THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Giới Thiệu Về Kinh Ðiển
Kinh Ðiển Bắc Tông (Hán Tạng)
Kinh Ðiển Nam Tông (Pali Tạng)

 
Quyển I
Quyển II
Quyển III
Quyển IV
Quyển V
Quyển VI
Quyển VII 
Quyển VIII
Quyển IX
Quyển X
.
KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA HUYỀN TÁN
 Đại Sư Khuy Cơ biên soạn –  Việt dịch: Cố Hòa thượng Thích Chân Thường 
Biên soạn: Giáo sư Trương Đình Nguyên – Tu chỉnh và hiệu đính: Tỳ kheo: Thích Đồng Bổn
Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội  2005
QUYỂN THỨ NĂM (PHẦN SAU)
Sa môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn.

-Kinh văn : “Bấy giờ Xá Lợi Phất”  tới  “thọ ký thành Vô thượng Chính đẳng Chính giác”. 
Tán rằng : trên đây là vòng đầu dùng pháp mà thuyết về quyền thực để giáo hóa hạng thượng căn đã xong, dưới đây là vòng thứ hai dùng Dụ mà thuyết về quyền thực để hóa độ hạng trung căn. 
Cả đoạn văn lớn chia làm bốn phần : 
• Phần đầu là phẩm Thí Dụ, Phật dùng dụ để giáo hóa. 
• Phần hai là phẩm Tín Giải, nói về việc hạng trung căn lĩnh ngộ. 
• Phần ba là phẩm Dược Thảo Dụ, nói về việc Phật giảng lại đã xong. 
• Phần thứ tư là phẩm Thụ Ký, nói về việc Phật thụ ký cho họ. 
Hạng thượng căn thông minh, không cần phải trình bày nhiều. Hạng hạ căn ba lần nghe giảng chẳng cần giảng rộng. Cho nên giáo hóa hạng trung căn, văn nghĩa đều nhiều.
Đoạn văn đầu có hai phần : đầu tiên là Thu Tử thỉnh, sau đó là Phật thuyết để làm lợi cho đại chúng. Thu Tử  tuy hiểu, nay vẫn cứ thỉnh, đó đại để là vì ba nguyên nhân :
1. Để làm lợi ích cho đồng loại.
2. Để tu hạnh lợi tha.
3. Để tùy thuận sự giáo hóa của Phật.
Trước kia đã ba lần tha thiết thỉnh Phật thuyết pháp, ngày nay đã lĩnh giải rồi, nên có sự giải thích này. 
Văn đầu có ba ý : 
- Đầu tiên trình bày sự quyết định của mình.
- Sau đó thuật lại điều nghi ngờ của người khác.
- Cuối cùng là chính thức thỉnh cầu. 
Đây là phần đầu.
*
-Kinh văn : “Một ngàn hai trăm vị này”  tới  “đều sa vào vòng nghi hoặc”. 
Tán rằng : đây là thuật lại sự nghi ngờ mà người khác đã mắc phải.
Hữu kiến, vô kiến (chấp có, chấp không) đều là biên kiến. Y vào ngã kiến mà sinh ra các thứ chấp thủ tà kiến. 
Biên kiến, tà kiến này bao gồm 62 loại do ngoại đạo khởi lên. 
Nay thể hiện rõ phải y vào ngôn giáo của Phật mà bỏ tà theo chính, cho nên ở đây thuyết đặc biệt.
Ngoài ra, các thứ chấp khác ngoài ba loại kiến này cùng các phiền não hợp lại thì nghiệp phát khởi.
Phật xưa nói rằng : “Pháp của ta có thể lìa quả khổ hiện thấy trước mắt như sinh lão bệnh tử và được cứu cánh Niết bàn”. 
Do muốn diệt quả, trước tiên ắt phải đoạn nhân. Những người này áp dụng lời dạy của Phật lìa được các nhân gây khổ là ngã kiến v.v… xong, nhất định biết rằng các khổ sẽ chẳng còn sinh ra nữa và việc chứng được Niết bàn đã được quyết định. 
Nay lại nghe Phật thuyết bảo phải bỏ quyền theo thực, nên họ đều đọa vào vòng nghi hoặc mà khởi lên  những điều nghi ngờ. Bọn họ ai nấy đều chẳng biết tự mình sẽ được thành Phật, chẳng biết điều chứng được trước kia là pháp gì ? Là pháp cứu cánh, hay đó là đạo sở hành ? Hơn nữa đã cùng áp dụng lời Phật dạy, đã đoạn các nhân gây khổ, cho nên quả khổ chẳng sinh ra nữa.
*
-Kinh văn : “Lành thay ! Thế tôn”  tới  “khiến lìa nghi hối”. 
Tán rằng : đây là chính thức thỉnh cầu Phật nói nhân duyên.
Có hai nghĩa :  1) Lý do.    2) Đạo lý. 
Nay thỉnh Thế tôn trình bày lý do.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ Phật bảo”  tới  “để dạy cho Bồ tát”. 
Tán rằng : dưới là Phật thuyết lợi ích. Đoạn văn lớn chia làm ba phần :
• Phần đầu từ “Bấy giờ Phật bảo” trở xuống, là tổng lược chỉ đáp, lý do khiến Phật ưng thuận thuyết pháp cho. 
• Thứ đến phần từ “Xá Lợi Phất ! Như trong quốc, ấp” trở xuống : chính thức thuyết pháp dụ,ï để khiến họ được hiểu.
• Cuối cùng là từ bài kệ :
 “Bảo này Xá Lợi Phất, 
Bọn các ngươi hết thảy, 
Đều là con của ta, 
Ta chính là cha lành”. 
trở xuống, khuyên họ tin tưởng kinh này, khiến họ vui thích vì sẽ được Phật trí.
 Phần đầu lại chia làm hai : 
- Đầu tiên là Phật nói lên thuyết của mình, giải đáp chung chung. 
- Sau đó lại bảo họ lý do đồng ý thuyết pháp.
Đây là phần đầu.
Thoạt tiên nói về phương tiện, đó là cách tiệm tu đến chân thực, đầu tiên giáo hóa hạng Thanh văn, lấy đó để làm cái nhân trở thành Bồ tát. Tức là như phẩm Phương Tiện nói rằng : “Biết các chúng sinh có biết bao nhiêu thứ dục, nên đã tùy theo bản tính của họ, dùng đủ thứ phương tiện mà thuyết pháp cho họ, như vậy đều là để cho họ được Nhất thiết chủng trí của một Phật thừa ! ”.
Tức là xưa thuyết về quyền thừa, nay thuyết về thực thừa. Sở dĩ như vậy là để giáo hóa Bồ tát. 
Do vậy nên gọi là giải thích nguyên nhân. Cho nên gọi là tổng lược chỉ đáp.
*
-Kinh văn : “Được ! Xá Lợi Phất”  tới   “nhờ thí dụ mà hiểu được”. 
Tán rằng : đây là bảo thêm về lý do ưng thuận thuyết cho. 
Chữ Nhiên (được) :  đây có nghĩa là phải thế, cũng đúng như vậy. Đúng là có thể thuyết cho.
*
-Kinh văn : “Xá Lợi Phất” tới “tuổi ông già nua”. 
Tán rằng : dưới là đoạn thứ hai, chính thuyết pháp dụ để họ hiểu rõ, đầu là trường hàng, sau là kệ tụng. 
Trường hàng có ba phần : 
- Phần đầu trình bày ví dụ. 
- Thứ đến phần thuyết chung.
- Cuối cùng là kết luận bằng giải đáp. Đó là đoạn từ “vì nhân duyên đó, nên biết rằng phương tiện lực của chư Phật” trở xuống. 
Trong thí dụ có hai phần : 
+ Phần đầu thí dụ về xưa là quyền thừa.
+ Phần sau thí dụ về nay là thực thừa. Đó là đoạn từ ”Bấy giờ các con ai nấy thưa với cha rằng : điều cha hứa trước đây…” trở xuồng
Trong thí dụ về xưa là quyền, có bốn phần :
1. Từ “Xá Lợi Phất ! Như trong quốc, ấp” trở xuống, là thí dụ về ba cõi có Phật.
2. Từ “có nhiều đám người” trở xuống, là thí dụ về năm nẻo nguy vong.
3. Từ “Trưởng giả thấy đám cháy to ấy” trở xuống, là thí dụ về việc thấy đặt ra phương tiện quyền nghi.
4. Từ “Bấy giờ các con nghe lời cha nói” trở xuống, là thí dụ về y theo lời thì khỏi tai nạn.
Văn đầu có sáu ý : 
1. Xứ sở.               4. Sản nghiệp. 
2. Gia chủ.   5. Trạch tướng. 
3. Tuổi tác.           6. Môn hộ (cửa ngõ).
Đây có ba thứ : quốc, ấp, tụ lạc, đó là xứ sở.
Đã thuyết về tam thừa thì biết rõ là hóa Phật. Hóa Phật chỉ làm vua ba ngàn cõi nước, nước to và rộng ví với đại thiên giới ; thứ  đến ấp là cỡ trung, ví với trung thiên giới ; nhỏ nhất là tụ lạc, ví với tiểu thiên giới.  Vì cứ theo thứ tự từ đại,trung đến tiểu mà thí dụ.
* Sách Quảng Nhã nói : Tụ lạc : có nghĩa là chỗ ở , chỉ nơi cư trú tụ họp của con người. Tụ : là tụ họp. Lạc : cũng có nghĩa là sân sướng vườn tược.
Có vị đại trưởng giả : đó là chỉ gia chủ. 
Trong phần dụ thuyết ở dưới, trừ phần vấn đáp, có tám vị trưởng giả : 
- Năm vị đầu ví với hóa thân, vì các con còn ở trong nhà. 
- Ba vị sau ví với báo thân và thụ dụng thân, vì các con “tam thừa” đều ra khỏi nhà.
Dưới đó là vấn đáp dụ, trong đó năm vị trưởng giả đều ví với hóa thân và thụ dụng thân.
Như trưởng giả thế gian  có ba loại :
1/ Loại trưởng giả đáng để bẩm báo vâng mệnh : loại này công bằng, thông đạt, giỏi đoạn thị phi, ví với đức Phật có đức từ bi phổ độ, có trí tuệ viên mãn, khéo giải quyết lưới nghi.
2/ Loại trưởng giả kỳ cựu đáng kính : là bậc tuổi cao trong thôn ấp, uy vọng tôn nghiêm không ai sánh bằng, ví với Phật đạo cao siêu, các thánh thần thông ít ai sánh kịp.
3/ Loại trưởng giả đáng để thân cận : của cải đẹp đẽ dồi dào, cần gì cũng có đầy đủ, tinh túy, ví với Phật phúc trí đều viên mãn, lợi lạc đều đủ. 
Trí đức, Đoạn đức, Ân đức đều ví dụ theo như thứ tự.
“Kỳ niên suy mại” (tuổi ông già nua), đó là nói về tuổi tác. 
“Suy” nghĩa như già nua (thục lão: chín già). 
“Mại” có nghĩa là từ xa trở về (viễn qui). 
Ví với đức Phật tu trí kiến đã lâu, thánh quả viên mãn thành thục, thành đạo đã lâu ở chỗ sâu xa trong cõi Niết bàn. Chẳng phải thuyết đời này, mà nêu chung cả ngôi vị trước kia.
*
-Kinh văn : “Của cải giầøu có vô lượng”  tới  “chỉ có một cửa”. 
Tán rằng : trong này có ba phần (mục bốn, mục năm và mục sáu).
• Mục bốn : thuyết minh về sản nghiệp, có bốn thứ : 
1. Của cải giầu có, ví với bảy thánh tài đầy đủ.
2. Ruộng nương, ví với trí đoạn là hai thứ sinh đức xứ.
3. Nhà cửa, ví với Dị thục bản thức của các chúng sinh.
 Bản thức cũng là Trạch thức, như quốc vương thế gian lấy bốn biển làm gia đình, lấy cả thiên hạ làm nhà ở. Phật cũng như vậy, lấy các chúng sinh làm gia đình, vì Thể tức là Bản thức. 
Kinh Vô Cấu Xưng nói rằng : “Cõi của các hữu tình, đó là cõi Phật nghiêm tịnh của Bồ tát”.
 Chúng sinh vô lượng nên nói là có nhiều. Trong tụng chỉ chỉ một người, nên nói là có một ngôi nhà lớn. Hoặc như câu : “coi một trong sáu phương (nhất lục hợp) là nhà ở”, nên đây nói là nhiều.
Nói “có một” , cũng như câu : “coi chúng sinh bình đẳng giống như một người con”. 
Hoặc là, ở đây coi chúng sinh ai nấy khác nhau, nên nói là có nhiều. Coi Phật là chủ, nên nói là “có một”.
Kỳ thực căn nhà này một hay nhiều không khác, vì lấy dị thục thức làm nhà (gia)ø. Bởi vậy trong nhà, nhà gác mục nát nên tai nạn xảy ra tứ tung. 
Nếu nói thiền định, gọi đó là nhà (gia) thì làm sao có tai họa mà nói mục với nát ? Cho nên giữa Gia (với nghĩa gia đình) và Trạch (với nghĩa nhà ở) có sự khác nhau.
4. Đồng bộc (tôi tớ) : trong phần hợp thuyết ở dưới, ví với thần thông của Phật, vì buông thả tự tại. Và cũng ví với việc Phật thị hiện các phiền não.
 Kinh Vô Cấu Xưng, phẩm Bồ Đề Phần nói rằng : “Phiền não là nô lệ hèn mạt, là đầy tớ để tùy ý mà chuyển. Như Lai có khả năng coi phiền não là nô lệ hèn mạt, rất khinh bỉ nó, đuổi đánh đoạn diệt nó, và cũng coi nó là đầy tớ để tùy ý mà chuyển. Nói lời êm ái với La Hầu, quát mắng Điều Đạt, đều vì lợi ích cho chúng sinh”.
 Trí tuệ, thần thông, như nói trong phần sau, là lực của cơ thể chân tay Phật, nên đồng bộc đây chẳng phải là Định thần thông. 
* Sách Thuyết Văn nói rằng : Nam có tội làm nô thì gọi là Đồng. Trai gái theo cô dâu về nhà chồng thì gọi là Bộc. Đồng bộc còn có nghĩa là để sử dụng, để phục dịch.
Chữ “Bộc” : có nghĩa là Phụ, tức là phụ thuộc vào người.
“Đồng” : có nghĩa là Độc. Nay là chữ Đồng có bộ nhân đứng.
• Mục năm : “nhà ấy rộng lớn”, đó là trạch tướng (hình tướng của nhà). Bản thức là nhà, vì căn cứ vào phần hợp thuyết ở dưới nói là khắp cả ba cõi, hoặc có từ thời vô thủy, hoặc lại còn chứa đựng mọi chủng tử biến thành ba cõi. Thể thông với Nhị tử (hai loại chết), nên nói là rộng lớn. Nhà (gia) ấy tức là Trạch, tên gọi khác nhau mà thể giống nhau.
• Mục sáu : “chỉ có một cửa”. Cửa đây là nơi nhân đó mà ra khỏi nhà. Ở Dụ và Hợp (thuyết) trong trường hàng này có năm cửa :
1. Đó là cửa mà trong này nói là “chỉ có một cửa”.
2. Cửa bị cháy. 
3. Cửa nhỏ hẹp. 
4. Nay ở ngoài cửa. 
5. Nhờ cửa Phật giáo mà ra khỏi cảnh khổ ở tam giới. 
Bốn cửa đầu ở trong Dụ, một cửa cuối ở trong Hợp. Cửa có hai loại : 
1) Cửa chính giữa lớn, chỉ nhất thừa giáo hạnh, 
2) Cửa bên cạnh hẹp, chỉ nhị thừa giáo hạnh.
Trong năm cửa ấy, ba cửa đầu là loại cửa chính giữa lớn, vì thể của nó là Giáo Hạnh của nhất thừa. Hai cửa sau thì dù ở giữa hay là bên, lớn hay nhỏ, chính hay xép đều gọi là cửa, vì thể của các cửa đó là Giáo Hạnh của tam thừa.
- Vì có thể ra khỏi căn nhà biến dịch tam giới, thế nên cửa đầu gọi là nhất, mà chẳng gọi là tam. 
- Cửa thứ hai là cửa bị cháy, mà đức Phật từ đó đi ra yên ổn, có nghĩa là chẳng từ trong giáo hạnh nhị thừa mà ra. 
- Cửa thứ ba thì lại nhỏ hẹp, chẳng dung nhị thừa. 
Cho nên biết là ba cửa đầu chỉ thuyết về giáo hạnh nhất thừa. 
- Cửa thứ tư “ba xe đều ở ngoài cửa”, phải chăng nhị thừa cũng ra ngoài giáo hạnh nhất thừa ? 
- Cửa thứ năm thấy các chúng sinh nhờ cửa Phật giáo mà ra khỏi cảnh khổ ở tam giới, chứng được cảnh vui ở Niết bàn. Sau đó đều được cho xe lớn như nhau. Tức là nhị thừa đều đã ra khỏi cửa. 
Vì thế cho nên biết rằng hai cửa sau là chỉ chung cả cửa giữa cửa bên, cửa lớn cửa nhỏ, cửa chính cửa xép đều gọi là cửa cả, khác với các loại cửa trước, vì nghĩa sở vọng (chỉ điều mong mỏi đối với cửa ấy) khác nhau, cho nên cũng chẳng trái ngược nhau. Còn các nghĩa khác về môn (cửa) thì khi nào tới văn đó, nhất nhất sẽ đều giải thích.
Nay thuyết về cái chỗ Nhị lợi hành viên mãn, rọâng rãi bao dung xuất ly được Nhị tử, cho nên cửa chỉ nêu một và chẳng nói cái thứ hai nào khác. 
Đây là nói về cái cửa xuất ly tam giới, chứ không phải cửa để nhập tịnh độ. Đó coi Đại không, vô tướng, vô nguyện, giải thoát làm cửa để vào, vì sở vọng khác nhau. 
Đây lấy Giáo đối đãi với Lý, lấy Nhân đối đãi với Quả mà gọi là Môn. Đó lấy Trí đối đãi với Cảnh mà gọi là Môn. 
Thêm nữa, ở đây về phía tam giới thì gọi là Xuất (xuất ly), nếu về tịnh độ thì gọi là Nhập (chứng nhập), vì thể là một. 
Đây thuyết minh về cửa để xuất tam giới, chứ chẳng thuyết minh về cửa để nhập tam giới.
Cửa để nhập tam giới, là phiền não và nghiệp ; vì điều sở vọng khác nhau, cho nên cũng chẳng trái nhau.
*
-Kinh văn : “Có nhiều đám người”   tới   “dừng ở bên trong”. 
Tán rằng : dưới là Dụ về năm nẻo nguy vong. Có bốn ý :
 1. Đám người rất đông.
 2. Nhà cửa mục nát.
 3. Lửa cháy các nơi.
 4. Các con nhởn nhơ.
Đây là phần đầu. 
Chủng tử của năm nẻo là sự huân tập danh ngôn. Do nghiệp cảm khác nhau, nên chia thành các loại khác nhau, vì vậy mà gọi là năm. Tùy theo cái nghiệp tương ứng, mỗi nẻo còn chia thành các chi các nhánh theo các loại nghiệp thiện ác. Quả báo chiêu cảm của mười loại nghiệp đạo, gọi là năm trăm.
Có nghĩa là trong mười nghiệp đạo, mỗi thứ lại chia thành các loại : tự mình làm, sai người khác làm, hoặc tán trợ, mừng vui, ít phần, nhiều phần, toàn phần, ít khi, nhiều khi hoặc suốt cả đời, mỗi thứ chia thành mười loại, mười thứ tu tác tư cảm, lập thành năm trăm Danh. Hoặc là mười nghiệp đạo mỗi thứ đều do mười Hoặc nhuận phát, nên gọi là năm trăm. Tất cả các thứ đó ở trong Bản thức cho nên gọi là “Trụ ở trong nhà”. Do các chủng tử này là Nhân, nên năm nẻo luân hồi, mọi khổ chẳng dứt.
*
-Kinh văn : “Nhà trên, nhà gác mục nát”   tới  “trụ cột xà ngang nghiêng vẹo nguy hiểm”.
Tán rằng : nhà cửa nguy hiểm mục nát có bốn ý : 
1. Nhà trên, nhà gác ví với Sắc.
2. Tường vách ví với Tưởng. 
3. Chân cột (trụ căn) ví với Hành. 
4. Mái nhà, xà ngang ví với Thụ.
Tòa nhà (trạch) ví với Thức, vì có khả năng duy trì bốn thứ này. 
Nói rằng đã lâu cũ, hơn nữa lại hỏng nát, cho nên theo thứ tự đó tức là chỉ nói về bốn loại uẩn kia, đó là Tứ thức trụ vậy.
“Nhà trên, nhà gác mục nát” : 
Nhà trên ví với Thân căn, vì là lớn mà là chủ. 
Nhà gác ví với các căn vì phải dựa dẫm phụ thuộc vào Thân mới có. 
Nhận các thứ bất tịnh vào để giúp cho sự duy trì được lâu, rồi tự sinh diệt, nên gọi là mục nát (hủ). Vì mục nát, nên là ác. 
“Tường vách sụt lở” : 
* Chữ [隤] âm đọc là Đồi, chỉ tường sụt xuống. Sách Thiết Vận viết là [     ] Sách xưa có câu : “Thái sơn sẽ sụt”. Sách Ngọc Thiên viết là [隤] có nghĩa là sụt lở. 
Sách Thiết Vận viết là [穨] có nghĩa gió to, bảo táp, cũng viết là [頹 ] có nghĩa như chữ [禿 ]  (thốc) là hói (đầu hói). 
Còn như hai chữ [          ,           ] (thôi đồi) thì lại có nghĩa là nhà bị phá hỏng. 
Sách Thuyết Văn cũng viết là [穨], về nghĩa thì theo chữ [禿 ], còn [貴] chỉ âm đọc, cũng viết là [         ]. Hai chữ này đều là cổ văn. 
Để bảo vệ bên ngoài thì gọi là tường, để ngăn giữ bên trong thì gọi là vách. Tưởng uẩn nếu có các hiện tượng biến hóa bên ngoài thì như tường, các hiện tượng biến hóa bên trong thì như vách. Hư mà chẳng thực, tự nhanh chóng đổi dời thì gọi là Sụt lở (đồi lạc). 
Trụ căn phủ bại : pháp trong Hành uẩn có rất nhiều, mà tối thắng đó là Mệnh căn, vì là chủ của Thân nên ví như trụ cột của nhà, các thứ khác là căn, tính chất là mục nát hư hỏng, nên gọi là Phủ bại. 
* Chữ Phủ và chữ Hủ đều có nghĩa lại hư hỏng, Chữ Phủ [] âm đọc giống chữ Phụ [ 父 ],  nên phải đọc là Phủ bại, có chỗ viết là [撫, 敗] . Như làng có tên là Thắng Mẫu thì Tăng Tử chẳng vào. 
Mái nhà, xà ngang nghiêng ngả nguy hiểm : 
* Chữ [棟] Đống là Xà dọc, mái nhà. Còn Lương là xà ngang (quá giang). 
Nội dị thục quả thụ là gốc như mái nhà, xà dọc (đống : xà nóc). Ngoại tăng thượng quả thụ là ngọn, như xà ngang (lương). Lương đống (xà ngang xà dọc) dựa vào cột trụ mà có. Quả thụ y vào Mệnh căn nghiệp mà có. 
Sắp sửa sụp đổ nên nói là nghiêng ngả nguy hiểm.
* Khuynh nguy : có nghĩa là nghiêng đổ nguy hiểm. Lại nữa sách Nhĩ Nhã nói rằng : xà nóc đó gọi là Lương, chỉ xà lớn của mái nhà.
Sách Thuyết Văn giải thích rằng : Đống là chỗ chót vót của mái nhà, cũng là chỗ ở chính giữa (hai) mái, ví với việc cảm thụ là pháp sở trì. 
Bởi vậy Du Già quyển thứ 16, dẫn kinh tụng nói rằng :
Các sắc như đám bọt,
Thụ như bong bóng nổi,
Tưởng giống lửa mặt trời,
Hành giống tựa cây chuối,
Thức giống trò ảo thuật.
Đó là như ngài Nhật Thân đã nói : “Các hành nhất thời sinh ra và nhất thời trụ diệt”.
Kinh Vô Cấu Xưng cũng nói : “Sắc như đám bọt chẳng thể sờ mó thâu tóm. Thụ như bong bóng nổi chẳng thể trụ lâu. Tưởng như lửa mặt trời sinh ra từ khát ái. Hành như cây chuối đều không có thực. Thức như ảo thuật, điên đảo mà khởi lên”, đúng như sự giải thích trong Du Già Nhiếp Dị Môn Phần.
Nếu nói về sự biến dị chậm chạp của da thịt gân xương ghép với bốn câu này. Thì cớ sao ba cõi đều có, mà trong hai cõi trên lại chẳng có sự này ? Cớ sao ngọn lửa phiền não có khả năng thiêu đốt và căn nhà mà nó dựa vào lại ví dụ đủ cả ba cõi, tới khi nói ví dụ về Quả dị thục sở thiêu lại chỉ có ở trong nẻo người của cõi Dục giới ? Trong Lục dục thiên còn nói là không có cảnh da thịt hoại ấy, cho nên chỉ nên nói như trong này.
Thêm nữa, giải thích trong Hợp Dụ ở dưới để độ chúng sinh thì sinh lão bệnh tử phối trí với đây dường như đúng với thực tế, vì bốn tướng này khắp cả năm uẩn đều có.
Dưới nói lửa lớn nổi lên từ bốn mặt. Bốn mặt cứ theo kinh thì là bốn tướng. Như vậy thì trong này chỉ là bốn uẩn, hoặc là bệnh v.v…
Lấy pháp Dục giới để ví với dị tướng khổ quả ở cả ba cõi, để khiến họ phải chán cái khổ nhân phiền não. Ví chung ba cõi cũng chẳng trái lý. 
Tới trong tụng dưới sẽ nói rõ thật rọâng và đầy đủ.
*
-Kinh văn : “Khắp cả đều cùng một lúc”  tới “thiêu cháy nhà cửa”. 
Tán rằng : đây chỉ là các phương tai hoạ khởi lên. 
- Khắp ở năm uẩn nên gọi là “khắp cả”.
- Cùng xảy ra một lúc, nên gọi là “đều cùng một lúc” (câu thời) . 
- Tự dưng mà có, nên gọi là “bỗng nhiên”.
- Phiền não tùy sinh, gọi là “lửa cháy”, khiến năm uẩn ấy có tình tạp nhiễm, tính bất tịnh khổ, tính vô thường vô ngã.
- Năm uẩn hoại khắp, nên gọi là “thiêu cháy nhà cửa”.
* Chữ [      ] đọc là Hốt, chỉ sự nổi lên bất thình lình. Sách Ngọc Thiên nói chữ [      ] cũng là chữ [ 忽 ] âm nghĩa như nhau. Thiên Thương Hiệt giải thích “Hốt” là khởi lên bất thình lình. 
Ở đây ý này nói rằng : duyên khắp năm uẩn, liên tục không có lúc khởi đầu, phiền não nảy sinh như thế đó. Bị phiền não gia tăng, bị phiền não trói buộc, nên cái thân năm uẩn thành ra bất tịnh, khổ, vô thường, vô ngã.
Thiêu chung và riêng, nên nói là thiêu cháy nhà cửa. Nhà (xá)  nói đây là bao gồm hết tất cả nhà trên, nhà gác v.v… . Như nhân có nhà cửa mà sinh ra hỏa hoạn, như do hỏa hoạn mà nhà cửa bị hoại, hai thứ nhân vào nhau mà khởi lên, đan xen vào nhau lại càng thêm mạnh. Đó tức là nhân năm uẩn mà sinh ra các phiền não, lại nhân phiền não mà tăng trưởng năm uẩn. Hai thứ nhân vào nhau mà có cũng giống như vậy. 
Hoặc là khắp cả sinh lão bệnh tử đều có phiền não, nên lấy làm dụ.
*
-Kinh văn : “Các con trưởng giả”   tới   “tại trong nhà này”. 
Tán rằng : đây là nói về các con chơi ở trong nhà. 
Tuy chúng sinh năm nẻo đều là con Phật, vì Phật coi các chúng sinh bình đẳng như nhau, yêu không thiên lệch. Song các dị sinh như con nuôi xin, nếu có tam thừa vô lậu chủng tử, thì có thể nối được ngôi cha. Chính sinh, trắc sinh mới gọi là con thật, nên chỉ nói ba mà chẳng nói bốn, năm.
Theo phẩm Hiền Thủ Kinh Hoa Nghiêm thì 10 dụ Bồ tát, 20 dụ Độc giác, 30 dụ Thanh văn, mỗi loại đều tu 10 loại pháp hạnh, được thu nhiếp bởi ba tuệ của thừa mình và 10 nghiệp đạo giúp vô lậu chủng thì mới được quả viên mãn. Nên nói là hoặc 10, 20 cho tới 30. Do có nhất tính (tức nhất thừa tính), nhị tính (tức nhị thừa tính), tam tính (tức tam thừa tính) có sự khác nhau, cho nên gọi là 10, 20  và 30.
Vì trong kinh này bị thoái tính, nên mỗi loại đều dựa vào thừa của mình mà tu 10 pháp hạnh giúp chủng tính của mình, nên đặt ra 10.
- Chủng tính năm nẻo trên thuận theo bản thức nên gọi là “trụ ở trong”. 
- Tam vô lậu chủng nương nhờ bản thức, nên gọi là “tại nhà này”.
*
-Kinh văn : “Trưởng giả thấy như thế”   tới   “liền rất kinh sợ”. 
Tán rằng : dưới là đoạn thứ ba, là dụ nói về việc Phật thấy cảnh khổ của chúng sinh nên đặt ra phương tiện quyền nghi.
Trong đây có bốn ý :
1. Dụ về Phật thấy chúng sinh khổ, nên thương xót chúng sinh.
2. Dụ về chúng sinh rất không thích đại thừa. Đó là đoạn từ  “Xá Lợi Phất ! Trưởng giả đó”  trở xuống.
3. Dụ về Phật nghĩ phương tiện cứu giúp. Đó là đoạn từ  “Bấy giờ trưởng giả liền nghĩ rằng ….” trở xuống.
4. Dụ về Phật chính thuyết tam thừa. Đó là đoạn từ “Cha biết các con tâm vẫn đều có” trở xuống.
Thương xót chúng sinh : chỉ Phật xưa tại Bồ tát vị v.v… thời mười sáu vị vương tử. Nên đây trước nói : “từng ở chỗ hai vạn ức Phật mà giáo hóa cho các ngươi mãi”. Cũng là điều đã nói ở phẩm trước rằng : “Vì chúng sinh này mà khởi tâm đại bi” v.v … 
Tỏ ý rất không thích đại thừa : mười sáu vương tử đã được giáo hóa về đại thừa, nhưng họ nửa chừng thoái chuyển. Phẩm trước cũng nói : “trí tuệ mà ta được” cho tới “những loại như vậy làm sao độ được ?”. Đây trước cũng nói : “Xưa ta giáo hóa ngươi chí nguyện Phật đạo, nay ngươi đều quên”.
Nghĩ phương cứu giúp : thấy họ thoái rồi bèn nghĩ phương tiện cứu họ. Phẩm trước cũng nói : “nhớ lại Phật quá khứ” cho tới “cũng nên thuyết tam thừa”.
Chính thuyết tam thừa : giáo hóa những người gần gủi để đền ơn, khiến trụ nhị thừa. Phẩm trước cũng nói : “liền đến Ba La Nại” cho đến “có tên pháp tăng khác nhau”. Đây trước cũng nói : “Ta dùng phương tiện dẫn đạo ngươi, nên ngươi sinh trong pháp ta”, chính giống vị đó, chẳng những giống đây cùng là cùng tử. Tới dưới sẽ biết.
Đoạn văn đầu có hai ý : 
+ Đầu tiên nói về lòng từ bi thương xót chúng sinh.
+ Sau đó trình bày các sự đáng thương xót. 
Đây là phần đầu.
Lửa to : ví với phiền não và tùy phiền não. 
Bốn mặt : ví với năm uẩn đều có bốn vị: Sinh, Trụ, Dị, Diệt theo thứ tự trước sau.
Kinh A Hàm nói : Sinh là phương đông, Trụ là phương nam, Dị là phương tây, Diệt là phương bắc, vì ví mặt trời mọc lặn phối hợp với bốn phương, vì nhân bốn vị này mà sinh phiền não. Hoặc là Thân, Thu,ï Tâm, Pháp duyên khởi bốn đảo. Do bốn duyên sinh đảo này mà sinh ra hết thảy phiền não và tùy phiền não gồm căn bản, tự tính, đẳng lưu.
Rất kinh sợ : cha nhìn thấy lửa cháy sợ thiêu đốt con nên kinh hồn, ví với Phật thấy Hoặc khởi lên thì sợ sẽ tổn hại cho chúng sinh nên có ý thương xót.
*
-Kinh văn : “Mà nghĩ như vầy”  tới   “ý ra khỏi”. 
Tán rằng : đây trình bày về sự đáng xót thương. Ta tuy đã ra khỏi, nhưng các con thật đáng thương.
Cửa bị cháy : chỉ nhất thừa Giáo Hạnh, phần nhiều bị oán ghét phỉ báng, chẳng tin chướng nạn phá hoại, bị phiền não ngăn trở, đó gọi là “cửa bị cháy”.
Nên kinh dưới nói : Kinh Pháp Hoa này nhiều kẻ oán ghét. Ta xưa lúc còn ở địa vị tu hành Phật nhân, y vào nhất thừa giáo mà quán lý nhị không, tu hạnh nhị lợi, chứng nhị chân trí, xuất phân đoạn sinh, nhập bất thoái địa, gọi là ở chỗ cửa đang cháy mà thoát ra ngoài được an ổn, rồi thì cưỡi xe bảo thừa tới chốn đạo tràng. Thế mà các chúng sinh chốn chốn đều sinh chấp trước : chấp giới, chấp địa, chấp phần, chấp thừa. 
Do sự tham chấp đó mà phóng túng chơi bời, không hề suy nghĩ cân nhắc, dùng trí Tỷ lượng để nhận ra cái biết của trí Hiện lượng. Chẳng hề kinh ngạc nghi ngờ, cũng chẳng chán ngán lo sợ cái nhân của sinh tử là lửa phiền não hại thân. Quả khổ của sinh tử hiện đau đớn rồi, mà vẫn chưa hề có ý chán ghét sinh tử, chẳng cầu xuất thế, không có tâm chứng diệt. 
Cho nên phẩm trước nói rằng : “chẳng cầu đại thế Phật và pháp đoạn khổ. Chúng sinh như vậy rất đáng được xót thương”.
 Cho nên Kinh Hoa Nghiêm nói rằng : “Ví như người chỉ có một đứa con, rất mực thương yêu. Bỗng có người tới chặt cắt chân tay thân thể của nó, cha hiền trông thấy vô cùng thương xót”. 
Chư Phật Bồ tát nếu thấy chúng sinh vì tạo ác nghiệp duyên, phiền não kết duyên phải sa vào ba đường ác, bị vô lượng khổ ; thấy sự ấy rồi thì liền đau lòng xót thương cũng giống như vậy.
Thêm nữa, Kinh Vô Cấu Xưng nói : “Ví như vị trưởng giả chỉ có một đứa con, đứa con ấy ốm thì cha mẹ cũng ốm”. Nay cũng như vậy.
*Chữ Hy : có âm đọc là phiên thiết của hai chữ Hứa Nghi. Có nghĩa là đẹp là vui chơi. Nay theo nghĩa vui chơi. Còn có âm là Hỷ, nghĩa như chữ Lạc (vui sướng, vui vẻ).
Thương Hiệt, Ngọc Thiên giải thích : Hí là cười. Sách Thuyết Văn viết là [         ] Hỷ, nghĩa là hỷ lạc (mừng vui).
“Thiết Kỷ” (hại đến bản thân, bức bách bản thân) : chữ Thiết có nghĩa là cắt, là bức bách, là gấp rút.
-Hỏi : kinh này nói rằng: “Ta tuy có thể ở cửa đang cháy này mà thoát ra ngoài được an ổn…”, nghĩa la trưởng giả ra trước các con. Cớ sao ở dưới lại nói rằng : “Ta cùng các con nếu chẳng thoát ra ngoài kịp thời…”, nghĩa là trưởng giả đồng thời cùng ra với các con ?
Đáp : văn dưới tự nói : “trưởng giả nghe xong, kinh sợ vào trong nhà lửa”. Trong phần hợp thuyết tự nói là Phật để làm lợi cho chúng sinh mà sinh vào nhà lửa cũ nát là tam giới.
Kinh Niết Bàn nói : “Ví như trưởng giả nhà ông bị cháy. Trưởng giả thấy rồi, đã từ trong nhà mà ra. Các con ở phía sau chưa thoát nạn cháy. Bấy giờ trưởng giả nhất định là đã biết tác hại của lửa. Song vì các con mà ông lại quay trở lại để cứu chúng mà chẳng quản tai nạn”. 
Chư Phật Bồ tát cũng giống như vậy, tuy biết rằng vòng sinh tử có nhiều tai họa. Song vì các chúng sinh mà các ngài ở trong vòng đó chẳng ngán. Bởi vậy mới gọi là bất khả tư nghị. Cho nên lại thị hiện là đi ra với con cùng một lúc, chứ thật sự thì Phật đã ra trước.
*
-Kinh văn : “Xá Lợi Phất”  tới  “đưa từ trong nhà ra”. 
Tán rằng : đây là mục thứ hai : thí dụ về chẳng trông mong được giáo hóa bằng đại thừa. 
Thí dụ này có bốn ý :
1. Đoạn này : nghĩ tới đại thừa quả hóa.
2. Đoạn từ “lại còn ngẫm nghĩ” trở xuống :  nghĩ tới đại thừa nhân hóa.
3. Đoạntừ  “nghĩ như vậy rồi” trở xuống : chỉ rõ đại thừa hành hóa.
4. Đoạn từ “cha tuy thương xót” trở xuống : không hy vọng được giáo hóa bằng đại thừa. 
Đây là phần đầu.
Trí tuệ như Phật gọi là quả đại thừa, vì là giáo sở thuyên, vì là Phật quả đức.
* Chữ [      ] theo Thuyết Văn về ý nghĩa có quan hệ đến quần áo, về âm đọc có liên quan đến âm Giới : tông miếu tấu giới nhạc. Theo sách Ngọc Thiên chữ này có âm đọc là Cải, có nghĩa là răn giới.
Các sách ngày nay giải thích rằng : chữ này có âm đọc là Cắc và có nghĩa là vạt áo. Cách giải thích  này chẳng biết căn cứ vào đâu. Song ngày nay áo phụ nữ có cái Tiền giới  [ 前       ] có thể dùng làm vạt,  áo tiên nữ là thuộc loại đó.
Sách Quý Tiết cũng giải thích chữ này là vạt áo và cho biết âm đọc là Giới.
Án : tức là cái kỷ (một loại bàn).
Thân có lực : đó là nhị chân trí, vì Phật lấy trí làm thể.
 Tay có lực : đó là chỉ sáu thần thông, vì đó là tác dụng bên ngoài. 
Phật nghĩ như vầy : “Ta có đầy đủ cả hai thắng đức này. Chúng sinh chủng tính nhị thừa không có ý muốn tu hành đại thừa để cầu ra khỏi nhà lửa, vậy ta phải : 
- Dùng trí tuệ như dùng cái án, mà trao ngay cho hạng chúng sinh trung căn, khiến cho họ giác ngộ viên mãn.
- Dùng thần thông ví như vạt áo, mà cứu cho hạng chúng sinh hạ căn khỏi mọi nỗi khổ, thúc ép họ ra khỏi căn nhà tam giới mà cứu độ họ”.
Vì hạng thượng căn Bồ tát có khả năng tu hành cái nhân nhất thừa để ra khỏi tam giới, như người con lớn kia tự mình có thể từ cửa nhà mà ra ngoài, cho nên ở đây chẳng nói đến. Nay ở đây chỉ nói đến việc giáo hóa cho hạng nhị thừa bất định tính. 
Hạng trung căn Độc giác không có khả năng tu hành cái nhân nhất thừa, chẳng nhờ thần lực của Phật, thì chỉ nên cho dựa vào tác dụng của trí tuệ Phật. Ví như đứa con giữa kia chẳng biết từ cửa mà ra, chẳng nhờ tay người, thì chỉ đưa cho nó cái kỷ, cái án, bảo nó tự leo lên mà ra khỏi nhà lửa.
Hạng hạ căn Thanh văn chẳng thể tu hành cái nhân của đại thừa, cũng chẳng thể dùng lực của trí tuệ Phật, thì nên cho họ thần thông. Ví như đứa con nhỏ kia chẳng thể từ cửa mà ra, chẳng thể leo lên kỷ án, thì phải lấy vạt áo bọc lấy nó mà đưa nó ra ngoài.
Cho nên phần hợp thuyết ở đây nói rằng : “Như Lai cũng lại giống như vậy, thậm chí có đại thần lực và trí tuệ lực, có đầy đủ phương tiện trí tuệ Ba la mật”. 
Cho nên biết rằng : thần thông ví như lực của tay, vì là tác dụng riêng biệt ở bên ngoài. Còn trí tuệ ví như lực của thân, vì là tác dụng chung ở bên trong. Dựa vào thân mà có tay, cũng như  dựa vào trí tuệ mới khởi được thần thông.
Cho nên hạ văn phải y vào đây mà phối hợp, không cần theo thứ tự. Đây nói phương tiện là tác dụng của hai lực vạt áo và kỷ án. Họ đã chẳng thể tu hạnh đại thừa, thì ta dùng hai lực này mà trao ngay cho họ giáo pháp nhị thừa, khiến họ ra khỏi cảnh khổ mà thành Đại giác. Họ đã chẳng thể tu hạnh đại thừa, vậy ta chỉ cần dùng hai phương tiện này mà cứu vớt họ, phải chăng ? 
Đây là việc đời trước cũng là việc đời nay của Phật. Sau khi thành đạo rồi, Phật ngắm cây kinh hành và ngẫm nghĩ về sự này trong tuần (bảy ngày) thứ ba.
*
-Kinh văn : “Lại còn ngẫm nghĩ”   tới   “nhưng lại hẹp nhỏ”. 
Tán rằng : dưới đây là ý thứ hai, nghĩ tới đại thừa nhân hóa. 
Trên nghĩ quả hóa đã chẳng thể được, nên phải dùng nhân hóa. Nhân hóa có ba ý :
1. Nghĩ rằng thoạt đầu chẳng thể dựa vào đại thừa giáo hạnh.
2. Nếu nảy sinh ra sự phỉ báng thì sẽ bị chìm đắm vướng vít trong đường ác.
3. Nghĩ cách chỉ rõ các nỗi khổ, ngầm thuyết đại thừa.
Đây là ý đầu. 
Căn nhà tam giới có hai loại sinh tử này, chỉ có một cửa chính đại thừa nằm ở giữa là chỗ để ra. 
- Bồ tát là bậc đại tính, nên đều đi lọt.
- Còn hạng nhị thừa, thì tính chất của họ đã lộ bày ra là chẳng thể y vào đại thừa giáo mà xuất ly. Nếu thuyết cho họ, thì họ cũng chẳng thể thực hành. 
Vì họ đi không lọt, nên gọi là nhỏ hẹp. 
Hạng Độc giác đi không lọt, nên nói là hẹp. 
Hạng Thanh văn đi không lọt, nên nói là nhỏ. 
Cũng ví như biển cả tuy rộng vô lượng nhưng chẳng chứa xác chết lâu, nên cũng gọi là hẹp. Nhất thừa nhân hạnh tuy rộng vô biên, nhưng chẳng dung nhị thừa hạnh, nên gọi là hẹp nhỏ.
*
 -Kinh văn :  “Các con ấu trĩ”  tới   “bị lửa thỉêu đốt” .
  Tán rằng : đây là ý “Nếu nảy ra sự phỉ báng thì phải chìm đắm vướng vít trong con đường ác”.
Chúng sinh tuy có chủng tử xuất thế, nhưng chưa khởi hiện hạnh, nên vẫn gọi là ấu tiểu.
Trĩ : tức là tiểu (nhỏ) vậy.
Chưa có sở thức : có nghĩa là chưa khởi hiện trí để thông đạt Phật pháp đại thừa thâm diệu.
Họ còn luyến chấp tam giới. Nếu thuyết cho họ ngay về đại thừa thì do họ còn luyến chấp tam giới, họ lại sinh ra phỉ báng, lại càng khởi Hoặc nghiệp, hoặc sẽ đoạ lạc, mãi mãi chìm đắm trong chốn hoạn nạn. Nếu thuận hành thì họ sẽ ra khỏi được cái cảnh vì phỉ báng nên bị chìm đắm mãi mãi.
Vì là Bất định, nên nói là “hoặc là sẽ”.
Bị tổn hại vì phiền não nên gọi là “bị lửa thiêu”.
Ý này nói rằng : nếu thuyết cho họ về nhất thừa ngay, thì họ vì đam mê chấp trước sinh tử nên sẽ phá pháp, chẳng tin, lại đọa vào đường ác.
Đây là sự đời trước. Đời nay cũng thế.
Cho nên phẩm Phương Tiện nói rằng :
“Nếu chỉ khen Phật thừa,
Chúng sinh chìm nơi khổ,
Không thể tin pháp đó.
Do phá pháp, không tin,
Đọa vào ba đường ác”.
*
-Kinh văn : “Ta sẽ thuyết cho”   tới   “bị thiêu hại”. 
Tán rằng : đây là nghĩ cách chỉ rõ các nỗi khổ, ngầm thuyết đại thừa.
* Chữ [為] có âm đọc là Vi, có nghĩa là phô bày, là thi hành. Còn đọc là Vị, có nghĩa là vì, là giúp cho. Người phương nam thường đọc thanh bình. Phô bày đây là phô trần sự tai hại. Người ở phương đây thường đọc thanh khứ.
 Trước chỉ nói tai hại về lửa, giờ nhân đó mà nói “Những việc đáng sợ” : chỉ cho các nạn côn trùng, quỷ phức tạp, nhà cháy v.v…
Ngầm thuyết đại thừa : định thử khiến mau chóng xuất ly. Dẫu biết loại đó chẳng thể tin học Lý Hạnh đại thừa, nhưng để cho họ ngày nay chứng được cái nhân (của đại thừa) nên định ngầm thuyết cho họ.
*
-Kinh văn : “Nghĩ như vậy rồi”    tới    “các con ra mau”. 
Tán rằng : đây là ý thứ ba : chỉ rõ đại thừa hành hóa. 
Tức là điều trên kia đã nói rằng : “đời đời đã từng theo Phật thụ hóa”.
Cũng tức là câu trước kia đã nói rằng : “Ta xưa dạy ngươi chí nguyện đạo Phật, ngươi nay đều quên”.
Cũng là câu nói ở dưới, rằng : “mười sáu vương tử mới kết nhân duyên”. 
Nay trình bày về sự sinh tử rất là đáng sợ, đại thừa đáng được ưa thích, nên gọi là bảo ban cặn kẽ.
*
-Kinh văn : “Cha tuy thương xót”   tới   “chẳng chịu tín thụ”. 
Tán rằng : dưới là ý thứ tư : không có hy vọng dùng đại thừa để giáo hóa. 
Có hai ý nhỏ : 
- Đầu là chẳng hy vọng tin tưởng.
- Sau là chẳng kinh chẳng chán.
Đây là ý đầu.
Do đắm trước sinh tử, chẳng chịu tin học Lý đại thừa. Đây nói thoạt đầu  mới nghe ngôn giáo đại thừa, chẳng thể y theo Lý Hạnh mà tu học, ngược lại còn lùi về vòng sinh tử, vì thế gọi là chẳng tín thụ. 
Thụ : có nghĩa là lĩnh nạp. 
Tín : nghĩa là chứng nhập. 
Chẳng thể y vào thực hành mà chứng nhập lý đại thừa, thì gọi là chẳng tín thụ. Chẳng phải hoàn toàn ngu về pháp, mà là vì lúc ban đầu còn thuận theo tập quán vậy.
*
-Kinh văn : “Chẳng kinh chẳng sợ”   tới   “chỉ chạy giởn nhìn cha mà thôi”. 
Tán rằng : đây nói về chẳng kinh chẳng chán. 
Kinh : ở đây có nghĩa là kinh ngạc, quái lạ.
Sợ : là sợ hãi. 
Chẳng kinh nhà bị hủy hoại, năm uẩn bị nguy bị khổ. Chẳng sợ lửa cháy, phiền não thiêu đốt. Không hề có tâm muốn khỏi cảnh khổ, hoặc hy vọng được thành Phật. Cũng không biết phiền não là lửa đốt thân, chẳng biết năm uẩn chính là căn nhà sinh tử. Chẳng hiểu rõ các nỗi khổ sở bức bách v.v… sẽ làm tổn hại mãi mãi cho thánh đạo, đó là điều tổn thất đối với bản thân mình.
Tổn thất : có nghĩa là bị phiền não não hại, bị khổ sở bức bách, gây tổn hại cho tác dụng của thánh đạo.  Như vì lửa thiêu, nhà cửa bị hủy hoại, rồi bị tổn hại phiền não do mất của cải, cho nên gọi là “tổn thất”.
Chạy rống đông tây : đông ví với nẻo thiện, tây ví với nẻo ác. Hơn kém khác nhau, nên gọi là đông tây. 
Luân hồi năm nẻo, chìm đắm tứ sinh, dẫu được thấy Phật, được nghe pháp, nhưng không có ý cầu được thành Phật, nên nói là “chạy giởn nhìn cha mà thôi”.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ trưởng giả”  tới   “được khỏi khổ này”.
Tán rằng : từ dưới đây là mục thứ ba : dụ về phương tiện cứu vớt, tế độ.
Ta cùng các con nếu chẳng thoát ra kịp thời : có người giải thích rằng vì chúng sinh bệnh nên Bồ tát cũng bệnh. Chúng sinh ra, nên Bồ tát cũng ra. Thực ra thì Bồ tát đã ra từ lâu, chứ chẳng phải hôm nay mới ra đồng thời cùng với con.
Giải thích đúng ý câu này, thì phải nói là Thích Ca hóa thân xuất gia, thành đạo, nhập Niết bàn, nay thân mới thị hiện ra khỏi nhà lửa. Các Thanh văn v.v… nay gặp Phật cũng mới xuất ly sinh tử ở thời nay tại đời Thích Ca, cho nên nói là “thời xuất” (ra kịp thời). Phật thực ra đã ra trước, cho nên trước mới nói là “Ta tuy ở đây, được thoát ra yên ổn.”
*
-Kinh văn : “Cha biết các con”  tới  “ắt ham thích chấp trước”. 
Tán rằng : văn dưới là mục thứ tư : dụ về chính thuyết tam thừa. 
Có hai ý : đầu là tri cơ, sau là chính thuyết.
 Đây là ý đầu : biết rõ các con, tâm ai nấy đều có thị hiếu trước kia. Chủng tính tam thừa, tùy theo căn cơ mỗi người mỗi khác, pháp mà mỗi người nên nghe, đó tức là Các các vị nhân tất đàn.
Biết tâm trước kia : đó là cái biết của Căn thắng liệt trí lực và Giải thoát trí lực.
Biết các thứ châu báu đồ chơi mà mỗi người ưa thích : tức là các pháp công đức tùy theo tự quả của họ, cũng tức là cái biết của Biến thú hành trí lực. 
* Chữ Trân : có nghĩa như bảo (đều chỉ châu báu). 
Chữ Ngoạn [玩] : có nghĩa là nghịch, chơi đùa. Có bản viết Ngoạn [ 翫] ] : có nghĩa là quen lờn, là ưa thích, đó là chép  sai.
Vượt hẳn hữu lậu thì gọi là vật kỳ dị. Hễ được, ắt quý báu, nên nói là ưa thích chấp trước.
-Hỏi : cớ sao cho tòa thành thì chẳng nói là thị hiếu trước kia ? Nay đây cho xe, lại nói là thị hiếu trước kia ?
Đáp : xe là Biến thú hành cơ học (các vị hữu học tùy theo căn cơ mà tâm hành chạy khắp các nẻo), nên có thể nói là thị hiếu. Thành, chỉ là dừng khổ chẳng sinh, nên chẳng gọi là thị hiếu. Xe là tu sinh. Thành là tu hiển. Nên xe thì  nói thị hiếu, thành thì không nói thị hiếu.
Thêm nữa, ảnh nổi rõ đều thích không sai. Biết họ muốn thoái chuyển tức là hiếu thành (ưa thích hóa thành).
-Hỏi : cớ sao xe lại nói đến châu báu kỳ lạ, mà thành thì không ?
Đáp : các tướng của đức hữu vi thì  có thể phân biệt để biết, cũng như nói về xe thì có các tướng lạ khác nhau để chơi. Còn đức vô vi thì chỉ có một tướng chung, nên chỉ nói về hóa thành.
Thêm nữa, hai ý ấy không khác gì nhau vì trong thành nói là có cổng, lầu, nhà cửa, đó cũng tức là các thứ trân ngoạn rồi.
*
-Kinh văn : “Mà bảo các con rằng”   tới   “đều sẽ cho các con”. 
Tán rằng : đây là chính thuyết. Có ba ý : 
• Đầu tiên là bảo chung khiến các con lấy xe.
• Thứ nữa là chỉ riêng từng loại một trong ba xe. 
• Cuối cùng là khuyên thẳng các con ra khỏi nhà lửa thì sẽ cho. 
Nếu chẳng theo lời dạy ra khỏi nhà lửa để chọn lấy tam quả (quả tam thừa), thì sau ắt sẽ đời đời kiếp kiếp bị chìm đắm trong vòng sinh tử, nên gọi là ưu sầu hối hận.
Đây là văn chỉ ý đầu tiên. 
Ba xe ở ngoài cửa, có thể lấy để rong chơi, đó là văn chỉ ý thứ hai. 
Do hình thể lớn bé có sự khác nhau, ăn cơm sẽ có kẻ ăn nhiều người ăn ít. Vượt sông, sông có chỗ nông chỗ sâu. Dùng sức, phải có sự mạnh yếu khác nhau. Cứ theo như thứ tự mà ví dụ để nói rõ căn tính về bẩm giáo, chứng Lý và Hành năng, có ba loại.
Hành năng : tức là đoạn Hoặc v.v… dùng công năng của trí lực. 
Thêm nữa, Dê phần nhiều bám người. Hươu phần nhiều ở yên tĩnh. Trâu đã có đủ hai công năng : mang vác, chuyên chở. Mỗi thứ đều căn cứ vào chỗ sở trường của chúng mà dùng làm ví dụ. Đây là ý thứ ba. 
Chỗ y chỉ có nơi huyên náo, có nơi tĩnh mịch. Hai loại xe dê, hươu chỉ có là có danh đặt ra, vì chẳng thấy, chẳng trèo lên.
Đó là chính lấy chủng trí của tiểu trung nhị thừa làm thể. Nếu lấy Niết bàn làm thể, thì phải tới hóa thành. Ở đây nói : đã nhập rồi thì trừ được mọi nỗi khổ. Cớ sao chẳng thấy xe mà các con lại không đòi bố ? 
Nếu lấy Sinh không vô lậu trí mà nhị thừa chứng được làm thể của xe, như thế thì họ cũng đã lên rồi, vì sao lại nói là chẳng được ? Cho nên biết rằng, đó chỉ là vờ chỉ hữu lậu Hậu đắc trí tam muội thế gian mà nhị thừa chứng được, gọi tên là chủng trí, gọi đó là thể của hai xe (dê và hươu), vì có tên mà chẳng thấy, cũng chẳng trèo lên mà đi chơi, chẳng thể phân biệt chứng được các pháp.
Thêm nữa, để tỏ rõ là họ có Niết bàn giả, nên nói là “đã nhập”. Ẩn ý là họ có Sinh không Bồ đề trí, nhưng chẳng thể phân biệt pháp, nên chẳng cho danh hiệu là xe, chẳng cho cái danh là “lên” xe, vì Hoặc khổ đã diệt nhưng Trí chướng chưa đoạn. 
Thiền định thế gian mà họ chứng được vờ chỉ đó là xe và gọi là được ra khỏi cửa, để khiến họ dần dần nhập đại thừa nhân, chứng đại Niết bàn vị.
Cho nên luận này nói rằng : đối vói hạng người thứ nhất (chỉ hạng Thanh văn), thì lấy các thứ thiện căn công đức tam muội thế gian làm phương tiện để khiến họ rong chơi, sau đó sẽ khiến họ nhập Niết bàn. Cho nên Giáo của tam thừa được gọi chung là “Môn” (cửa).
Lý vượt ra ngoài Giáo, nên gọi là môn ngoại. Thêm nữa, môn này là Hạnh của tam thừa nhân, mà Quả có mặt từ trong nhân, nên gọi là môn ngoại. 
Ở đây, nhất định lấy Phân biệt chủng trí làm thể của xe. Bởi vì  kinh nhiều lần nói rằng : “Cuối cùng khiến được Nhất thiết chủng trí”.
Vừa là thừa (xe), lại vừa đại (lớn), nên gọi đó là nghĩa đại thừa.
-Hỏi : cớ sao phẩm Phương Tiện thì nêu rõ cả đôi đường : quyền và thực, lý và trí, nhân và quả. Còn ở đây thì hai vòng lý và trí, nhân và quả đều thuyết riêng từng thứ ?
Đáp : vì thừa có quyền thực. Thực có nhân quả. Quả có lý trí. Ba loại đó khác nhau. Chẳng biết quyền thực thì việc lựa chọn lấy hay bỏ chẳng thành. Chẳng biết quả nhân thì các pháp năng thú, sở thú chẳng thể xác lập. Chẳng thông về lý trí thì làm sao mà có được Bồ đề Niết bàn. Trí, Đoạn, chẳng viên mãn thì làm sao mà thành đạo viên mãn !
 Bởi vậy vòng đầu giáo hóa về lợi ích, bằng cả đôi đường nói hết tông chỉ huyền diệu. 
Hạng trung căn thoạt nghe đã dần dần biết rõ quyền và thực. Việc lựa chọn thủ (lấy) xả (bỏ) tuy đã phân biệt tách bạch, nhưng chưa biết thủ nhân (cái nhân của lấy). Cho nên thuyết về ba xe là để khiến họ biết được Hạnh của nhất thừa.
Ẩn giác tịch ở trong quả, thuyết xe trí ở trong nhân, giấu lý thừa của nhân vị, khiến tu sinh ở chủng trí, vì lý thì dần dần giải ngộ, nhưng trí thì chưa thông suốt. 
Hạng hạ căn tuy nghe lại lần nữa về quyền thực cùng với Nhân trí, Quả lý nhưng vẫn còn mê muội. Lại phải nói rõ Lý có giả có chân, thuyết cho họ cái gốc để họ lựa lọc lấy bỏ. Ẩn trí phẩm ở trong quả, giấu song nghiêm ở nhân vị. Ứng cơ chẳng giống nhau, ba vòng hơi khác nhau.
Về nhân quả nhất thừa, thì thuyết một phần, hoặc thuyết đầy đủ. Về giác tịch trong quả, thì chỉ rõ đâu là viên mãn, đâu là còn thiếu. Về đại tuệ pháp thân, thì nói rõ đâu là đầy đủ, đâu là còn thiếu. 
Địa Trì luận nói có bốn xe. Đó là ba xe ở đây cộng thêm voi nữa, để ví với tứ Niết bàn.
Thừa ở đại tính, nên gọi là đại thừa. Chẳng phải là ví với tam trí. 
Trong Kinh Niết Bàn thuyết có hai xe. Ví như quốc vương cưỡi xe bốn ngựa. Muốn khiến xe lừa theo kịp thì không bao giờ được. Đây là lấy bán, mãn mà so với nhau, chứ chẳng phải là ba loại căn cơ vận dụng có sự phân biệt. Cũng chẳng trái nhau.
Kinh Ưu Bà Tắc nói về ba loài thú sang sông để ví dụ với cái lẽ : Lý đồng Chứng dị.
Trí Độ luận nói về ba con thú bị vây là để ví với chúng tam thừa ở trong vòng vây sinh tử, dùng lực để ra khỏi vòng vây, có lực lớn lực nhỏ. Lại nói về ba người đắc đạo là để ví với ba thừa chứng quả có sự rộng hẹp khác nhau, nhưng mỗi thừa căn cứ vào một nghĩa, cũng chẳng trái nhau. 
Các con hãy ra mau, tùy nghi sẽ cho các con : đó là đoạn văn thứ ba.
Nay ở đây tóm lược nêu ra năm điều vấn đáp như sau : 
1- Hỏi : trong trí có loại hư loại thực, ba loại xe đều gọi là xe. Trong lý có loại giả loại chân, lấy thành làm tên chỉ khắp cả ba loại. Cớ sao đại Niết bàn chẳng gọi là thành mà gọi là bảo sở ?
Đáp : vì chỗ nghỉ chân với nơi đầy đủ mọi đức có sự khác nhau. Chân diệt mới gọi là bảo sở. Xe vốn là thứ để vận chuyển tới quả, các thứ có khả năng vận chuyển thì đều gọi là xe. Thêm nữa đã nghỉ rồi thì sẽ cầu thêm cái khác. Cái sẽ cầu thêm ấy chẳng gọi là thành. Mọi thứ để vận tải đều gọi chung là xe, dù xa hay gần cũng là xe cả.
2- Hỏi : trí, là quả của việc tu học nhị thừa, chia làm hai loại dê, hươu. Vậy Diệt, là quả của việc tu học nhị thừa, cũng nên chia làm hai hóa thành ư ? 
Đáp : nơi nghỉ nói hai, đó là có hai thành. Đối thực, thuyết giả, nên gọi gộp là một.
Kinh Niết Bàn nói : người tu Thanh văn coi tiểu Niết bàn là Bát Niết bàn. Người tu Duyên giác coi trung Niết bàn là Bát Niết bàn.
Cho nên biết rằng chỗ nghỉ cũng nói là có hai thành. Nay, vì chướng sở đoạn giống nhau, lý Sinh không giống nhau, Giả trạch diệt giống nhau, do ba nghĩa này giống nhau, nên Hóa thành chỉ gọi là một.
 Nếu xe Bồ đề căn tính lợi hay độn khác nhau, y vào Phật hay tự mình xuất khác nha ; dựa vào giáo hay quán về lý khác nhau; quán đế hay duyên khởi khác nhau; tứ quả hay nhất quả khác nhau; luyện căn, thời tiết khác nhau ; thuyết pháp, thần thông khác nhau, thì do bảy nghĩa này mà thuyết tách bạch thành dê và hươu vậy.
 Thêm nữa, Vô vi không có sự phân biệt nên thuyết một thành. Hữu vi có sự phân biệt nên thuyết dê, hươu. Thuyết riêng Vô vi, nên chỉ nói một thành. Dùng trí mà nói rõ Diệt, thì có thể thuyết hai thành. Cũng chẳng trái nhau.
3- Hỏi : cớ sao hóa thành thì đặt ở đường hiểm, còn xe dùng để dẫn dụ thì nói là ở ngoài cửa (môn ngoại) ? 
Đáp : nghỉ ngơi khỏi khổ thì gọi làø Thành, đi hết nửa đường thì đặt ra Thành, ở giữa chừng. Thể của xe vô lậu lìa hệ phược, thì nói là ở ngoài cửa. 
Thêm nữa, phân đoạn tử không còn nữa, biến dịch tại Hóa thành giai đoạn ban đầu đã hết, Hóa thành ở giữa đường. Đặt ra Lý xuất ra từ giáo, quả xuất phát từ nhân, là hai xe, nên ở ngoài cửa. 
Thêm nữa, nhị tử là để nhằm làm rõ cái việc Hóa thành đặt giữa đường; nhất tử là để nhận rõ hai xe tại ngoài cửa, lý thực giống nhau.
4- Hỏi : cớ sao lúc cho xe thì nói là để rong chơi. Tới khi cho Thành thì nói là an tọa ?
Đáp : Niết bàn có thể chứng, nên Thành nói là an toạ. Bồ đề có thể sinh, nên nói là rong chơi. Vì hai quả vô vi, hữu vi khác nhau. Hơn nữa tướng của Thành ắt phải trụ, nên nói là an toạ. Tướng của xe là vận động, nên nói là rong chơi.
5- Hỏi : cớ sao nơi Hóa thành thì khuyên hãy vào trước. Nay thuyết lấy xe làm ví dụ thì lại bảo là phải ra mau ?
Đáp : đây là ý thứ ba : “khuyên thẳng các con ra khỏi nhà lửa thì sẽ cho, nếu ở trong đó sẽ bị nạn”.
- Hóa Phật thì ở trong sinh tử, vì vậy khuyên hãy vào trước. Nói rằng Chân Phật thì ở tại Quả, cho nên nói phải ra mau.
- Thêm nữa, vì khuyên hành nhân để chứng quả, nên khuyên vào trước. Trước trụ  ở quả để chiêu mệnh, nên bắt phải ra. 
- Thêm nữa, khuyên con trụ ở  thành, nên nói là vào trước. Bảo con lấy quả của cha, nên nói là ra mau.
- Thêm nữa, khuyên chứng Niết bàn bởi vậy nói là vào. Khiến sinh giác trí, bởi vậy nói là ra.
 Cũng như gọi là Như Lai và cũng gọi là Thiện Thệ. 
Trụ nhân và trụ quả, điều mong mỏi có sự khác nhau vậy.
*
-Kinh văn : “Bấây giờ các con”  tới  “tranh nhau ra khỏi nhà lửa”. 
Tán rằng : dưới đây là ý thứ tư : dụ về nghe theo lời thì tránh khỏi tai nạn. 
Có hai ý nhỏ : 
- Ý đầu là con tránh khỏi tai nạn.
- Ý sau là cha bèn an tâm. 
Đây là ý đầu.
- Thích : vui thích. Vui thích vì tam thừa khiến lòng ưa thích, cho nên gọi là thích nguyện. Tâm ai nấy đều hăm hở, dũng nhuệ, đó là tââm tinh tiến.
- Dũng : là tiến. Nhuệ : là lợi, có nghĩa là giỏi tinh tiến vậy. 
- Thúc đẩy lẫn nhau : đó là Thân tinh tiến, cũng là Ngữ tinh tiến. 
* Chữ “Bài” có nghĩa như suy, như nhượng.  Chữ [ 推 ] ở phương đây đọc là Suy, không đọc là Thôi. 
Thân nghiệp thúc đẩy lẫn nhau và Ngữ nghiệp khuyến khích cổ vũ  lẫn nhau thì gọi là Thúc đẩy lẫn nhau.
Đua nhau tu hạnh nghiệp thì gọi là Đua nhau chạy nhanh. Cùng mong khỏi khổ thì gọi là tranh nhau ra khỏi nhà (lửa).
*
-Kinh văn : “Bấy giờ trưởng giả”  tới  “vui mừng phấn khởi”. 
Tán rằng : đây là ý “cha được yên lòng”.
Lìa tai thoát nạn thì gọi là yên ổn mà ra.
 - Bốn đường thông cù (ngã tư đường) : chỉ lý Tứ đế, vì ba thừa đều cùng quán lý Tứ đế, vì trong Đại Bát Nhã nói bốn đường thông cù (ngã tư đường) là Tứ đế. 
- Lìa phiền não chướng, xuất phân đoạn sinh, không úng tắc thì gọi là Lộ. 
- Mỗi hạng đều có ngôi vị sở y quả mãn. thì gọi  là Địa.
- Ở yên mà chứng bằng trí thì gọi là Tọa (ngồi).
- Ở phân đoạn sinh tử : phải là Khổ, Hoặc, Nghiệp của năm uẩn đều hết, hoặc là bị đoạn trừ, hoặc là bị điều phục. 
- Lìa ba chướng nên gọi là không chướng ngại. 
- Đúng với bản ý của cha, nên thư thái.
- Thấy con vượt khỏi nỗi nguy hiểm, nên hoan hỉ. 
- Người nhị thừa đắc A la hán, đoạn các phiền não, trụ ở Hữu dư y Niết bàn. Người đại thừa đã nhập Sơ địa, đắc Vô trụ xứ Niết bàn, điều phục được các phiền não, lìa phân đoạn tử, gọi là ngồi chỗ đất trống, không còn chướng ngại.
*
-Kinh văn : “Bấy giờ các …”    tới    “xin liền ban cho”. 
Tán rằng :  trên dụ xưa quyền, dưới dụ nay thực. 
Có hai ý : 
- Đầu tiên ví với việc truyền thụ thực thừa.
- Sau đó giải thích những điều nghi vấn. Dưới là vấn đáp. 
Phần đầu có bốn ý : 
1. Các con xin ba thứ, 
2. Cha chỉ cho một, 
3. Giải thích chí cha đã thành,
4. Vượt bản tâm của con. 
Đây là phần đầu. 
* “Ngoạn”: là chơi đùa. Chữ [ 好] ở đây hoặc đọc là Hiếu, có nghĩa yêu thích, ưa chuộng, hoặc đọc là Hảo : tốt, đẹp. 
Tùy theo căn cơ của ba thừa, mỗi thừa đều ở nơi Phật, chuyên ý mong cầu Diệu trí của thừa mà mình đang theo, nghĩa giống như các con mỗi đứa đều xin cha cho một thứ xe. 
Người nhị thừa lìa phân đoạn tử, đã được giải thoát, chứng được Tứ đế, đã nhập hóa thành rồi, đó gọi là xuất trạch (ra khỏi nhà lửa). Chuyên ở nơi Phật, mà văn, tư, tu tập chủng trí, liễu đạt, cầu chứng các pháp, gọi là đòi (xe) dê, (xe) hươu.
Người tu hạnh Bồ tát, theo bản luận này thì từ Sơ địa trở lên tuy lìa phân đoạn (tử), nhưng chưa chứng giải thoát, nên chẳng gọi là Nhập thành (vào thành). Chẳng mệt mỏi, nên chẳng nhập Hữu dư Niết bàn. Bởi vậy chẳng nói Bồ tát nhập hóa thành.
Nhập Vô trụ Niết bàn cũng là diệt phân đoạn tử. Dẫu gọi là Nhập thành cũng chẳng trái với lẽ thông thường. Nếu thế thì cũng nên cho phép lên xe dê, xe hươu. 
Cho nên biết rằng : chỉ giải thích như cách đầu tiên mới là hay. Đã điều phục phiền não, xuất ly phân đoạn tử, lại cũng chứng được Tứ đế thì gọi là ra khỏi nhà (lửa), ngồi ở ngã tư đường. 
Cầu diệu trí Phật cũng gọi là đòi xin cha cho xe trâu kia.
1- Hỏi : ba con đều xuất ly phân đoạn tử, mà sao riêng nhị thừa gọi là “Nhập thành”, đại tử (vừa chỉ con lớn, vừa chỉ người tu đại thừa) cũng nói là “xuất khổ”, thế thì cũng được gọi là “Nhập thành” chứ ?
Đáp : không mệt mỏi ngán khổ, cho nên đại tử chẳng Nhập thành. Đoạn Hoặc, lìa phân đoạn tử cũng được gọi là “xuất trạch”. Nếu thích Nhập thành thì cũng chẳng khó gì.
2- Hỏi : nếu đại tử đó chẳng nhập thành, cớ sao đại tử lên xe chẳng nhập thành, hai con trung, tiểu (chỉ Duyên giác, Thanh văn) nhập thành chẳng lên 
xe ?
Đáp : ngán khổ, cầu được nghỉ ngơi, Trung Tiểu nhập thành. Đại tử chẳng ngán khổ, nên chẳng gọi là “nhập chỗ nghỉ”. Nói có hai loại con nhập thành, đó là để chứng tỏ Đại tử chẳng nhập thành.
3- Hỏi : ngoài cửa có xe, xe có ba loại, giữa đường đặt ra Hóa thành, vì nhân duyên gì mà chỉ nói có hai thành ? 
Đáp : hai xe đối với nhân duyên đại thừa, đặt ra ba xe ở ngoài cửa; thành Quyền đối với quả Thực, đặt ra Hóa thành ở giữa đường. Lý thì giống nhau, sở đối khác nhau. Thi thiết tuy chẳng giống nhau, nhưng thực ra là một.
 Thêm nữa, vì họ không có chủng trí, nên khuyên họ học đại thừa, ngoài cửa đặt ba xe.
Hữu dư Niết bàn, đại thừa chẳng cầu, đặt ra hai thành ở giữa đường. Nếu nhập Vô trụ Niết bàn thì chẳng gọi là giả, vì chẳng phải là Hóa thành. 
4- Hỏi : ba xe đều đòi, thể hiện lòng mong muốn học được trí tuệ viên mãn. Chẳng mong Nhị diệt, hẳn là chẳng cầu diệt khổ ?
Đáp : đắc quả tự nhiên chứng diệt, nhập thành chẳng thích mong cầu. Diệu trí ắt phải nhờ vào sự tu luyện thêm để “xuất trạch”. Cho nên xe cần phải đòi.
Thêm nữa, ở địa vị Tiểu thừa, đến được hóa thành rồi nên chẳng cần đòi. Chưa được chủng trí, bởi vậy phải đòi xe. Nếu giải thích như thế, thì nhị thừa nhập hóa thành chưa được xe nên phải đòi, Bồ tát chẳng nhập thành thì cũng cần đòi Bảo sở. Nghĩa này có thể đúng. Đại thừa đi đến Bảo sở, lẽ ra cũng cần đòi. Đối hóa thành mà chẳng đòi, bởi vậy chẳng bàn vì mỗi loại có yêu cầu riêng, đó tức là đòi vậy.
Kinh văn chỉ nói cha khuyên bảo khiến rời bỏ, đủ biết là các chúng sinh chẳng mời bạn.
Xưa tương truyền rằng : thành là thực hóa diệt khổ, bởi vậy chẳng đòi, xe là chỉ vờ, bởi vậy phải đòi. 
Nếu giải thích như vậy thì xe tách rời thành mà có riêng. Đòi với không đòi, nghĩa khác thể xe. Cách giải thích xưa có nghĩa thì thành, hóa thành cũng giống như xe đều cần phải đòi hỏi tìm tòi. 
Lại có cách giải thích rằng : xe để phát sơ cơ, nên là chỉ vờ; thành để đề phòng nửa đường thoái chuyển, nên là thực hóa. 
Đây thì chẳng thế. 
Vì sao ? Vì lúc sơ cơ đòi xe thì đã “xuất trạch” rồi. Hơn nữa, thể chẳng khác nhau, thì hư hay thực có gì mà khác nhau ? Nên giải thích thể của xe của thành là pháp gì ? 
Lại có cách giải thích rằng : thành cũng nên tìm, hóa chẳng một đường, bởi vậy chẳng thuyết, cho rằng kinh phần sau nói rằng : “Bấy giờ đạo sư biết bọn người này đã được nghỉ ngơi, không còn mệt mỏi, đã có thể tiến lên phía trước”, tức là tìm thành. Đây chính là tìm bảo sở, chẳng phải tìm thành. Tuy dẫn đoạn văn này, nhưng rốt cuộc nghĩa vẫn khó hiểu, nên nghiên cứu kỹ.
 Nên nói rằng : theo như đoạn văn dưới, biết họ mệt mỏi uể oải, nên vì họ mà biến ra hóa thành, đó tức là đòi hỏi tìm kiếm vậy.
Hoặc giải : xe là ví với vô dư Niết bàn, trụ quả chưa được, nên phải đòi hỏi. Thành ví với hữu dư Niết bàn,  trụ quả đã được, nên chẳng đòi. Nếu thế thì Bồ tát nay đã tìm xe, lẽ ra cũng là đã được hữu dư, chưa được vô dư. 
Cầu vô dư, cho nên gọi là đòi hỏi tìm kiếm (Sách). Vô dư của nhị thừa, tùy theo sự nhậm vận nhất định sẽ được, cần gì phải tu tập đòi hỏi. 
Cho nên chỉ nên như nghĩa trước. Niết bàn nói đây, nhị thừa không có gì khác biệt, cho nên xe dê, xe hươu lẽ ra là không có.
*
-Kinh văn : “Này Xá Lợi Phất”   tới   “một xe lớn”. 
Tán rằng : đoạn văn này nói chỉ cho một xe. 
Có bốn ý : 
1. Nêu việc cho xe.
2. Thuyết minh các thứ trang sức.
3. Nói rõ tướng trâu. 
4. Nói rõ về những thứ tùy tùng.
Đây là phần đầu. 
Quả Phật, được ví như xe trâu, lấy Nhất thiết chủng trí trong tứ trí làm tính, tức Hậu đắc trí. Vì xe lấy Chủng trí trong hai trí Diệu quan sát trí, Bình đẳng tính trí làm thể. 
Tuy năm trí tuệ, đều là nhất thừa, nay đây chỉ lấy Chủng trí trong Bồ đề tướng làm thể.
Nhất thiết trí rộng hẹp dẫu có sự khác nhau, nhưng ba thừa đều có loại đó của họ. Còn trí phân biệt Tứ đế, mỗi thừa đều có vô lượng tướng. 
Chẳng phải là điều mà nhị thừa biết được, thì gọi là Bất cộng đức. 
Cho nên kinh nhiều lần nói rằng “cuối cùng khiến được Nhất thiết chủng