viết (kinh).
3)
Tụng.
Để
lệ chứng năm loại khác là : Cúng dường, Thí tha (bố thí
cho người khác), Thính văn (nghe kinh), Tư duy, Tu tập cũng đều
là Pháp sư. Ba loại đầu dễ nên chẳng bàn, hai loại cuối
khó mà chẳng thuyết, nêu năm loại giữa để làm lệ chứng
về khó dễ.
*
-Kinh
văn : “Người ấy sẽ được” tới
“đều khiến thanh tịnh”.
Tán
rằng : đây là nói về công đức đạt được nhiều ítø
bao nhiêu : đầu tiên là phân tích, sau đó là kết luận.
Xưa
có 2 cách giải thích, nay có 4 cách :
I.
Hai cách giải thích theo xưa :
I.1.
Cách thứ nhất :
Thập
thiện là gốc, mỗi thiện đều có sự trợ giúp của chín
thiện khác thành tựu cho. Mỗi thiện đều thành tựu 10 hạnh,
mỗi hành đều có 4 môn :
-
Tự tác (tự làm).
-
Giáo tha (dạy bảo người khác).
-
Tán thán thắng pháp.
-
Tán hành thập thiện.
Gộp
cả lại thì thành 400. Bốn thứ này, mỗi thứ đều có 3
bậc tu là : thượng, trung, hạ, nên nhân lên thành 1200.
Ba
căn Nhĩ (tai), Thiệt (lưỡi), Ý : Thính văn (nghe kinh), đàm
thuyết kinh pháp, tâm đắc pháp nghĩa, sức tu hành thắng trội
đầy đủ ba bậc, đều 1200. Còn ba căn khác kém cỏi, đều
không có bậc thượng, cho nên mỗi căn chỉ có 800. Nếu y
vào thập thiện, lấy đó làm đầu thì tu thành đức này.
Công đức sáu căn phải là như vậy. Các kinh khác cũng thế,
đâu phải chỉ riêng kinh này.
I.2.
Cách thứ hai :
Sáu
căn mỗi căn đều có 100 phúc, mỗi phúc đều được trang
nghiêm bằng 10 thiện, nhân lên thì thành 1.000. Sáu căn nhân
với số này thì tổng cộng thành 6.000. Ba căn trội hơn, thì
mỗi căn được tăng thêm 200. Ba căn kém hơn, thì mỗi căn
giảm bớt 200.
Cách
giải thích xưa dẫn kinh Chính Pháp Hoa và Trang Nghiêm luận,
thì sáu phẩm mỗi phẩm 1.000. Vậy ba căn Nhãn, Tị, Thân đều
cho thêm 200, số ấy là sao ? Thêm nữa, 100 phúc là quả đã
cảm ứng được gấp 10 lần của nhân là thập thiện.
Nay
vì nhân trợ chưa thấy do đâu, cho nên ở đây giải thích
lại cho đúng. Trong bản luận chỉ nói ba căn mỗi căn đều
1.200, còn căn khác mỗi căn chỉ có 800. Không được đem Trang
Nghiêm luận đánh đồng với kinh này. Hơn nữa lại chưa đối
chiếu văn bản của 2 sách đó.
II.
Bốn cách giải thích theo nay :
II.1.
Cách thứ nhất :
Trong
kinh này tu 10 pháp hành :
1)
Thư tả (sao chép kinh văn).
2)
Cúng dàng.
3)
Thí tha (bố thí cho người khác).
4)
Thính văn (nghe giảng kinh này).
5)
Phi độc (giở đọc kinh này).
6)
Thụ trì.
7)
Khai diễn.
8)
Phúng tụng.
9)
Tư duy.
10)
Tu tập.
Ở
trong 10 thứ này, mỗi mỗi giúp nhau, chuyển thành 100 hành.
Trăm hành mỗi hành có 4 thứ :
a)
Tự tác.
b)
Giáo tha.
c)
Tán lệ (tức tán thán pháp thắng).
d)
Khánh úy (tức tán thán hành thập thiện).
Tổng
cộng nhân lên thì thành 400 thứ, mỗi thứ đều có 3 bậc
tu tập, thành ra 1200. Ba căn trội, thì mỗi căn đều 1200.
Ba căn kém, không có thượng phẩm, cho nên mỗi căn chỉ có
800.
II.2.
Cách thứ hai :
Nhân
trong 10 pháp hành ở kinh này mỗi mỗi đều dùng 10 thiện
để giúp cho, như vậy mười lần mười đầy đủ thành 100.
Nhân với 4 thứ : Tự tác, Giáo tha, Tán lệ, Khánh úy thì
thành 400. Nhân với 3 bậc tu tập thì thành 1200. Ba căn trội
kém tăng giảm như trên. Kinh này thắng diệu, riêng thành đức
này. Các kinh khác chẳng thế, cho nên không có đức này. Văn
này lược đi cho nên chỉ thuyết về 5 loại Pháp sư, nhưng
thực ra là có 10 loại, loại nào cũng đứng đầu, còn các
hành khác giúp đỡ tác thành, đều được đức đó. Thêm
nữa, theo kinh này thì 6 căn đều chỉ nói về 5 loại Pháp
sư, chứ chẳng phải là 10 loại.
III.3.
Cách thứ ba :
Năm
loại Pháp sư này mỗi loại kiêm tu 10 thiện, thì thành 50.
Tự tác, Giáo tha, Tán lệ, Khánh úy là 4 môn, nhân với 50,
thì thành 200. Mỗi một căn môn tuy đều 200. Ba căn Nhãn (mắt),
Tị (mũi), Thân vì kém cỏi cho nên đều có ba căn Nhĩ, Thiệt,
Ý giúp đỡ cho, bởi cùng loại kém như nhau thì chẳng giúp
được nhau, căn trợ gộp với căn gốc thì thành 800. Nhĩ,
Thiệt, Ý thắng trội cho nên có thể dẫn được tam trợ,
tức Nhĩ, Thiệt, Ý, thành ra 1200.
II.4.
Cách thứ tư :
Chưa
thấy văn thuyết, chẳng thể đoán mò. Kinh nói rằng : “dùng
công đức này mà trang nghiêm cho sáu căn, khiến đều thanh
tịnh”.
Luận
rằng : các người phàm phu nhờ lực của kinh này mà được
cái dụng thù thắng của căn, tuy chưa nhập vị Sơ địa –
giống như trong kinh đã nói – “mới chỉ dùng mắt thịt
do cha mẹ sinh ra, mà đã thấy được tam thiên đại thiên
thế giới v.v…”
Về
điều này, có người giải thích đó là do ở tại Thập trụ
Thập hạnh, Thập hồi hướng, chứ chẳng phải là ở tại
Thập tín, vì lực còn yếu.
Nay
giải thích rằng : chỉ tại Tứ thiện căn vị vì dùng mắt
thịt mà thấy được đại thiên. Giải thoát phần vị chưa
thể như thế. Vì Giải thoát phần vị chỉ thấy được một
châu trong cõi của một hóa Phật, còn Quyết trạch phần vị
mới thấy được đại thiên trong cõi của một hóa Phật.
Tức như kinh nói rằng : “Tam thiên đại thiên là cõi của
một hóa Phật”, cho nên biết rằng Quyết trạch phần mới
thấy được đại thiên thế giới. Chẳng thế thì cõi của
một hóa Phật là nói về cõi của ai thấy ?
Luận
nói rằng : “Hơn nữa, sáu căn thanh tịnh” : có nghĩa là
ở trong mỗi căn đều có đủ cả : thấy sắc, nghe thanh,
biết hương, vị, xúc v.v…, vì các căn hỗ dụng.
“Mắt
thấy” thì có thể ngửi thấy mùi thơm có thể biết được.
Như trong kinh nói : “Do ngửi thấy mùi mà biết Thích Đề
Hoàn Nhân ở trên điện đẹp, năm dục vui sướng, ngồi ở
trên điện”. Sắc ứng với mắt thấy, mà mũi có thể biết
được, cho đến thuyết pháp, ngửi mùi thơm mà biết. Đó
là trí cảnh Tị căn biết.
Thuyết
pháp ứng với cái biết của trí, dùng Tị căn biết. Nghĩa
này có hai :
1)
Chỉ ở Thập địa thì các căn mới hỗ dụng. Duy Thức (luận)
v.v… nói rằng : “đắc vị tự tại thì các căn hỗ dụng,
một căn khởi biết duyên vào mọi cảnh”. Cho nên chẳng
phải là Địa tiền mà có thể gọi là tự tại các căn hỗ
dụng được. Điều mà trước đây nói là “nhìn thấy nghe
thấy đại thiên” là chung cho cả Địa tiền vị. Sơ địa
trở lên thấy trăm thế giới; vì chẳng phải chỉ là tam
thiên. Thêm nữa, trên Sơ địa thực ra thấy được 100 tam
thiên đại thiên. Căn cứ vào cõi của một hóa Phật, mà
tạm nói là thấy được đại thiên. Về lý không sai.
2)
Các căn hỗ dụng, đắc đại tự tại chỉ tại Thập địa.
Duy Thức (luận) v.v… giải thích như vậy. Nếu Gia hạnh lực
phần cũng được thì Địa tiền cũng được.
Cho
nên bản luận nói : Địa tiền mà đắc thì đắc tại phàm
phu (vị), vì cho thông với hỗ dụng ở dưới. (Địa) tiền
phàm phu đắc (Địa) tiền công đức. Nay trên Sơ địa, các
căn hỗ dụng, cho nên chẳng phải Địa tiền có hỗ dụng.
*
-Kinh
văn : “Thiện nam tử này” tới
“thấy hết biết hết”.
Tán
rằng : đây là đoạn thứ ba : thuyết minh riêng về tác dụng
thù thắng của sáu căn.
Đây
là phần trường hàng nói về Nhãn căn, có ba ý :
1)
Mắt thịt chẳng phải thần thông, mà đều biết cả.
2)
Tầm nhìn thấy gần hay xa.
3)
Thấy nghiệp báo.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Thế tôn” tới
“sức mắt thịt như vậy”.
Tán
rằng : đây là 5 tụng, chia làm bốn phần :
1)
Một tụng : dặn phải lắng nghe.
2)
Một tụng về số.
3)
Hai tụng về gần xa.
4)
Một tụng về chúng sinh và kết.
Tiểu
giáo (tức tiểu thừa giáo) nói rằng : thiên nhãn của nhị
thừa thấy được đại thiên. Nay nói mắt phàm phu nhờ lực
trì kinh này mà thấy được đại thiên. Bồ tát Sơ địa
thấy được 100 đại thiên thế giới. Sáu căn công đức
nhiều ít khác nhau nhưng cảnh giới sở đắc là đại thiên
không khác.
Tu
nhân có hơn có kém, quả đức chẳng giống như nhau. Thức
dụng chẳng có sai biệt, đại thiên đều bằng như nhau. Thêm
nữa, đức là thành tựu bên trong, do nhân mà tăng giảm, Cảnh
là cõi của một hóa Phật chỉ có ở bên ngoài, nên lượng
giống nhau.
Chỉ
như nhị thừa chấp một bên cho nên mới có nhị thiên tam
thiên. Điều mà hàng Túc mệnh thiên nhãn biết được về
quá khứ và vị lai, đều được tám vạn kiếp. Lại như
Sơ địa thiên nhãn thấy được 100 đại thiên hơn hẳn nhị
thừa, nhưng Túc mệnh sinh tử chỉ biết trăm kiếp, kém hẳn
nhị thừa. Chẳng thể nhất loạt như nhau.
*
-Kinh
văn : “Lại nữa, Thường Tinh Tiến” tới
“mà chẳng hoại nhĩ căn”.
Tán
rằng : đây là Nhĩ căn. Trường hàng có bốn :
1)
Lượng.
2)
Cảnh giới.
3)
Sở văn sai biệt (kết quả nghe được khác nhau).
4)
Kết thắng (kết luận về tính thắng trội).
Sai
biệt có bảy loại :
1/
Mười hai tạp khởi thanh.
2/
Mười hai lục đối thanh.
3/
Tám bát bộ thanh.
4/
Ba tam tai thanh.
5/
Tam ác thú thanh.
6/
Nhị xuất gia thanh.
7/
Tứ thánh nhân thanh.
Bồ
Tát Địa luận nói : Bồ tát tu lâu tại thắng giải hành
vị mà chưa chứng nghiệm, chú thuật dùng đều hiệu nghiệm
cho nên sáu căn thanh tịnh, ắt tại Địa tiền phàm phu thượng
vị, chẳng phải là ở hạ trung vị.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Thế tôn” tới
“âm thanh cõi tam thiên”.
Tán
rằng : đây là 18 tụng, chia làm ba phần :
-
1 tụng đầu : nêu lên.
-
14 tụng sau : tụng về phần nói trên.
-
3 tụng cuối : kết luận về sự thắng trội.
Đây
là phần đầu.
*
-Kinh
văn : “Tiếng voi, ngựa, xe, trâu” tới
“thảy đều nghe được cả”.
Tán
rằng : đây là phần hai : tụng về phần trên, gồm 14 tụng
chia làm bốn mục :
-
Đầu tiên là 8 tụng, tụng về âm thanh của Dục giới.
-
Thứ đến 1 tụng rưỡi, tụng về âm thanh ở Sắc giới.
-
Thứ nữa 1 tụng rưỡi, tụng về âm thanh xuất gia.
-
Cuối cùng là 3 tụng, tụng về âm thanh của hiền thánh.
“Trong
mười phương thế giới,
Tiếng
chim muông gọi nhau”
“Mười
phương thế giới” : ở đây là cõi 10 phương của tứ thiên
hạ trong 1 tam thiên giới, chứ chẳng phải số đại thiên
giới trong 10 phương.
Thêm
nữa, đắc tam thiên, đó là Nhĩ căn phàm phu. Đây là Thập
địa cho đến Phật vị, cho nên đắc thập phương cũng chẳng
trái ngược nhau.
*
-Kinh
văn : “Tam thiên đại thiên giới” tới
“công đức đã như vậy”.
Tán
rằng : đây là kết luận về sự thắng trội.
*
-Kinh
văn : “Lại nữa, Thường Tinh Tiến” tới
“đủ các loại hương”.
Tán
rằng : đây là Tị căn, trường hàng có bốn phần :
1)
Đức lượng, 3) Sai biệt.
2)
Cảnh lượng. 4) Kết thành.
Đây
là hai phần đầu.
Trên
dưới đã xa, thì làm sao mà có thể biết được ? Nếu căn
xa cảnh thì cái biết chẳng tới cảnh để biết được.
Hoại căn chẳng hoại cảnh. Nếu cái biết tới được cảnh
để biết, há chẳng phải mọi mùi hương đều tới căn được
ư ?
Luận
rằng : đó là vì trí cảnh Tị căn biết. Định trí từ xa
mà biết, vì y vào Tị căn mà biết cho nên gọi là ngửi thấy
mùi hương, chứ chẳng phải là cái mũi thực sự gặp được
cảnh mà biết. Thêm nữa, các căn hỗ dụng, mũi còn thấy
được sắc huống hồ còn y vào trí của mắt của tai, mà
chẳng biết được hương của cả đại thiên ư ? Được
thứ giả tựa như hương, chứ chẳng phải là được thực
thể. Vì nếu lìa cảnh mà biết được cái thể, thì làm
hoại tính của cảnh.
*
-Kinh
văn : “Hương hoa Tu mạn na” tới
“ghi nhớ chẳng sai”.
Tán
rằng : đây là hai phần :
-
Phần thứ ba : Sai biệt,
-
Phần thứ tư : Kết thành, đó là đoạn từ “tuy ngửi thấy
mùi hương này” trở xuống.
Sai
biệt có hai :
1.
Phàm. 2. Thánh.
Trong
phàm lại có hai :
a)
Dục giới. b) Sắc giới.
Dục
giới lại có hai :
1)
Phi thiên. 2) Thiên.
Phi
thiên có hai :
-
Cảnh vật. - Sinh thân.
Thiên
cũng có hai :
+
Cảnh vật. + Thiên thân.
Sắc
giới vì sao lại có hương ? Đây là thông quả hương, chẳng
phải là nghiệp quả.
Kinh
Hoa Nghiêm nói rằng : “Tị căn của Bồ tát ngửi thấy hương
của cung điện Vô sắc giới”.
Đây
là căn cứ vào sự hình thể dựa theo cái do Thông lực biến
thành, còn đó thì căn cứ vào sự hình thể tương tự cái
do Định lực biến thành. Cho nên chẳng trái gì nhau.
Song
Du Già nói : “Phải nên biết rằng thắng định quả sắc
chỉ có tướng hiển sắc v.v…” . Vì sinh nhân của hương
đó thiếu, lại vô dụng cho nên nương nhờ vào Sắc giới.
Vì bản chất của Định, nếu biến hóa ra Định cảnh thì
không hương, vị ; phải dựa vào Dục cảnh mới có.
Thêm
nữa, nếu Gia hành tâm kém, sinh nhân thiếu thì không có. Nếu
Gia hành tâm mạnh, sinh nhân có, thì có. Bồ tát có, nhị thừa
không. Thánh nhân có, phàm phu không. Đệ tử Phật có, bọn
ngoại đạo không, vì yếu kém vậy.
Song
Du Già cũng nói : “Thắng định quả sắc đối với mọi
sắc đều được tự tại”. Cho nên biết Định quả thông
biến hết thảy.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Thế tôn” tới
“được tướng mũi này trước”.
Tán
rằng : dưới đây là 30 tụng, được chia làm ba phần :
-
1 tụng : nêu lên.
-
28 tụng : tụng về phần trên.
-
1 tụng : kết.
Trong
28 tụng về phần trên, lại chia làm hai :
a)
23 tụng đầu : tụng về phàm hương.
b)
5 tụng cuối : tụng về thánh hương.
Phàm
hương lại có hai :
+
21 tụng : tụng Dục giới hương.
+
2 tụng : tụng Sắc giới hương.
Dục
giới chia làm hai phần :
-
Phần đầu gồm 7 tụng, thuyết minh sơ qua về hương của
người, trời.
-
Phần sau gồm 14 tụng, thuyết minh kỹ về hương của người,
trời.
Phần
đầu này lại có hai :
a/-
5 tụng lược tụng về hương của cảnh vật và hương của
chúng sinh trong cõi trời.
b/-
2 tụng lược tụng về hương của chúng sinh và hương của
cảnh vật trong cõi trời.
Trong
14 tụng thuyết minh rộng về hương, chia làm hai phần :
9 tụng đầu : tụng về hương trong cõi người.
5 tụng sau : tụng về hương trong cõi trời.
Trong
cõi người có ba :
a.
2 tụng đầu : hương cảnh vật.
b.
5 tụng sau : hương chúng sinh.
c.
2 tụng cuối : hương phục tàng.
Trong
5 tụng về (hương) chúng sinh :
-
2 tụng đầu : nói về hiện sinh hương.
-
3 tụng sau : tụng về ẩn sinh hương.
Năm
tụng tụng về hương trong cõi trời chia làm bốn :
1/-
Một tụng về hoa.
2/-
Hai tụng về cung.
3/-
Một tụng về trời.
4/-
Một tụng về vui đùa (hí).
Trong
năm tụng về thánh hương, chia làm bốn phần :
a)
Hai tụng Tỳ kheo.
b)
Một tụng Bồ tát.
c)
Một tụng Phật.
d)
Một tụng chúng sinh.
*
-Kinh
văn : “Thứ nữa, Thường Tinh Tiến” tới
“không thứ gì không ngon”.
Tán
rằng : đây là Thiệt căn. Trường hàng có ba :
1)
Đức lượng.
2)
Căn dụng (tác dụng của thiệt căn).
3)
Thiệt cụ dụng (tác dụng cụ thể của lưỡi).
Đây
là hai phần đầu.
Đây
không có cảnh lượng. Cớ sao chẳng giống Tị căn có thể
biết được tam thiên ? Đã chẳng thể biết, cớ sao công
đức lại thành 1200 ? Thiệt căn lẽ ra cũng phải được nếm
mùi vị của tam thiên giới, chỉ vì tụng văn nói về Thiệt
cụ dụng :
“Người
nói kinh pháp đó,
Nếu
muốn dùng diệu âm,
Khắp
cả cõi tam thiên,
Tùy
ý đều đến được”.
Cho
nên chẳng thuyết về việc nếm vị. Hương lìa chất thì
có thể có. Vị lìa chất thì sẽ là không. Cho nên chẳng
thuyết về nếm được vị của Tam thiên giới. Trong kinh cũng
nói Phật có Tị thiệt thông (lực thần thông của mũi, lưỡi),
còn hơn là cả nhãn nhĩ.
*
-Kinh
văn : “Nếu dùng Thiệt căn” tới
“pháp âm thâm diệu”.
Tán
rằng : dưới đây là Thiệt cụ dụng, chia làm 5 mục :
1)
Khéo thuyết pháp.
2)
Nhiều chúng tới nghe.
3)
Được cúng dàng.
4)
Gần hiền thánh.
5)
Ủng hộ thuyết pháp.
Mục
nhiều chúng tới nghe có ba :
a)
Trời.
b)
Rồng v.v…
c)
Tứ chúng tới nghe.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Thế tôn” tới
“hoặc có lúc hiện thân”.
Tán
rằng : dưới là 8 tụng rưỡi, chia làm hai :
-
Một tụng đầu, nói về Thiệt căn dụng.
-
Các tụng còn lại, tụng về Thiệt cụ dụng.
Thiệt
cụ dụng chia làm bốn mục :
a)
1 tụng rưỡi : khéo thuyết pháp.
b)
3 tụng : chúng tới nghe.
c)
1 tụng : cúng dàng.
d)
2 tụng : hiền thánh ủng hộ.
*
-Kinh
văn : “Lại nữa, Thường Tinh Tiến” tới
“hiện sắc tướng của mình”.
Tán
rằng : đây là Thân (căn), văn trường hàng có bốn :
1)
Đức lượng.
2)
Hỉ kiến (thích thấy).
3)
Cảnh lượng.
4)
Sai biệt.
Sai
biệt có ba :
a)
Khí giới. b) Thượng hạ. c) Hiền thánh.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Thế tôn” tới
“hết thảy hiện ở trong”.
Tán
rằng : đây là 7 tụng rưỡi, chia làm năm phần :
1)
Một tụng : hỉ kiến.
2)
Một tụng rưỡi : độc kiến.
3)
Một tụng rưỡi : cảnh lượng.
4)
Hai tụng rưỡi : sai biệt.
5)
Một tụng : kết thắng.
Sai
biệt có hai :
a)
Một tụng rưỡi : cảnh.
b)
Một tụng : hiền thánh.
*
-Kinh
văn : “Lại nữa, Thường Tinh Tiến” tới
“điều đã nói ở trong kinh”.
Tán
rằng : đây là Ý (căn), văn trường hàng có bảy :
1)
Đức lượng. 5) Cảnh lượng.
2)
Xa rộng. 6) Hiển thắng.
3)
Vô cùng. 7) Chân thực.
4)
Thuận lý.
Trong
cái vô cùng, thì “một tháng, bốn tháng v.v…” là tạm
nêu các phần đều nhau của thời gian năm tháng.
Trong
cái sai biệt thì :
-
“Sở hành của tâm” : là cảnh giới sở thủ.
-
“Tâm sở động tác” : là hành tướng của tam tính.
-
“Tâm sở hý luận” : là ngôn thuyết phân biệt tính của
các pháp.
Hoặc
là thân, ngữ, ý cứ theo thứ tự mà phối hợp.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Thế tôn” tới
“nhất thời đều biết hết”.
Tán
rằng : dưới đây là 11 tụng, chia làm năm phần. Đây có
ba phần :
-
1 tụng rưỡi đầu : tụng về xa rộng.
-
Nửa tụng : tụng về vô cùng.
-
2 tụng : tụng về sai biệt.
*
-Kinh
văn : “Mười phương vô số Phật” tới
“trước đám đông không sợ”.
Tán
rằng : đây là phần thứ tư : có 4 tụng, tụng về chân thực,
chia làm bốn :
1)
Một tụng : năng trì.
2)
Một tụng : chẳng quên.
3)
Một tụng : như thuyết.
4)
Một tụng : vô úy (không sợ).
*
-Kinh
văn : “Người trì kinh Pháp Hoa” tới
“vì trì kinh Pháp Hoa”.
Tán
rằng : đây là phần thứ năm : có 3 tụng, tụng về hiển
thắng (thể hiện sự thắng diệu), chia làm ba :
1)
Một tụng : hiển thắng.
2)
Một tụng : hỉ kiến.
3)
Một tụng : khéo thuyết.
Sợ
rằng văn rườm rà, nên chỉ phân tích những nét lớn khác
với trường hàng, cứ phối hợp với trường hàng mà đọc
thì sẽ hiểu hết.
***
PHẨM
THƯỜNG BẤT KHINH BỒ TÁT
Ba
môn phân biệt :
I.
NÓI RÕ DỤNG Ý..
II.
GIẢI THÍCH TÊN PHẨM.
III.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC.
I.
NÓI RÕ DỤNG Ý.
Có
bốn ý :
1.
Nói về người năng học hành tuy có sáu phẩm, nhưng chia làm
bốn đoạn, đây là đoạn thứ tư thuyết minh về Phật tự
thân xưa lúc ở vị trí tu nhân, hành an lạc hạnh, tu nhẫn
nhục v.v…, lưu thông kinh này, nên được an lạc. Nay thuyết
kinh này khuyến khích pháp hội đương thời, cho nên mới có
phẩm này.
2.
Trong ba phẩm thuyết minh về quả chưa mãn, trước đã thuyết
minh về sự tu hành cái hạnh sáu căn thanh tịnh, nhưng chưa
biết người chứng đắc thực sự là ai ? Nay thuyết tự thân
xưa tu hành hạnh đó, được sáu căn thanh tịnh để khuyến
khích pháp hội đương thời, cho nên mới có phẩm này.
3.
Muốn nêu rõ thực hành an lạc hạnh thì uy thế sẽ không
gì sánh nổi. Ta là Bất Khinh, thực hành an lạc hạnh, chúng
sinh lúc đó có những hành động làm tổn hại đến ta, thoạt
đầu tuy bị khổ, nhưng rồi nhờ lực của ta, họ đều chứng
đắc Phật đạo. Huống hồ lại đích thân tự mình tu hành
mà chẳng thành Phật được ư ? Nay thuyết về duyên này để
làm lợi cho pháp hội đương thời, cho nên mới có phẩm này.
4.
Trong luận thuyết về sáu loại ký thì đây thuyết minh về
Bồ tát đầy đủ nhân tu được dự ký, cho nên mới có phẩm
này.
II.
GIẢI THÍCH TÊN PHẨM.
“Thường”
: có nghĩa là hằng.
“Bất
khinh” : có nghĩa là cung kính.
Quan
sát thấy bốn chúng ấy đều sẵn có nhân Phật tính, khuyến
khích họ tu hành, ắt sẽ được thành Phật. Ba nghiệp luôn
vững chắc cung kính ngưỡng mộ cho nên gọi là “Thường
Bất Khinh”.
III.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC.
-Hỏi
: vì sao phẩm này (Phật) chỉ bảo cho một mình Đắc Đại
Thế ?
Đáp
: vì muốn nói rõ uy thế của kinh này có thể khiến cho mọi
người thuận theo mà tu hành thì sẽ chóng được thành Phật,
còn kẻ ác trái với kinh này cũng có thể chóng trừ được
nỗi khổ của họ. Cho nên chỉ bảo riêng cho vị đó mà chẳng
bảo người khác.
-Hỏi
: phẩm này cũng thuyết minh về Uy Âm Vương Phật, (thế mà)
tại sao chỉ lấy Bất Khinh đặt tên phẩm ?
Đáp
: Phật nhân tiện mà nói về vị đó, chứ chẳng phải là
chủ yếu thuyết minh về vị đó.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Phật bảo” tới
“thân ý thanh tịnh”.
Tán
rằng : toàn văn phẩm này chia thành 4 phần :
-
Phần đầu : nhắc lại về tội phúc do nghịch hạnh thuận
hạnh sinh ra trước đây để chỉ bảo cho mọi người.
-
Phần hai : nêu bật riêng về nhân tướng thuận nghịch đối
với người trì kinh thuyết kinh.
-
Phần ba : kết hội xưa nay để chỉ cho mọi người tướng
thuận nghịch.
-
Phần bốn : kết khuyên mọi người trừ nghịch hạnh, tu thuận
hạnh.
Đây
là phần đầu.
Tội
thì như phẩm Thí Dụ trước. Công đức thì cũng như các
phẩm trước (đã nói).
*
-Kinh
văn : “Đắc Đại Thế” tới
“đều cùng một danh hiệu”.
Tán
rằng : dưới là phần thứ hai : nêu bật riêng về nhân tướng
nghịch thuận đối với người thuyết kinh, có ba :
1.
Đầu tiên nêu rõ thời tiết.
2.
Thứ đến là Phật được gặp.
3.
Cuối cùng là nói rõ nhân tướng thuận nghịch đối với
người năng hành.
Đây
là hai phần đầu.
Phật
được gặp có hai loại :
a)
Phật đầu tiên. b)
Phật sau.
Phật
đầu tiên có 6 mục :
1)
Danh hiệu. 2) Kiếp.
3)
Nước. 5) Thọ trụ.
4)
Thuyết pháp. 6) Niết bàn.
“Chư
Phật cùng danh hiệu là Uy Âm vương” : nêu bật cái âm thanh
thuyết kinh Pháp Hoa là thứ tôn quí thắng trội như vua, có
uy thế lớn có thể khiến chúng sinh được lợi lạc lớn.
Tức là điều mà Thường Bất Khinh chứng đắc lúc lâm chung.
Đó là kinh Pháp Hoa này lợi ích to lớn.
*
-Kinh
văn : “Vị Uy Âm Vương Như Lai đầu tiên”
tới “có thế lực to lớn”.
Tán
rằng : dưới là nói rõ nhân tướng thuận nghịch đối với
người năng hành.
Trong
đó có 8 phần :
1)
Kẻ ác tăng thế.
2)
Thiện sĩ thêm chăm.
3)
Bị lời xúc phạm, có thể nhẫn nhịn.
4)
Thân bị xâm hại, có thể chịu được.
5)
Tiếng lành đã nổi.
6)
Thắng quả bèn sinh.
7)
Kẻ ác theo sự giáo hóa.
8)
Thiện sĩ tăng đạo.
Đây
tức là phần đầu.
*
-Kinh
văn : “Bây giờ có một” tới
“vì sẽ thành Phật”.
Tán
rằng : đây là phần hai : Thiện sĩ thêm chăm. Có ba mục :
1)
Nêu danh.
2)
Giải thích danh.
3)
Nêu rõ về hạnh.
Đó
là đoạn từ “Vị tỳ kheo này” trở xuống.
“Bồ
tát tỳ kheo” : nêu rõ đây là Bồ tát chứ chẳng phải chỉ
là tỳ kheo, nếu là tỳ kheo mà chẳng phải là Bồ tát thì
chẳng phải là hạnh này, vì đầu tiên thì chẳng đáng trách,
nhưng cuối cùng thì phạm giới.
“Tôi
rất kính các ngài, chẳng dám khinh mạn” : vì các ngài đều
có Phật bản tính, là trụ chủng tính. Nên đây là kính báo
thân Như Lai tạng.
“Đều
tu hành đạo Bồ tát sẽ được thành Phật” : có nghĩa là
người có chủng tính, nếu khởi tập tính, phát tâm tu hành,
ắt được thành Phật. Thêm nữa, vì y vào pháp thân Như lai
tạng mà hết thảy đều có, nên tôi rất kính trọng các
ngài. Nếu tu hành đạo Bồ tát, tôi tu tập báo thân Như lai
tạng, thì sẽ được thành Phật.
Kinh
Vô Úy Đức Nữ nói rằng : Bồ tát vì độ cho các chúng sinh
kiêu mạn sân não, khiến họ được khởi tâm hồi hướng,
hơn nữa để phát triển thêm cái gốc các thiện căn của
chúng sinh, cho nên Bồ tát đã lễ các chúng sinh.
-Hỏi
: vị Bồ tát tỳ kheo nàu hễ gặp bốn chúng thỉ việc đầu
tiên là lễ. Lễ cả tỳ kheo ni và bạch y (chỉ người tại
gia), như thế chẳng phạm (giới luật) ư ?
Đáp
: Bồ tát tỳ kheo chẳng làm lễ đó, lễ thì có phạm. Nay
làm lễ đó, sở dĩ chẳng phạm là vì Bồ tát đối với
Tính tội ắt trì (giới) luật, nhưng đối với Già tội thì
có phạm, vì để khuyến khích việc làm lợi cho đại chúng.
Nếu chỉ là tỳ kheo chẳng phải là Bồ tát mà lễ thì có
phạm, chẳng lễ thì không phạm. Thêm nữa, nếu lễ bốn
chúng thì chẳng phạm, nếu chỉ lễ riêng một (chúng) thì
sẽ khiếm khuyết.
Lại
nữa, (đó là) kính Phật tính chứ chẳng phải là lễ thân
xác. Cho nên đã chẳng chuyên đọc tụng, cũng chẳng chuyên
lễ bái, luôn cả hai sự đó.
Tỳ
kheo mới học lễ chân Duy Ma là vì chưa biết, vì chẳng phải
là hạng cựu học. Nhưng có người giải thích rằng : tỳ
kheo này chẳng thực hành việc đọc tụng mà chỉ lễ bái.
Nếu thế thì lẽ ra phải nói rằng : chẳng đọc tụng kinh,
chứ cần gì phải dùng chữ “Chuyên” nữa. Cho nên biết
rằng : “chẳng chuyên đọc tụng, cũng không chỉ thực hành
việc lễ bái”. Đó chính là ý trong này.
*
-Kinh
văn : “Trong bốn chúng” tới
“ngài sẽ thành Phật”.
Tán
rằng : đây là phần thứ ba : bị lời xúc phạm mà nhẫn
nhịn được. Có hai mục :
1)
Bị lời xúc phạm.
2)
Có thể nhẫn nhịn được.
*
-Kinh
văn : “Lúc nói lời này” tới “là
Thường Bất Khinh”
Tán
rằng : đây là phần thứ tư : “thân bị xâm hại có thể
chịu đựng được” và phần thứ năm “tiếng lành đã
nổi”.
Trên
đây chính là Tứ thập tâm vị.
*
-Kinh
văn : “Tỳ kheo này” tới “kinh
Pháp Hoa này”.
Tán
rằng : đây là phần thứ sáu “thắng quả bèn sinh”, có
ba ý :
1)
Nghe pháp, có thể thụ trì.
2)
Sáu căn thanh tịnh.
3)
Tăng thọ, thuyết pháp.
Nếu
Thường Bất Khinh chẳng giở đọc kinh Pháp Hoa trong thời
Tượng pháp từ trước, thì há có thể vào lúc lâm chung nghe
xong liền thụ trì ngay được ? Nếu trước chẳng tu
nhân, thì quả làm sao mà sinh ra được ? Trước kia lễ bái
là Tứ thập tâm vị. Nghe pháp căn tịnh là Tứ thiện căn
vị. Vì tăng thọ mệnh nên được “sức đại thiện tịch”,
dần thành Lý quán vì quán chân lý.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ, tăng thượng mạn” tới
“Tam Miệu Tam Bồ đề”.
Tán
rằng : đây là phần bảy “kẻ ác theo sự giáo hóa”. Có
hai mục :
1)
Kẻ ác theo sự giáo hóa.
2)
Số được giáo hóa trở thành nhiều.
“Đại
thần thông lực” : (khiến) tăng thọ, căn tịnh.
“Nhạo
thuyết biện lực” : (khiến) nhớ kệ, thuyết pháp.
“Đại
thiện tịch lực” : (khiến) dần dần thành đế quán, nghe
pháp hiểu lý.
*
-Kinh
văn : “Sau khi mệnh chung” tới
“tâm không sợ gì”.
Tán
rằng : đây là phần thứ tám : (nói về) thiện sĩ tăng đạo.
Có 5 phần, văn này có 4 :
1)
Gặp Phật thuyết pháp.
2)
Gặp Phật trì tụng.
Hai
thứ này tại phàm Tứ thập tâm vị.
Do
như vậy mà :
3)
Được sáu căn thường tịnh, liền nhập Sơ địa.
4)
Trừ được năm điều sợ hãi, đạt được bốn vô úy.
Cho
nên biết là thường được sáu căn thanh tịnh, nhập trong
Sơ địa.
Bồ
tát lẽ ra phải trụ ở trong vòng sinh tử để hóa độ chúng
sinh. Người thường gặp Phật thì chưa nhập Thập địa.
Nếu chẳng gặp chư Phật thì như thuyền nát rò, tự mình
chẳng thể độ, làm sao mà có thể độ cho người, như đem
chút nước nóng đổ xuống ao băng lớn, ban đầu dẫu có
làm tan một ít, nhưng sau đó lại đóng băng. Người chưa
lìa được phiền não lại chẳng gặp Phật, mà làm việc
lợi sinh thì cũng như thế.
Kinh
Hoa Nghiêm trong phần thuyết về Thập địa nói : “Bồ tát
được Hoan hỉ địa, thì lìa xa mọi sự sợ hãi liền. Đó
là nỗi sợ chẳng sống, sợ tiếng xấu, sợ chết, sợ sa
vào đường ác, sợ uy đức đại chúng. Vì sao vậy ?
Vì
Bồ tát đó lìa ngã tướng, cho nên ngay đến thân còn chẳng
tham, huống hồ là các vật dụng. Cho nên Bồ tát không có
nỗi sợ chẳng sống.
Tâm
chẳng hy vọng được cung kính cúng dàng, ta phải cúng dàng
hết thảy chúng sinh, cung cấp cho họ những thứ mà họ cần,
cho nên Bồ tát không sợ tiếng xấu.
Vì
lìa xa ngã kiến, không có ngã tướng, nên không có nỗi sợ
chết.
Lại
nghĩ như vầy : nếu ta chết rồi, lúc tái sinh ắt sẽ trông
thấy chư Phật, Bồ tát, cho nên không có nỗi sợ bị sa vào
đường ác.
Chí
nguyện của ta không ai bằng được, huống chi là có sự trội
hơn ! Cho nên không có nỗi sợ uy đức đại chúng”.
Nếu
theo cách giải thích của luận, thì Vô úy có hai loại :
1)
Vô sở úy của Bồ tát.
2)
Vô sở úy của Phật.
Vô
sở úy của Phật tức là Chính đẳng giác. Ở đây là Vô
sở úy của Bồ tát, có 4 thứ :
1/-
Vì chúng sinh mà thuyết pháp, Vô sở úy (không sợ gì hết)
vì mọi điều đã được nghe đều có thể thụ trì, vì được
các Đà la ni, cho nên thường nhớ chẳng quên.
Ba
thứ sau đây gọi là Thuyết pháp giữa đại chúng Vô sở
úy :
2/-
Vì biết Dục, Giải, Nhân duyên, các căn lợi độn của hết
thảy chúng sinh, cho nên tùy theo sự hưởng ứng của họ mà
thuyết pháp cho họ.
3/-
Chẳng thấy thập phương có ai đến hỏi vặn mà khiến ta
chẳng thể giải đáp được như pháp, vì chẳng thấy chút
tướng trạng nào như vậy.
4/-
Hết thảy chúng sinh thính thụ, vấn nạn thì đều tùy ý
như pháp khéo biết phá dứt mọi điều nghi ngờ.
Lìa
năm thứ sợ hãi nói trên, đạt được bốn thứ vô úy này
thì nhập Sơ địa. Sau này nhập Bát địa rồi thì mới lìa
được Bố nhân (nguyên nhân của sự sợ hãi).
*
-Kinh
văn : “Đắc Đại Thế” tới
“sẽ được thành Phật”.
Tán
rằng : đây là phần thứ năm : duyên tu đạo mãn, nhập chư
địa rồi, sau đó càng được gặp Phật, càng thuyết kinh
điển này.
*
-Kinh
văn : “Đắc Đại Thế” tới
“Tam Miệu Tam Bồ đề”.
Tán
rằng : dưới là đoạn lớn thứ ba : kết hội kim cổ để
chỉ mọi người tướng thuận nghịch. Chia làm hai phần :
Phần đầu : hội Bất Khinh.
Phần sau : hội bốn chúng.
Đây
là phần đầu, có hai mục :
-
Đầu là hội thân.
-
Sau là hội pháp.
*
-Kinh
văn : “Đắc Đại Thế” tới
“đó là người chẳng thoái chuyển”.
Tán
rằng : đây là hội bốn chúng, có ba phần :
Đầu tiên là hội lúc xưa hành ác hạnh chịu quả báo (Sơ
hành ác hạnh quả).
Thứ hai là hội quả của người nữa chừng mới theo sự
giáo hóa của Phật (Trung đồ tòng hóa quả).
Cuối cùng là hội các chúng xưa nay.
-Hỏi
: Thanh văn Thiện Hiện vẫn còn đang trụ ở hạnh Vô tránh.
Vốn phải giúp đỡ chúng sinh và làm lợi ích cho họ, cớ
sao Bồ tát lại thụ ký gượng ép cho tứ chúng, khiến họ
đánh chửi ông ta chuốc lấy tội báo này ?
Đáp
: Bồ tát địa nói : Bồ tát thường lấy sự vui được yên
ổn để giáo hóa chúng sinh. Nếu chẳng phải là sự vui được
yên ổn thì cũng biết được đúng như thực, rồi tùy lực
mà phương tiện giáo hóa khiến họ đoạn trừ. Nếu lúc đầu
khổ mà sau được yên ổn, họ tuy ưu não nhưng rốt cuộc
cũng được lợi ích. Đó là Bồ tát y vào phương tiện thiện
xảo.
-Hỏi
: nếu lúc đầu tuy vui mà sau chẳng yên, họ dù chịu ưu khổ
nhưng chẳng muốn theo, thì phải dùng lực phương tiện để
giúp họ đoạn trừ. Vì sao vậy ?
Đáp
: vì sau này ắt sẽ vui. Nay Bất Khinh quan sát thấy lúc đầu
tuy khổ, nhưng sau này trở lại hóa đạo sẽ khiến họ nhập
đạo. Giống như vị đại lương y quan sát người ốm nặng,
trước hết phải làm cho bệnh của người đó phát ra rồi
sau mới cho thuốc để chữa khỏi. Lại giống như người
đánh cá giỏi, khéo léo khiến cá ở dưới suối xuất hiện.Cũng
giống như người thợ săn giỏi, khéo léo khiến gấu beo xuất
hiện. Nếu biết sân là cái nhân có ích, thì khiến kẻ đó
nổi sân lên, để rồi độ cho họ. Nếu biết tham là cái
nhân có ích thì, khiến họ nổi tham lên, để rồi độ cho
họ. Cũng như cảm hóa dâm nữ, để ả mặc sức bừa bãi
rồi sau đó mới độ cho ả.
Nhị
thừa thì chẳng thể làm nổi, cho nên trụ ở Vô tránh, hiện
tuy trừ được Tranh, nhưng chẳng thể giúp người khác rốt
ráo trừ bỏ được mọi sự tranh cạnh. Bồ tát tự mình
chứng được Vô tránh chân như, rồi giúp người khác trừ
được gốc rễ của mọi sự tranh cạnh, rốt ráo khiến họ
cũng chứng được chân lý vô tránh này. Cho nên, thoạt đầu
tuy khởi Tránh, nhưng sau lại khiến diệt Tránh. Đó là “hành
Đại vô tránh” chẳng giống với “hiện Tiểu vô tránh”
của nhị thừa. Cho nên không hề gì.
*
-Kinh
văn : “Đắc Đại Thế” tới
“sao chép kinh này”.
Tán
rằng : đây là đoạn lớn thứ tư : kết luận khuyên mọi
người trừ nghịch hạnh, tu thuận hạnh.
Có
hai phần :
-
Phần đầu : lợi ích kinh này lớn.
-
Phần sau : khuyên lưu thông kinh này.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Thế tôn” tới
“chóng được thành Phật đạo”.
Tán
rằng : đây là 19 tụng rưỡi, tụng về ba đoạn cuối, chia
làm ba phần :
1.
Phần đầu : gồm 10 tụng, tụng về tướng thuận nghịch
đối với người thuyết kinh.
2.
Phần hai : gồm 3 tụng rưỡi, kết hội cổ kim để chỉ cho
mọi người tướng thuận nghịch.
3.
Phần cuối : gồm 6 tụng, kết luận khuyên mọi người trừ
nghịch hành thuận.
Đây
là phần đầu, có hai mục :
+
1 tụng rưỡi đầu : được gặp Phật.
+
8 tụng rưỡi sau : hành thuận nghịch.
Trong
hành thuận nghịch lại chia làm năm :
-
3 tụng đầu : kẻ ác tăng thế, thiện sĩ thêm chăm.
-
1 tụng sau : bị lời xúc phạm vẫn nhẫn nhịn được, thân
bị xâm hại vẫn chịu đựng được.
-
2 tụng sau : thắng quả bèn sinh.
-
1 tụng sau : kẻ ác thuận theo sự giáo hóa.
-
1 tụng rưỡi cuối : thiện sĩ tăng đạo.