QUYỂN
THỨ SÁU (PHẦN SAU)
Sa
môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn.
PHẨM
TỨ TƯ : TÍN GIẢI
Gồm
ba môn phân biệt:
I.
NÓI RÕ DỤNG Ý.
II.
GIẢI THÍCH TÊN PHẨM.
III.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC.
I.
NÓI RÕ DỤNG Ý.
Dụng
ý của phẩm này có hai :
1.
Thu Tử là bậc thượng căn nghe thuyết pháp thì vui mừng mà
lĩnh hội. Bốn người khác là hạng trung căn nhờ dụ hiểu
mà hớn hở tỏ ngộ. Cho nên sau phẩm Thí Dụ mới có phẩm
Tín Giải.
2.
Luận giải thích bảy loại cụ túc. Chúng sinh phiền não tính
có bảy thứ tăng thượng mạn, để đối trị các thứ này
thì thuyết bảy thí dụ. Trong đó phẩm Thí Dụ trước là
dụ thứ nhất : Nhà lủa.
Hạng
người cầu thế lực, khởi điên đảo, khởi tăng thượng
mạn cầu công đức, cầu quả báo diệu cảnh giới của người
và trời, thì thuyết dụ Nhà lửa cho hạng này. Phẩm Tín
Giải này là dụ thứ hai.
Hạng
người cầu giải thoát theo Thanh văn thừa thì một mực tăng
thượng mạn, nói rằng : thừa của ta không khác gì thừa
của Như Lai (tức Phật thừa). Vì họ điên đảo như vậy,
cho nên để đối trị cho loại chuyên cầu Thanh văn giải
thoát này thì thuyết dụ về người con nghèo túng. Trước
kia vì thừa Vô vi và thừa cuối không khác, nên nói thừa
là một, để khuyến khích họ nhập đại thừa. Họ bèn mê
chấp. Nay nói rằng họ giồng như người con nghèo túng của
trưởng giả, thừa Hữu vi và thừa đầu khác nhau để khuyên
họ bỏ mê chấp. Cho nên sau phẩm trước thì có phẩm này.
II.
GIẢI THÍCH TÊN PHẨM.
Đại
để có bốn môn :
1.
Trừ nghi thì gọi là Tín.
Phá mê thì gọi là Giải.
*Chữ
[解] âm đọc là Giải.
Bốn
người khi xưa nghi rằng mình chẳng thành Phật, nên chẳng
vui mừng ưa thích gì đối với tâm Bồ đề, nên cũng chẳng
thể chứng ngộ được chính giác. Do đó mà khi ngồi nghe
thì bản thân lơ là uể oải. Sau được nghe dụ thuyết nói
là giống như Thu Tử trước đây thì nghi hối đều trừ bỏ
được. Cho nên gọi là Tín Giải.
Tín
: tức là tịnh tâm nhẫn dục.
Giải
: tức là diệu trí ấn chứng được pháp hy hữu.
Tin
mình sẽ thành Phật, hiểu được ý Phật nói.
2.
Tín, có nghĩa là trừ được sự chẳng tin.
Giải, có nghĩa là phá được sự chẳng hiểu.
Xưa
thì hiểu tam thừa nhưng chẳng tin nhất thừa. Hoặc là tin
tam thừa nhưng chẳng hiểu nhất thừa. Nay mới hiểu được
nhất thừa và cũng tin tam thừa, hiểu tam thừa và cũng tin
nhất thừa. Tâm thanh tịnh hơn nữa lại hiểu biết, cho nên
gọi là Tín Giải.
Tín
: là cái tâm năng liễu ngộ thanh tịnh.
Giải
: tức là cái lý sở đạt sáng tỏ. Giải thì sâu, Tín thì
nông; đầu cuối đều thuyết. Do Tín, cho nên thâm nhập nền
tảng đại thừa. Nhờ Giải, nên chứng được gốc của chân
tông. Nêu lên cả hai khả năng, cho nên gọi là Tín Giải.
Tín
: tức là ấn thuận cái danh sở văn (tin theo những điều
được nghe).
Giải
: tức là hiểu được ý nghĩa của quyền thực. Đối với
quyền, thực thảy đều tín giải.
3.
Tín thể hiện là do Tha, Giải chứng tỏ là tự mình tỏ ngộ.
Trước nói rằng : các Thanh văn khác tin lời Phật nói, cho
nên tùy thuận kinh này. Đó chẳng phải là phần trí tuệ
của mình. Cho nên thể hiện là do Phật, bốn người mới
tin. Đã có sự tin tưởng rồi thì tự mình so sánh mới sinh
ra Giải ngộ. Cho nên gọi là Tín Giải.
Tín
là thuận tha mà tâm tịnh.
Giải
chính là thể hiện rõ bản thân mình có thể hiểu biết được
: đối với người, với pháp đều tín giải.
4.
Hai từ Tín, Giải mỗi hạng đều có sự phân biệt khác nhau.
1)
Hạng độn căn chính kiến thì tín mà chẳng giải (tin mà
chẳng hiểu).
2)
Hạng lợi căn tà kiến thì giải mà chẳng tín (hiểu mà chẳng
tin).
3)
Hạng lợi căn chính kiến thì vừa tín vừa giải.
4)
Hạng độn căn tà kiến thì chẳng tín, chẳng giải.
5)
Hạng phàm phu sơ tâm thì tin mà chưa hiểu.
6)
Hạng Bồ tát chứng Giải rồi thì tin. Trước khi nhập địa
thì do tín mà giải.
7)
Hạng Nhất xiển đề chẳng tín chẳng giải. Nay ở đây gồm
cả hai ý. Đó là Tín Giải, chẳng phải là tin mà chẳng hiểu,
chẳng phải hiểu mà chẳng tin. Tin và hiểu cho nên gọi là
Tín Giải. Đều lấy câu thứ ba.
Tín
là tịnh tâm định thú. Giải chính là thâm trí ngộ hội
(trí tuệ sâu sắc liễu ngộ chân lý), đối với Giáo với
Lý đều tin đều hiểu. Vì đó là tỷ giải, tùy tăng nghĩa
mà lý giải mục đích của quyền, thực. Tín là quy phục
tông chỉ của nhất thừa, nhưng chưa chứng được về lýù,
nên chẳng nói là Giải. Vì nghĩa bàn chung đều duyên giáo
lýù, vừa Tín vừa Giải, đây là giải thích tên phẩm Tín
Giải theo kiểu Trì nghiệp.
III.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC.
-Câu
hỏi 1 : theo Tỳ Bà Sa luận thì nói rằng : hàng Thanh văn có
ba hạng :
-
Hạng thượng căn chỉ có một vị, đó là Xá Lợi Phất,
đã từng một mình tu luyện căn tính 60 kiếp.
-
Hạng trung căn cũng chỉ có một, đó là Đại Mục Liên.
-
Hạng hạ căn gồm các vị Thanh văn khác đều thuộc về hạ
hạ tính.
Vì
sao giờ đây bốn người lĩnh ngộ đều là trung phẩm (tức
trung căn) ?
Đáp
: Thu Tử lĩnh ngộ trước, chưa sai với tông chỉ của mình.
Bốn người trung căn nào có trái với lý này. Nếu so sánh
ở trong hàng Thanh văn thì trung phẩm chỉ có một mình Mục
Liên. Nhưng phát tâm hướng theo đại thừa thì gồm thêm cả
bốn người, vậy có gì sai đâu !
Hơn
nữa như Thiện Hiện ngộ không, Mãn Từ biện thuyết, Ba Ly
trì luật, Ca Diếp đầu đà, mỗi người đều có sự thắng
trội của mình, cần gì cứ phải có năng lực như nhau ! Cho
nên cả bốn đều là trung phẩm, như vậy cũng chẳng trái
lẽ.
-Câu
hỏi 2 : cớ sao trong phần Bảy thí dụ, Luận gọi đây là
dụ về đứa con nghèo túng, mà trong kinh, tiêu đề của phẩm
lại gọi là Tín Giải ?
Đáp
: Tín Giải là gốc thì mới có thể thuyết dụ. Luận gọi
tên là đứa con nghèo túng là theo nghĩa “phá bệnh”.
Kinh theo căn bản pháp, nên gọi là Tín Giải. Tên gọi được
đặt ra theo sự thắng trội của sự lý, chứ không cần đặt
ra thể lệ nhất định.
*
-Kinh
văn : “Lúc ấy tuệ mệnh” tới “vui mừng phấn
khởi”.
Tán
rằng : phẩm này có 3 đoạn lớn :
-
Đoạn đầu kể về sự vui mừng của bốn người.
-
Thứ đến đoạn nói về sự lĩnh ngộ của bốn người.
-
Cuối cùng nói đến sự đội ơn của bốn người, trong tụng
ở dưới nói rằng: “ơn lớn của Thế tôn” đó chính là
phần này.
Trong
đoạn đầu có 2 phần :
Phần
đầu nói rõ sự vui mừng.
Phần
sau nói rõ sự kính trọng ngưỡng mộ.
Đây
là phần đầu.
“Tuệ
mệnh” : lẽ ra phải nói là Cụ thọ (thọ mệnh đầy đủ).
Bọn thế tục đều thích sự trường thọ của sắc thân.
Các bậc thánh nhân thì đều quý mệnh trí tuệ. Ca ngợi,
mong muốn thành tựu được cả hai, cho nên gọi là Cụ thọ.
Chỉ nói Tuệ mệnh thì nghĩa sẽ thiếu.
Thêm
nữa, ngài Chân Đế và ngài Bát Nhã nói rằng : gọi là Tịnh
mệnh là căn cứ vào Đoạn đức. Gọi là Tuệ mệnh là căn
cứ vào Trí đức. Nay gọi là Cụ thọ thì thể hiện được
cả hai đức Đoạn và Trí. Chỉ nói Tuệ mệnh thì nghĩa sẽ
thiếu.
Còn
ba tên khác thì căn cứ vào tính mà đặt tên, bỏ cái nhỏ
nêu cái lớn làm tên. (Gọi là) Thiện Hiện là lấy việc
đức được nổi bật mà đặt tên, chỉ lấy Tuệ mệnh làm
đức.
Gần
thì nghe dụ thuyết mà được pháp Vị tằng hữu; xa thì nghe
thụ ký lại sinh hoan hỉ.
“Phấn
khởi dũng dược” : nghĩa này chung cho cả hai, tức là khi
được nghe pháp cả gần lẫn xa, hoặc là pháp Vị tằng hữu
tức là thọ ký.
*
-Kinh
văn : “Liền từ chỗ ngồi đứng dậy” tới
“mà bạch Phật rằng”.
Tán
rằng : đây là thuyết minh về sự thành kính ngưỡng mộ,
biểu hiện có 9 nghĩa :
1)
“Từ chỗ ngồi đứng dậy” thể hiện từ nhị thừa đã
phát tâm theo đại thừa.
2)
“Sửa sang y phục” thể hiện giữ gìn đầy đủ Bồ tát
giới.
3)
“Để trần vai phải” biểu hiện sự cát tường của nhất
thừa.
4)
“Đầu gối phải quỳ xuống đất” biểu hiện đã hàng
phục được cái tâm chấp trước nhị thừa trước kia.
5)
“Nhất tâm” biểu hiện chuyên cầu đại thừa, chẳng thụ
một câu kệ của các kinh khác.
6)
“Chắp tay” biểu hiện trong tâm tỏ ngộ được điều Phật
nói, nhận thức rõ quyền thực.
7)
“Khom người cung kính” biểu hiện tự thân tâm đều thuận
phục.
8)
“Chiêm ngưỡng tôn nhan” biểu hiện tâm quán giáo lý, thấy
được cả hai thân: Pháp thân và Hóa thân (của Phật).
9)
“Mà bạch Phật rằng” nêu rõ sự tín giải.
*
-Kinh
văn : “Chúng tôi đứng đầu chư tăng” tới “Tam miệu
tam Bồ đề”.
Tán
rằng : dưới đây là đoạn thứ hai, nói rõ về sự lĩnh
thuật của bốn người; đầu tiên là trường hàng, sau đó
là kệ tụng.
Trường
hàng có ba : đầu là pháp lĩnh; thứ đến dụ lĩnh; sau là
hợp lĩnh.
Pháp
lĩnh (lĩnh ngộ về pháp) có hai ý :
•
Đầu tiên là nêu rõ xưa kia chẳng mong cầu.
•
Sau đó nêu rõ nay đã chứng đắc. Đó là đoạn “chúng tôi
nay ở trước Phật” trở xuống, nêu rõ xưa chẳng mong cầu
vì Phật xưa kia thuyết về quyền (thừa), tôi đã đắc quyền
thừa rồi, cho nên trước hội Pháp Hoa chưa mong cầu chứng
đắc thực pháp nhất thừa và sẽ được thành Phật. Nay
đã chứng được, có nghĩa là nay được nghe về nhất
thừa sẽ được thành Phật, thì lĩnh ngộ đựơc sự giáo
hóa của Phật, đầu tiên là quyền, sau đó là thực.
Văn
phần đầu có hai : đầu tiên là phần sơ lược; sau đó là
phần giảng rộng.
Đây
là phần sơ lược. Có bốn ý :
1)
Đứng đầu chư tăng, danh vọng lớn địa vị cao.
2)
Tuổi tác già nua, sức lực suy yếu.
3)
Tự cho rằng mình đã chứng được Niết bàn, khổ hết tâm
vui.
4)
Không còn kham nổi thứ gì nữa, vì tính tình vụng dại.
Do
bốn nghĩa này mà không còn có chí cầu tiến thủ nữa. Cho
nên xưa kia chẳng mong cầu.
*
-Kinh
văn : “Thế tôn xưa kia” tới “tâm chẳng ưa
thích”.
Tán
rằng : dưới là giảng rộng về chẳng mong cầu. Đầu tiên
nói về sự việc xưa, sau đó là giải thích nguyên do. Đây
là phần đầu.
Trong
phần đầu lại có hai phần :
-
Đầu tiên nói về chỉ tu tự hành, thời Phật thuyết về
Bát nhã, chỉ nghĩ tới lý Không, Vô tướng, Vô tác.
-
Sau đó là nói về chẳng thích đại thừa, chẳng thích Bồ
tát pháp.
Xưa
kia Phật thuyết Bát nhã cho các Bồ tát thời gian lâu mà tôi
chẳng ưa thích chẳng tỏ ngộ, bản thân có sự mệt mỏi,
bèn làm ba phép quán :
1)
Quán Không : gồm 2 hành Không và Vô ngã, quán chúng sinh là
Không.
2)
Quán Vô tướng : gồm 4 hành Tứ diệt đế, quán Niết bàn
là Vô tướng.
3)
Quán Vô tác : tức là Vô nguyện, bao gồm 10 hành khác : Khổ
đế có 2, Tập đế và Đạo đế mỗi thứ có 4, quán chư
Hữu hết thảy đều Vô nguyện.
Đây
là chung cho cả hữu lậu và vô lậu bao gồm trong tam tuệ,
vì chẳng nói tới tam muội. Các nghĩa khác thì đều giống
như sự giải thích sơ lược trong Du Già quyển 12.
Đây
là nói theo ba loại quán của Thanh văn, chẳng nói phép quán
của Bồ tát.
Bồ
tát pháp : gồm 4 món :
1.
Bồ đề phần.
2.
Du hí thần thông.
3.
Tịnh Phật quốc độ.
4.
Thành tựu chúng sinh.
1.Bồ
đề phần : gồm 37 pháp, tóm lược lại thành Thất vị :
1)
Tứ niệm trụ : gồm Thân, Thụ, Tâm, Pháp. Lấy tuệ làm thể,
có nghĩa là do niệm lực mà khi đối cảnh thì tuệ vẫn trụ.
2)
Tứ chính đoạn : gồm Luật nghi đoạn, Đoạn đoạn, Phòng
hộ đoạn, Tu tập đoạn. Lấy tinh tiến làm thể, vì tinh
tiến khởi dụng có thể tu đoạn.
3)
Tứ thần túc : có nghĩa là Dục, Cần, Tâm, Quán. Lấy định
làm thể, vì dùng bốn thứ này mà tu định.
4)
Ngũ căn : gồm Tín, Cần, Niệm, Định, Tuệ. Lấy năm thứ
như tên gọi ấy làm thể, vì chúng sản sinh ra điều thiện.
5)
Ngũ lực : thể là ngũ căn. Vì khó khuất phục, nên lìa căn
mà lập thành mục riêng.
6)
Thất giác chi : gồm Trạch pháp, Tinh tiến, Hỉ, Niệm, Định,
Xả, Khinh an. Trong đó :
-
3 thứ Trạch pháp, Niệm, Định : là biệt cảnh.
-
3 thứ Cần, Xả, Khinh an : là thiện sát (thường gặp).
-
1 thứ Hỷ : là biến hành.
7)
Bát thánh đạo chi : gồm Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ,
Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính niệm, Chính định, Chính tinh
tiến.
Chính
tư duy lấy tuệ làm tính, vì có thể phát ra ngôn ngữ thông
Phật hữu.
Chính
ngữ, Chính nghiệp lấy vô sân vô si thể hiện qua thân, ngữ
làm thể. Thể hiện được vô tham thì gọi là Chính mệnh,
vì lìa được năm thứ tà mệnh, đều lấy vô biểu sắc
Tư làm thể. Các thứ khác thì như tên gọi của mỗi thứ.
Hợp
thể của 37 thứ trên có chín loại :
1)
Tuệ. 4) Tín. 7) Xả.
2)
Tinh tiến. 5) Niệm. 8) Khinh an.
3)
Định. 6) Hỷ. 9) Vô biểu sắc.
Biến
hành có 1, đó là Hỉ. Biệt cảnh có 3, đó là Niệm, Định,
Tuệ.
Thiện
có 4, đó là Tín, Cần, Xả, Khinh an. Sắc pháp có 1, đó là
Vô biểu.
Theo
như Vô Cấu Xưng sớ thì cách tu của Bồ tát khác với Thanh
văn, cho nên Bồ đề phần gọi là Bồ tát pháp.
2.
Du hý thần thông.
Kinh
Hoa Nghiêm nói rằng Bồ tát có 10 pháp gọi là Du hý thần
thông :
1)
Thị hiện xả thiên thọ.
2)
Thị hiện thụ sinh.
3)
Thị hiện các thứ cười đùa của trẻ nhỏ.
4)
Thị hiện xuất gia.
5)
Thị hiện khổ hạnh.
6)
Thị hiện hướng Bồ đề thọ.
7)
Thị hiện hàng ma.
8)
Thị hiện ưa thích tịch tĩnh, thành đạo vô thượng.
9)
Thị hiện chuyển pháp luân.
10)
Thị hiện nhập Niết bàn.
So
với tám tướng nói trong luận, có sự khác nhau.
Tịnh Phật quốc độ.
Kinh
Vô Cấu Xưng quyển 1 nói là có 18 chủng nhân, gộp lại thành
8 loại, đó là :
1/
Phát khởi vô thượng Bồ đề tâm.
2/
Thuần ý lạc.
3/
Thiện gia hạnh.
4/
Tăng thượng ý lạc.
Bốn
thứ này đều như tên gọi.
5/
Chỉ tức : Lục độ là 6 thứ gộp lại.
6/
Phát khởi : Tứ vô lượng, Tứ nhiếp sự, Xảo phương tiện,
Bồ đề phần.
7/
Hồi hướng : phàm là tu thiện đều tu hồi hướng.
8/
Tịch tĩnh : Tức, Vô hạ, Tự giữ giới thực hành thập thiện
nghiệp đạo.
Phẩm
Hương Đài kinh đó nói có 8 pháp :
1)
Nghĩ tới loài hữu tình, làm các việc thiện mà chẳng
mong thiện báo.
2)
Nghĩ muốn chịu khổ thay họ, thiện căn của ta đều hồi
hướng bố thí cho họ.
3)
Nghĩ tới hữu tình, tâm đó bình đẳng, tâm không chướng
ngại.
4)
Nghĩ tới hữu tình, đả phá điều phục tâm kiêu mạn, kính
yêu họ như Phật.
5)
Tín giải tăng lên, không nghi ngờ, không phỉ báng đối với
kinh chưa được nghe.
6)
Không có tâm địa ghen ghét đối với lợi dưỡng của người
khác, chẳng sinh kiêu mạn về lợi dưỡng của mình.
7)
Điều phục tâm mình, thường xuyên phản tỉnh về lỗi lầm
của mình, chẳng chê bai điều sai phạm của người khác.
8)
Luôn luôn không phóng dật, thường xuyên tu thiện.
Đây
là “tám pháp vô hủy vô thương”.
Thực
hành các pháp này thì khi mệnh chung sẽ được sinh về cõi
tịnh độ khác. Nói rộng ra thì như chương Tịnh Độ đã
nói.
4.
Thành tựu chúng sinh.
Đó
là các hạnh lợi tha, giáo hóa làm lợi cho ngoại vật (tức
chúng sinh).
Trong
này tức là Thất địa Tứ Bồ tát hành, có nghĩa là Bồ
đề phần hành. Đó gọi là Bồ tát pháp Chư thần thông hành,
Ba la mật hành. Đó gọi là Tịnh Phật quốc độ Thành tựu
hữu tình hành.
Đối
với bốn loại pháp trên trong đại thừa, chẳng nảy sinh
một ý niệm ưa thích, vì không kham nổi.
*
-Kinh
văn : “Vì sao vậy” tới “tâm ưa thích”.
Tán
rằng : đây là giải thích lý do, có hai :
1)
Đạo đã mãn không khổ, tâm an.
2)
Tuổi đã cao, sức đã kém, cho nên đối với pháp đại thừa
thì cho rằng đó chẳng phải là điều mong muốn của mình,
nên trong tâm không hề ưa thích.
*
-Kinh
văn : “Chúng tôi nay ở trước Phật” tới “chẳng
cầu mà tự mình lại được”.
Tán
rằng : đây là nói rõ về sự được ngày này, đó là được
pháp đại thừa sẽ thành Phật. Có ba ý :
1)
Đắc ký, tâm lĩnh : lĩnh ngộ chung về vòng đầu.
2)
Nghe pháp, sinh hỷ : lĩnh ngộ riêng về dụ thuyết.
Hai
thứ này là lĩnh ngộ.
3)
Mừng được thiện lợi vô lượng trân bảo, đó tức là
đại thừa.
*
-Kinh
văn : “Bạch Thế tôn ! chúng tôi ngày nay” tới
“để sáng tỏ nghĩa này”.
Tán
rằng : dưới là trình bày riêng về thí dụ.
Có
hai phần :
•
Đầu tiên là bàn chung về thuyết dụ.
•
Sau đó chính thức trình bày lời dụ.
Đây
là phần đầu.
Vì
Phật trước đây nói là các người có trí sẽ nhờ thí dụ
mà được giải ngộ, cho nên nay cũng nhờ dụ mà lĩnh ngộ
được ý Phật.
*
-Kinh
văn : “Ví như có người đã từng ở tuổi ấu trĩ”.
Tán
rằng : dưới là trình bày lời dụ. Có hai dụ :
-
Đầu tiên là xưa chẳng mong cầu.
-
Sau đó là dụ về ngày nay lại được. Đó là đoạn từ
chỗ : “Sau ít lâu nữa, cha biết ý con, dần dần thông suốt”
trở xuống.
Tức
là dụ đầu nói về ngày xưa trụ ở quyền (thừa) và chẳng
mong cầu (đại thừa), dụ sau nói về ngày nay nghe giảng về
thực (thừa) và lĩnh hội được.
Lời
văn (dụ) đầu có sáu đoạn :
1)
“Ví như có … ấu trĩ” : dụ về lúc ban đầu phát tâm.
2)
Từ “Bỏ cha trốn mất” trở xuống : là dụ về thoái lưu
sinh tử.
3)
Từ “Tuổi đã khôn lớn” trở xuống : là dụ về giữa
chừng lại gặp Phật.
4)
Từ “Cha thường nhớ con” trở xuống : là dụ về chẳng
chịu tu đại thừa.
5)
Từ “Cha xa xa nhìn thấy con mà bảo với sứ giả” trở
xuống : là dụ về việc giáo hóa bằng nhị thừa.
6)
Từ “Bạch Thế tôn ! Bấy giờ trưởng giả bị ốm” trở
xuống : là dụ nói về việc khai thị cho đại thừa mà (người
nghe) chẳng hy vọng.
Đây
tức là lời văn phần đầu.
-
Bốn đoạn đầu thì giống như trước đã nói : nơi hai vạn
Phật giáo hóa bằng đại thừa.
-
Đoạn thứ năm : phương tiện dẫn đạo sinh trong pháp ta.
-
Đoạn thứ sáu : trước hội Pháp Hoa, thuyết về Bát nhã
cho, nhưng chỉ nghĩ tới lý Không v.v…, chẳng sinh ra ưa thích.
Nay trong khi đã thu hoạch được (thực thừa) rồi mới khiến
nhớ lại đạo đã tu hành và thuyết Pháp Hoa cho.
“Ấu”
là yếu. “Trĩ” là nhỏ. Lúc ban đầu khi là 16 vương tử,
dạy phát tâm đại thừa vì vẫn còn mật thuyết, chưa tu
hành rộng, nên gọi là ấu trĩ.
*
-Kinh
văn : “Bỏ cha trốn đi” tới “năm mươi năm”.
Tán
rằng : đây là dụ thứ hai nói về thoái lưu sinh tử (thoái
chuyển luân hồi trong vòng sinh tử).
Đối
Pháp luận dẫn kinh nói rằng : “Nếu có ai thành tựu được
thế gian Tăng thượng phẩm chính kiến, thì dẫu trải qua
ngàn kiếp sinh, cuối cùng vẫn chẳng đọa vào đường ác”.
Luận đó căn cứ vào thượng phẩm tối sơ phát tâm.
Nay
thuyết về hạ phẩm phát tâm. Bởi vậy thoái lưu sinh tử.
Tâm
chưa kiên cố, chẳng một mực ưa thích Phật, đó gọi là
“Bỏ cha”. Trái với giáo lý thường làm việc ác, đó ví
với việc “trốn đi”.
“Đào”
nghĩa như “Tỵ”, có nghĩa là trốn.
“Thệ”
nghĩa như “Vãng”. “Hành”, “Khứ” có nghĩa là đi, ra
đi, đi mất.
“Nước
khác” (tha quốc) ví với vòng sinh tử, vì ở lâu thì chẳng
thể ưa thích được.
“Nước
mình” (tự quốc) ví với Phật pháp, vì ở lâu thì khiến
được an lạc.
Trong
Kinh Niết Bàn ví Phật pháp là (tha quốc) “nước khác”,
vì chẳng phải thuộc phần mình ; sinh tử là (tự quốc) “nước
mình”, vì thuộc phần mình.
Ví
dụ trong kinh này và trong kinh ấy khác nhau :
Kinh
này coi hữu tính và sau khi phát tâm là tự, tha.
Kinh
ấy coi vô tính và khi chưa phát tâm là tha, tự.
Như
vậy cũng chẳng trái ngược nhau.
Trước
tuy coi ba cõi nói chung đều là ngôi nhà lớn của Phật, nay
lại coi đó là nước khác (tha quốc), vì nhiễm, tịnh khác
nhau về thể, nên nước chia ra làm tha, tự.
Thêm
nữa, nếu theo phàm thuyết thì cũng chẳng trái nhau.
Lại
nữa, nếu theo Đại bi thì sinh tử là nhà, nếu theo Đại
trí thì mới gọi vòng sinh tử là tha quốc.
Trong
dụ thuyết ở dưới có năm (loại) nước :
1)
Ở lâu tại nước người (tha quốc).
2)
Gặp hướng về bản quốc.
3)
Khắp cả (là) nước người (tha quốc).
4)
Trải qua quốc ấp.
5)
Cùng hội họp với quốc vương đại thần.
Loại
đầu và loại thứ ba thì coi sinh tử là tha quốc (nước người).
Loại
thứ hai thì coi Phật pháp làm bản quốc (nước mình).
Loại
thứ tư là nói chung lợi lạc của Phật pháp rộng lớn ví
như một nước.
Loại
thứ năm là nước của vua chúa trong loài người. Hoặc là
ví với bốn chúng trong nước Phật pháp.
Hoặc
10 cho đến 50 (tuổi) rong ruổi trên năm đường thì gọi là
chủng tử, vì ai nay đều dựa vào 10 nghiệp đạo.
*
-Kinh
văn : “Tuổi đã khôn lớn” tới “gặp đường hướng
về bản quốc”.
Tán
rằng : dưới đây là đoạn thứ ba, là dụ nói về giữa
chừng lại được thấy Phật. Tức là trước khi chưa thoái
đại Bồ đề tâm, lại được gặp Phật vì đời đời đã
từng theo sự giáo hóa của Phật. Phần trước đây gặp Phật,
đều được giáo hóa bằng đại thừa.
Văn
chia làm ba :
-
Đầu tiên là nói về con lớn lên, trở về nước.
-
Thứ đến cha trước đã tìm con.
-
Cuối cùng là con gặp cha, đến thành.
Đây
là phần đầu, trong đó có 6 ý :
1.
Căn tính dần thành, gọi là “tuổi đã khôn lớn”, đó
là tập chủng tính vậy.
2.
Chưa tu phúc tuệ, gọi là “lại bị khốn cùng”.
3.
Luân chuyển trong tứ sinh, gọi là “bôn ba khắp bốn phương”.
4.
Tìm đường khỏi khổ, gọi là “để cầu cơm áo”.
5.
Do chủng tính bức bách mà tuệ tâm do văn tư, ngày ngày luôn
sinh trưởng, gọi là “dần dần du hành”.
6.
May gặp Phật pháp, gọi là “gặp đường hướng về bản
quốc”.
Xưa
giáo hóa cho khiến phát tâm đại thừa, tuy có bị thoái chuyển
phải luân hồi trong vòng sinh tử, nhưng nay lại gặp được
Phật pháp và dung nạp được, thuận theo những điều đã
tu trước kia, nên gọi là “tới bản quốc” (đáo bản quốc).
*
“Trì” nghĩa như “bôn”, “Sính” nghĩa như “tẩu”.
“Trì sính” là bôn ba, rong ruổi vậy.
*
-Kinh
văn : “Người cha từ trước đến nay” tới “dừng chân
trong một tòa thành”.
Tán
rằng : đây là mục thứ hai nói về người cha từ trướcđến
nay đi tìm kiếm.
Có
ba ý :
1)
Tìm con, dừng ở trong thành.
2)
Tiền của rất nhiều.
3)
Khách lợi phong phú.
Đây
là ý đầu.
Cha
là hóa thân Phật, dẫu từ trước đến nay, đã từng hóa
đạo nhưng chúng sinh tự thoái, cho nên gọi là “từ trước
đến nay tìm con mà tìm chẳng được, giữa chừng dừng lại
ở một tòa thành”.
Sinh
tử là giữa chừng – Thành đây là đại thừa.
Kinh
Vô Cấu Xưng nói rằng : “đó là Hộ pháp thành”.
Nay
coi pháp đại thừa là thành, vì sắp thuyết đại thừa để
khiến phát tâm, nên thành ví với pháp đại thừa.
*
-Kinh
văn : “Nhà ông giầu to” tới “thảy đều đầy
ắp”.
Tán
rằng : dưới là nói về của cải rất nhiều.
Có
8 thứ, trong đây có 2 :
1)
Thất bảo ví với Thất thánh tài, phong phú sung túc.
2)
Các kho hữu vi, kho vô vi : dụ cho các đức đều dồi dào.
Bác
Vật Chí nói : nhựa thông vào đất 1000 năm thì hóa thành
phục linh, phục linh 1000 năm thì hóa thành hổ phách, còn gọi
là Hồng châu.
Quảng
Chí nói : bên trên và bên cạnh chỗ sinh ra vật này thì cỏ
cây chẳng mọc, sâu tới 8 - 9 thước, to như cái hộc, bóc
lượt vỏ bên trên đi thì ở bên trong thành ra hổ phách.
Có loại nhựa, lúc đầu như nhựa đào, khi đông cứng lại
thì thành khí (công cụ), người phương Tây dùng làm bát.
*
-Kinh
văn : “Có nhiều đồng bộc” tới “bò dê vô
số”.
Tán
rằng : đây có 6 loại (của cải) :
3)
Điều phục phiền não làm đồng bộc, vì có thể sai khiến
tùy lòng.
4)
Phương tiện thiện xảo là tôi tớ.
5)
Diệu nguyện và lực, là lại dân.
6)
Ngũ thông là voi ngựa.
7)
Ngũ thừa là xe cộ.
8)
Tám vạn bốn ngàn các hạnh là vô số bò dê.
*
-Kinh
văn : “Lợi tức xuất nhập” tới “cũng rất
nhiều”.
Tán
rằng : đây là chỉ là khách lợi phong phú.
Chân
tục đế giáo, đó gọi là Nhập xuất lợi, vì nhập trong
Phật pháp, xuất ly sinh tử.
Hoặc
là tam thừa giáo gọi là xuất, vì xuất sinh tử; nhân thiên
giáo gọi là nhập, vì nhập sinh tử.
Khiến
cho điều thiện dần dần nảy sinh, cho nên gọi là Tức. Tức
có nghĩa là sinh sôi nảy nở. Vì xót thương chúng sinh, đi
giáo hóa khắp trong vòng sinh tử, cho nên gọi là “đi khắp
cả nước khác”.
Đem
thánh giáo tam thừa, đem chính pháp của Phật tuyên dương
ở khắp mọi nơi, đó gọi là “Thương cô cổ khách” (lái
buôn). Ở đây giống với loại người mà Khổng Tử gọi
là cầu được giá đắt mà bán vậy. Loại này chẳng phải
chỉ có một hạng, cho nên có rất nhiều tên gọi khác nhau.
*
Thương : theo Thuyết Văn, đó là chỉ loại bán rong. Theo Ngọc
Thiên, người khiến cho vật báu của lạ ở bốn phương được
lưu thông, đó gọi là Thương lữ. Có chỗ nói Thương có
nghĩa là thương lượng, song không phải nghĩa ở đây.
Chữ
[估] đọc là Cộ (hoặc Cô). Tự thư không có chữ này. Chỉ
riêng Nhĩ Nhã, âm nghĩa của Quách Phác, phần thích ngôn có
chú thích chữ Cổ trong từ Thương cổ [商賈] được viết
thành chữ này [估]. Sách Thiết Vận giải thích [估] (cô)
là thuế chợ. Còn [賈] (cổ) là người bán hàng ngồi
tại chỗ. Chín chức trong Chu Lễ thì chức thứ sáu là Tư
thị coi việc buôn bán, lưu thông tài hóa.
Ngọc
Thiên của Trịnh Huyền nói rằng : làm cho hàng hóa lưu thông
thì gọi là Thương, ngồi một chỗ mà bán hàng thì gọi là
Cổ. Bạch Hổ thông nói : Thương có nghĩa là thông thương,
nghĩa là thông thương khắp nơi xa gần, gom góp sản vật của
bốn phương. Cổ có nghĩa là cố, cố giữ sản vật chờ
cho dân đến mua để cầu lợi. Cổ cũng là từ thông dụng
mà thôi. Cho nên trong Tả truyện khi Tuân Anh ở nước Sở,
phải nhờ lái buôn nước Trịnh là Chử Trung để đưa ra
khỏi nước Sở. (Người lái buôn nước Trịnh : Tả truyện
gọi là “Trịnh cổ nhân”). Sử ký có ghi lái buôn ở Dương
Địch (Dương Địch cổ nhân) thường qua lại mua rẻ bán
đắt.
“Khách”
chỉ là tên gọi chung (lái buôn) mà thôi.
*
-Kinh
văn : “Khi ấy, người con nghèo túng” tới “toà thành
mà (người cha) đã dừng chân”.
Tán
rằng : đây là mục nói về người con đã gặp cha, tới tòa
thành.
Tam
thừa nội đạo, đó gọi là Tụ lạc.
Đây
là câu nói chung. Tất cả các pháp, các sự thần thông đã
thuyết giải, đó gọi là Quốc ấp. Trong này đi khắp nội
đạo để cầu yếu lĩnh xuất ly, đó gọi là “Du hành đến
các tụ lạc”.
Văn
trước đã nói người con lớn lên trở về nước quy phục
Phật pháp rồi, cho nên biết rằng tụ lạc chẳng chung với
ngoại đạo. Hoặc nghe thuyết pháp nông hay sâu, hoặc xem thần
thông hơn hay kém, đó gọi là “trải qua quốc ấp”.
“Quốc”
thì rộng, ví với việc thuyết pháp. “Ấp” nhỏ, ví với
thần thông. Biết rõ chúng thánh hay dở ra sao, trở về tới
trong sự giáo hóa của Phật pháp đại thừa, đó gọi là
“tới thành của cha”.
Theo
cách giải thích ở sau thì nói rằng : may gặp Phật pháp,
đầu tiên được nghe về đại thừa, đó gọi là “tới
tòa thành của cha”, vì Phật tự trụ ở đại thừa. Tức
là giữa đường lại gặp đại thừa.
*
-Kinh
văn : “Cha thường nhớ con” tới “trong lòng hối hận”.
Tán
rằng : đây là đoạn thứ tư, là dụ nói về chẳng chịu
tu đại thừa. Có bốn phần :
1)
Cha thường nhớ con. 3) Cha sai bắt ngay.
2)
Con thấy sợ chạy. 4) Con bèn lo sợ.
Phần
đầu có hai :
-
Đầu tiên là thuyết minh chung về sự nhớ nhung.
-
Sau đó là thuyết minh riêng về sự nhớ nhung.
Đây
là ý đầu.
“50
năm” là dụ cho rong ruổi trong năm đường.
“chưa
từng nói với ai sự như thế này”, là ta từ xưa tới nay
chưa từng nói với mọi người là ta đã từng bảo họ phát
tâm đại thừa.
Nay
ta thường tâm niệm muốn đem của cải châu báu đại thừa
cùng sự vui của nhất thừa để cho họ, song chỉ nghĩ thầm
trong bụng mà chẳng nói rõ ra lời.
“Hối”
chẳng sớm tìm con mà dạy, “hận” con chẳng sớm tìm ta,
cho nên gọi là Hối hận.
*
-Kinh
văn : “Tự nghĩ mình già nua” tới “thường nhớ
tới con”.
Tán
rằng : dưới là mục thuyết minh riêng về cõi nhớ nhung.
Có
hai ý : đầu tiên là nghĩ tới việc giao phó của cải, sau
đó là nghĩ tới niềm vui của mình.
Đây
là phần đầu.
Tu
hành đã lâu ngày, đạo đã sớm viên mãn, nên gọi là “già
nua”. Phúc tuệ vô cùng, cho nên gọi là “có lắm của cải”.
Tuy có Bồ tát, song chưa hóa độ được Thanh văn, khiến nối
ngôi Phật, nên nói là “không con”. Hoặc vì con ít, nên
cũng gọi là không con.
“Một
khi mất đi” dụ cho thị hiện nhập Niết bàn, thì của cải
đại thừa cũng thảy đều mất cả. Hạng kia căn cơ chưa
chín, không biết lấy ai để mà giao phó pháp quyền thực,
bởi vậy cho nên rất buồn, “thường nhớ tới con”.
*
-Kinh
văn : “Lại nghĩ như vầy” tới “không còn lo
nữa”.
Tán
rằng : đây là mục nghĩ tới niềm vui của mình.
Không
có con để trao cho của cải, bởi vậy lo buồn. Con nếu ưng
thuận lĩnh lấy, thế thì há chẳng vui sao !
*
Chữ [坦] âm đọc là Thản, có nghĩa là an hòa.
*
-Kinh
văn : “Thưa Thế tôn bấy giờ” tới “dừng đứng
bên cửa”.
Tán
rằng : dưới là đoạn thứ hai, nói về người con nhìn thấy,
sợ hãi bỏ chạy.
Có
ba phần :
-
Đầu tiên là tới cửa cha.
-
Thứ đến là nhìn thấy cha.
-
Cuối cùng là lùi chạy.
Đây
là phần đầu.
*
Chữ [傭] âm đọc là Dung, có nghĩa như chữ Nhậm [
], chữ Mại [賣], nghĩa là thuê mướn, mua.
Thân
tâm tinh tiến để cầu yếu lĩnh xuất ly, tâm xoay vần như
kẻ làm thuê, làm mướn, chẳng phải bản tâm cố ý cầu
đại thừa, nhưng do chủng tính sắp đặt, may mà tới đại
thừa, nên gọi là “bắt gặp nhà cha”. Vì chủng tử đại
thừa gần sinh xa thục, cho nên may mắn mới gặp. Hơn nữa,
lại gặp liễu nghĩa đại thừa, đó gọi là “tới nhà cha”.
Giáo,
Hạnh đại thừa có thể giải thích về Lý, có thể chứng
được về Quả, đó gọi là “cửa” (môn).
Bấy
giờ họ chưa thể chuyên cầu cái hạnh tu tập thực hành
rộng khắp để chứng quả, mà chỉ biết tướng chung, được
nghe được dạy chút ít, tu được chút nhân, đó gọi là
“cạnh cửa” (môn trắc).
Bấy
giờ chưa hoàn toàn có thể nghe, tập đại thừa giáo, thực
hành hạnh đại thừa, mà chỉ thể hiện là sẽ nghe sẽ làm,
cho nên gọi là “đứng” (lập). Ở yên trong chốc lát thì
gọi là “dừng” (trụ).
Thêm
nữa, vì căn cơ bé nhỏ, chưa lĩnh hội được đại thừa,
chẳng gọi là “chính thức vào cửa” (chính nhập kỳ môn),
nhưng cũng hơi tin tưởng tu tập, cho nên gọi là “cạnh cửa”
(môn trắc).
Trên
đây là lấy Phật pháp dụ cho “nước” (quốc), coi hết
thảy đại thừa là “thành”. Trong đại thừa, đại thừa
trung đạo chân thực liễu nghĩa gọi là “nhà cha”, tức
là lấy Giáo Hạnh gọi là “cửa” (môn).
*
-Kinh
văn : “Xa xa nhìn thấy cha mình” tới “cung kính vây
quanh”.
Tán
rằng : dưới là thuyết minh về việc nhìn thấy cha.
Có
7 ý. Đoạn văn này có 2 ý :
1)
Thấy cha an toạ.
2)
Kẻ sang người hèn đều thờ phụng.
Vì
cách xa địa vị bất thoái của đại thừa, cách xa chân lý,
nên gọi là “xa xa nhìn thấy” (dao kiến).
Phật
dùng Tứ vô úy làm giường, cũng dùng Tứ tĩnh lự làm “giường”,
dùng vô tham, vô sân làm “bảo kỷ”.
Có
những bậc có thành tích học tập về các mặt giới định
tuệ phụng thờ ngài : hạng học giới cụ túc làm Bà la môn,
hạng học tuệ làm Sát lợi, hạng học định làm Cư sĩ.
Lại thêm các chúng ba thừa đại thừa, Độc giác, Thanh văn
cung kính vây quanh.
*
-Kinh
văn : “Dùng trân châu, anh lạc” tới “đứng
hầu hai bên tả hữu”.
Tán
rằng : đoạn văn này có 2 ý :
3)
Trang sức thân thể : dùng tam niệm trụ làm trân châu anh lạc
(anh lạc : chuỗi ngọc để trang sức).
4)
Tôi tớ cung phụng hộ vệ.
Diệu
nguyện và Lực làm “lại dân”, thị hiện điều phục phiền
não làm “đầy tớ” (đồng bộc). Tâm trì Tứ nhiếp làm
người “cầm phất trần trắng” (để hầu). Thể sạch
trừ bỏ hết trần cấu, cho nên chẳng lìa thân tâm, đó gọi
là “đứng hầu hai bên tả hữu”.
*
-Kinh
văn : “Che bằng màn báu” tới “uy đức đặc
biệt tôn quý”.
Tán
rằng : trong này có ba ý :
5)
Trang nghiêm ngoại vật.
6)
Xuất nạp tài sản.
7)
Kết loại tôn cao.
Tứ
vô lượng là “màn báu”. Thất tịnh làm hoa. Tổng trì làm
“phướn”. Ngũ phần pháp thân cùng Diệu định làm tươi
nhuận thân tâm, ví như “nước thơm rưới đất”. Giáo
tha bằng Thất giác chi, ví như “rắc các hoa”. Ngoài dùng
muôn hạnh giống như dùng các vật báu để mà trang sức.
Trên đây gọi là Trang nghiêm.
Ngoài
thì bố thí pháp tài, đó gọi là “xuất”. Thân tự tích
đức, đó gọi là “nạp”.
“Lấy”
(thủ) để giải thích nạp, vì nạp là tự lấy.
“Cho”
(dữ) để giải thích ngoài, vì ngoài cho tha.
Thêm
nữa “xuất nạp” như trước, chúng sinh căn cơ chín muồi,
gọi là Lấy (thủ). Phật ứng với thời mà giáo hóa, gọi
là Cho (dữ). Trên đây là “xuất nạp”.
“Có
những thứ như vậy” trở xuống, là kết loại tôn cao.
*
Chữ [灑] theo Thiết Vận có âm đọc là Sĩ, có nghĩa là quét
tước, rơi rụng; còn có âm đọc là Sái. Thông Tục văn giải
thích là rưới nước cho khỏi bụi thì gọi là Sái. Theo Ngọc
Thiên thì đọc là “Tấn”, có nghĩa là rắc.
Đây
là lúc ban đầu mới hiện tướng hóa thân Tịnh độ thắng
diệu, cho nên con nhìn thấy bỏ chạy, vì chưa thấy báo thân.
Cũng chẳng phải là Uế độ.
*
-Kinh
văn : “Người con nghèo nhìn thấy cha” tới “hối
vì đã đi tới đây”.
Tán
rằng : dưới đây là thuyết minh về việc con bỏ chạy. Có
ba ý :
1)
Hối là đã đến.
2)
Nảy ra ý nghĩ (khởi niệm).
3)
Chạy vội.
Đây
là phần đầu.
“Thấy”
(kiến) : ở đây có nghĩa là tỷ tri (do so sánh mà biết),
chứ chẳng phải là mắt nhìn thấy, cũng chẳng phải là dùng
trí tuệ mà chứng được (trí chứng). Đó là do văn (nghe)
tư (nghĩ) mà tỷ tri vậy.
Thập
lực, vô úy đó gọi là “đại lực thế”. Hoặc nhờ mắt
mà thấy được đại thần thông của Phật, thì gọi là “thấy
lực thế” (kiến lực thế).
Chẳng
phải là bản thân có thể tu được, chẳng phải là bản
thân có thể chứng được, cho nên “trong lòng sợ sệt”.
Đây thấy tướng hóa thân tịnh độ, do được khuyên nên
làm Phật, tự nghĩ chẳng thể làm được, chỉ cầu là sẽ
chứng được, cho nên gọi là “hối vì đã tới nơi đây”.
*
-Kinh
văn : “Trộm nghĩ như vầy” tới “ép bắt ta
làm”.
Tán
rằng : đây là nói về người con khởi niệm.
“Vương”:
dụ cho pháp thân.
“Vương
đẳng”: dụ cho báo thân.
“Đẳng”
: có nghĩa là tương tự (tựa như).
Hoặc
là : - “Vương” chỉ vua pháp (pháp vương).
- “Vương đẳng”: ví như vua thế gian.
Chẳng
phải là chỗ mà ta tinh tiến cần cù có thể chứng được,
đó gọi là “chẳng phải là chỗ mà sức lực làm thuê làm
mướn có thể kiếm được của cải”.
“Chẳng
bằng ta qua đến xóm nghèo, có chỗ cho ta ra sức để dễ
kiếm áo cơm” (Bất như vãng chí bần lý tứ lực hữu địa
y thực dị đắc) : ý nói “chẳng bằng hướng về kic (nhị
thừa), thân tâm cần cù thì tha hồ có nơi y chỉ để phúc
tuệ nảy sinh”.
“Xóm
nghèo” : chỉ nhị thừa.
“Có
đất” (hữu địa) : có chỗ y chỉ để đạo nảy nở.
*
Chữ [肆] đọc là Tứ, nghĩa như các chữ [伸] Thân, chữ
[陳] Trần, có nghĩa là tỏ rõ, phô bày.
Ở
đây có nghĩa là phô bày sức lực phục dịch, đuợc tự
mình buông tuồng mặt sức.
“Áo
cơm dễ kiếm” : chỉ cho Phúc, tuệ có thể kiếm được.
“Nếu
như ta đứng lâu ở đây, ngộ nhỡ họ ép bắt sai ta làm”
: ý nói “Nếu ở lâu trong đại thừa, ngộ nhỡ Phật ép
buộc khuyên ta tu tác, đó chẳng phải là điều mà ta ưa thích”.
Đây là ý nghĩ nảy sinh ra trước, khi chưa thối lui khỏi
đại thừa.
*
Chữ [強] ở đây đọc là Cưỡng, có nghĩa là ép buộc.
*
-Kinh
văn : “Nghĩ như vậy rồi, bèn chạy vội đi”.
Tán
rằng : đây là nói về việc chạy vội.
Tự
xét thấy bản thân chẳng thể tu hành hạnh Đại thừa, vội
vàng chùn nhụt tâm đại thừa, định cầu chốn tu tác, đó
gọi là “chạy vội đi”.
Lúc
này vẫn chưa trụ trong nhị thừa.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ vị trưởng giả giầu có” tới
“trong tâm rất đỗi vui mừng”.
Tán
rằng : dưới đây là đoạn thứ ba : người cha vội sai bắt
lấy. Có ba ý :
1)
Thấy con thì vui mừng.
2)
Nghĩ tới chúng sinh (niệm sinh).
3)
Ra lệnh bắt lấy.
Đây
là ý thứ nhất : biết đại thừa tính gần gũi chúng sinh,
căn cơ đã chín, cho nên nhìn thấy chúng sinh thì hoan hỉ.
*
-Kinh
văn : “Liền nghĩ như vầy” tới “vẫn còn tham
tiếc”.
Tán
rằng : đây là mục nghĩ tới chúng sinh (niệm sinh).
“Mà
bỗng tự đến” : chứng tỏ là căn cơ của nó đã chín
muồi, rất hợp với tâm nguyện của ta.
“Ta
tuy đã già nua” : chỉ việc thành đạo đã lâu.
“Vẫn
còn tham tiếc” : chứng tỏ tâm đại bi của Phật rất sâu.
“Yêu
con tình quyến luyến” : ví với đại bi sâu nặng, cho nên
nói là “tham tiếc”.
*
-Kinh
văn : “Liền sai người bên cạnh” tới “chạy
vội đi bắt”.
Tán
rằng : đây là mục ra lệnh bắt lấy. Có hai ý :
1)
Đuổi. 2) Bắt.
Lýù
vốn đoạn tuyệt với lời. Dùng lời mà thể hiện lý, thì
đó chẳng gọi là Chính lý.
Giáo
ví với “người bên cạnh” (bàng nhân), đó là nhất thừa
giáo.
Hạnh
đáng tu, đó gọi là Chính chủ.
Giáo
tạm khai ngộ, cho nên gọi là “người bên cạnh” (bàng
nhân).
Bi
tâm vội khởi lên gọi là “đuổi gấp”. Khiến nhập đại
thừa, tùy thuận những điều đã tập luyện trước kia, đó
gọi là “đem về”.
Vì
lòng xót thương muốn giáo hóa nhanh, cho nên nói là “sứ
giả chạy nhanh đi bắt”.
*
-Kinh
văn : “Người con nghèo kinh ngạc” tới “vì
sao mà bị bắt”.
Tán
rằng : dưới là đoạn bốn nói về việc người con liền
lo sợ. Có ba ý :
1)
Người con kinh ngạc.
2)
Sứ giả càng đuổi gấp.
3)
Người con chết ngất.
Đây
là ý đầu.
Tâm
chẳng ưa thích tu hành đại thừa, gọi là “kinh ngạc”.
*
Chữ [愕] đọc là Ngạc, cũng có nghĩa như kinh.
Tâm
khẩu chẳng phục, chẳng muốn tu hành đại thừa, xin được
thoái lui, đó ví với việc người con nghèo “oán thán la
lối” : ta thật tình chẳng muốn đại thừa, đó gọi là
“chẳng xúc phạm gì”, tự dưng vô cớ cưỡng ép bắt ta
phải thụ học đại thừa, đó gọi là “vì sao mà bị bắt”.
*
-Kinh
văn : “Sứ giả càng đuổi bắt gấp, cưỡng bức lôi kéo
đem về”.
Tán
rằng : đây là mục sứ giả càng đuổi gấp.
Do
bi tâm tha thiết, nên giáo hóa càng bức thiết. Ép buộc khiến
phải tu học, đó gọi là “cưỡng ép lôi kéo đem về”.
Dùng làm cái nhân để thời nay nhập đại thừa, bởi vậy
phải cưỡng bức. Chẳng phải là lúc bấy giờ Phật chẳng
biết căn khí mà cứ ép buộc lôi về.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ người con nghèo” tới “chết
ngất ngã lăn ra đất”.
Tán
rằng : đây là mục người con chết ngất.
Thực
tình chẳng thích đại thừa, không gây tổn thương xúc phạm
gì, đó gọi là “tự nghĩ là mình không có tội”.
Chẳng
cho ta học tiểu thừa, trái lại bắt buộc ta học đại thừa,
đó gọi là “bị tù hãm bắt bớ”.
Bồ
tát khổ hạnh thật khó thể tu hành, vượt quá sức mình,
sợ làm khổ mình, đó gọi là “nhất định bị chết”.
Tâm
càng chẳng thích, gọi là “càng thêm sợ hãi”.
Tâm
nản chẳng học, thoái nhập sinh tử, đó ví với “chết
ngất ngã lăn ra đất”, vì đất là chốn sinh tử.
*
Chữ [擗] đọc là Tịch, có nghĩa là xoa trơn. Nay đã ngã
lăn ra đất thì lẽ ra phải dùng chữ [ ] (Tịch)
cũng có chỗ chép thành [僻] nghĩa là “tà tịch” (gian tà),
không đúng với nghĩa ở đây.
*
-Kinh
văn : “Cha xa xa nhìn thấy vậy” tới “đừng
nói với nó nữa”.
Tán
rằng : dưới là đoạn thứ năm nói về dụ giáo hóa bằng
nhị thừa. Có sáu ý :
1)
Giáo hóa khiến phát tâm quyền thừa.
2)
Từ “Người con nghèo vui mừng” trở xuống : người đó
nảy ra ý thích tiểu thừa.
3)
Từ “Bấy giờ trưởng giả định sẽ dẫn dụ” trở xuống
: khiến tu giải thoát phần.
4)
Từ “Bấy giờ người con nghèo lấy tiền công trước”
trở xuống : con bèn y theo mà thực hành.
5)
Từ “Người cha nhìn thấy con thì xót thương và trách nó”
trở xuống : khuyên nhập thiện căn.
6)
Từ “Tức thì, trưởng giả lại cho làm” trở xuống : bèn
thành thánh vị.
Văn
phần đầu có hai mục : đầu là bảo thả ra, sau là người
đi bắt thả ra.
Mục
“bảo thả ra” có hai ý :
•
Đầu tiên nêu rõ dừøng việc giáo hóa bằng đại thừa,
để khiến phát tâm quyền thừa.
•
Sau đó là giải thích về lý do.
Đây
là ý đầu.
Con
đi con ở đằng xa, cho nên gọi là “cha xa xa nhìn thấy”,
vì trước đã nói là “xa xa nhìn thấy cha”.
Hãy
dừng giáo hóa đại thừa : tạm thời tỏ ý chớ có truyền
thụ, cho nên nói là “chẳng cần”.
Chớ
có truyền thụ đại thừa một cách cưỡng ép, bắt phải
tu hạnh đại thừa, đó gọi là “đừng có cưỡng ép nó
đến”.
Dùng
phương tiện thiện xảo quyền nghi của nhị thừa như giáo
hóa bằng tam quy, ngũ giới để gia bị cho tâm nó, ví như
lấy nuớc lạnh mà vã vào mặt, tạm thời khiến Hối bị
diệt, chế phục Hoặc thập triền, tạm dẹp nỗi khổ bát
nạn, được sinh nhân thiên, dần dần hơi chán cảnh khổ,
khôi phục được thứ vốn ưa thích trước kia (là Phật thừa),
đó gọi là “được tỉnh ngộ”.
Dừng
việc truyền thụ đại thừa, đó là “đừng ai nói chuyện
với nó nữa”.
*
Chữ [醒] Tỉnh, có nghĩa là khỏi say rượu.
Lúc
này tựa tỉnh, có nghĩa là nhập thánh chân ngộ.
*
-Kinh
văn : “Sở dĩ như vậy là vì sao” tới “rằng
đó là con ta”.
Tán
rằng : đây là phần giải thích dụng ý của việc ra lệnh
thả ra.
Biết
tính Thanh văn xa sinh gần thục, đó gọi là “biết ý kém
hèn”. Đức của tự thân (Phật) rất lớn, có thể gây thành
sự choáng ngợp của chúng sinh, nên gọi là “con coi là khó
khăn”.
*
“Hào” : có nghĩa là mạnh mẽ. Sách Hoài Nam Tử nói rằng
: mưu trí hơn hẳn muôn người thì gọi là Hào. Cũng viết
là [ ]. Chữ [難] nếu đọc là Nạn thì
có nghĩa là hoạn nạn, bệnh tật.
Biết
có chủng tính đại thừa, đó gọi là “Biết rõ con kham
nổi việc kế vị”.
Dùng
cách kín đáo để giáo hóa dần dần, đó gọi là phương
tiện: chưa bảo đại chúng rằng trước đây giáo hóa của
ta đã có nhân đại thừa, nói rằng : “đó là con ta đấy”.
*
-Kinh
văn : “Người được sai nói với nó” tới “tùy
ý muốn đi đâu thì đi”.
Tán
rằng : đây là mục nói về người được sai thả nói ra.
Dừng
việc truyền thụ bằng đại thừa, cho tùy ý học nhị thừa,
đó gọi là “tùy ý muốn đi đâu thì đi”.
*
-Kinh
văn : “Nguời con nghèo vui mừng” tới “để kiếm
áo cơm”.
Tán
rằng : đây là dụ thứ hai nói về kẻ ấy nảy ra ý thích
tiểu thừa.
Vì
thích hợp với cơ nghi của nó, cho nên nó vui mừng mới phát
tâm tiểu thừa, cho nên gọi là “được pháp chưa từng có”.
Từ
trong vòng sinh tử phát tâm Bồ đề theo nhị thừa, đó gọi
là “từ dưới đất mà đứng lên, đi tới xóm nghèo để
kiếm áo cơm”.
Nhị
thừa công đức ít nên ví với “xóm nghèo”. Định học
pháp vô lậu, đó gọi là “kiếm áo cơm”.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ trưởng giả” tới “người
không có uy đức”.
Tán
rằng : đây là đoạn thứ ba nói về khiến tu giải thoát
phần, vì thuyết về Ngũ đình tâm, Niệm xứ quán v.v…
Đoạn
này có hai ý : đầu tiên là bí mật sai hai người; sau đó
là hai người y theo lời dạy bảo.
Trong
phần đầu có ba ý :
1)
Sai hai người.
2)
Bảo chuyển lời.
3)
Dự định nếu hỏi sẽ đáp.
Đây
là ý đầu.
Thực
(thừa) không có hai thể, nhưng tạm đặt ra giáo hóa bằng
nhị thừa, cho nên nói là “bí mật sai khiến”.
Giáo
phương tiện chỉ hóa nhị thừa, cho nên nói là “hai người”.
Trí
tuệ hẹp kém, gọi là “sắc tiều tụy”.
Thần
thông chẳng lớn, gọi là “không có uy đức”.
Hoặc
là Giáo phiến diện, nên “sắc tiều tụy”; Lýù thiếu
sót nên “không uy đức”.
Hoặc
tự đức khuyết mà gọi là “tụy”, tha lợi ít thì “không
uy”.
Đó
đều là tình hình sau khi phát tâm tiểu thừa, mới bắt đầu
tu hành theo Giáo Hạnh nhị thừa.
*
Hai chữ “tiều tụy”, sách Quảng Nhã viết là [憔 悴],
các sách Thiết Vận, Tam Thương viết là [
] và giải thích là âu sầu, bệnh hoạn. Sách Ngọc Thiên
viết là [悴] và giải thích là lo âu, thương tổn.
*
-Kinh
văn : “Ngươi hãy đến đó” tới “sau sẽ khiến
làm”.
Tán
rằng : đây là mục sai chuyển lời.
Sai
người bảo cho nó biết, gọi là “ngươi hãy đến đó”.
Vì là phương tiện giáo hóa dần dần, cho nên nói là “từ
tốn nói với nó”.
Học
địa nhị thừa, đó gọi là “chỗ làm” (tác xứ). Pháp
vô lậu hơn hẳn các điều thiện của nhân thiên trong sơ
giáo, đó gọi là “cho hắn giá gấp bội”.
Hắn
sẽ toại nguyện mà tu học, khuyên đến tu học đó gọi là
“khiến làm”.
*
-Kinh
văn : “Nếu nói muốn gì” tới “cũng cùng làm
chung với ngươi”.
Tán
rằng : đây là mục dự định các câu hỏi và cách giải
đáp.
Nếu
hắn có hỏi “muốn sai làm gì” tức là dụ cho “tu
hành pháp gì ?” thì đáp là : “dọn phân”. Đó là ví với
việc đoạn trừ phiền não vậy.
Tu
hành đại thừa giống như chế tác bảo khí, học tiểu thừa
giống như việc dọn phân. Chẳng những Hạnh có thể đoạn
được Hoặc, mà Giáo cũng giúp cho việc đoạn đó.
Phải
mượn uy thế, cho nên nói là “cùng làm”.
*
-Kinh
văn : “Bây giờ hai người được sai đó” tới “trình
bày đủ sự việc nói trên”.
Tán
rằng : hai người y theo lời dạy bảo. Vì giáo sát hợp với
căn cơ, giống như tìm kiếm đứa con nghèo, coi pháp là khí,
khiến hắn được nghe được biết, cho nên nói là “(tìm)
được nó”.
Kể
về việc đoạn trừ phiền não, đó gọi là “trình bày sự
việc nói trên”.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ người con nghèo” tới “tìm
dọn phân”.
Tán
rằng : đây là đoạn thứ tư nói về người con cuối cùng
đã làm theo.
‘Trước
hỏi lấy giá)tiền công” : sơ phát nhị thừa Bồ đề tâm,
học văn tư tuệ. Đây là chân thắng đức, nên gọi là “hỏi
lấy giá tiền công”, sau đó mới bắt đầu thực hiện các
pháp quán Ngũ đình tâm, Niệm xứ v.v…, dần dần chiết
phục phiền não, đó gọi là “tìm dọn phân”.
“Dữ”
là giúp cho, làm cho. Thuận áp dụng lời Phật, cho nên gọi
là “tìm giúp cho” (tầm dữ).
*
-Kinh
văn : “Cha nhìn thấy con thì thương và trách nó”.
Tán
rằng : dưới là đoạn thứ năm nói về ý khuyên nhập thiện
căn. Có ba phần :
1)
Tâm thương.
2)
Thân gần.
3)
Cùng trò chuyện.
Đây
là phần đầu : xót thương vì (thấy con) không có tướng
hảo, phúc tuệ; trách con vì không có tâm cầu đại thừa.
*
-Kinh
văn : “Lại vào ngày khác” tới “ô uế chẳng
thanh tịnh”.
Tán
rằng : dưới đây là mục đích thân cận gần gũi. Có hai
ý :
1)
Nhìn thấy con.
2)
Đích thân giống như con.
Đây
là ý đầu.
Từ
“dọn phân” trở về trước là viễân thế hóa, giải thoát
phần mãn vị.
Từ
“nhìn thấy con thương xót” trở về sau gọi là cận thế
hóa, đặt ra cách giáo hóa khiến nhập tứ thiện căn vị.
Khác
với giải thoát phần trước kia, nên gọi là “ngày khác”,
huống hồ đây lại là nhiều kiếp tu hành. Phần vị đã
khác, cho nên đặc biệt nói về thời gian.
Biết
căn chưa chín, ngầm thi hành cách giáo hóa bí mật, hơn nữa
chẳng dùng đại thừa để giáo hóa, chỉ giáo hóa bằng nhị
thừa Sinh không, cho nên nói là “ở trong song cửa”, vì chẳng
chính thị.
“Cửa
rả” (dũ) : có tính chất hướng đạo.
Lúc
sắp thành đạo mới hướng về Lộc viên mà thấy nhau. Đây
vẫn chưa phải là nay thấy cho nên gọi là “xa xa nhìn thấy”.
Hoặc do kẻ ấy còn xa thánh vị, cho nên cũng gọi là “xa
xa nhìn thấy”.
Chưa
được thắng phúc cho nên gọi là “gầy yếu”.
*
Chữ Luy [羸] có nghĩa là yếu.
Chẳng
được thắng trí cho nên gọi là “tiều tuỵ”. Phiền não
gọi là “đất phân”. Ác nghiệp gọi là “bụi bặm”.
*
Chữ [ ] đọc là Phần, chỉ bụi bặm bẩn thỉu.
Bụi
đất gọi là phân. Khổ quả, đó gọi là ô uế. Gộp cả
ba loại này thì gọi là “bất tịnh” (chẳng thanh tịnh,
chẳng sạch).
*
-Kinh
văn : “Liền cởi chuỗi ngọc” tới “dụng cụ
dọn phân”.
Tán
rằng : đây là mục nói về bản thân thị hiện thành giống
như con, thân đồng hóa thân Phật, có đầy đủ mọi đức,
tướng hảo viên minh, ở trong cõi thanh tịnh (tịnh độ).
Con nhìn thấy hoảng sợ bỏ chạy.
Nay
(Phật) thị hiện thành thân trần tục dơ dáy ở trong cõi
ô uế, hóa tướng ẩn dấu đi giống như “cởi chuỗi ngọc”,
là thứ dùng để trang sức cho thân thể ra. Cũng giống như
(Phật dùng) thần lực ẩn thân, thường quang chỉ phóng một
tầm. Chẳng phải là Phật thắng thân tướng hảo chỉ là
như vậy. Đó gọi là “cởi bỏ thượng phục”.
Tướng
cùng là hữu lậu giống nhau, đó gọi là “mặc quần áo
dơ dáy xấu xí”.
Thị
hiện là có phiền não, ác nghiệp, đó gọi là “thân bụi
bặm bẩn thỉu”.
Trước
tiên thuyết về quyền giáo, đó gọi là “tay phải”, vì
tay này sử dụng trước.
“Dụng
cụ dọn phân” : chỉ nhân hành nhị thừa để chiết phục
phiền não. Dùng giáo để giải thích rõ nghĩa lý cũng giống
như “dùng tay mà cầm”. Phật tự thị hiện là cùng thực
hành việc đoạn trừ phiền não, cho nên thuyết quyền giáo.
*
-Kinh
văn : “Hình dáng có vẻ e sợ” tới “được
gần con mình”.
Tán
rằng : dưới là mục cùng trò chuyện.
Có
hai phần :
-
Đầu tiên là trò chuyện chung chung để khuyến khích.
-
Sau đó là trò chuyện riêng để giáo hóa chỉ bảo.
Đây
là phần đầu.
Thị
hiện sợ các nỗi khổ, từ bi tiếp dẫn, đó gọi là “hình
dáng có vẻ e sợ”.
Thị
hiện, dạy bảo, khuyến khích, động viên, khuyên thực hành
tinh tiến, đó gọi là “bảo phải siêng làm”.
Đó
chính là do đời đời theo sự giáo hóa của Phật, cho nên
mới “được gần con”.
*
-Kinh
văn : “Sau lại bảo rằng” tới “sẽ tăng tiền
công cho ngươi”.
Tán
rằng : dưới là mục trò chuyện riêng để dạy dỗ chỉ
bảo. Có ba ý :
1)
Chẳng để cho đi lung tung (nay đông mai tây).
2)
Cần gì cho ngay.
3)
Giả xưng cha con.
Đây
là ý đầu.
*
Chữ [咄] đọc là Đốt, sách Thuyết Văn giải thích là bảo
nhau. Tự thư giải thích là nhả ra. Nay lấy nghĩa là “bảo
nhau”.
Chớ
có lùi bước, sa vào vòng sinh tử (luân hồi), tu pháp ngoại
đạo, đó gọi là “chớ đi nơi khác”.
“Thêm
tiền công cho ngươi” : có nghĩa là cho ngươi tu Tứ thiện
căn tuệ, tăng tiến thêm so với phần vị trước là Văn tư
tuệ.
*
-Kinh
văn : “Mọi thứ cần thiết” tới “để tự
an tâm”.
Tán
rằng : đây là mục cần gì cho nấy.
“Chậu
thùng” chỉ thiền định.
“Gạo
mì” chỉ giải thoát, thắng xứ, tứ vô lượng v.v… là
các công đức do định mà có.
Các
phần vị này cũng là học phần tu tập.
“Muối
dấm” chỉ hai trí do tu tập mà đạt được sau cái cơ bản
Sinh không. Hữu lậu giống như muối (mặn) mơ (chua) điều
hòa các vị, các trí này cũng thế, cũng đi