QUYỂN
THỨ NĂM (PHẦN TRƯỚC)
Sa
môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn.
PHẨM
THỨ BA THÍ DỤ
Ba
môn phân biệt :
I. NÓI RÕ DỤNG Ý .
II.
GIẢI THÍCH TÊN PHẨM.
III.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC.
I.
NÓI RÕ DỤNG Ý.
Có
2 ý :
1.
Thu Tử là hạng thượng căn nghe pháp rồi liền tỏ ngộ.
Bốn người khác là hạng trung căn phải nhờ vào thí dụ
mới biết được. Trên đã giáo hóa cho hạng thượng căn,
dưới phải làm cho hạng trung căn hiểu rõ. Cho nên mới có
phẩm này.
2.
Luận rằng : từ đây trở xuống là thuyết Bảy thí dụ cho
bảy loại chúng sinh có đủ phiền não tính để đối trị
bảy loại Tăng thượng mạn và thuyết cho ba hạng người
tuy không có phiền não nhưng nhiễm mạn. Nhiễm mạn về Tam
muội, Giải thoát, Kiến v.v…, tức là để đối trị loại
nhiễm mạn này thì thuyết về Ba bình đẳêng.
Lại
nói : dư tàn Tu đa la thuyết minh về Mười nghĩa vô thượng.
Đây
có ý nói chung chỉ rõ 26 phẩm ở dưới sẽ thuyết minh về
ba nghĩa này.
•Bảy
thí dụ : ở tại bảy phẩm :
1)
Dụ nhà lửa, ở phẩm Thí Dụ này.
2)
Dụ về người con nghèo túng, tại phẩm Tín Giải.
3)
Dụ về mây mưa, tại phẩm Dược Thảo.
4)
Dụ hóa thành, tại phẩm Hóa Thành.
5)
Dụ đeo bảo châu, tại phẩm Ngũ Bách Đệ Tử Thụ Ký.
6)
Thí dụ về cởi minh châu trong búi tóc, tại phẩm An Lạc
Hạnh.
7)
Dụ thày thuốc, tại phẩm Thọ Lượng.
Cứ
theo thứ tự đó, mỗi thí dụ ở tại một phẩm.
•Ba
bình đẳng : có trong 9 phẩm :
1)
Thí Dụ.
2)
Thụ Ký.
3)
Ngũ Bách Đệ Tử Thụ Ký.
4)
Thụ ký Cho Hạng Hữu Học Vô Học.
5)
Pháp Sư.
6)
Khuyến Trì .
7)
Đề Đà Đạt Đa.
8)
Thường Bất Khinh.
9)
Thấy Bảo Tháp.
Tám
phẩm đầu đều có thụ ký, thuyết về sơ thừa bình đẳng.
Trong phẩm Thấy Bảo Tháp ở cuối thì thuyết gộp cả hai
thứ bình đẳng là Sinh tử Niết bàn bình đẳng, pháp với
thân bình đẳng.
•
Mười nghĩa vô thượng : có ở 21 phẩm :
-
Chín vô thượng đầu có ở 7 phẩm :
1)
Dược Thảo Dụ.
2)
Hóa Thành Dụ : tại đây có hai vô thượng thứ hai và thứ
ba.
3)
Ngũ Bách Đệ Tử Thụ Ký.
4)
Thấy Bảo Tháp.
5)
An Lạc Hạnh.
6)
Dũng Xuất.
7)
Thọ Lượng : tại đây có hai vô thượng thứ tám và thứ
chín.
Trong
7 phẩm trên, trừ các phẩm thứ hai, thứ bảy, còn năm phẩm
kia mỗi phẩm có một vô thượng.
-
Dư tàn Tu đa la là vô thượng thứ mười. Có nghĩa là 14 phẩm
còn lại đều là vô thượng thứ mười.
Ở
trong 14 phẩm này có hai lực : Pháp lực và Tu hành lực.
+
Pháp lực có 3 phẩm :
1)
Phân Biệt Công Đức.
2)
Tùy Hỷ Công Đức.
3)
Pháp Sư Công Đức.
+
Tu hành lực có 7 lực, gộp lại là 11 phẩm :
1.
Trì lực, có ba phẩm :
1) Pháp Sư.
2) An Lạc Hạnh.
3) Khuyến Trì.
2.
Thuyết lực, có 1 phẩm : tức là Thần Lực.
3.
Hành khổ hạnh lực, cũng có 1 phẩm : tức là phẩm Dược
Vương.
4.
Giáo hóa chúng sinh hành khổ hạnh lực, cũng 1 phẩm, đó là
phẩm Diệu Âm.
5.
Hộ chúng sinh chư nạn lực, có 2 phẩm :
1) Quan Âm Phổ Môn.
2) Đà La Ni.
6.
Công đức thắng lực, có 1 phẩm : là phẩm Diệu Trang Nghiêm
Vương Bản Sự.
7.
Hộ pháp lực, có 2 phẩm :
1) Phổ Hiền.
2) Chúc Lụy.
Mười
vô thượng ở sau là bảy thí dụ ở phần đầu.
•
Tam bình đẳng tàn : gọi là Thượng tàn. Nên trong bản luận
giải bảy dụ ba bình đẳng xong, nói : “Dư tàn Tu đa la nói
rõ nghĩa vô thượng”. Vô thượng thứ mười là tàn của
chín loại vô thượng trước, gọi là Hạ tàn. Cho nên trong
bản luận giải thích về vô thượng thứ mười, nói : “Mười
đây là thắng diệu lực vô thượng dư tàn Tu đa la thuyết”.
-
Tàn có hai nghĩa :
+
Một là Văn tàn, vì chưa từng thuyết.
+
Hai là Nghĩa tàn, vì trước tuy đã thuyết, song chưa hết nghĩa,
còn muốn có thêm ý khác nữa, nên nay lại thuyết nữa, gọi
là Nghĩa tàn.
Sợ
văn dài dòng, nên lướt qua chẳng nói. Tới trong các phẩm
sau sẽ nhất nhất giải thích kỹ, vì trong bảy phẩm : Dược
Thảo, Hóa Thành, Ngũ Bách Đệ Tử, Bảo Tháp, Khuyến Trì,
An Lạc Hạnh và Thọ Lượng, hoặc về văn hoặc về nghĩa
đều nói lại.
Còn
bảy dụ, thì vì hạng phàm phu hữu học gọi là hạng có
phiền não, có bảy loại Tăng thượng nhiễm mạn, để đối
trị hạng này nên thuyết bảy thí dụ.
Như
chấp Hóa thành cho đó là Chân thành (tòa thành có thật),
tức là cho rằng cái mà họ mong cầu là Tam Ma Bạt Đề (thiền
quán) thế gian sẽ là Chân diệt (diệt độ thực sự).
Chấp
vô học là viên mãn, nên không còn có điều sở cầu gì nữa.
Hạng
vô học nhị thừa, gọi là người không phiền não.
Có
3 loại pháp chấp nhiễm mạn : Tam muội, Giải thoát, Kiến
v.v… . Đó là pháp chấp hướng về nhị thừa, tuy chẳng
gọi tên là Nhiễm.
Hạng
này hồi tâm rồi, thì gọi là Bồ tát nhiễm pháp chấp.
Hạng Bồ tát này gọi là nhiễm vô phiền não mạn. Luận
dịch nghĩa là điên đảo cũng là ý này.
•
Nghĩa vô thượng thì trong đại thừa có thể nói là có. Các
thừa khác thì không. Do đó, thuyết về ba thừa có sự khác
nhau, vì Giáo Lý Hạnh Quả có sự khác nhau.
Luận
dẫn lời Phật dạy : “Chẳng lìa thân ta, đó là Nghĩa vô
thượng”. Nhị thừa chẳng nói nghĩa này, vì chẳng giải
được. Do đó vô thượng tức là Giáo Lý Hạnh Quả của
nhất thừa, tùy theo sự thích ứng mà phối vào các phẩm.
•
Bảy loại Chúng sinh cụ túc phiền não :
Thứ
nhất là người cầu thế lực, khởi điên đảo bậc nhất,
cầu công đức Tăng thượng mạn, vì bị các phiền não thế
gian thiêu đốt nên cần cầu diệu cảnh quả báo của trời
người. Vì loại này mà thuyết dụ Nhà Lửa.
Phú
quý tự tại, gọi là thế lực. Vì các phàm phu cầu diệu
cảnh ngoại quả cùng nội quả báo này của trời người,
chẳng biết phiền não thiêu đốt nung nấu, cho nên vì hạng
này mà thuyết về dụ Nhà Lửa, bởi vì phiền não do thế
lực của trời người thiêu đốt cũng như nhà lửa.
Thế
tôn nay nói có 2 xe, tức là thiện căn tam muội thế gian, Bồ
đề chỉ là giả giải (giải thoát giả, chẳng phải giải
thoát thật) để khiến họ ra khỏi nhà lửa, rồi sau đó
khiến họ dần dần nhập Phật đại Niết bàn.
Cho
nên luận nói rằng : đối với hạng người thứ nhất, thì
dùng các loại công đức thiện căn tam muội thế gian làm
phương tiện khiến họ thích thú, sau đó khiến họ nhập
Niết bàn.
Ở
đây chẳng nói “Chính chứng Sinh không Trạch diệt Chân trí”
trong đạo giải thoát gọi là tam muội thế gian.
Giả
giải đó là dê hươu, chẳng phải là thể của xe. Từ quán
đó rồi nhập định thế gian, quán điều đã chứng trước
đây.
Vì
tâm thô nên chẳng thấy Chính trí và Sinh không như (chân lý
Sinh không), mà lại thấy Hoặc, Nghiệp, Hậu khổ chẳng sinh,
tâm liền biến, tưởng là Niết bàn giải thoát.
Niết
bàn mà Chính trí chứng được trong căn bản quán, thì
dưới đây gọi là Hóa thành.
Chẳng
nói do giả quán mà biến thành Thành, vì chẳng hết khổ.
Nay
thuyết về ngôi Hậu đắc trí, thời sau năng biến, tưởng
giải (tưởng là giải thoát), gọi là thiện căn tam muội
thế gian. Các thứ công đức Khinh an Hỷ lạc, giả danh là
dê hươu, giả danh là Chủng trí, là để cho họ thích thú,
sau đó dạy họ nhất thừa, rồi mới khiến họ nhập Phật
đại Niết bàn, tới Phật vị, năng nhập xe trâu (chỉ nhất
Phật thừa) tức là Hai trí, tức là Bồ đề. Niết bàn sở
nhập tức là Bảo sở.
Trong
dụ Hóa thành ở sau, nói rằng nhị thừa chấp chỗ Hoặc
Khổ chẳng sinh đó là Niết bàn. Lý thực Niết bàn trong đạo
giải thoát là Chíùnh trí chứng. Cho nên nói nhập Hóa thành,
là để các lái buôn đều khỏi mệt. Vì các trí trước sau
đều chẳng thể liễu ngộ mọi pháp, nên thực ra chẳng phải
là Chủng trí.
Thuyết
về xe dê, xe hươu chỉ có danh mà chẳng thấy lên xe, vì nói
đó ví như thiện căn tam muội thế gian, để khiến họ thích
thú. Nhị thừa chấp đó cho là hai xe, thực ra chẳng phải
là thể của xe, như bốn điên đảo mà nhị thừa khởi
lên.
Chính
quán chẳng thế.
Sau
mới tưởng giải, duyên vào đây mà khởi chấp. Hóa thành
cũng thế.
Nay
để đối trị thói Tăng thượng mạn điên đảo cầu công
đức của hạng người cầu thế lực, cho nên nói thí dụ
về xe này.
Đó
là dụng ý của phẩm này. Các nghĩa khác đây, sẽ giải thích
sau.
II.
GIẢI THÍCH TÊN PHẨM.
Thí
: là ví, là tỉ loại (so sánh, giống như).
Sách
Ngọc Thiên nói : tỷ loại để giúp nhau hiểu rõ.
Dụ
: là khai thông, là hiểu rõ.
Sách
Ngọc Thiên nói : đó là hiểu, là can gián vậy.
Nay
nêu các sự tích gần gủi ở thế gian để ví với đạo
lý thâm diệu của Xuất thế gian, để khai thị cho kẻ chưa
giác ngộ được hiểu rõ sự mê muội trước đây.
Thí
dụ để hiểu rõ, gọi là phẩm Thí Dụ. Hoặc là Thí tức
là Dụ, nên gọi tên là phẩm Thí Dụ.
III.
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC.
•
Câu hỏi 1 : đây căn cứ vào cái lý dụ hiểu mà gọi tên
là phẩm Thí Dụ. Sao phẩm trước lại lấy thẳng pháp mà
đặt tên pháp phẩm ?
Giải
đáp : trước sau làm thể lệ lẫn nhau, lý ra thực nên như
thế. Nhưng việc đặt tên khác nhau, làm sao mà biết rõ được
nguyên nhân ? Song vì Phương Tiện là nghĩa riêng trong pháp,
còn Thí Dụ là tên chung chỉ sự ví von. Chung riêng đã khác
thì tên gọi cũng phải khác, không thể cứ rập khuôn như
nhau được.
•
Câu hỏi 2 : cớ sao trong kinh có tới 7 thí dụ, mà riêng đây
được đặt tên là phẩm Thí Dụ còn các phẩm khác được
đặt gộp vào tên riêng của phẩm đó ?
Giải
đáp : dụ tuy có 7, nhưng đây là đầu tiên. Tuy nêu lên tên
gọi chung, nhưng tự nó đã là tên riêng, còn các phẩm khác
chẳng phải chỉ thuần túy gọi là thí dụ.
•
Câu hỏi 3 : hạng trung căn tín giải thì nêu riêng thành phẩm
Tín Giải. Hạng thượng căn lĩnh ký, lẽ ra cũng phải nêu
riêng. Cớ sao khi thuyết minh về việc Thu Tử lĩnh ký lại
gửi gấm luôn vào trong phần đầu của phẩm này ?
Giải
đáp : về hạng trung căn lĩnh ký, văn rộng nghĩa dài, bởi
vậy nêu riêng. Thu Tử chẳng thế, nên nói kèm luôn vào đây.
Lại vì Thu Tử lĩnh ký, khải thỉnh, nên Phật mới nêu thí
dụ. Cho nên việc lĩnh ký của Thu Tử được thuyết minh kèm
ở phần đầu của phẩm này.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Xá Lợi Phất” tới “được
pháp Vị tằng hữu”.
Tán
rằng : chính trong phẩm này, chia làm hai phần lớn :
-
Phần đầu nói về việc Thu Tử nghe pháp lĩnh giải hoan
hỷ kể lại thành tựu và được thụ ký.
-
Phần sau nói về việc đức Phật dùng thí dụ một cách rộng
rãi để hóa độ cho hạng trung căn ở đó.
Phần
đầu thuộc vòng đầu đã nói ở trên : thuyết về pháp nhất
thừa. Vòng đầu có bốn, trên : pháp đã thuyết xong, dưới
đây là ý thứ hai : Thu Tử nghe pháp lĩnh giải, tự trách
rồi sinh hoan hỷ. Trong này có hai phần : đầu là trường
hàng, sau là kệ tụng.
Đây
là phần đầu.
Theo
cách giải thích của thế gian thì chữ Dũng nghĩa như chữ
Kiểu, Nghiêu (có nghĩa là kiễng chân, co một chân lên), chữ
Dược nghĩa là nhảy. “Co chân mà nhảy” hình dung sự hoan
hỉ tới cực độ. Được nghe chân đạo, thấy được quyền
thừa, nên dũng dược tưng bừng (vô cùng phấn khởi).
Được
thỏa lòng mong muốn, cho nên hoan hỷ. Để tỏ rõ đã phát
tâm đại thừa nên liền đứng dậy. Tâm hợp với điều
Phật thuyết nên chắp tay nhất tâm xin Phật giảng thêm. Chiêm
ngưỡng tôn nhan giãi bày bản tâm với Phật nên nói là :
“Bạch Phật”.
Pháp
âm đây là chỉ ngôn giáo đại thừa.
Vì
là pháp chưa từng được nghe nên nói là đắc vị tằng hữu
(được pháp chưa từng có).
Lại
do ba nghĩa, cho nên hoan hỷ :
1)
Nghe Phật thuyết pháp, tâm an như biển ; biết đây là Phật
chẳng phải là ma, cho nên hoan hỷ.
2)
Nghe giảng nhất thừa ngày nay là thực thừa, mới hiểu rõ
tam thừa ngày xưa chỉ là quyền thừa, tam thừa là nhân của
nhất thừa, bởi vậy hoan hỷ.
3)
Nghe Phật nói 1.200 A la hán cũng đều sẽ thành Phật,
cho nên hoan hỷ.
*
-Kinh
văn : “Vì sao như vậy” tới “vô lượng tri kiến”.
Tán
rằng : dưới đây giải thích về nguyên nhân của sự hoan
hỷ, có bốn :
1)
Vì mất đại pháp đến nỗi phải thở than.
2)
Ở bậc tiểu thừa, nay nghe đại pháp thì sinh hoan hỷ.
3)
Hoan hỷ vì nay được nghe đại pháp thì hết phiền não.
4)
Vì biết rằng là Phật tử thì sẽ thành đạo.
Đây
là phần đầu.
*
Chữ Dự [ 豫 ] có nghĩa như chữ Nhập, chữ Quan. Sách Ngọc
Thiên nói : Dự có nghĩa là “làm trước” ,là “dự bị
” , là “từ lâu”. Theo sách Thiết Vận, chữ này âm đọc
như Dật, nhưng sách này viết là [ 豫 ], đúng phải viết
là [ 預 ]. Sách Nhĩ Nhã viết là [ 預 ], và giải nghĩa là
: cùng, cùng với. Cổ văn viết là [與] như câu “Công tất
dự [與] yên” (ngài ắt dự vào đó).
Chữ
Cảm : nghĩa là Khích (cảm khích = xúc động). Chữ Thương
: đây có nghĩa là Thán (than thở).
Xưa
kia nghe chuyện Bồ tát được thụ ký như vậy, mà chúng
tôi chẳng được gia nhập vào số các vị xưa nghe thụ ký,
chẳng được dự vào việc thụ ký, bởi vậy nên đã xúc
động ân hận xót xa vì đã mất năm loại tri kiến của Như
Lai, hoặc mất tri kiến Trí tính Trí tướng của Như Lai.
*
-Kinh
văn : “Thế tôn ! Tôi thường ở một mình” tới
“mà được tế độ” .
Tán
rằng : dưới là ở bậc tiểu thừa nên phải than thở.
Có
hai ý : đầu tiên than nỗi trụ ở tiểu thừa; sau đó là
tự trách bản thân.
Đây
là phần đầu.
*
“Thường” : có nghĩa là Hằng. Chữ “Mỗi” : có
nghĩa như Sác, Lũ (nhiều lần), là từ chỉ số lần không
nhất định. “Nhập” : có nghĩa là chứng.
-
Pháp tính : đây là nhân vô ngã, là chân như, mà mọi người
ai cũng có thể chứng được.
Tôi
và Bồ tát đều có thể chứng nhập Vô ngã chân như, vì
sao mà một mình Như Lai đã từ tiểu thừa mà được
độ thoát ?
Hoặc
là, Tính : đây là chỉ Thể. Cùng nhập trong Phật pháp thể
loại.
*
Có bản chữ Thường [ 常 ] viết thành [嘗 ] có nghĩa
là “đã từng ”.
*
-Kinh
văn : “Đó là lỗi của chúng con, chẳng phải là do Thế
tôn” .
Tán
rằng : dưới là tự trách mình.
Có
ba phần : đầu là phần nêu, thứ đến giải thích, cuối
cùng là kết luận.
Đây
là phần nêu.
*
Chữ Cữu : có nghĩa là tội lỗi, tội lỗi của tôi. Chữ
Cữu, âm gọi là phiên thiết của Cự Cửu. Chữ này là chữ
hội ý : hội ý của hai chữ Nhân Các. Người ta có điều
chống đối trái ngược nhau thì thành ra tội lỗi.
*
-Kinh
văn : “Sở dĩ như vậy là vì sao” tới “mà được
giải thoát”.
Tán
rằng : đây là giải thích nguyên do.
Nhân
: đây là chỉ Nhân hành để thành đại Bồ đề, chỉ bốn
hạnh Bồ tát ở Thất địa :
1.
Bồ đề phần. 3. Các thần thông.
2.
Ba la mật. 4. Thành tựu hữu tình.
Ngài
Ca Diếp nói rằng : “Đối với Bồ tát pháp, Du hí thần
thông, Tịnh Phật quốc độ, Thành tựu hữu tình, thì tâm
chẳng ưa thích”. Cho nên Nhân của Chính giác chính là bốn
hạnh này.
*
Chữ Đãi (đợi) : có nghĩa là mong đợi, khao khát, hy vọng.
Thu
Tử tự nói : Nếu bọn chúng ta mong đợi, hy vọng, khao khát
cái nhân của Vô thượng chính giác, thì Phật ắt sẽ dùng
đại thừa mà độ thoát cho. Song do chúng ta ở trong đại
nhân (nhân đại thừa) mà chẳng sinh ra hy vọng chờ đợi,
cho nên Thế tôn chẳng dùng đại thừa mà tế độ cho.
Hoặc
là, Nhân : là chỉ cho tâm Bồ đề, có ba loại :
1.
Chán ghét lìa bỏ hữu vi.
2.
Cầu Bồ đềà.
3.
Tâm niệm sâu sắc nghĩ tới chúng sinh.
Tức
là trụ như vầy, tu hành như vầy, hàng phục tâm đó như
vầy.
*
-Kinh
văn : “Song chúng con ” tới “tư duy
thủ chứng ”.
Tán
rằng : đây là kết luận tự trách.
Song
do chẳng hiểu là Phật đã dùng phương tiện tùy nghi mà diễn
thuyết về các pháp, mới nghe đã tin đã thụ hành, tư
duy thủ chứng ngay, nên Phật chẳng dùng đại thừa mà độ
thoát cho. Do đó, đây là lỗi của chúng con.
*
-Kinh
văn : “Thế tôn” tới “khoan khoái rất được
yên ổn”.
Tán
rằng : đây là mừng nay được nghe mà hết phiền não.
*
Chữ Khắc [ 剋 ] đây nghĩa là Chuyên.
Xưa
nay tu tiểu thừa, chuyên tự trách tự hối chẳng cầu đại
thừa.
Chữ
Nghi : là nghi Bồ đề đối với bản thân mình không có phần,
chẳng sinh ra ưa thích. Hoặc lại còn cho rằng bản thân mình
đã được giải thoát không khác gì Phật. Nay nghe Phật nói
pháp mà Phật chứng được rất sâu rất khó hiểu, nhị thừa
chẳng hiểu, cho nên nghi Phật là ma.
Nay
đã nghe thuyết nhất thừa là thực, tam thừa là quyền, biết
xưa tu tiểu (thừa) là nhân của đại (thừa) bởi vậy Hối
đoạn.
Biết
rằng mình có phần Bồ đề sẽ được thành Phật. Biết
sở đắc giải thoát là Phật phương tiện, cho nên nghi cũng
đoạn, tâm khai ý giải, thân ý thảnh thơi.
Thảnh
thơi : có nghĩa là yên ổn vui vẻ. Đã không nghi hối nữa,
nên khoan khoái yên ổn. Nghi hối nếu nảy sinh sẽ thường
xuyên chẳng yên ổn, làm sao mà được thảnh thơi ?
*
Chữ Đoạn : có hai âm Đoạn và Đoán, nay lấy âm đầu, có
nghĩa là cắt đứt, dứt đứt.
Hỏi
: Nghi sinh phân biệt, nhập Kiến (đạo) liền trừ; Hối thường
hay lo, lìa dục liền xả. Tại sao Thu Tử đến nay mới trừ
được hai thứ đó ?
Đáp
: Nghi do phiền não, đến quả Dự lưu sẽ hết. Hối bạn
với phiền não, lìa dục liền trừ. Nay loại pháp chấp này
dị thục sinh nghi, như A la hán nghi loại Hắc diêm (muối đen),
nghi về sự, sinh ra ghét gọi là hối, về lý chẳng sai.
Thể
của việc sinh nghi ra ghét này là Thiện Quí (xuất phát từ
thiện tâm, mà thấy xấu hổ), vì khinh rẻ cự tuyệt các
việc bạo ác, hoặc chính là một phần của Chán, Tuệ cùng
với Vô tham, vì cũng tức là xét kỹ tâm và tâm sở, có điều
là tướng tính của Hối ắt thô động.
Lìa
dục xả : lìa dục có Hối ắt sinh ra ghét, vì vậy mà gọi
là Hối, đó là căn cứ vào quả mà đặt tên. Lẽ nào Lìa
dục rồi mà lại chẳng chán ghét ?
*
-Kinh
văn : “Ngày nay mới biết” tới “được phần
Phật pháp”.
Tán
rằng : biết là Phật tử và đạo thành.
Du
Già, quyển 84 có sáu câu, đó là :
Là
đại sư tử,
Bụng
Phật sinh ra,
Miệng
Phật sinh ra,
Phật
pháp sinh ra,
Phật
pháp hóa ra,
Được
pháp đẳng phần.
Kinh
Thắng Man nói rằng : “được của cải dư thừa của Phật”,
thì ở trong đây có bốn câu.
Du
Già nói : câu đầu là tổng cú, năm câu sau là biệt cú.
Do
bụng sinh ra : có nghĩa là đã lựa lọc loại ra hạng con dị
sinh kém cỏi. Được trí tuệ thánh, là do bụng Phật đích
thân sinh ra. Chẳng giống hạng dị sinh chỉ là con nuôi của
Phật, vì hết thảy chúng sinh đều là con Phật. Phật chẳng
đích thân sinh ra, vì chẳng phải là từ bụng sinh ra. Do Phật
pháp sinh ra, đó mới là thực sự sinh ra (chân sinh).
Thêm
nữa, hạng nhị thừa cũng giống như con nàng hầu, chứ chẳng
phải là con do vợ cả sinh ra. Cho nên kinh dưới mới nói là
: “Giống như con ta”.
Bồ
tát Sơ địa sinh ở nhà Như Lai, vì chứng pháp giới nên đó
là con do vợ sinh ra. Trước đó chẳng phải là con do vợ sinh
ra, nên gọi là “chẳng phải bụng sinh”. Nay phát đại tâm
sẽ làm Bồ tát sinh trong pháp giới, thì gọi chung là Bụng
sinh.
Miệng
Phật sinh ra : có nghĩa là Từ âm thuyết pháp mà sinh ra, Thể
là Văn tuệ, vì duyên vào Giáo mà sinh ra.
Phật
pháp sinh ra : có nghĩa là do Như lý tác ý, tùy pháp, hành pháp
mà sinh, Thể gồm hai tuệ Tư Tu, vì duyên vào Lý Giáo tùy
ứng mà sinh.
Phật
pháp hoá ra : có nghĩa là từ đường Pháp thân mà thành lập
được pháp tương tự.
Đường
pháp thân : chỉ hai nhân phúc tuệ của các Bồ tát, ta cũng
như vậy, vì từ trong hai nhân đó mà thành lập.
Pháp
thân có hai loại, vì tiểu thừa đại thừa hai nghĩa khác
nhau.
Đắc
pháp đẳng phần : có nghĩa là được thụ dụng pháp bảo,
pháp tài vô lậu, vì là pháp tương tự.
Pháp
: chỉ Pháp bảo hoặc bảy Thánh tài : Tín, Giới, Văn, Xả,
Tuệ, Tàm, Quí.
Đẳng
: có nghĩa là tương tự .
Phần
: là dư phần, phần loại.
Chư
Phật Bồ tát có khả năng dùng pháp tài, ta nay cũng thế,
cũng tương tự như họ, vì cũng được thụ dụng dư phần
Pháp bảo vô lậu.
Tùy
sự thích ứng của chúng sinh :
-
Nếu họ ở địa vị nhị thừa mà lại hướng về dị sinh,
thì đã giáo hóa cho họ một lượt nữa
-
Nếu họ thật sự là con Phật, nay làm Bồ tát mà lại hướng
về nhị thừa, thì lại giáo hóa cho họ một lượt nữa.
Ngang
với chân Phật tử : có thể giải thích đúng như Lý.
Luận
đó còn giải thích rằng : “Các câu như vậy chỉ rõ Tăng
thượng sinh viên mãn và Phụ tương tự pháp (pháp tương tự
với cha - chỉ Phật pháp mà người tu Phật chứng được
như Phật là cha của các Phật tử) sinh viên mãn”. Trong năm
câu sau, ba câu đầu chỉ rõ Tăng thượng sinh viên mãn, hai
câu sau chỉ rõ Phụ tương tự pháp sinh viên mãn.
Tăng
thượng sinh : có nghĩa là tự thể thắng sinh.
Phụ
tương tự pháp sinh : có nghĩa là nối dõi di thể của cha,
dùng gia tài của cha, tất cả đều tương tự.
Trong
Tăng thượng sinh :
-
Câu đầu loại trừ những lỗi lầm của Khí thế gian, vì
pháp từ bụng chính trí của Phật sinh ra, loại trừ các thứ
từ bào thai ác Khí thế gian sinh ra.
-
Câu thứ hai loại trừ những thứ do tinh huyết bất tịnh
sinh ra, vì pháp do miệng Phật sinh ra chẳng phải lấy tinh
huyết làm tự thể.
-
Câu thứ ba loại trừ dục tham, đó chẳng phải
là do chính pháp sinh ra, vì phàm phu do tham dục tư nhuận mà
có, chứ chẳng phải do chính pháp sinh ra.
-
Câu thứ tư chỉ rõ pháp tự thể tương tự từ đường Pháp
thân mà được thành lập, nối dõi Pháp thân, tự thể thù
thắng, được sự tôn quý ví như nối dõi chủng tính Ba la
môn.
-
Câu thứ năm nói về sự thụ dụng pháp tương tự, thụ dụng
pháp tài vô lậu của Phật, ví như người thế gian được
thụ dụng của cải của bố mẹ vậy.
Trong
kinh văn này có bốn, thiếu câu thứ hai, vì Hóa và Sinh gộp
lại làm một câu :
Xưa
trụ trong quyền thừa,
Chẳng
phải chân Phật tử.
Nay
cầu quả vị thực,
Mới
là từ bụng sinh.
Đó
là đại ý của kinh văn này.
Nhiếp
Luận nói rằng : Chẳng phải như nhị thừa là con nàng hầu
vô trí.
Lại
có nghĩa rằng : Bốn đoạn nói trên lần lượt ghép với
bốn nghĩa Khai Thị Ngộ Nhập trước (địa vị) Lĩnh giải.
Cứ
theo thứ tự mà nghiên cứu kỹ về pháp thể thì về lý chưa
hẳn đã thế.
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ Xá Lợi Phất” tới “lưới
nghi đều đã trừ”.
Tán
rằng : 25 tụng rưỡi, chia làm hai phần :
•
2 tụng rưỡi đầu là phần nêu.
•
23 tụng sau là phần giải thích.
Phần
đầu có hai :
-
1 tụng đầu trong phần nêu, ý nói được pháp vị tằng hữu,
trong tâm vui mừng và hết nghi ngờ.
-
1 tụng rưỡi sau, giải thích về việc đắc pháp vị tằng
hữu, thể hiện rõ ưu hối đã hết.
Đây
là 1 tụng của phần đầu.
Xưa
nghi ngờ bản thân không có phần được làm Phật, nay nghe
nói sẽ được làm Phật, bởi vậy hết nghi.
Nghi
làm tổn hại chúng sinh, khiến họ khó thể xuất ly, nên ví
với lưới.
*
-Kinh
văn : “Xưa nay nhờ Phật dạy” tới
“nghe cũng trừ ưu hối”.
Tán
rằng : giải thích vì được pháp vị tằng hữu, nên tỏ
rõ ưu hối đã hết.
Ý
nói : xưa nay tôi nhờ được Phật dạy. Xưa kia vì trụ ở
Tiểu, chẳng được Đại nữa, bởi vậy ưu hối. Nghe thuyết
kinh này, hôm nay mới biết là chẳng mất Đại vì những pháp
tu trước kia chính là nhân của đại thừa. Do đó mà hết
hối.
Phật
âm hiếm có, diệu dụng có thể trừ được ưu não trong phiền
não chướng của chúng sinh. Ta tuy lậu tận, nay nghe Phật âm
cũng có thể phục trừ được ưu não pháp chấp.
Ưu
: ở đây chỉ ưu phiền chẳng được làm Phật :
1)
“Ưu” tức là cái “ưu” của pháp chấp, vì ly dục mà
chẳng xả, như Tất Lan Đà Phiệt Sa có thói quen xấu là nói
lời thô ác, bởi vì pháp chấp chẳng xả. Giống với nghi
hối tùy ứng ở trên cũng thế.
2)
Thực sự là Ưu, tức là ác tác đều chán lìa, coi rẻ, xả
thụ.
Xét
danh từ Ưu, thì :
-
Hoặc là thiện ưu (sự lo âu hướng thiện) về pháp chấp
thuộc loại vô ký, lìa dục mà chẳng xả.
-
Hoặc là “Ưu” tương ứng với “Não”, “Não” tức là
ưu hối, chẳng phải là phiền não.
*
-Kinh
văn : “Ta ở trong hang núi” tới “cớ sao tự
khi mình”.
Tán
rằng : dưới là 23 tụng về phần giải thích ở trên. Chia
làm bốn :
•
2 tụng rưỡi đầu, nói về ý “vì ở Tiểu giai (thềm bậc
nhỏ - chỉ tiểu thừa) nên than thở”.
•
5 tụng rưỡi, than thở vì để mất Đại pháp (chỉ pháp
đại thừa).
•
14 tụng, tụng về nỗi vui mừng vì nay được nghe (Đại pháp)
nhờ vậy mà não tận.
•
1 tụng cuối, nói về ý biết là Phật tử sẽ thành đạo.
Trước
sau khác với trường hàng ở trên, cho nên trong phần đầu
có hai :
-
1 tụng rưỡi đầu, than vì ở Tiểu vị.
-
1 tụng sau, tụng về sự than thở.
Đây
là phần đầu.
Ô
hô : là thán từ, chỉ sự than thở : “Cớ sao lại tự khi”.
Khi
: có nghĩa là khinh. Khinh khi bản thân mình tiểu trí, trụ
chứng ở Tiểu (thừa) chẳng cầu Đại vị, cho rằng mình
không có phần, như thế gọi là tự khinh khi.
*
-Kinh
văn : “Chúng ta cũng Phật tử” tới “diễn thuyết
Đạo vô thượng ”.
Tán
rằng : 1 tụng này, tụng về sự than thở.
Vô
lậu pháp : là pháp tính chân như.
Nhập
: có nghĩa là chứng.
Về
lý tuy cùng chứng, cùng được gọi là Phật tử nhưng không
có trí để có thể sau này sẽ thành Phật vì đại chúng
mà diễn thuyết chính đạo nhất thừa.
*
-Kinh
văn : “Kim sắc, ba mươi hai” tới “mà chẳng
được sự này”.
Tán
rằng : dưới là 5 tụng rưỡi, than thở vì bỏ mất
Đại pháp.
Trong
đó chia làm hai phần :
•
3 tụng rưỡi đầu, nói về Đại pháp bị bỏ mất.
•
2 tụng rưỡi sau, nói rõ cái ý bản thân phải than thở.
Trong
phần đầu lại có hai phần :
-
2 tụng đầu, nói về Nội ngoại trang nghiêm đức.
-
1 tụng rưỡi sau, nói về Danh lợi cao quảng đức.
Trong
phần đầu này lại chia làm hai :
+
1 tụng đầu, nói về đức cụ tướng hàng ma.
+
1 tụng sau, nói về đức mãn hảo bất cộng.
Đây
là 1 tụng của phần đầu.
“Màu
vàng ròng ba mươi hai”: vì thân Phật màu vàng ròng có 32
tướng đẹp.
Theo
Kinh Đại Bát Nhã, quyển 381 : “Phật bảo Thiện Hiện rằng
: Này Thiện Hiện ! Ba mươi hai tướng của Như Lai là như
thế nào ?
Này
Thiện Hiện !
Một
là dưới chân Thế tôn có tướng bằng phẳng đầy đặn,
diệu thiện an trụ giống như đáy hộp đựng đồ trang sức
của nữ, mặt đất dù cao thấp lồi lõm thế nào, chỗ nào
chân ngài đặt lên cũng thảy đều cảm thấy bằng phẳng
như nhau.
Hai
là dưới chân Thế tôn có vân hình vành bánh xe có ngàn nan
hoa; các hình vành, trục thảy đều viên mãn.
Ba
là tay chân Thế tôn thảy đều mềm mại, như bông Đổ La
hơn hẳn mọi thứ mềm mại.
Bốn
là giữa các ngón tay ngón chân của Thế tôn thảy đều có
màng nối giống như chân chim nhạn chúa, có màu vàng ròng
hoa văn giao nhau giống như tranh lụa.
Năm
là tất cả các ngón chân ngón tay Thế tôn đều tròn đầy
thon dài rất đáng ưa thích.
Sáu
là gót chân Thế tôn rộng dài tròn đầy, tương xứng với
mu bàn chân, hơn hẳn các loài hữu tình khác.
Bảy
là mu bàn chân Thế tôn dài cao đầy đặn mềm mại đẹp
đẽ tương xứng với gót chân.
Tám
là hai bắp chân Thế tôn dần dần thon lại giống như bắp
chân chúa loài hươu tiên Ế Nê Da.
Chín
là hai cánh tay Thế tôn dài thẳng tròn lẳn giống như vòi
voi chúa, duỗi thẳng thì dài chạm đầu gối.
Mười
là âm tướng Thế tôn thế cứng giấu kín, giống như ngựa
rồng, cũng như voi chúa.
Mười
một là mỗi lỗ chân lông của Thế tôn mọc một lông mềm
mại xanh mướt loăn xoăn theo chiều tay phải.
Mười
hai là Tóc Thế tôn đều đầu chỉa lên trên, xoăn tít theo
chiều tay phải, uyển chuyển mềm mại xanh mướt, trang sức
cho thân màu vàng ròng, rất đáng ưa thích.
Mười
ba là Thế tôn da dẻ mịn màng mượt ma,ø bụi nước v.v…
thảy đều chẳng bám.
Mười
bốn là da thân Thế tôn đều màu vàng ròng bóng sạch, ánh
lên như đài vàng đẹp được trang sức bằng các thứ báu,
được đại chúng ưa nhìn.
Mười
lăm là Thế tôn lòng hai chân, lòng hai bàn tay cùng cổ và
hai vai, cả bảy chỗ ấy đều đầy đặn.
Mười
sáu là vai, cổ Thế tôn tròn đầy, đẹp đẽ.
Mười
bảy là nách của Thế tôn đều đầy đặn chắc nịch.
Mười
tám là Thế tôn dung nghi to lớn đẫy đà, ngay ngắn.
Mười
chín là Thế tôn thân tướng cao to, đoan nghiêm.
Hai
mươi là Thế tôn thể tướng ngang dọc bằng nhau chu vi tròn
đầy như cây Nặc Cù Đà.
Hai
mươi mốt là Thế tôn hàm, ức cùng nửa thân trên uy dung
quảng đại như Sư tử chúa.
Hai
mươi hai là Thế tôn mặt thường tỏa ánh hào quang, vòng
hào quang ấy rộng tới một tầm.
Hai
mươi ba là Thế tôn tướng răng tới bốn mươi chiếc đều
đặn bằng bặn, sạch khít, chân sâu trắng hơn tuyết, ngọc.
Hai
mươi bốn là chiếc răng nanh của Thế tôn trắng muốt, sắc
nhọn.
Hai
mươi lăm là Thế tôn thường được vị ngon nhất, vì hầu
mạch thẳng có thể dẫn được tất cả các vị ngon nhất
của mạch các chi tiết trong thân; gió, nóng, bệnh vặt chẳng
thể tạp nhiễu; vì chẳng tạp nhiễu nên mạch tránh được
các chứng phù trầm, nhanh chậm, hoại tổn, úng tắc; có thể
nuốt ngay nước bọt, các dịch lưu thông, khiến cho thân tâm
vui vẻ thoải mái, thường được thượng vị.
Hai
mươi sáu là Thế tôn tướng lưỡi mỏng sạch rộng dài,
có thể che kín cả mặt tới tận rìa tóc cạnh tai.
Hai
mươi bảy là Thế tôn từ vận hòa nhã, tùy chúng nhiều ít,
đều nghe như nhau. Âm thanh của Ngài to vang giống như trống
trời, phát ngôn uyển chuyển như tiếng chim Tần Ca.
Hai
mươi tám là Thế tôn lông mi giống hệt ngưu vương, xanh mướt
ngay ngắn, chẳng lẫn vào nhau.
Hai
mươi chín là con mắt Thế tôn lòng đen đen láy, lòng trắng
tắng tinh, vòng đỏ ngăn cách sáng sạch phân minh.
Ba
mươi là Thế tôn khuôn mặt tròn như trăng tròn, tướng lông
mày sáng sạch như chiếc cung của Thiên đế.
Ba
mươi mốt là Thế tôn ở giữa lông mày có tướng bạch hào,
xoắn theo chiều tay phải mềm mại như bông Đổ La, trắng
toát sáng sạch tựa như tuyết như ngọc kha v.v…
Ba
mươi hai là bướu Ô Sắt Nhị Sa trên đỉnh đầu Thế tôn
cao rõ tròn xoe giống như lọng trời.
Này
Thiện Hiện ! Đó là ba mươi hai tướng của bậc đại sĩ
” .
Cứ
theo kinh văn này thì có bài tụng thuyết chung rằng :
Bằng,
nan, mềm, màng, thon.
Gót,
bàn, bắp, cánh, kín.
Lông
chĩa lên mượt mà.
Da,
vàng, bảy, vai đầy.
Dáng
tay dài to bằng.
Ánh
sư tử, đủ răng.
Nanh,
vị, lưỡi, âm, mi.
Mắt,
mặt, hào tướng, lọng.
Nếu
theo Du Già thì khác với ở đây.
Trong
Du Già còn thuyết về nhân nghiệp, sợ rườm nên thôi. Cứ
như bộ ấy thì phải nói là :
Bằng,
nan, thon, gót nhỏ.
Màng
ngón, tay chẳng khoèo.
Thế,thân,
sáng, chĩa lên.
Sinh
vàng, láng, bảy chỗ.
Sư
tử, vai đầy thẳng.
Đủ
răng, không kẽ, tươi.
Hàm
rộng, vị, thanh, xanh.
Ngưu
vương, đỉnh, hào tướng.
Bài
tổng tụng này lấy y xứ bốn căn Nhãn, Nhĩ, Thân, Nam và
Thiệt căn làm Thể.
“Thập
lực giải thoát”: đã giải như trên.
Thu
Tử tự than :
“Cùng
chung trong một pháp
Mà
chẳng được sự này”.
*
-Kinh
văn : “Tám mươi thứ diệu hảo” tới “mà
ta đều đã mất”.
Tán
rằng : đó là “Hảo mãn bất cọâng đức”.
“Tám
mươi thứ diệu hảo” : Kinh Bát Nhã nói : “Thiện Hiện
hỏi rằng : Tám mươi tùy hảo của Như Lai Ứng chính Đẳng
giác là gì ?
Này
Thiện Hiện !
Một
là móng tay Thế tôn hẹp dài mỏng mượt sáng bóng tươi tắn
như hoa đồng đỏ.
Hai
là chân tay Thế tôn ngón tròn, thon, dài, đều, thẳng, mềm
mại, khớp xương chẳng lộ.
Ba
là Thế tôn chân tay thảy đều bằng bặn, ở giữa các ngón
thảy đều đầy khít.
Bốn
là Thế tôn chân tay tròn đầy như ý, mềm mại bóng mượt,
sắc như hoa sen.
Năm
là Thế tôn gân mạch quấn quít rắn chắc, sâu kín chẳng
lộ.
Sáu
là Thế tôn hai mắt cá chân đều kín, chẳng lộ.
Bảy
là Thế tôn bước đi thẳng tiến đĩnh đạc như Long tượng
vương (rồng-voi chúa).
Tám
là Thế tôn bước đi uy dung oai vệ như Sư tử vương.
Chín
là Thế tôn bước đi khoan thai đĩnh đạc chẳng quá, chẳng
giảm giống như Ngưu vương.
Mười
là Thế tôn bước đi tiến dừng nhã nhặn giống như Nga vương
(ngỗng chúa).
Mười
một là Thế tôn khi ngoảnh lại ắt đều quay theo chiều tay
phải như Long tượng vương, cả người chuyển theo.
Mười
hai là Thế tôn chi tiết tròn trịa đều đặn thon thả dần
dần, bố trí đẹp khéo.
Mười
ba là các khớp xương của Thế tôn giao kết không hở giống
như rồng cuộn.
Mười
bốn là Thế tôn đầu gối bố trí đẹp khéo, bền chắc,
tròn đầy.
Mười
lăm là chỗ kín của Thế tôn có vân đẹp đẽ, uy thế đầy
đủ, viên mãn thanh tịnh.
Mười
sáu là Thế tôn thân chi mượt mà, mềm mại, bóng bẩy, tươi
sạch, bụi ghét chẳng bám.
Mười
bảy là Thế tôn thân dung đôn hậu trang nghiêm không sợ,
thường chẳng khiếp nhược.
Mười
tám là Thế tôn thân chi kiên cố trù mật, khéo gắn với
nhau.
Mười
chín là Thế tôn thân chi yên định, đôn trọng, không hề
lắc lư, tròn đầy không hoại.
Hai
mươi là Thế tôn thân tướng giống như vua tiên, vòng quanh
đoan nghiêm, sáng sạch lìa bóng mờ.
Hai
mươi mốt là Thế tôn thân có hào quang bao quanh, khi đi v.v…
luôn tự tỏa sáng.
Hai
mươi hai là Thế tôn bụng hình vuông vức ngay ngắn, không
có khiếm khuyết, nhu nhuyễn chẳng lộ, mọi tướng trang nghiêm.
Hai
mươi ba là Thế tôn rốn sâu, xoáy theo chiều tay phải, tròn
đẹp, thanh tịnh, sáng bóng.
Hai
mươi bốn là Thế tôn rốn dày chẳng lõm chẳng lồi, xung
quanh đẹp đẽ.
Hai
mươi lăm là Thế tôn da dẻ xa lìa ghẻ lở cũng không có
các tật như đốm đồi mồi, u bướu v.v…
Hai
mươi sáu là Thế tôn bàn tay đầy đặn mềm mại, bàn chân
bằng phẳng vững chãi.
Hai
mươi bảy là vân tay Thế tôn sâu dài sáng thẳng bóng mượt,
chẳng đứt.
Hai
mươi tám là Thế tôn môi đỏ như son, sáng bóng ánh lên lên
như quả Tần Bà, môi trên môi dưới cân xứng với nhau.
Hai
mươi chín là Thế tôn diện môn (mặt) chẳng dài chẳng ngắn,
chẳng to chẳng nhỏ, đoan nghiêm đúng cỡ.
Ba
mươi là Thế tôn thiệt tướng (tướng lưỡi) mềm mỏng,
rộng dài, màu như đồng đỏ.
Ba
mươi mốt là Thế tôn phát ra âm thanh oai vang sâu xa như voi
chúa gầm, rõ ràng trong trẻo.
Ba
mươi hai là Thế tôn âm vận mỹ diệu đầy đủ như tiếng
vang trong hang sâu.
Ba
mươi ba là Thế tôn mũi cao dài mà lại thẳng, lỗ mũi chẳng
hởä.
Ba
mươi tư là Thế tôn các răng bằng bặn, trắng muốt.
Ba
mươi lăm là các răng nanh của Thế tôn đều tròn trắng sáng
sạch, nhọn sắc dần dần.
Ba
mươi sáu là mắt Thế tôn thanh tịnh, đen trắng rõ ràng.
Ba
mươi bảy là mắt Thế tôn dài rộng ví như hoa sen xanh, rất
đáng ưa thích.
Ba
mươi tám là Thế tôn lông mi trên dưới tề chỉnh dày dặn,
chẳng trắng.
Ba
mươi chín là Thế tôn có đôi lông mày dài mà chẳng trắng,
dày mà mịn màng.
Bốn
mươi là Thế tôn có đôi lông mày đẹp đẽ suôn sẻ, xanh
mướt như màu lưu ly.
Bốn
mươi mốt là đôi lông mày Thế tôn cao nổi sáng mượt, hình
giống như vành trăng đầu tháng.
Bốn
mươi hai là Thế tôn tai dày rộng to dài, vành tai, dái tai
đều thành tựu.
Bốn
mươi ba là hai tai Thế tôn đẹp đẽ bằng bặn, không có
một khuyết tật gì.
Bốn
mươi tư là dung nghi Thế tôn có thể khiến người nhìn thấy
không tổn, không nhiễm, đều sinh ra yêu kính.
Bốn
mươi lăm là trán Thế tôn rộng, viên mãn, bằng bặn, hình
tướng rất đẹp.
Bốn
mươi sáu là thân phần Thế tôn nửa trên viên mãn như Sư
tử vương, oai nghiêm vô địch.
Bốn
mươi bảy là Thế tôn tóc dài xanh mướt, dày dặn, chẳng
bạc.
Bốn
mươi tám là Thế tôn tóc thơm sạch, mềm mịn, mượt mà,
xoắn tít.
Bốn
mươi chín là tóc Thế tôn tề chỉnh, chẳng rối, cũng chẳng
giao tạp.
Năm
mươi là tóc Thế tôn bền chắc chẳng đứt, chẳng bao giờ
rụng.
Năm
mươi mốt là tóc Thế tôn bóng mượt rất đẹp, bụi bặm
chẳng bám.
Năm
mươi hai là Thế tôn thân phần rắn chắc đầy đặn hơn
cả Na La Diên.
Năm
mươi ba là Thế tôn thân thể cao to, đoan trực.
Năm
mươi tư là Thế tôn các lỗ (lỗ tai, lỗ mũi v.v…) đều
thanh tịnh, tròn đẹp.
Năm
mươi lăm là Thế tôn thân chi thế lực thù thắng, không ai
bằng được.
Năm
mươi sáu là Thế tôn thân tướng ai cũng thích nhìn, ngắm
mãi không chán.
Năm
mươi bảy là Thế tôn có khuôn mặt ngang dọc vừa khéo, sáng
sủa, thanh khiết giống như trăng rằm.
Năm
mươi tám là Thế tôn dung nhan tướng mạo thư thái sáng, nổi,
tươi cười ngay trước khi nói năng, chỉ hướng về phía
trước, chẳng ngoái lại sau.
Năm
mươi chín là Thế tôn diện mạo sáng sủa, tươi vui, không
bao giờ xanh, đỏ, cau có.
Sáu
mươi là Thế tôn thân chi thanh tịnh không có cáu ghét, luôn
luôn không hề có mùi hôi hám.
Sáu
mươi mốt là trong tất cả các lỗ chân lông của Thế tôn
luôn tỏa ra mùi thơm vi diệu như ý.
Sáu
mươi hai là diện môn Thế tôn thường xuyên tỏa ra mùi thơm
thù thắng.
Sáu
mươi ba là tướng đầu Thế tôn tròn trịa, đẹp đẽ giống
quả Mạt Đạt Na, cũng giống như lọng trời.
Sáu
mươi tư là lông trên thân Thế tôn xanh mướt, sáng sạch
như cổ chim công, đỏ ánh điểm tô màu như đồng đỏ.
Sáu
mươi lăm là Thế tôn pháp âm tùy chúng lớn nhỏ chẳng tăng
chẳng giảm, theo lý không sai.
Sáu
mươi sáu là Thế tôn đỉnh tướng không ai có thể nhìn thấy
được.
Sáu
mươi bảy là chân tay Thế tôn đốt ngón rõ ràng, trang nghiêm
diệu hảo như màu đồng đỏ.
Sáu
mươi tám là Thế tôn khi đi chân cách mặt đất chừng bốn
ngón tay đã hiện dấu chân.
Sáu
mươi chín là Thế tôn tự mình giữ gìn, chẳng cần người
khác bảo vệ, thân không xiêu vẹo cũng chẳng õng ẹo.
Bảy
mươi là Thế tôn uy đức vang xa, mọi kẻ ác tâm nhìn thấy
cũng đều mừng, mọi kẻ sợ hãi nhìn thấy cũng đều yên.
Bảy
mươi mốt là Thế tôn âm thanh chẳng cao chẳng thấp, theo
ý chúng sinh, vui vẻ hòa nhã mà nói với họ.
Bảy
mươi hai là Thế tôn có thể lựa theo ngôn ngữ âm thanh, tâm
ý ưa muốn của các loài hữu tình mà thuyết pháp cho họ.
Bảy
mươi ba là Thế tôn (chỉ dùng) một âm diễn thuyết chính
pháp mà các loài hữu tình thảy đều hiểu được cả.
Bảy
mươi tư là Thế tôn thuyết pháp đều theo thứ tự, ắt có
nhân duyên, nói gì cũng hay.
Bảy
mươi lăm là Thế tôn coi các loài hữu tình bình đẳng
như nhau, khen thiện chê ác, mà không yêu ghét.
Bảy
mươi sáu là Thế tôn làm việc thì xem trước làm sau, mẫu
mực đầy đủ, khiến Thức hoàn thiện thanh tịnh.
Bảy
mươi bảy là tướng hảo của Thế tôn, hết thảy hữu tình
không ai có thể xem hết được.
Bảy
mươi tám là xương đỉnh đầu Thế tôn rắn chắc tròn đầy.
Bảy
mươi chín là Thế tôn dung nhan luôn luôn trẻ trung chẳng già,
ưa chơi chốn cũ.
Tám
mươi là chân tay và trước ngực ức Thế tôn đều có đức
tướng xoáy vân cát tường .
Này
Thiện Hiện ! Vì Như Lai Ứng chính Đẳng giác thành tựu
các tướng hảo như vậy, nên thân quang của ngài tha hồ vận
dụng có thể chiếu dọi tam thiên đại thiên thế giới, không
đâu không khắp. Nếu như khi ngài cố ý thì có thể chiếu
khắp vô lượng vô biên vô số thế giới. Song vì ngài thương
xót các hữu tình nên thu ánh quang minh lại, diện thường
chiếu chỉ mỗi chiều một tầm.
Nếu
ngài tung thân quang ra, thì tất cả mọi thứ ánh sáng của
mặt trăng mặt trời v.v… đều thường chẳng hiện, các
loài hữu tình sẽ chẳng còn có thể biết được số ngày,
đêm, nửa tháng, tháng, mùa, năm, sự nghiệp tiến hành sẽ
chẳng thể thành được.
Tiếng
Phật tha hồ vận dụng có thể vang khắp tam thiên đại thiên
thế giới. Nếu là khi cố ý thì có thể vang khắp vô lượng
vô biên vô số thế giới. Song để đem lại lợi lạc cho
các hữu tình, nên tiếng ngài tùy lượng chúng sinh mà chẳng
giảm chẳng tăng.
Này
Thiện Hiện ! Công đức thắng lợi như vậy, trước kia khi
ta còn ở ngôi Bồ tát tu hành Bát Nhã Ba La Mật Đa, ta đã
có thể hoàn thành xong xuôi cả rồi, nên ngày nay tướng hảo
viên mãn trang nghiêm. Hết thảy hữu tình nếu thấy mà tán
thán hoan hỉ, thì đều được lợi ích an lạc thù thắng
!
Như
vậy thì - Này Thiện Hiện ! Bồ tát Ma ha tát khi tu hành thật
sâu Bát Nhã Ba La Mật Đa sẽ có thể dùng hai loại bố thí,
đó là Tài thí và Pháp thí để nhiếp phục các hữu tình.
Đây là pháp rất kỳ lạ, hy hữu”.
Ba
mươi hai tướng do thực hành Năm tu mà có :
1.
Phát tâm.
2.
Lâu dài.
3.
Không gián đoạn.
4.
Ân trọng (thiết tha trang trọng).
5.
Không có thứ gì khác cảm được.
Như
Du Già luận quyển 37 nói.
Mười
tám Bất cộng pháp :
Phân
biệt bằng năm môn :
1.
Danh.
2. Thể.
3.
Hành tướng. 4. Sai biệt.
5. Các môn.
1.
Về Danh thì :
1)
Thân không lầm lỗi.
2)
Không có ngôn âm khinh suất thô bạo.
3)
Không có chủng chủng tưởng.
4)
Không có tâm bất định.
5)
Không có niệm vong thất.
6)
Không bất trạch xả.
7)
Dục không giảm.
8)
Niệm không giảm.
9)
Tinh tiến không giảm.
10)
Định không giảm.
11)
Tuệ không giảm.
12)
Giải thoát không giảm.
13)
Thân nghiệp tùy trí tuệ hành.
14)
Ngữ nghiệp tùy trí tuệ hành.
15)
Ý nghiệp tùy trí tuệ hành.
16)
Biết đời quá khứ, không chấp trước không trở ngại.
17)
Biết đời vị lai, không chấp trước không trở ngại.
18)
Biết đời hiện tại, không chấp trước không trở ngại.
2.
Về Thể thì :
Lấy
tám pháp gộp lại làm thể, đó là : Tư, Tưởng, Dục, Thắng
giải, Niệm, Định, Tuệ, Cần.
Nói
rộng ra thì như sự giải thích trong quyển thứ hai của Vô
Cấu Xưng sớ : “thứ mà nhị thừa không có, đó gọi là
Bất cộng pháp”.
3.
Hành tướng.
4.
Sai biệt .
5.
Các môn.
Ba
môn còn lại trên đây, lược qua, không nói đến.
“
Các công đức như thế
Mà
ta đều đã mất”.
Luận
nói rằng : hai câu kệ trên là thị hiện nghĩa gì ?
Xá
Lợi Phất tự quở trách mình : “Ta chẳng thấy chư Phật,
chẳng đến chỗ Phật nghe pháp, chẳng cúng dàng cung kính
chư Phật, không làm được sự gì lợi ích cho chúng sinh,
chưa được pháp đã lùi”.
Vậy
nên Xá Lợi Phất tự quở trách bản thân. Trên tự giải
thích cái ý tự quở trách; dưới là luận tự nhắc lại
về ý tự trách và bàn về tụng văn trong kinh. Hai thứ đó
tham bán với nhau mà giải thích; gồm có 8 câu. Trong đó năm
câu giải lời tự trách. Còn ba câu khác giải nghĩa kinh tụng.
Chẳng
thấy : có nghĩa là vì chẳng thấy tướng đại nhân của
chư Phật Như Lai, sinh tâm cung kính cúng dàng, nên tự trách
mình không tu đại nhân (tức nhân đại thừa), nên chẳng
thấy được tướng của chư Phật, cung kính cúng dàng.
Chẳng
tới : thị hiện lực giáo hoá chúng sinh, tỏ rõ Phật có
khả năng giáo hoá chúng sinh mà ta chẳng tới chỗ Phật.
Hai
câu trên giải thích lời tự trách.
Ánh
quang minh màu vàng ròng : có nghĩa là thấy Phật tự thân,
dị thân đều được vô lượng công đức, ở đây giải
thích từ “Kim sắc” (màu vàng ròng) trong kinh. Do thấy
Phật mà tự thân ta được vô lượng công đức quả ở dị
thân.
Nghe
(pháp) : thì có thể làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh.
Đây giải thích lời tự trách chẳng nghe. Bởi vì nếu nghe,
thì có thể làm được việc lợi sinh.
Lực
: chỉ chúng sinh nếu có điều nghi hoặc thì dựa vào mười
lực mà đoạn nghi. Đây giải thích mười lực nói ở trong
kinh.
Cúng
dàng : thị hiện có khả năng giáo hóa chúng sinh. Đây giải
thích lời tự trách chẳng cúng dàng Phật. Phật có khả năng
giáo hoá được chúng sinh, ta lẽ ra phải cúng dàng, xưa kia
cớ sao chẳng cúng dàng.
Mười
tám pháp Bất cộng : lìa xa các chướng ngại. Đây giải thích
nghĩa của mười tám pháp Bất cọâng trong tụng.
Cung
kính : thì sinh vô lượng phúc đức, vì y theo lời dạy của
Như Lai thì được giải thoát, vì chứng được nhân pháp
vô ngã, các pháp bình đẳng.
Đây
giải thích lời tự trách chẳng cung kính. Nếu cung kính thì
sẽ sinh vô lượng phúc, chứng được bình đẳng.
Vì
vậy nên tự trách rằng : ta từ trước tới nay chưa
được pháp này, ở ngay nơi pháp này mà sinh thoái tâm. Đó
gọi là mất đại pháp nên phải than thở.
Không
giải thích như vậy thì luận cực kỳ khó hiểu.
*
-Kinh
văn : “Lúc ta kinh hành riêng” tới “chính
ta tự khinh mình ”.
Tán
rằng : đó là Danh lợi cao quảng đức vậy.
Tự
khinh khi coi rẻ mình, nên thường tự mình suy nghĩ là đã
để mất đức này của Phật, vì vậy chẳng dám cầu đại
(thừa). Tự lừa dối mình, nên được tiểu (thừa) đã cho
là đủ.
*
-Kinh
văn : “Ta thường mỗi ngày đêm” tới
“suy tính sự như thế”.
Tán
rằng : đó là thuyết minh về cái ý tự mình than thở.
Tụng
đầu muốn hỏi Phật liệu có nên để mất đại thừa hay
không ? Tụng sau giải thích mối nghi. Đó là vì thường thấy
Phật chỉ khen Bồ tát mà chẳng khen ta, bởi vậy sinh nghi
mà suy tính sự này.
*
-Kinh
văn : “Nay nghe tiếng của Phật” tới
“khiến chúng tới đạo tràng”.
Tán
rằng : dưới là 14 tụng, tụng về niềm vui mừng vì nay được
nghe nên hết não.
Trong
đó chia làm hai phần :
•
12 tụng rưỡi đầu, tụng về sự đoạn trừ nghi hối.
•
1 tụng rưỡi cuối, tụng về ý khoái được yên ổn.
Trong
phần đầu lại chia làm hai :
-
5 tụng đầu nói về Hối xưa đã đoạn trừ.
-
7 tụng rưỡi sau nói về mối ngờ ngày nay đã đoạn diệt.
Trong
phần đầu này lại chia làm hai :
+
1 tụng đầu nêu nguyên do khiến Hối bị đoạn trừ.
+
4 tụng sau chính thức thuyết minh Hối trừ.
Đây
là phần đầu.
Do
nghe tiếng Phật tùy nghi thuyết pháp, ý thú khó biết, vô
lậu khó suy, những điều sở đắc khó giải, khiến nhị
thừa chúng bỏ giáo pháp tùy nghi mà tới chỗ Phật để được
thâm pháp ở đạo tràng.
Đã
khiến Hối bị đoạn trừ nên gọi là Vô lậu.
*
-Kinh
văn : “Ta vốn chấp tà kiến” tới “đắc chứng
ở Không pháp”.
Tán
rằng : 4 tụng dưới là nói về việc trừ hối. Trong
đó chia làm hai :
•
1 tụng rưỡi đầu, kể về việc xưa kia bỏ tà mà theo chính.
•
2 tụng rưỡi sau, kể về việc nay biết tiểu (thừa) là để
hướng tới đại (thừa).
Đây
là phần đầu.
Bản
sự : người ngoại đạo (tên là) San Đồ Da có một trăm
môn đồ, sau quy y Phật xuất gia, chứng lý nhân không, đắc
quả A la hán, xưng là Phạm Chí Sư, gọi là Bạt tà đắc
chứng Không pháp (trừ tà, được chứng pháp Không).
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ tâm tự nghĩ” tới “chẳng phải
thực diệt độ”.
Tán
rằng : dưới là 2 tụng rưỡi, kể về việc nay biết tiểu
(thừa) là để hướng tới đại (thừa). Trong chia làm
hai :
•
1 tụng đầu : biết rõ tiểu (thừa).
•
1 tụng rưỡi sau : biết chân đại (thừa).
Đây
là phần đầu : xưa kia chẳng biết, cho là thực sự diệt
độ.
*
-Kinh
văn : “Nếu lúc được thành Phật” tới “diệt
hết hẳn, không dư”.
Tán
rằng : biết đại (thừa) là chân diệt.
Lúc
được thành Phật, trong thì đầy đủ các tướng hảo, ngoài
thì được chúng sinh quy kính, mới là hết hẳn hai loại sinh
tử, không còn hữu lậu. Cho nên biết đại thừa là chân
diệt.
*
-Kinh
văn : “Phật ở trong đại chúng” tới “nghi hối
thảy đã trừ ”.
Tán
rằng : dưới đây là 7 tụng rưỡi, nói về nay mối nghi đã
diệt. Chia làm hai :
•
1 tụng đầu là kết luận : Hối xưa đã hết, đây là nguyên
do trừ được mối nghi sau này.
•
6 tụng rưỡi cuối, chính thức giải thích về việc mối
nghi đã trừ.
Đây
là phần đầu.
*
-Kinh
văn : “Mới nghe điều Phật thuyết ” tới “não
loạn tâm ta chăng ? ”.
Tán
rằng : dưới đây là 6 tụng rưỡi, chính thức giải thích
về mối nghi đã trừ.
Chia
làm hai :
•
1 tụng đầu, kể về nguyên do sinh nghi.
•
5 tụng rưỡi sau, chính thức giải thích về nghi bị diệt.
Đây
là phần đầu.
Phật
xưa thuyết ba thừa, ta đã được cả rồi. Nay thuyết nhất
thừa, trái với thuyết cũ, nói rằng điều ta đã được
chẳng phải là Chân quả diệt. Cho nên trong lòng kinh hãi,
cho Phật là ma, não loạn tâm ta.
Đây
là nghi về sự, gọi là Dị thục sinh, chẳng nghi về lý,
nên chẳng phải là phiền não.
Hoặc
Ưu nghi trên đều là thị hiện, chứ chẳng phải là Thu Tử
vẫn còn có Ưu nghi.
*
-Kinh
văn : “Phật dùng đủ thứ duyên” tới “ta nghe,
lưới nghi dứt ”.
Tán
rằng : dưới là 5 tụng rưỡi, giải thích về Nghi bị diệt.
Trong đó có bốn :
-
1 tụng, nói rõ lời Phật khéo, khiến tâm được yên, bởi
vậy dứt nghi.
-
2 tụng, nói rõ ba đời Phật cùng thuyết phương tiện, bởi
vậy dứt nghi.
-
1 tụng, giải thích Phật thuyết giống nhau, bởi vậy dứt
nghi.
-
1 tụng rưỡi, biết Phật với ma, đạo tích khác nhau, bởi
vậy dứt nghi.
Đây
là phần đầu.
Phật
thuyết có hai : 1) Pháp thuyết.
2)
Dụ thuyết.
Các
loại duyên : là thuyết về đạo lý.
Các
loại dụ : là thuyết bằng cách ví von.
Ngoài
thì thể hiện hai cách thuyết pháp bằng ngôn ngữ khéo léo
này, trong thì tâm yên ổn kiên cố như biển chẳng động,
bởi vì đã đoạn được nghi.
Ngôn
từ chẳng khéo thì Lý và Dụ sẽ trái với tông chỉ. Tâm
có sự dao động thì trí sẽ mê mờ về chân cảnh. Trong ngoài
bị trở ngại thì nghi sẽ khó diệt.
Nay
thì chẳng thế, bởi vậy hết nghi.
*
-Kinh
văn : “Phật thuyết đời quá khứ ” tới “diễn
thuyết Pháp như vầy”.
Tán
rằng : ở đây nói rõ ba đời chư Phật cùng thuyết phương
tiện, bởi vậy mối nghi được đoạn trừ.
Tụng
đầu nói về đời quá khứ, tụng sau nói về hai đời vị
lai và hiện tại. Đầu đều là phương tiện, sau mới là
chân thực. Tức là nói về cái ý ba đời Phật đều giống
nhau ở trong phẩm trước. Nghe thuyết về đạo trái ngược
nhau, nên mới nảy sinh nghi ngờ. Nay nghe các thánh cùng
một khuôn mẫu, nên mối nghi mới diệt.
*
-Kinh
văn : “Như Thế tôn ngày nay” tới “cũng dùng
phương tiện thuyết”.
Tán
rằng : đây là giải thích Phật thuyết giống nhau, bởi vậy
mối nghi được đoạn trừ.
-
Từ lúc sinh tới lúc xuất gia : đó là Thân phương tiện.
-
Đắc đạo : đó là Ýù phương tiện.
-
Chuyển pháp luân : đó là Ngữ phương tiện.
Thoạt
đầu thuyết tam thừa giống sự giáo hóa của chư Phật ba
đời, nên nói rằng : cũng dùng phương tiện mà thuyết pháp.
Ba
nghiệp trái ngược, thì có thể khiến nảy sinh nghi ngờ.
Sắc tâm thuận nhau, bởi vậy nghi bị đoạn trừ.
Thêm
nữa, đầu cuối thuyết trái ngược nhau, mới nảy sinh
nghi ngờ. Trước sau ngôn ngữ thuận lý, thì mối nghi mới
diệt.
*
-Kinh
văn : “Thế tôn thuyết thực đạo” tới
“gọi đó là ma làm”.
Tán
rằng : biết Phật với ma, đạo tích khác nhau, bởi vậy nghi
đoạn.
Ma
thuyết trái với chân lý, bởi vậy nghi ngờ khởi lên.
Lời
Phật phù hợp diệu pháp, bởi vậy nghi diệt.
*
-Kinh
văn : “Nghe tiếng Phật êm dịu” tới “an trụ
trong thực trí ”.
Tán
rằng : trong 14 tụng nói về sự vui mừng vì nay được nghe
pháp cho nên não hết.
Trong
đó chia làm hai :
-
Trên là 12 tụng rưỡi, nói về việc đoạn trừ nghi hối
đã xong.
-
Đây là 1 tụng rưỡi, nói về việc sắp được yên ổn.
Từ
bi tiếp dẫn, nên phát ra âm nhu nhuyễn. Như sấm vang
rền, để thuyết về đạo lý huyền diệu, nên gọi là sâu
xa. Trong trẻo như tiếng chim Ca Lăng cực kỳ đáng yêu, nên
gọi là diễn xướng thanh tịnh pháp.
Xướng
: có nghĩa là xa, là tỏ.
Tâm
đã cả mừng, thì nghi hối trừ hẳn. Bỏ