THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Giới Thiệu Về Kinh Ðiển
Kinh Ðiển Bắc Tông (Hán Tạng)
Kinh Ðiển Nam Tông (Pali Tạng)

 
Quyển I
Quyển II
Quyển III
Quyển IV
Quyển V
Quyển VI
Quyển VII 
Quyển VIII
Quyển IX
Quyển X
.
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA HUYỀN TÁN
 Đại Sư Khuy Cơ biên soạn –  Việt dịch: Cố Hòa thượng Thích Chân Thường 
Biên soạn: Giáo sư Trương Đình Nguyên – Tu chỉnh và hiệu đính: Tỳ kheo: Thích Đồng Bổn
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội  2005
QUYỂN THỨ SÁU (PHẦN TRƯỚC)
Sa môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn.

PHẨM THỨ BA THÍ DỤ (tiếp theo).

-Kinh văn : “Đức Phật muốn giảng lại nghĩa này”  tới  “có một căn nhà lớn”.
Tán rằng : dưới đây là tụng, tổng cộng có 165 tụng, chia làm hai phần :
• Phần đầu gồm 84 tụng rưỡi, trước tiên tụng về pháp dụ, sau đó là :
“ Bảo với Xá Lợi Phất !
  Bọn ông các người thảy, 
  Đều là con của ta,
  Ta tức là cha lành”. 
• Phần sau gồm Tám mươi tụng rưỡi, là đoạn lớn thứ ba khuyên hãy tín giải kinh này, thích sẽ thành được Phật trí. 
Trong phần đầu lại có ba ý : 
- 65 tụng rưỡi, tụng về dụ thuyết nói trên. 
- 18 tụng, tụng về hợp thuyết nói trên.
- Một tụng, tụng về kết thuyết trước : vì nhân duyên đó mà mười phương thực sự truy cầu (Phật thừa này), ngoài ra không có thừa nào khác, trừ phương tiện của Phật. 
Trong 65 tụng rưỡi đầu lại chia làm hai :
 53 tụng rưỡi, tụng về dụ : “xưa là Quyền (thừa)”. 
 12 tụng, tụng về dụ “nay là Thực (thừa)”. 
Văn đầu chia làm bốn : 
    a) Nửa tụng đầu, tụng về dụ “ba cõi có Phật”.
    b) 32 tụng rưỡi, tụng về dụ “năm nẻo nguy vong”. 
    c) 14 tụng, tụng về dụ “thấy (chúng sinh khổ) bèn đặt ra phương tiện quyền nghi”.
    d) 6 tụng rưỡi, tụng về dụ “y theo lời (Phật), tránh khỏi tai nạn”. 
Dụ đầu trường hàng có sáu, nay chỉ tụng hai :
                1) Gia chủ.
                2) Trạch tướng. 
Trước kia nói rằng ông rưởng giả có nhiều ruộng nương nhà cửa. Ở đây chỉ nói có một nhà lớn, có ba cách giải thích như trước .
*
-Kinh văn : “Nhà đó đã lâu cũ”  tới  “tường vách đều long lở”. 
Tán rằng : dưới đây là đoạn thứ hai gồm 32 tụng rưỡi, tụng về năm nẻo nguy vong. 
Trường hàng có 4 ý, nay chia làm ba :
- 3 tụng đầu, nói về nhà cửa mục nát nguy hiểm.
- Nửa tụng, nói về người đông đức.
- 29 tụng, nói về tai họa từ các phương dấy lên. 
Chẳng tụng về ý thứ tư là các con du cư. Trong phần nhà cửa mục nát nguy hiểm lại chia làm hai : 
+ 7 câu thuyết minh chung về tam giới ngũ uẩn vô thường.
+ 5 câu thuyết minh riêng về nghĩa sắc thân Vô thường, Vô ngã, Bất tịnh, Không. 
Đây là phần đầu gồm 7 câu :
1. “Nhà đó đã lâu cũ” : nếu bổ dọc mà bàn thì là thức uẩn vô thủy, niệm niệm sinh diệt, giống như huyễn sự, gọi là “lâu cũ”.
2. “Mà lại rất đốn tệ” : nếu cắt ngang mà xét thì thành đốn tệ (hư hoại ngay trong một lúc), chẳng phải là diệt dần dần. “Tệ” có nghĩa là bại, là hoại, tức là hư hoại. 
3. “Nhà cửa vừa cao nguy” : chỉ sắc uẩn vô thường. Lấy nhà thang gác, cao ắt dễ nghiêng, nguy ắt chẳng yên, giống như đám bọt, chẳng kiên cố chắc chắn. 
4. “Chân cột lại mục nát” : ví với hành uẩn vô thường, niệm niệm đổi thay tàn tạ, nghiệp tận đều chết, nên gọi là “mục nát”ù tồi hủ. “Tồi” là gãy đổ,  “hủ” là hủy hoại, ví như cây chuối.
 5. “Xà cột đều nghiêng ngã” : Ví với thụ uẩn vô thuờng, đã mất chính thụ thì sao yên được, ví như bọt bóng nổi vậy.
 6. “Nền móng đã đổ nát” : cũng tức là hành uẩn. Nghiệp tự gọi là nền móng, vì là chỗ để đặt cái cột mệnh căn. “Đồi” : có nghĩa là sụt lở, sập xuống. “Hủy”: nghĩa như hoại (hư hoại) hành uẩn nhiếp nhiều pháp, nghiệp quả hai thứ khác nhau nên phải dùng hai câu.
7. “Tường vách đều long lở” : là ví với tưởng uẩn vô thường.
* Chữ [ 圮  ] (thường đọc là Dĩ) âm đọc là phiên thiết của hai âm Phụ Mỹ (Phỉ), có nghĩa là huỷ hoại, đổ nát. 
* Chữ [ 坼  ] đọc là Sách, có nghĩa là nứt. Ngọc Thiên giải thích là phân, tức tách ra. 
Bảy câu trên thuyết minh chung về tam giới ngũ uẩn vô thường. 
*
-Kinh văn : “Đất bùn rơi rớt xuống”  tới  “đầy khắp những uế tạp”.
Tán rằng : đây là 5 câu dưới thuyết minh riêng về các nghĩa của sắc thân vô thường : 
- 3 câu nói về vô thường. 
- 1 câu nói về vô ngã.
- 1 câu nói về bất tịnh.
Do ba nghĩa này cho nên thành Không.
* “Nê đồ” : (Bùn trát, vữa) ví với thịt. Thiết Vận nói : “Đồ” là chỉ lớp lợp, lớp trát ở trên hoặc ở ngoài.
- “Trĩ” [ 阤 ], có nghĩa là sụt lở, đổ nát. Chữ [ 阤  ] đọc là Trĩ. Sách Thuyết Văn có chữ Trĩ [ 褫  ] là rũ áo. Sách Thiết Vận có chữ  Trĩ [ 阝多  ] là núi lỡ. Sách Ngọc Thiên nói chẻ củi theo thớ gọi là Trĩ [ 阤  ]. Có bản chép là [ 褫  ] chẳng biết căn cứ vào đâu. 
Nay nên dùng chữ [ 阤  ]. Sách Quãng Nhã giải thích [  阤 ] có nghĩa là [ 脫 ] Đoạt, đó là phương ngôn, có nghĩa là Hoại. Sách Thuyết Văn nói núi lở gọi là Trĩ [   阤   ] có khi viết là [ 阝多 ]. 
- “Tranh lợp” (Phú thiêm) : ví với da dẻ, bị rối loạn và sắp bong. Sách Nhĩ Nhã nói : lợp bằng cỏ tranh trắng (Bạch cái) [ 白 蓋  ] thì gọi là thiêm [ 苫 ]. Bện cỏ tranh trắng làm thành các tấm tranh để lợp nhà thì gọi là thiêm [ 苫 ]. 
- “Duyện lữ” [ 椽  木呂 ] (đòn tay, tàu bảy) : chữ [木呂 ] đọc là Lữ, là thanh gỗ đặt ở đầu mút vỉ kèo, nay gọi là “Tước lữ”õ[雀  木呂 ]. Chữ [ 差  ] có hai âm Si và Sai. Chữ [脫 ] có hai âm Đoạt và Thoát.
“Đòn tay, tàu bảy” [ 椽  木呂 ] ví với xương, khớp, gân, mạch, nối liền với nhau mà vô thường. 
“Đòn tay (chuyên) xê lệch” : ví với xương cốt vô thường. 
“Tàu bảy cũng bong (thoát) [脫 ]” : ví với gân, mạch vô thường. 
Du Già quyển 19 dẫn kinh tụng nói : “có thành, xương làm tường. Gân, thịt là vữa trát. Trong đó có tham, nhuế, mạn, phú để giữ thành”. Từ Thị giải thích    rằng : “ thành ấy là chỉ tám thức; xương được coi là gạch đá; gân được coi là dây dợ chằng buộc; thịt coi như vôi vữa đắp trát hình hài để làm tường thành vây kín xung quanh”.
Trong thành này có bốn loại ác pháp giữ thành. Hai loại do tại gia khởi lên đó là Tham và Sân. Hai loại do ngoại đạo khởi lên đó là Mạn và Phú. 
Tại gia do trước dục, ác hành tương ứng, ở trong chính pháp vẫn chẳng tín thụ, huống chi là việc tu thiện, làm sao mà có thể làm được, nếu có khuyên răn giảng giải cho thì lại sinh ra giận dữ, sân nhuế. 
Ngoại đạo cậy ác thuyết pháp mà sinh kiêu mạn, chẳng thể tự nhiên theo tới chỗ Tam bảo. Tam bảo tới giáo hóa cho họ, thì họ do bị phú chướng che lấp, vẫn chẳng hối lỗi, phát lộ các điều ác, huống hồ làm sao mà còn có thể tin giải tu các thiện pháp. Hai loại thành lũy của tâm ấy ngay đến việc đột nhập còn chẳng thể được, huống chi là việc chiếm lấy làm của mình. 
Kinh Niết Bàn cũng nói : “thân này ví như một tòa thành. Máu, thịt, gân, xương, da bọc ở trên; chân tay là lô cốt chống địch, mắt là lỗ châu mai; đầu là điện đường; tâm vương ở chính giữa, nên lấy thịt làm vữa trát, da làm tấm lợp; gân làm đòn tay, tàu bảy”. Trên đây là chỉ sắc thân là pháp vô thường.
 * “Chu chướng khuất khúc” : “Chướng [ 障 ] âm đọc là phiên thiết của Chi Thượng. Sách Thuyết Văn nói : chướng có nghĩa là ngăn cách. Dùng phên mà ngăn cách thì gọi là chướng. Theo sách Ngọc Thiên, chữ [ 障  ] có hai âm Chướng và Chương. Có sách viết là [ 王章  ].
 “Chướng” có nghĩa là ranh giới ngăn cách làm cho úng tắc. Đây ví với vô ngã : trong nhà xung quanh có chướng, quanh co khó vượt, cho nên biết rõ là vô ngã. Nếu hữu ngã thì thuần nhất không có sự quanh co, cũng không có chướng ngại.
 “Uế tạp đầy khắp” : ví với bất tịnh vì như thân Dục giới đầy rẫy ba mươi sáu vật. 
Do ba nghĩa Vô thường, Vô ngã, Bất tịnh này, nên cũng thành Không.
*
-Kinh văn : “Có đến năm trăm người
                    Đang dừng ở trong đó”. 
Tán rằng : đây là tụng về người ở đông đúc.
*
-Kinh văn : “Chim Ó, ưng, diều, cắt”  tới  “cũng hoành hành xông xáo”. 
Tán rằng : dưới là đoạn thứ ba có 29  tụng nói về các phương tai họa dấy lên. Chia làm ba phần :
 17 tụng rưỡi đầu là thuyết minh chung về tướng biến quái của trùng quỹ .
 10 tụng rưỡi thuyết minh riêng về lý do phân khởi trùng tạp của trùng quỷ.
 1 tụng cuối : kết thành nạn trên.
Thuyết minh chung về biến quái, tức là phân tích chung về mười tướng phiền não. Thuyết minh riêng về phân khởi, tức là thuyết minh riêng về Hoặc tướng của tam giới. 
Trường hàng tai khởi chỉ thuyết lửa thiêu. Nay thêm trùng quỷ, thuyết các ác tướng vì muốn khiến các chúng sinh ghét sợ sâu sắc. Như ba thứ độc v.v… cần phải chê trách, cho nên đặt ra đủ thứ tên. 
Trong phần đầu lại chia làm ba :
-  6 tụng thuyết minh về chim quái, trùng độc, vì hơi trì độn, nên ví với năm thứ là tham v.v…
- 10 tụng thuyết minh về thần linh quỷ dị vì nhanh nhẹn hơn, nên ví với ngũ kiến.
-  1 tụng rưỡi kết luận chung về hai mục này. 
Trong phần đầu này có hai : 5 tụng rưỡi là thuyết minh riêng, một nửa tụng là kết luận. 
Văn đầu chia năm :
1) Nửa tụng đầu dụ về Tham.
2) Một tụng rưỡi dụ về Sân.
3) Một tụng dụ về Si.
4) Một tụng dụ về Nghi.
5) Một tụng rưỡi dụ về Mạn. 
Đây là phần đầu và phần thứ hai. Trong này phối thuộc, không có giáo văn riêng, cứ theo hành tướng tương ứng thì nghĩa phối hợp với nhau, thuận theo thời cổ là như thế, Luận vốn chẳng giải thích, vì lý chẳng cần thế, nghĩa phù thuận, nên không hẳn chẳng phải như thế.
• Tham ái có bốn :
1) Hiện hữu ái. 3) Tham hỉ câu hành ái.
2) Hậu hữu ái. 4) Bỉ bỉ hỉ lạc ái. 
Đều căn cứ vào hành tướng riêng, vì thể hiện ra có thể thấy được.
 Cắt, Ưng, Ó, Diều : theo thứ tự mà phối với thượng phẩm Tứ ái. 
Quạ, Thước, Cưu, Câu : thì theo thứ tự mà phối hợp với hạ phẩm Tứ ái. 
Hoặc là Tính độn tham, Hiện quái tham, Đại lực tham, Động thân tham, Phi pháp tham, Phát ngữ tham, Ty hạ tham, Đa dâm tham theo thứ tự mà phối hợp với tám loại chim dữ trên. Tám loại chim trên phần nhiều là tham lam nên lấy làm ví dụ. 
• Sân dụ có mười một thứ :
1/ Con Nguyên xà. Chữ [蛇] có âm đọc là Nguyên, còn có âm là Ngoan. Theo Kinh Di Giáo thì đó là Hắc đoản xà. Về từ “Huyền nguyên” trong Hán thư, Vi Chiêu giải thích “Huyền”là đen; “Nguyên” là con thằn lằn (Tích dịch). Thôi Báo giải thích đó là con Xà y, con to dài ba thước, màu đen nhánh, giỏi chài người. Loại này có bốn tên gọi khác nhau : gọi là Vinh nguyên, Tích dịch, Yển diên và Thủ cung. 
Sách Ngọc Thiên nói đó là con Xà y, ở nhà thì gọi là con Thủ cung, ở đầm thì gọi là con Yển diên. Căn cứ vào đó thì lẽ ra Kinh Di Giáo phải gọi là con Hắc nguyên, nhưng lại viết lầm là chữ Xà (rắn). Nay giải chữ Nguyên [螈] có hai nghĩa : một là con Tích dịch, hai là con Hắc đoản xà. Cho nên Kinh Di Giáo nói rằng : “Rắn ngủ ra rồi mới ngủ yên được”. Nên kinh đó chẳng phải là viết sai song gọi là Hắc nguyên thì chẳng phải là Vinh nguyên, có chỗ chép là Nguyên [黿] chỉ loài thuỷ trùng tính hung ác (chữ Nguyên này là con giải) xét về lý cũng chẳng đúng vì bản đó là Nguyên thuộc bộ Mãnh [黿], chẳng phải là chữ Nguyên thuộc bộ Trùng [螈] như ở đây.
2/ Rắn : chỉ các loài rắn thường.
3/ Con Phúc xà, sách Nhĩ Nhã nói : Phúc xà là loại Nguyên xà, bề ngang tới ba tấc, đầu to như ngón tay cái, từ vùng Giang Hoài trở về nam gọi Nguyên xà là Phúc xà, có răng, rất độc, trên mũi có vòi, còn gọi là Phản tỵ xà, sắc như vằn thao đen, giữa vằn có mào, con to dài tới bảy tám thước, trích vào tay thì đứt rời tay, vùng Lĩnh Nam có nhiều rắn này.
4/ Bò cạp.
5/ Rết. Sách Tự Lâm gọi là con Tức thư, rất có khả năng trị được rắn. Loại mình xanh lục chân đỏ thì tốt (dùng làm thuốc), loại chân vàng thì chẳng dùng được. Người ta thường hay đốt để khiến chân nó thành đỏ, đó chẳng phải là thứ thật.
6/ Con Do diên. Con to loại này ở vùng Giang Nam gọi là Ngô công.
7/ Con Thủ cung. Vùng Sơn Đông gọi là con Thúc mịch, từ Thiểm trở về phía tây gọi là con Bích cung, lấy máu của nó bôi vào tay phụ nữ, nếu có tư tình thì rửa không sạch, nên có thể dùng nó để giữ nhà, vì vậy gọi là thủ cung. Còn nói rằng : ở đá thì gọi là Tích dịch, ở đầm thì gọi là Yển diên, ở nhà thì gọi là Thủ cung, tên gọi chung là Vinh nguyên.
8/ Con Bách túc.
9/ Con Dứu. Sách Thiết Vận nói : tên loại trùng giống tựa con chuột thì viết là [ 鼬 ] Dứu, tên loại thú giống tựa con vượn thì viết là [ 貁] Dứu.
* Sách Ngọc Thiên nói rằng con Dứu [貁] giống như con chồn hay bắt chuột, khác với giải thích của Thiết Vận. Con Dứu giống như con chuột xù nhưng ăn thịt chuột. Cũng gọi là con Sinh thử. Vì kinh này có bản chép là [ 鼬 ], có bản chép là [貁], theo Tự Lâm thì viết là [犭穴 ], cổ văn viết là [虫隹] chẳng những có âm đọc là Dứu, còn có âm đọc là Dụy, là tên gọi của con kiến. 
Bình Sơn Hải Kinh nói : “Lịch sơn có nhiều con Dụy”. Quách Phác giải thích nói rằng : con này giống con đười ươi mặt to, màu đen bóng đuôi dài bốn năm thước, giống như đuôi rái cá nhưng đầu có hai chẽ, khi trời mưa thì nó tự treo ngược lên cây, lấy đuôi mà bịt lỗ mũi. Vùng Giang Đông nuôi loại này để nó bắt chuột, loại này nhanh khỏe.
* Sách Nhĩ Nhã nói : con Dụy mũi hếch, đuôi dài. Nay theo Thiết Vận, viết là [貁 ]. Đây là loài vượn, hình dáng giống như loài chó, loài này tính không ác nên không lấy. Nên lấy chữ Dứu bộ Thử [鼬 ] đồng âm với chữ [貁 ]. Đây là loài cùng loại với con Hoàng yêu, tính hay sát thương, hình nó nhỏ. Theo cổ văn thì viết là [  虫隹  ], nếu theo Ngọc Thiên thì viết là[豸虫 ] . Theo Tự Lâm thì viết là [貁 ]. Có bản chép là [犭虫 ], chẳng biết căn cứ vào đâu.
10/ Con Chồn : còn gọi là Dã miêu. 
* Nên viết là [貍 ], không có chữ [狸 ] (Ly). Sách Thuyết Văn nói : chữ này thuộc bộ Trĩ [豸 ], âm đọc quan hệ với chữ Lý [里 ].
11/ Con Hề thử (chuột nhắt). 
* Thuyết Văn giải thích đó là Tiểu thử (chuột nhắt). Sách Ngọc Thiên nói rằng loại này có nọc độc, ăn thịt người và chim muông, dẫu bị ăn hết mà chẳng biết đau. Sách Xuân Thu gọi là con Thực Giao ngưu giác. Nay gọi là con Cam khẩu thử. 
Các loài có nhiều độc hại này ví với Sân, vì sân có các biệt tướng duyên vào 10 sự mà nảy sinh :
1) Kỷ thân (bản thân mình).
2) Sở ái hữu tình (loài hữu tình mà mình yêu).
3) Phi ái hữu tình (loài hữu tình chẳng được yêu).
4) Quá khứ oán thân.
5) Vị lai oán thân.
6) Hiện tại oán thân.
7) Bất khả ý cảnh (cảnh chẳng vừa ý).
8) Ghen ghét.
9) Túc tập (thói cũ).
10) Tha kiến. 
Nói chung thì Sân có 1, mà biệt hành có 10, phối hợp với 11 loại trên.
Phẫn, hận v.v… trong Tùy phiền não gọi là các loại ác trùng, gặp duyên sinh khởi thì gọi là “hoành hành xông xáo”. 
Thêm nữa, dưới đây nêu 11 loại sân :
1. Mãnh lợi sân.
2. Bị não sân.
3. Báo oán sân.
4. Hiện tướng sân.
5. Hại độc sân.
6. Bất đoạn sân.
7. Tật đố sân.
8. Phiền uyển sân.
9. Tư thiết sân.
10. Tổn sát sân.
11. Tiềm kế sân.
Theo thứ tự ví với 11 loại ác trùng trên. 
“Hoành hành xông xáo” là kết luận về sân nói trên.
*
-Kinh văn : “Chỗ thối tha cứt đái”  tới  “mà tụ tập trên đó”.
Tán rằng : đây là ví với Si, 36 vật như nước tiểu, phân v.v…, Si tăng thượng nên chấp trước coi thân mình là quý báu như con bọ hung tụ tập ở chỗ nhơ ác mà chẳng biết là bất tịnh, đam mê sinh tử, ngu cả ba thời khởi chín trong mười loại (9/10), nên gọi là Các trùng, vì có nhiều loại. 
Du Già quyển 9 nói : chỗ thối chẳng thể ưa thích, rất đáng khinh ghét.
* “Thối” (xú) là ác khí. Chữ [ 處  ] nếu đọc là xử, có nghĩa như tức. Ác xử : tức là “ác xử tức” là mùi hôi thối. Sách Thiết Vận nói chữ này đọc là “Si thứ phản” (Xử). Ngọc Thiên giải thích là Cư (ở, chỗ ở), nghĩa như Chỉ (dừng, ở). Đọc khứ thanh, tức đọc là Xứ, chỉ “Tiện ác xứ sở” (chổ tiêu tiểu bẩn thỉu).
*
-Kinh văn : “Cáo, sói, cùng dã can”  tới  “xương thịt bừa bãi ra”. 
Tán rằng : đây là dụ về nghi. 
* Chữ [ 狐 ] đọc là “hồ”. Ngọc Thiên giải thích rằng đây là loài yêu thú, quỷ hay ốp vào.
Hồ (cáo), có ba đức tính :
1) Màu nó trung hòa.
2) Trước nhỏ sau to.
3) Chết vẫn giữ gò. 
“Dã can” : lông màu vàng xám, giống như chó, thường đi thành đàn, rú lên về ban đêm giống như chó sói, có thể leo lên cây làm ổ chỗ cây cao tại ghềnh đá chon von. 
“Hồ” thân hơi to, “Dã can” nhỏ hơn. Hai loại này hình dáng giống nhau, chỉ khác nhau về cở to nhỏ. Cho nên Thiền kinh nói rằng : thấy một con “Dã hồ” lại thấy con “dã can”, con lang có thể biết được. Đây là nghi Tam bảo, tam thế, tam giới, cho nên thuyết ba loài thú trên. 
* Chữ [咀 ] đọc là Thư, còn đọc là Sử. Chữ [ 嚼  ] đọc là Tước. Sách Ngọc Thiên giải thích chữ [咀 ] Thư có nghĩa là nhấm nháp, nhâm nhi. Có chỗ viết là [齟 ]. Còn Tước [嚼 ] có nghĩa là cắn, nhai, ăn. Ngậm mà nhai gọi là Thư [咀 ]. Cắn mà nhai thì gọi là Tước [嚼 ].
 Xỏ chân vào giày thì gọi là Tiễn đạp [ 踐 蹋  ] còn có nghĩa là giày xéo, chà đạp. Làm đứt gân cốt thì gọi là Tệ [ 齒齎  ]. Làm tổn thương da thịt thì gọi là Khiết [ 齧 ]. Chữ [ 齒齎  ] đọc  là Tệ. Ngoạm tới răng thì gọi là Tệ [口齊  ], còn chữ [ 齒齎 ] không biết có xuất xứ từ đâu. Sợ răng kinh bản đã chép sai chữ [  口齊  ] thành [ 齒齎  ]. Đúng ra phải chép là [  口齊  齧   ] Tệ khiết (1)
 Cắn mà lôi đi thì gọi là Tệ [ 齒齎  ]. Chữ này còn đọc là Tiệt [截 ] không rõ xuất xứ. Chữ [齧 ] đọc là Khiết. Nghĩa như Phệ, Giảo [ 噬 , 齒交  ] nhai nhiều lần thì gọi là Khiết (nghiến ngấu), cắn ngập răng thì gọi là Tệ [口齊 ].
 Do đó mà xương thịt mới tới mức vung vãi bừa bãi. Nghi mà phát ra miệng thì như cắn như nhai, tâm nghi đế lý thì như giày xéo giẫm đạp. Nghi nhuyễn pháp của Khổ Tập thì như cắn đến ngập răng, nghi kiên pháp của Diệt Đạo thì như cắn xé làm tổn thương da thịt, do đó mà cái thây sinh tử bị vương vãi bừa bãi.
*
-Kinh văn : “Do đó mà đàn chó”  tới  “những biến trạng như vậy”. 
Tán rằng : một tụng rưỡi đầu dụ về mạn, nửa tụng sau là kết luận. 
Mạn có nhiều thứ nên gọi là “đàn chó”, phần nhiều do nghi mà sinh ra, nên nói là “do đó”.
* Chữ “Bác” có nghĩa là đánh, đập. “Toát” có nghĩa là cầm lấy, giữ lấy. Chữ [ 搏  ] đọc là Bác, nghĩa là đánh bằng tay. Sách Ngọc Thiên giải thích là đập ([拍  ] :phách), vỗ ([扌府  ] : Phủ). Chữ [ 撮  ] đọc là Toát, có nghĩa là lấy bằng tay. Sách Thích Danh nói : “Toát” có nghĩa là (lấy) hết, ý nói tạm thời lấy hết (Toát). Sách Ngọc Thiên và sách Tứ Khuê nói : “Toát đồng” có nghĩa là dùng ba ngón mà tuốt. Cầm vào tay rồi tuốt, đọc là Toát, nay chẳng phải nghĩa đó. 
Làm cao lấn át người khác thì gọi là Bác [ 搏  ]. Hòng người theo mình thì gọi là Toát [ 撮  ]. 
Thói Ty liệt mạn : mình chẳng bằng người, như kẻ đói vì cứ ngóng ngớp hoài. Tâm tuy cao nhưng lại run sợ thì gọi là “chương hoàng” (hồi hộp). Chỗ nào cũng có thì gọi là “xứ xứ” (chốn chốn, khắp chốn). Tâm thường xuyên chẳng cho là đủ, như người cầu được ăn, đó đều là tướng Ty mạn. Tâm mạn khinh miệt người khác thì gọi là “đấu tranh”. Thân khởi mạn tướng thì gọi là Trá.
* Chữ [樝 ] đọc là Tra, sách Thích Đanh nói Tra là bốc, có nghĩa là thò cả năm ngón tay ra mà bốc lấy. Sách Ngọc Thiên giải thích Tra [ 樝  ] là dùng cả năm ngón tay mà bắt mà đánh. Cũng có nghĩa là nắm lấy. Sách Thiết Vận thì nói chữ này có nghĩa là lấy ngón tay mà ấn đùa.
Chữ [ 掣 ] có âm đọc là Xiết, Tự Thư giải thích là kéo, Ngọc Thiên giải thích là kéo rồi lại buông ra. Còn đọc là Xích, có nghĩa là kéo lê, có nghĩa là dùng năm ngón tay bắt lấy mà kéo lê, dùng ngón tay nắm vào mà co kéo. Hoặc kéo rồi lại ngả về phía trước thì gọi là Tra [樝 ], vì phải cuối thấp xuống hướng tới người khác. Lôi về phía sau thì gọi là Xiết [掣 ], ví Ngã mạn như kẻ nằm mà lôi về phía sau vậy. Có chỗ chữ Tra viết là [ 齒樝  ], sách Thuyết Văn giải thích là răng chẳng ngay, chẳng phải nghĩa này.
Nói ra lời kiêu mạn thì gọi là “ngãi sãi cao phệ”. Lộ cả môi răng thì gọi là “ngãi sãi”. Gầm rống oang oang thì gọi là “cao phệ” (như chó sủa ông ổng). 
* Chữ [口涯  ] đọc là Ngãi, chỉ chó cắn nhau. Chữ [齒此 ] đọc là Sãi, vốn có nghĩa là răng chẳng ngay thẳng, còn viết là [齒此 , 齒樝 ] há miệng nhe răng thì gọi là “sãi ngãi”. Lại chẳng biết chữ [口紫  ] Sãi này từ đâu mà ra.
“Cao” là tiếng gầm của gấu, hổ. Sách Ngọc Thiên giải thích “Cao” là Bào [ 咆  ] (gầm rống), như khóc mà gào lên. Đây là kết luận về ngôi nhà ấy biến trạng đáng sợ như vậy.
*
-Kinh văn : “Khắp nơi đều có những”  tới  “nuốt ăn cả thịt người”. 
Tán rằng : dưới là 10 tụng thuyết minh về thần linh quỷ dị, ví với ngũ kiến, chia làm năm :
3 tụng rưỡi đầu dụ về tà kiến.
  2 tụng rưỡi dụ về giới thủ.
  1 tụng rưỡi dụ về thân kiến.
 Nửa tụng dụ về kiến thủ.
 Hai tụng dụ về biên kiến.
Trong phần đầu lại chia làm hai :
 1 tụng tổng dụ về tự thể tà kiến.
 2 tụng rưỡi dụ về hành tướng sai biệt.
Đây là phần đầu.
* [ 魑  ] đọc là Ly, [ 魅 ] đọc là Mỵ. Thuyết Văn, Ngọc Thiên giải thích đó là Lão vật tinh. Theo từ ngữ thông tục văn thì : quái ở núi đầm gọi là ly mỵ. Tây Kinh phú của Trương Bình Tử nói rằng : thần núi hình giống hổ gọi là Ly. Thần đầm hình người đầu lợn có đuôi gọi là Mỵ.
[ 魍 ] đọc là Võng, [  魎  ] đọc là Lưỡng. Theo từ ngũ thông tục thì : gỗ đá biến thành quái gọi là võng lưỡng. Xuân Thu và Ngọc Thiên nói : đó là thủy thần. 
Thêm Dạ xoa, ác quỷ. Tổng cộng có năm loại để ví với tà kiến duyên bát ngũ môn, duyên bát ngũ pháp. Tâm, tâm sở v.v… có năm hành tướng đó là báng nhân quả, tác dụng thực sự  và phi tứ kiến. Các tà kiến khác làm tổn thương thiện pháp, hủy hoại ruộng lành. Chỗ nào cũng sinh thì gọi là “khắp nơi đều có”. Tổn hại rộng lớn như ăn thịt người.
*
-Kinh văn : “Các loài trùng độc dữ”  tới  “đều tự tàng hộ vậy”. 
Tán rằng : dưới là 2 tụng rưỡi nói về hành tướng sai biệt của tà kiến, trong đó chia làm hai :
 1 tụng đầu nói rõ do tà kiến sinh độn phiền não, lại do phiền não mà sinh tà kiến.
 1 tụng rưỡi sau nói rõ do tà kiến mà sinh ra các ác kiến và bất thiện hành.
Đây là phần đầu. Các phiền não khác gọi là Trùng thú. 
* Chữ [ 孚  ] đọc là Phu. Sách Ngọc Thiên giải thích là mái nằm phủ phục, là ấp trứng, là sinh. văn thông tục đọc là Phu, từ trứng nở ra thì gọi là Phu. Sách Quãng Nhã nói : Phu là sinh nở. Đó là câu như phương ngôn nói gà ấp trứng mà chưa nở vậy.
Chữ [  乳   ] đọc là Nhũ, còn gọi là Nhu. Thương Hiệt, Ngọc Thiên nói : Nhũ là nuôi con vậy. Chữ Sinh [  生  ] tuy có hai âm bình, khứ, nhưng nên đọc là âm bình. Ngọc Thiên nói : Sinh sản có nghĩa là tiến thêm vậy. Sinh dưỡng là tạo ra vậy. Nhân vật tạo biến thì gọi là Sinh. Sản [ 產  ] cũng là sinh. Chim ấp trứng thì gọi là Phu [孚 ], thú nuôi con thì gọi là Nhũ [ 乳  ]. Do tà kiến nên sinh ra các phiền não, cũng như phu nhũ. Sinh các phiền não cũng ví như “sản sinh”.
Các thứ phiền não duyên vào năm loại tà kiến mà lần lượt nảy sinh thì gọi là “đều tự tàng hộ”. Theo từ ngũ thông tục thì  “tàng hộ” có nghĩa là “tư dưỡng”. Hoặc là các phiền não ví với các loại trùng thú, sinh trưởng tà kiến thì gọi là “tự tàng hộ”.
*
-Kinh văn : “Quỷ dạ xoa ùa tới”  tới  “thật rất là đáng sợ”. 
Tán rằng : đây là thuyết minh do tà kiến mà sinh ra các ác kiến và bất thiện hành.
Các ác kiến v.v… ví như dạ xoa ngày ngày tăng trưởng gọi là “ùa tới”. Nhân khởi phiền não, lại sinh ác hành gọi là “tranh cướp mà ăn”. Ăn là nghĩa tư trưởng, nên ác thân hành mãn gọi là “ăn đã no”. Tà kiến càng nhiều gọi là “ác tâm càng mạnh”, rồi thể hiện ra lời nói gọi là “tiếng đấu tranh”. Ba nghiệp ác hành tà kiến tăng thêm, tổn hại càng nhiều thì gọi là “rất đáng sợ”. Cho nên do tà kiến mà sinh ra tam ác hành, chẳng phải do tà kiến đích thân phát ra thân ngữ. Nhân thế viễn sinh, nên thuyết như vậy.
*
-Kinh văn : “Những quỷ  Cưu  bàn  đồ”  tới  “nô đùa chơi phóng túng”.
Tán rằng : dưới đây là 2 tụng rưỡi, dụ về  giới thủ. Trong đó chia làm hai :
 1 tụng rưỡi đầu, dụ tổng hành tướng.
 1 tụng sau, dụ biệt hành tướng.
Đây là phần đầu.
Các thày xưa thoạt tiên đều không có chính văn, phần nhiều lấy tiểu thừa mà giải giới tướng. Nay y vào văn mới mà giải theo nghĩa đại thừa, học giả nên biết. 
 “Cưu bàn đồ” : là loài quỷ đáng sợ, loài này ví với giới thủ. Cố chấp tùy thuận các kiến, giới cho nên chẳng duyên vào pháp khác, như ngồi bệt trên đống đất. 
* Tự Lâm nói : “Tuân” là ngồi xổm. [  踞  ] đọc là Cứ, là ngồi bệt chân buông thõng. [ 埵  ] đọc là Đóa là nắm đất nhỏ, là đất cứng. Ngọc Thiên đọc là Đoa : đống đất nhỏ, cũng có nghĩa là đất rắn, cũng đọc là Đôi : là gò đất. Không đúng.
 Nếu chỉ chấp giới làø thắng hơn, từ đó sinh ra chấp thủ thì gọi là “lìa đất một thước”. 
Chấp cái việc tuân theo giới cấm là thắng (hơn), từ đó sinh ra chấp thủ thì gọi là “lìa đất hai thước”. 
Hoặc là, chấp giới thằng (hơn) thì giống như “lìa đất một thước”. Còn chấp giới là nhâ để sinh thượng giới, thì giống như “lìa đất hai thước”.
Giới thủ ắt phải đủ hai tướng này. Nếu không thì thuộv vềø tà kiến, chẳng cần tách riêng ghép với thượng giới nhị thủ, vì chẳng thuyết về các Hoặc khác thông với thượng giới, mà chỉ nói về cái chấp hân cầu cái quả Diệtû thuộc về xuất thế. 
Tới sinh ở cõi người cõi trời thì gọi là “Vãng”. 
Quay lại chìm đắm ở ác đạo thì gọi là “Phản”. 
Thường chìm đắm trong vòng sinh tử, phí công khổ hạnh thì gọi là “Du hành”. 
Chấp giới là tối thắng, trái ngược  chính đạo thì gọi là “phóng túng” (túng dật).
Chấp giới là chính nhân, nhiễm trước sinh tử thì gọi là “nô đùa” (hi hí).
*
-Kinh văn : “Nắm bắt hai chân chó”  tới  “dọa chó để tự vui”. 
Tán rằng : đây là thuyết minh riêng về hành tướng của giới thủ. 
Niết bàn giải thoát mà ngoại đạo mong cầu chẳng phải là thắng pháp thật sự.
Sinh tử đáng ghét ví như con chó, được giới cấm đó giống như hai chân, là Niết bàn nhân, nên ví như chân. 
Giới và Cấm tách ra nên gọi là hai. Hoặc chấp là thắng là nhân nên gọi là hai. 
Cố chấp giới cấm như bắt chân chó. Chấp trước vào giới cấm rồi hành trì tuân theo đó, ví như nắm chân chó rồi quật ngã nó.
* [  撲  ] đọc là Phác : có nghĩa là quật ngã. Thông tục văn gọi là tranh giành mà ngã thì gọi là Phác, có bản viết là [ 扑  ] (Phác), có nghĩa là đánh. Ngọc Thiên giải thích là kích (đánh), có nghĩa là đánh bằng tay. Đây chẳng phải nghĩa này, cũng chẳng phải là chữ [  扑  ].
Đề cao khổ hạnh và loại Niết bàn để chỉ cho chúng sinh ví như khiến chó la thất thanh. 
Chấp trước cho rằng giới cấm như vậy có thể tới được Niết bàn, giống như chân chó đặt lên cổ chó.
Yên chí theo cách này rồi tu khổ hạnh để cầu Niết bàn, giống như đùa nghịch dọa cho chó sợ ; mãi nghịch không bỏ, tuy khổ mà vẫn bảo rằng sướng, để thỏa thích tình mình, nên gọi là tự lạc (tự lấy làm vui).
*
-Kinh văn : “Lại còn có các quỷ”  tới  “gào thét đòi thức ăn”. 
Tán rằng : đây là dụ về thân kiến. 
Thâ kiến cùng với sinh thân (câu sinh khởi), là tâm hành từø thời vô thủy đến nay lúa nào cũng có, cho nên gọi là “trường đại”.
Phân biệt khởi cùng tính bất thiện, không biết hổ thẹn thì gọi là trần truồng (lõa hình). “Lõa” có nghĩa là lộ ra, vì không biết hổ thẹn.
Bị vô minh che, thì gọi là đen. Mê không đúng chính lý thì gọi là gầy. 
Kiên chấp ngũ uẩn, chẳng hề tạm ngừng thì gọi là “thường trụ trong” 
Các phiền nãûo nhân đó mà  khởi lên. 
“Ngã ngữ thủ” nhân đó mà sinh thì gọi là “phát ác thanh”.
Chốn chốn đều khởi, ngã kiến càng lớn, ví như các quỷ kêu đòi thức ăn.
*
-Kinh văn : “Lại còn có loại quỷ
                    yết hầu nhỏ như kim”. 
Tán rằng : đây là dụ về kiến thủ.
Có loại quỷ đầu nó như núi, yết hầu rất nhỏ, nhỏ như cái kim, chẳng thể ăn vào. 
Kiến thủ cũng thế. Chấp tự kiến là nhân là thắng, cho là to như núi, chẳng thụ tha kiến, như kim cực nhỏ.
*
-Kinh văn : “Lại còn có loại quỷ”  tới  “hoặc ăn cả thịt chó”. 
Tán rằng : dưới đây là 2 tụng về biên kiến. Chia làm hai :
- Tụng đầu dụ về hành tướng chung.
- Tụng sau dụ về hành tướng riêng.
Đây là phần đầu.
Đầu như đầu trâu, đầu có hai sừng. Mỗi sừng là một biên kiến, hai sừng là thường kiến và đoạn kiến.
Thường kiến và đoạn kiến ắt y vào ngã kiến, sau mới khởi lên, như y vào đầu trâu mà có hai sừng.
“Hoặc là ăn thịt  người” đó là dụ ví với đoạn kiến, vì vậy gây tổn hại rất nặng cho thiện pháp do đoạn kiến. 
“Hoặc ăn cả thịt chó” : đó là dụ ví với thường kiến, vì chẳng phương hại đến việc nảy sinh thiện pháp, chỉ gây tổn hại nhỏ, nên giống như ăn chó.
*
-Kinh văn : “Đầu tóc rối bù lên”  tới  “chạy cuống quít kêu la”. 
Tán rằng : đây là dụ về hành tướng riêng của biên kiến.
Nhân biên kiến này mà sinh ra 47 kiến trong số 62 kiến. 
Dụ như “tóc rối bù” : vì kiến này cùng các kiến của ngoại đạo bài xích lẫn nhau.
Dụ như “tàn hại hung hiểm” : vì vọng kiến của ngoại đạo gọi là hung hiểm. Hung hiểm có nghĩa là hung ác hiểm trở.
Vì không có cơm chính giáo, và nước chính lý để nuôi dưỡng khôn lớn, cho nên ví như “bị đói khát thúc ép”.
Nội tâm cũng thế, cho nên phát tiếng ra lời nói kế chấp, dụ như “kêu la”.
Thân vội theo đó mà hành động, cho nên dụ như “chạy cuống quít” (trì tẩu).
*
-Kinh văn : “Dạ xoa cùng quỷ đói”  tới  “thật đáng sợ vô cùng”. 
Tán rằng : đây là kết thành. 
Vì ngoại đạo khởi phiền não hư vọng điên đảo  nên như dạ xoa, quỷ đói. 
Vì tại tục khởi phiền não, đam trước, vô tri, nên như các chim muông ác. 
Đó là nhắc lại những điều đã thuyết minh ở trên. Do khởi các thứ đó, cho nên chẳng thông đạt chính lý, nghèo không trí tuệ như bị đói quá. Tại tục khắp bốn vị : sinh, lão, bệnh tử, chỗ nào cũng gặp ác duyên, cho nên sinh Hoặc, như đói quá cuống quít hướng ra bốn hướng (cơ cấp tứ hướng). 
Ngoại đạo chẳng có thể nhìn đúng cửa Niết bàn nhân, chỉ tu sằng khổ hạnh mà quán chính lý giống như nhìn cửa sổ, mà chẳng chính hành, cho nên dụ như “rình xem nơi cửa sổ”. 
“Rất nhiều nạn như vậy,
  Thật đáng sợ vô cùng”.
 Thuyết qua khổ hoặc, các nạn còn thế, huống hồ các ác nghiệp, lý dụ làm sao kể xiết được. 
*Chữ khuy [ 闚 ] còn viết là [ 窺 ] có nghĩa là dòm. Phàm là nhìn trộm, vùng Nam Sở đều gọi là Khuy (dòm).
*
-Kinh văn : “Nhà này cũ mục nát”  tới  “lửa cháy đều hừng hực”. 
Tán rằng : dưới là 10 tụng rưỡi thuyết minh riêng về nguyên do khiến trùng quỷ nhao nhao khởi lên. Có ba phần :
- 2 tụng đầu nói rõ : chủ có nhà thì không có tai họa, chủ vắng nhà thì tai họa xảy ra.
- 1 tụng sau nói rõ : do bị lửa thiêu mà nhà cửa bị sụp đổ.
- 7 tụng rưỡi cuối : tiếp theo họa này là trùng quỷ ùa ra quấy nhiễu.
Đây là phần đầu.
* Chữ [ 屬  ] đọc là Chúc, chúc nghĩa như “do chúc” : “do có liên quan”. 
Ý nói Bồ tát nhân vị tại nhà, tới khi thành Phật rồi ở tại thế gian làm lợi cho vật, nên sinh tử phiền não tai nạn liền hết. Phật nhập Niết bàn, Bồ tát ẩn mất, lợi ích cho vật cũng mất, sinh tử phiền não tai nạn mới nảy sinh. Cũng giống như chủ ở trong nhà thì sửa sang quản lý, đôn đốc con cái, nên tai nạn chẳng sinh. Chủ nếu lìa nhà, không ai sửa sang không ai đôn đốc, con cái phóng dật nên tai họa nảy sinh, nhà bị sụp đổ.
Bởi vậy tòa nhà tam giới nếu như có Phật thì tai nạn chẳng sinh, nếu không có Phật thì tai nạn mới xảy ra, cho nên nói là “liên quan đến một người”, đó là dụ ví với Phật Bồ tát vậy. Chẳng do ngoại đạo, chỉ do Phật pháp, nên nói là “một người”. 
Thêm nữa [ 屬 ] còn đọc là Thuộc, có nghĩa là nhiếp thuộc. Ba cõi đều là của Phật, cho nên nói Phật là chủ và đều thuộc  Phật. 
“Người đó thân cận xuất” : nhập Niết bàn,  ẩn ly tam giới sinh gọi là “thân cận xuất”.
Như nhà không chủ, “bỗng nhiên bùng cháy” : đây là dụ cho các phiền não tổn hại thân khí, như lửa làm tổn hại nhà cửa. Phải dùng chữ Thuộc [ 屬 ]. Không có lý do gì mà có, thì gọi là “bỗng nhiên bùng cháy”. 
Từ sinh đến tử, mọi chỗ đều khởi lên thì gọi là “bốn phía đồng một lúc”. 
Nhân đó mà phát sinh vô lượng ác nghiệp, nên gọi là “lửa cháy đều hừng hực”.
*
-Kinh văn : “Rui xà và kèo cột”  tới  “tường vách đều đổ sập”.
Tán rằng : do lửa đốt cháy, nhà cửa sụp đổ.
 “Rui xà” : chỉ thụ uẩn. “Kèo” như khớp xương, chỉ sắc uẩn. “Cột” chỉ hành uẩn. 
“Tiếng nổ ” : là dụ cho sinh khổ. 
* [ 爆 ] đọc là Bạo, chỉ lửa cháy dữ dội; còn đọc là Pháo. Thuyết Văn giải thích là rang (Chước [  灼   ]). Ý nói như bị rang (nôå) tung tóe ra. Theo Ngọc Thiên, chữ này có ba âm : Bạo, Bộc, Pháo. Có nghĩa là rang, phơi hong cho nóng. Cũng viết là [ 曝 ] có nghĩa là bùng lên, thời xưa viết là [暴皮, 曝 ] hai dạng khác nhau, nhưng âm nghĩa như nhau.
“Chấn động nứt toác” (chấn liệt) : ví với lão khổ. “Chấn” [ 震 ] có nghĩa là kinh động. Lão khổ tại thân như sấm kinh động rất đáng sợ. Hoặc viết là [ 振 ].
“Tàn phá” (tồi chiết) : ví với bệnh khổ, tàn phá thân mệnh, làm yếu người khoẻ. 
“Rơi rụng” (đoạ lạc) : là dụ ví với tử khổ, vì hoại thọ mệnh. 
Sinh lão bệnh tử đều ví như cột, cùng là hành uẩn vô thường, ở cuối ba uẩn, trước tưởng uẩn. Thuyết minh về bốn tướng tức là muốn thuyết minh sinh lão bệnh tử ở khắp năm uẩn. 
“Tường vách sụp đổ” : ví với tưởng uẩn nội ngoại vô thường. 
Trên đây là thụ, sắc, hành, tưởng bốn uẩn vô thường ở tại ngôi nhà thức (thức uẩn dụ như ngôi nhà). 
Đoạn văn trước đã nói rõ : Trong nhà lửa cháy, thuyết minh chung về năm uẩn có sinh, lão, bệnh, tử, vô thường bại hoại, rất đáng chán ngán lo ngại.
 -Hỏi  : tai nạn trong nhà đều là phiền não, cớ sao có khi nói  là lửa, có khi lại nói là trùng, quỷ?
  Đáp  : thiêu đốt thân tâm thì ví là lửa ; vô tri mà gây tổn hại thì ví với trùng, quỷ. Muốn khiến cho thật lo sợ chán ghét, cho nên dùng đủ mọi cách ví dụ.
 Thức là chỗ sở y, ví với nhà cửa. Phiền não y vào đó y khởi lên, nên ví với lửa và trùng. Bốn uẩn đều là năng y, nên nói là do lửa hủy hoại làm rơi rụng, chẳng nói đến trùng quỷ, vì (trùng quỷ) cũng y vào lửa mà ngao du.
*
-Kinh văn : “Các loại quỷ thần thảy”  tới  “chẳng thể tự ra được”.
Tán rằng : dưới là 7 tụng rưỡi nói rõ : nối tiếp liền với tai họa này, trùng quỷ ùa ra quấy nhiễu. Có ba phần :
- 1 tụng rưỡi là dụ về tai hoạ của Dục giới.
- 3 tụng rưỡi là dụ về tai hoạ của Sắc giới.
- 2 tụng rưỡi là dụ về tai họa của Vô sắc giới.
Đây là phần đầu. 
“Các quỷ thần thảy” là dụ về ngoại đạo xuất gia, tục nhân tại gia bị các nỗi khổ bức bách bèn cất tiếng kêu to giống như trùng thú. 
Cho nên Thập Địa luận nói rằng : ngoại đạo biết rõ sinh, lão, bệnh, tử sinh ra chán ngán, nên cất tiếng kêu to. Nay chung cho cả tại gia. 
Thêm nữa, tại gia vì nảy ra thói tham v.v… mà đấu đá tranh giành, ngoại đạo nảy ra các kiến mà đấu đá tranh giành, cất tiếng kêu to. Đây là câu luận chung. 
Do khởi lên độn phiền não như tính tham v.v… nên ví như chim diều chim ó. Do khởi tật lợi phiền não là các kiến, nên ví như Cưu bàn đồ v.v… . Đây là câu nói riêng. 
Tuy bị khổ bức bách, đến nỗi “cất tiếng kêu to” : nhưng tục nhân tại gia lại si ái, nên sinh não. Ngoại đạo xuất gia vì khổ muốn xả khổ. Đó đều gọi là : 
 “Chu chương hoàng bố
     Bất năng tự xuất”. 
(Luống cuống và hốt hoảng,
  Chẳng thể tự ra được) 
* “Chu chương” là hốt hoảng sợ hãi. Chữ Chương [  章 ]  có chỗ viết là [ 章  ], có nghĩa là châu lưu. “Châu lưu” : có nghĩa là châu biến (khắp hết). Do chạy quẩn quanh ở dưới nên gọi là Châu chương. Chữ Chương ở đây phải viết là [  章 ] , nội dung cũng là kinh hoàng. Chữ Bố [  怖   ] có nghĩa là kinh sợ.
Cho nên “hốt hoảng kinh sợ” ở đây là dựa vào câu “cất tiếng kêu to” ở phần đầu mà giải thích. Nếu dựa vào phần sau mà giải thích thì tại tục và ngoại đạo khởi Lợi độn hoặc, thường đấu đá cãi cọ, do đó mà hối hả trong vòng sinh tử, kinh sợ tất bật sớm tối, há biết lửa Hoặc thiêu đốt, trùng quỷ độc hại mà cầu xuất ly đâu ! Giả sử có muốn cầu xuất ly, cũng không có cách nào để tự xuất ly được.
*
-Kinh văn : “Loài ác thú trùng độc”  tới  “cũng trú ở trong đó ”. 
Tán rằng : dưới đây là 3 tụng rưỡi  dụ về tai họa của Sắc giới. Có ba :
- 1 tụng dụ : tục nhân, ngoại đạo đều sinh ở cõi đó.
- 1 tụng dụ : tuy có tịnh định chiết phục phiền não, phiền não vẫn khởi lên.
-  1 tụng rưỡi dụ : tuy cầu ly dục, chấp đó là thắng trội, phiền não lại sinh.
Đây là phần đầu. 
Sắc giới định sâu giống như hang hốc, tại tục sinh ở đó như trùng chui lủi vào, ngoại đạo quỷ sinh, cho nên nói là “cũng trú”.
* [  竄  ] đọc là Thoán, có nghĩa là trốn lủi. Ngọc Thiên giải thích là ẩn nấp.
*
-Kinh văn : “Do vì phúc đức mỏng”  tới  “uống máu ăn thịt nhau”. 
Tán rằng : đây là ví với sự tuy có tịnh định, chiết phục phiền não, phiền não vẫn khởi. 
Thánh nhân có tịnh định, phiền não chẳng sinh. Đó tuy có tịnh định, nhưng không có phúc tuệ thật sự, gọi là “bạc phúc đức” (phúc đức mỏng), lại càng bị các phiền não là tham, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến thiêu đốt, gọi là “vi hỏa sở bức” (bị lửa bức bách).
Chẳng thể đoạn diệt các phiền não này, vẫn khởi kiến thủ, bài xích lẫn nhau gọi là “cộng tương tàn hại”. 
Chấp đạo tự thắng (tự cho mình là hơn) ví như “uống máu”, vì duyên kiến tế. Khởi giới thủ kiên chấp dụ như “ăn thịt”, vì duyên sự thô. 
* Chữ [  噉  ] có âm đọc là Đạm, có nghĩa là ăn, cũng như chữ [  啖  ] Đạm. Còn có âm đọc là Đảm.
*
-Kinh văn : “Những loài thú dã can”  tới  “đầy rẫy khắp bốn phía”. 
Tán rằng : tuy cầu ly dục, nhưng vì chấp vào điều đó coi là thắng trội, nên phiền não lại sinh. 
 “Dã can” (con chồn) ví với loại phiền não như nghi trong Dục giới, cùng với các phiền não khác đều đã chết rồi vì đã bị chiết phục đoạn trừ từ trước. 
Do thủ định coi là thắng trội, khởi mọi loại phiền não như Ái, Kiến, Mạn, Nghi … trong Sắc giới gọi là đại ác thú (thú dữ lớn). Các phiền não này lần lần tăng trưởng, dụ như các thú dữ lớn “đua nhau chạy đến ăn”. Lửa Hoặc đã cháy, càng cháy càng to. Nhân định sinh Hoặc, chẳng thể ưa thích, ví như khói hôi  : “khói hôi bốc nồng nặc”, gọi là bồng bột.
* Chữ [    篷 ] đọc là Bồng. Chỉ có hai chữ  [ 篷 ,  菶 ] (đều đọc là Bồng). Khí như cỏ bồng rối bời, thì nên viết là [ 篷 ]. Có bản chép là [   篷 ]. Theo Ngọc Thiên, đó là chữ Phong trong từ Phong hỏa (lửa hiệu), chữ này không có âm đọc là bồng.
Chữ [    ] âm đọc là Bột, có nghĩa là lớn, là thịnh. Nếu là bụi bốc lên thì viết là [ 垿  ]. Nếu là mùi nồng nặc thì viết là [     ]   (sực nức, nồng nặc). Nay mùi hôi này nồng nặc bời bời như cỏ bồng, mùi hôi của Hoặc bốc to lên như cỏ bồng. Có bản chép là [      ] (bột) chẳng biết xuất xứ từ đâu. 
Cái Hoặc này sinh khắp tứ định, không đâu không có, ví như đầy rẫy khắp bốn phía.
*
-Kinh văn : “Con rết, con do diên”  tới  “bắt được là ăn liền”. 
Tán rằng : dưới đây là 2 tụng rưỡi, ví dụ về tai nạn ở Vô sắc giới. 
- 1 tụng rưỡi đầu dụ về Hoặc ở ba địa dưới.
- 1 tụng sau dụ về Hoặc sinh ở Hữu đỉnh địa. 
Đây là phần đầu. 
Loài rết v.v… là dụ về hạng phàm phu, bị Hoặc ở Sắc giới bên dưới thiêu đốt, cầu được sinh ở Vô sắc giới ví như “chạy khỏi hang”. 
Sinh ở ba địa dưới, quỷ Cưu bàn đồ ví với kẻ ngoại đạo. Ngoại đạo phần nhiều chấp hai địa ở trên, coi đó là Niết bàn. Trừ các phàm phu chẳng chấp, coi đó là nhân của Niết bàn thù thắng. Phàm khởi Hoặc thì như quỷ thấy trùng “hễ bắt được là ăn liền”. Ăn, có nghĩa là để giúp cho sự tăng trưởng, vì theo đuổi thứ đó làm cho Hoặc càng tăng.
*
-Kinh văn : “Thêm nữa, các ngạ quỷ”  tới  “cuống quýt chạy quanh quẩn”.
Tán rằng : đây là dụ về phiền não sinh ở Hữu đỉnh địa. 
Ngoại đạo đó thì gọi là ngạ quỷ (quỷ đói). Vì là đỉnh của ba cõi nên gọi là “trên đầu”. Phiền não càng sinh, gọi là “lửa cháy”. 
Không có thức ăn chính pháp và nước chính pháp để ăn uống để tế độ cho, nên gọi là “đói khát”. Bị phiền não bức bách như bị “nhiệt não”.
Thường không được yên thì gọi là “chu chương”. “Chu chương” nghĩa như “châu lưu”, có nghĩa là loanh quanh, quẩn quanh. Luân hồi trong năm nẻo thì gọi là “muộn tẩu”, có nghĩa là chạy lẩn quẩn.
* Chữ Chương có chỗ viết là chướng [  障  ], có nghĩa là sợ hãi cuống quýt.
 Thuyết các dụ nói trên dụng ý là khiến chán ghét sợ hãi. Nên có nhiều loại biến danh, bậc trí giả nên hiểu rõ.
*
-Kinh văn : “Nhà ấy như vậy đó”  tới  “nhiều nạn chẳng phải một”.
Tán rằng : đoạn văn này là mục thứ ba kết luận về các nạn nói trên. Hoạn nạn đã nhiều, chẳng thể kể hết. 
* Chữ [  眾  ] có hai âm : Chúng và Trọng.
*
-Kinh văn : “Lúc bấy giờ chủ nhà,
                    Đứng ở nơi ngoài cửa”. 
Tán rằng : dưới là đoạn lớn thứ ba có 14 tụng : thấy chúng sinh khổ, liền đặt ra thí dụ để làm phương tiện quyền nghi. 
Trường hàng có bốn. Trong đây cũng thế :
- 3 tụng đầu tụng về dụ thấy chúng sinh khổ thì xót thương.
- 5 tụng sau là dụ về khai thị Đại thừa, nhưng chúng sinh chẳng mong muốn.
- 3 tụng dụ về việc nghĩ phương tiện để cứu vớt.
- 3 tụng cuối chính thuyết dụ về tam thừa. 
Phần đầu có hai ý : 
• 2 tụng đầu tụng về thấy khổ. 
• 1 tụng cuối tụng về bi mẫn chúng sinh. 
Trong phần thấy khổ :
+  2 câu đầu dụ về việc Phật xuất tam giới.
+ 1 tụng rưỡi dụ về lại nghe thấy những sự chúng sinh ở trong cảnh hoạn nạn đáng thương xót. 
Đây là phần đầu. 
“Chủ” có nghĩa là thân, là bề trên, là người nắm phép tắc, là người lãnh đạo, là người giữ gìn. 
“Môn” có hai loại : 
 1) Giáo môn.
 2) Hạnh môn. 
Phật trụ trong quả, ra ngoài nhân môn. Tức là ngôi vị ở diệu lý, cũng là lý xuất giáo môn. Đó là nhất thừa môn vậy. Cho nên nói là “ngoài cửa” (môn ngoại). 
Do trường hàng nói : “Ta tuy có thể ở chỗ cửa bị cháy này mà ra ngoài được yên ổn”, nay nói “đứng ở bên ngoài cửa” thì có bốn nghĩa :
1/ Dáng đứng đợi, để đợi con ra khỏi nhà.
2/ Dáng sắp đi, sắp đi vào cứu nên gọi là đứng.
3/ Đứng là tướng chẳng đi, chờ thời cơ chín muồi sẽ đi cứu, cho nên chưa đi ngay.
4/ Đứng có nghĩa là dậy để hoàn thành. 
Chúng sinh đang ở trong vòng sinh tử, chưa dậy chưa thành Phật, như ngồi. Phật đã dậy và thành, nên đứng vậy.

-Kinh văn : “Nghe thấy có người nói” tới “chỉ vui vầy ham đắm”. 
Tán rằng : đây là dụ nghe nói chúng sinh ở trong cảnh hoạn nạn. 
Trường hàng đằng trước nói rằng : “Trưởng giả nhìn thấy đám cháy to này”. Phẩm Phương Tiện nói : “Ta dùng Phật nhãn mà quan sát”. Nay nói “nghe thấy” (văn),  là có hai nghĩa :
1) Hình ảnh tự, tha nổi rõ. Chẳng những tự thấy chúng sinh chìm đắm khổ sở, còn nghe lời truyền thuyết của tha tam thế Phật. Thân, sơ làm nổi bật cho nhau.
2) Tận mắt nhìn thấy chúng sinh khổ sở là thân, nên gọi là nhìn thấy (kiến). Trụ đợi cơ duyên mới cứu giúp được, đó là sơ, nên gọi là nghe thấy (văn). 
Từ vô thủy tới nay, phóng túng buông trôi, khởi phiền não phân biệt, đó là “trước đây vì dạo chơi”. 
Chịu quả khổ ở ba cõi, gọi là “mà đến vào nhà này”. 
Từ vô thủy tới nay vì Hoặc nghiệp cảm bởi thức v.v…, cho nên trái với đạo lý, ngược với chân nghĩa, đó gọi là “lai nhập” (đến vào). Nhập có nghĩa là ở đó, chẳng phải là trước kia đã xuất, nên nay mới gọi là nhập. Nếu kẻ ấy đã tu Giải thoát phần thì gọi là xuất. Quả thực là vì chẳng tu, nên gọi là nhập. 
Chủng tính tam thừa chưa phát hiện hành. Giả thử phát đại (thừa) tâm, nhưng thoái chuyển cầu tiểu (thừa) quả, thế thì gọi là “ấu trĩ nhỏ dại” (trĩ tiểu).
* Chữ trĩ [ 稚 ] đọc là Trĩ, có nghĩa là thơ ấu yếu ớt. 
Bị ngu si che lấp thì gọi là “vô tri”. Ở quả khổ này mà vẫn buông tuồng sáu tình thì gọi là “vui vầy” (hoan ngu). Tham nhiễm các cảnh thì gọi là “ham đắm” (nhạo trước).
*
-Kinh văn : “Trưởng giả vừa nghe xong” tới “khiến con không bị hại”.
Tán rằng : dụ này là dụ bi mẫn chúng sinh. 
Vào nhà cứu họ, thương xót chúng sinh, nên gọi là “kinh”. Tùy thuận sinh tử, gọi là “vào nhà lửa”. Do lần vào này thì sau mới “phương” cùng đồng thời với chúng sinh ra khỏi nhà lửa. Tuần hoàn ứng cứu, chẳng kể hoạn nạn, gọi là nên “cứu giúp thích nghi”, vì cứu đúng lúc.
*
-Kinh văn : “Mà bảo dụ các con”  tới  “liên tục không hề ngừng”. 
Tán rằng : dưới đây là 5 tụng dụ về việc (Phật) khai thị đại thừa, mà (chúng sinh) chẳng mong cầu. Có hai :
•  4 tụng bí mật  cho biết những nỗi khổ để truyền thụ đại thừa.
• 1 tụng nói về chúng sinh không mong cầu được pháp đại thừa.
 Phần đầu được chia làm hai :
- 1 tụng rưỡi là phần mách bảo chung về Hoặc khổ vẫn còn nảy sinh. 
- 2 tụng rưỡi là phần mách bảo riêng từng chỗ ác khiến phải chán ghét. 
Đây là phần đầu. 
Thuyết về các thứ hoạn nạn như nhà hư hại, bị hỏa tai, trùng quỷ quấy nhiễu.
 “Ác quỷ” : dụ cho các kiến chấp của ngoại đạo.
 “Độc trùng” : dụ cho các Hoặc khác của hàng Bạch y (tại gia, thế gian). 
Hai thứ này là duyên sinh ra mọi  phiền não, như hỏa tai liên miên chẳng dứt. 
* “Man diên” [ 蔓 筵 ] chỉ tình trạng liên tục, có nơi giải thích âm đọc là Mạn diên. Tức là như cỏ mọc lan, lại như chiếu (diên tịch [ 筵 蓆 ]) trải dài. Có chỗ diên viết là [ 延 ] (kéo dài), giống như cỏ mọc vươn dài liên tục không ngừng. Có nơi đọc hai chữ trên là “vạn diến”. Như Tây Kinh phú có câu : kỳ hình vạn diến (hình nó kéo dài). 
Sách Quảng Nhã nói : “Mạn” nghĩa như “trường” (dài), “diến” nghĩa như “biến” [ 遍 ] (khắp, khắp lượt), cả hai chữ đều đọc khứ thanh, như lửa đồng (dã hỏa) liên miên, thế lửa cháy mãi chẳng dứt. 
Vì nhà lửa (hỏa trạch) sinh, mà gọi là :
“cháy nhà, lửa lan mãi”. 
Vì nhà lửa hoại, mà gọi là :
“Các sự khổ thứ lớp,
 Tương tục không hề dứt”.
 Ý này chỉ rõ “vì Hoặc mà sinh khổ”.
Trong lý Duyên sinh : sau Vô minh, Hành, thì có năm thứ như Thức v.v…. ; sau Ái, Thủ, Hữu, thì có Sinh, Lão, Tử. “Vì khổ mà sinh Hoặc”, sinh tử nối nhau không lúc nào dứt. Sau Xúc, Thụ có Ái, Thủ. Sau Lão Tử lại có Vô minh. Cho nên sinh tử gọi là vòng luân chuyển.
*
-Kinh văn : “Loài rắn độc, nguyên, phúc. (tên các loài rắn độc)”  tới  “lại còn thêm lửa to”. 
Tán rằng : đấy là bảo riêng từng chỗ ác khiến phải chán ghét.
“Rắn độc v.v …” dụ cho sân. 
“Dạ xoa” dụ cho ác nghiệp. 
“Cưu bàn đồ” dụ cho giới thủ. 
“Dã can” dụ cho nghi. 
“Chó” dụ cho mạn. 
“Diều cắt” dụ cho tham ái. 
“Các thú loài Bách túc” dụ cho các thứ phiền não.
 Vì thiếu pháp thực, bị đói khát, nên sinh não. Não phiền bời bời bức bách gay gắt, rất đáng sợ. Nhìn Hoặc tướng đó, thì thấy đây là nơi chốn cực ác khổ nạn đã chẳng thể vui, huống chi là ngôi nhà kết quả bị thiêu bởi nguyên nhân cháy lớn, ngày đêm thiêu đốt, sao đáng tham hám nữa. 
Hoặc lại còn phiền não như vậy : trùng quỷ quấy nhiễu bấy nhiêu ác tướng, khổ đã khó ở, huống hồ ở đây lại bị tổn hại thiêu đốt. Từ nay về sau, tai nạn lửa lớn trong thế gian chẳng giải thích như ở đây nữa. Trùng quỷ là lửa, có gì khác nhau ? 
* Nan sử, nạn xứ [ 難 , 處  ] có hai nghĩa :
1) Khó thể ở yên. Kinh Thi có câu : “Mạc ngã hoàng xử” (chẳng có chỗ nào tôi được ở yên). Chữ Xử có nghĩa là cư, tức là ở.
2) Nơi chốn khổ nạn.
*
-Kinh văn : “Các con nhỏ không hiểu”   tới 
                  “Chơi đùa mãi không thôi”. 
Tán rằng : một tụng này nói về việc chúng sinh không mong muốn chọn lấy pháp đại thừa.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ trưởng giả kia”   tới 
                  “Làm ta thêm sầu não”. 
Tán rằng : dưới đây là đoạn thứ ba có 3 tụng, là dụ về nghĩ cách cứu vớt. 
Có hai phần : 
- 1 tụng nói về ý càng thêm thương xót chúng sinh.
- 2 tụng nói về ý đang nghĩ cách cứu vớt. 
Đây là phần đầu. 
Nói về ý chúng sinh bị khổ, phiền não tăng trưởng lại càng khiến tâm bi mẫn của Bồ tát tăng thêm.
*
-Kinh văn : “Nay trong ngôi nhà này”   tới 
                  “Nên bày các phương tiện”.
Tán rằng : đây là đang nghĩ cách cứu vớt. 
 “Đam”  : có nghĩa là ham thích.
 “Miến” : là say mê, chơi bời phóng túng. Các ý khác có thể biết được. 
* Hai chữ [          ] đều đọc là Đam, có nghĩa là ưa thích. Ham chơi thì viết là [    ]. Ba chữ đều được.
Chữ [    ] đọc là Miến. Cũng có nghĩa là ham thích, nghiện ngập, là loạn. Cổ văn viết là [   ]   , có chỗ viết là [  , 愐 ], chẳng biết từ đâu. Chữ [   ]   : Thuyết Văn giải thích là đam mê rượu chè.
*
 -Kinh văn : “Bảo với các con rằng”   tới 
        “Những xe báu tốt đẹp”. 
Tán rằng : dưới đây là đoạn bốn có 3 tụng là dụ về chính thuyết tam thừa. Chia làm ba :
- 1 tụng bảo chung, hứa cho xe. 
- 1 tụng : bày xe ở ngoài.
- 1 tụng : nói xe từ đâu.
 Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Nào xe dê, xe hươu”  tới 
                 “Các ngươi mau ra đi”. 
Tán rằng : đây là bày xe ở ngoài. 
Quả xuất từ cửa nhân, lý vượt ra ngoài giáo cho nên nói là “ra ngoài cửa”. Thể của xe là vô lậu, chẳng bị trói buộc, nên gọi là “ngoại”, vì như lìa khỏi ba cõi, như chỗ không còn phải thi hành việc giáo hóa nữa. Có nghĩa là ở ngoài tam thừa môn. Phật ở ngoài nhà (lửa) cho nên gọi con ra, nghĩa này cũng giải thích như trên.
*
-Kinh văn : “Ta chính vì các ngươi”  tới 
                   “Có thể để dạo chơi”. 
Tán rằng : đây là nói về xe từ đâu mà có. 
Niết bàn bảo sở vô vi đã có từ trước, chẳng nói “do ta làm ra”. Xe là Bồ đề, là thể hữu vi, cho nên nói là tạo (“tác”). 
“Tác” có nghĩa là khởi lên. Xe trâu ví với chủng trí, do giáo hành mà sinh ra, nên gọi là tạo (“tác”) v.v…. Hai xe dê, hươu là chỉ sự bày đặt về danh giáo, cũng nói là “ta làm ra”. 
Tuy đều nói là làm (“tác”). Nhưng xe trâu thì làm thể, còn xe dê, xe hươu thì làm danh, cho nên đều gọi là làm (tác).
Tùy theo căn cơ mà cứu giúp thì gọi là “tùy ý sở lạc” (tùy theo ý thích).
*
-Kinh văn : “Các con nghe cha nói”  tới 
                  “Lìa rời các khổ nạn”.
Tán rằng : dưới là đoạn lớn thứ tư có 6 tụng rưỡi, tụng ví dụ về việc nghe theo lời dạy, tránh khỏi hoạn nạn. Chia làm hai :
- 1 tụng rưỡi nói về con tránh khỏi tai nạn,
- 5 tụng nói về cha được yên lòng. 
Đây là phần đầu. 
“Lập tức cùng đua nhau” : có nghĩa là khuyến khích lẫn nhau. 
“Phóng nhanh ra khỏi nhà” : chỉ sự tinh tiến dũng mãnh. 
“Tới nơi  chỗ đất trống“ (Đáo ư không địa) : có nghĩa là tùy theo sở ứng, lìa được ba chướng, ở địa vị nhị không, tức nhị thừa vô học (địa) và nhập Sơ địa. Có nghĩa là xuất ly được khổ nạn của Phân đoạn tử, vì không còn sinh nữa. 
Quả ác gọi là “khổ ”, nhân ác gọi là “nạn”.
*
-Kinh văn : “Trưởng giả thấy các con”  tới 
                   “Ta nay rất vui mừng”. 
Tán rằng : dưới là 5 tụng, nói về cha cuối cùng được yên lòng. Chia làm hai :
- 1 tụng rưỡi nói về ý thấy thế rồi tự mừng thầm,
- 3 tụng rưỡi nói về ý mừng hết mức liền bảo với người khác. 
Đây là phần đầu. 
“Bốn đường thông nhau”, (tứ cù) : dụ cho lý tứ đế. Con đã ra trụ ở “tứ cù”, cha bèn ngồi trên tòa sư tử, vì được vô uý, vì biểu thị đã yên lòng. Bở vì đoạn dưới nói là :
 “Bấy giờ các người con,
  Biết cha đã an toạ”.
Cho nên “tòa sư tử” là tòa của cha vậy.
Khéo hợp với lòng cha nên nói là “vui mừng” (khoái lạc). 
Người xưa đã được Bồ đề. Kẻ hậu sinh còn ở địa vị tu nhân, cho nên phải nhờ đến thuyết pháp đúng thời để chỉ rõ cho họ biết ý ngài muốn rủ lòng cứu vớt. Trông đợi con, bởi vậy nói là “đứng (lập)”.
Nay con quả mãn, đã ra khỏi nhà lửa, cha đi không còn phải đợi nữa và đã yên lòng, nên nói là “ngồi (tọa)”.
*

-Kinh văn :  “Những đứa con ta đây”  tới 
                   “Bốn phía đều khởi dậy”. 
Tán rằng : dưới là 3 tụng rưỡi nói về ý mừng quá bảo với người khác. Chia làm hai : 
- 2 tụng nói về các con ngày trước ở trong hoạn nạn.
- 1 tụng rưỡi nói rõ ta nay cứu được, thỏa lòng. 
Đây là phần đầu.&nbs