QUYỂN
THỨ TƯ (PHẦN SAU)
Sa
môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn.
-Kinh
văn : “Tất cả các Thế tôn” tới “chỉ nhất không nhị
thừa”.
Tán
rằng : dưới là đoạn thứ năm gồm 70 tụng rưỡi, tụng
về Y pháp, đó là mục thứ năm, có ba phần :
-
1 tụng rưỡi, tụng về mười phương Phật pháp.
-
38 tụng rưỡi, tụng về ba đời Phật pháp.
-
30 tụng rưỡi, tụng về ta cũng như vậy.
Đây
là phần đầu : đã chỉ có nhất thừa, không có nhị thừa
thì làm sao mà phá tam để quy nhất nữa !
*
-Kinh
văn : “Quá khứ vô số kiếp” tới “số ấy
chẳng thể lường”.
Tán
rằng : dưới là 38 tụng rưỡi, tụng về ba đời, trong chia
làm ba :
-
27 tụng rưỡi, tụng về quá khứ.
-
6 tụng rưỡi, tụng về vị lai.
-
4 tụng rưỡi, tụng về hiện tại.
Trong
phần đầu lại có hai :
a)
4 tụng rưỡi đầu tụng về Phật thuyết pháp, trước quyền
sau thực.
b)
23 tụng sau, tụng về chúng sinh nghe pháp, cứu cánh đều được
nhất thiết chủng trí.
Trong
phần đầu này lại chia làm bốn :
+
1 tụng : Phật nhiều.
+
1 tụng : khai Quyền.
+
1 tụng : hiển Thực.
+
1 tụng rưỡi : giải thích dụng ý khai quyền hiển thực.
Đây
là phần đầu.
*
-Kinh
văn : “Các Thế tôn như vậy” tới “diễn thuyết
tướng các pháp”.
Tán
rằng : đây là thuyết minh về khai quyền nói trong phần đầu.
*
-Kinh
văn : “Các đức Thế tôn đó” tới “khiến đều
nhập Phật đạo”.
Tán
rằng : đây là thuyết minh về hiển thực nói trong phần sau.
*
-Kinh
văn : “Và các đại Thánh chúa” tới “giúp bày
đệ nhất nghĩa”.
Tán
rằng : đây là giải thích nghĩa của khai quyền hiển thực.
Vì biết rõ các chúng sinh chưa thể học ngay giáo pháp nhất
thừa, biết rõ căn dục của họ, cho nên đầu tiên dùng Quyền
phương tiện để giúp cho việc nói rõ về nhất thừa, sau
đó mới khiến họ nhập Thực.
Thêm
nữa, Bồ tát căn tính có hai loại : một là Bất định tính,
hai là Định tính.
Thuyết
cho hạng Bất định tính, thì trước quyền sau thực, nêu
rõ nhất thừa. Đó là hai tụng trên.
Đối
với hạng Định tính thì thuyết cho họ Đốn giáo nhất thừa.
Đó là đoạn văn này.
Có
nghĩa là biết rõ tâm tính chúng sinh muốn ngay, nên dùng phương
tiện khác, chẳng từ quyền lấy thực, mà giúp ngay nhất
thừa. Nhất thừa tức là Đệ nhất nghĩa đế chân như v.v…
Trước
ba sau một là phương tiện quyền thực. Thuyết ngay nhất thừa,
nên gọi là phương tiện khác.
*
-Kinh
văn : “Nếu có loài chúng sinh” tới “đều đã
thành Phật đạo”.
Tán
rằng : dưới là 23 tụng, tụng về chúng sinh nghe pháp, cứu
cánh đều được Nhất thiết chủng trí. Chia làm ba :
•
Phần đầu là 2 tụng, tụng về Phật tại.
•
Sau 20 tụng, tụng về sau khi Phật diệt.
•
Cuối cùng là 1 tụng : kết luận.
Đây
là phần đầu : gặp Phật nghe pháp, tu hành Lục độ, Tứ
nhiếp, Vô lượng v.v… gọi là chủng chủng phúc đức. Vì
tu hạnh Bồ tát là nhân để thành quả Phật, nên đều đã
thành đạo.
*
-Kinh
văn : “Chư Phật diệt độ rồi” tới “đều
đã thành Phật đạo”.
Tán
rằng : dưới là 20 tụng, tụng về sau khi Phật diệt độ.
Chia làm năm phần :
a)
1 tụng về từ tâm.
b)
4 tụng rưỡi nói về việc xây tháp.
c)
6 tụng rưỡi nói về việc tạc tượng.
d)
7 tụng nói việc cúng dàng.
e)
1 tụng về xưng tán Phật.
Đây
là phần đầu : có thiện mà cương cường thì cũng chẳng
phải là Bồ tát. Tâm nhu nhuyễn nhưng chẳng thiện cũng chẳng
phải là Bồ tát. Cần phải vừa thiện vừa nhu nhuyễn, mới
là tâm Bồ tát. Cho nên thuận theo lý, làm lợi cho ngoại vật,
cực kỳ nhu hòa là đã gây được nhân Phật để thành Phật
đạo.
Đoạn
văn sau là căn cứ vào sự tu hành sau khi Phật diệt độ,
vì là khó làm, là biệt hành. Chứ chẳng phải là khi Phật
tại thế thì làm các hành này và chẳng phải là nhân Phật,
chỉ cốt ở chỗ dễ tu.
Theo
Lục độ ở trên thì hành sau khi Phật diệt độ là tổng
hành, nên cũng thành Phật đạo.
*
-Kinh
văn : “Chư Phật diệt độ rồi” tới “trang
nghiêm nơi các tháp”.
Tán
rằng : dưới là 4 tụng rưỡi, nói về tạo tháp thành Phật.
Chia làm hai :
a)
4 tụng đầu nói rõ việc xây tháp.
b)
Nửa tụng sau là kết luận.
Phần
đầu lại chia làm ba :
-
2 tụng đầu nói về việc xây tháp, số lượng nhiều, trang
hoàng bằng bát trân (tám thứ quý) lộng lẫy.
-
1 tụng nói về dùng chín vật mà làm tháp.
-
1 tụng nói tới mức thấp nhất là cười đùa dùng vật kém
cỏi để làm tháp.
Đây
là phần đầu.
Phật
Địa luận đếm bảy thứ báu, không có mai khôi. Nhưng pha
lê khác với hạt châu.
Châu
: chỉ trân châu đỏ. Nay đây nếu coi lưu ly là châu, thì
là thất bảo. Nếu không thế thì là bát trân, vì lưu ly khác
với châu.
Pha
lê phần nhiều màu trắng hồng. Xà cừ thì màu xanh màu trắng
xen lẫn nhau. Mã não thì nhiều màu, hoặc thuần trắng, hoặc
thuần xanh vàng, hoặc nhiều màu xen nhau. Mai khôi thì màu đỏ.
Theo
sách Thuyết Văn, thì đó gọi là Hoả tề châu. Có thuyết
nói rằng : đá quý đẹp thì gọi là mai; còn tròn và đẹp
thì gọi là khôi. Còn các thứ khác, có thể biết được.
Trong
Kinh Tăng Nhất A Hàm, Phật bảo : “Này các Tỳ kheo ! Ta nay
sẽ thuyết về bốn Phạm phúc : một là nếu có các thiện
nam tử tín tâm, xây được tháp ở nơi chưa từng dựng tháp.
Hai là tu bổ giữ gìn chùa cũ. Ba là hòa hợp thánh chúng.
Bốn là khi Phật mới thành đạo thì các trời, người v.v…
thỉnh Phật chuyển Pháp luân. Đó gọi là bốn Phạm phúc”.
Tỳ kheo hỏi Phật Phạm phúc nhiều ít thế nào ? Phật dạy
: “tất cả phúc đức của Tứ thiên hạ và Lục dục thiên
cũng chẳng bằng được phúc của một Phạm vương. Đặc
biệt khuyên hãy dựng tháp, sẽ được Bồ đề”.
*
-Kinh
văn : “Hoặc có dựng miếu đá” tới “gạch
ngói, và bùn đất v.v…”
Tán
rằng : đây là 1 tụng nói về việc dùng chín vật để làm
tháp.
Miếu
đá : chỉ Phật đường bằng đá. Thời cổ gọi là Chi đề,
nay gọi là Chế đa, dịch nghĩa là Linh miếu (miếu thiêng).
Phải là chữ Miếu, tức là Miếu mạo vậy.
Sách
Bạch Hổ Thông Ngọc Thiên nói : là nơi sở tại của tôn
mạo tổ tiên, nên gọi là miếu.
*
“Mộc mật” : theo Tự Lâm, đó là loại gỗ thơm. Chữ Mật,
sách Thiết Vận viết là [
], Ngọc Thiên viết là [
]. Loại cây này giống như cây hoè nhưng mùi hương cực thơm.
Chặt rồi để 5 năm mới dùng. Nếu lấy hương thì phải
nghiền ra, để lâu thì mùi thơm mới toả ra.
*
-Kinh
văn : “Nếu ở trong đồng rộng” tới “đều
đã thành Phật đạo”.
Tán
rằng : đầu là 1 tụng nói về việc cười đùa dùng các
vật kém cỏi mà làm tháp, đó là mức thấp nhất. Sau là
nửa tụng dùng làm kết luận.
Luận
rằng : người vun cát lại thành tháp Phật đã thành Phật
đạo, đó là chỉ người phát tâm Bồ đề, tu hành hạnh
Bồ tát, thiện căn đã làm có thể chứng được Bồ đề.
Chứ chẳng phải là chỉ các phàm phu cùng hạng quyết định
chủng tính Thanh văn chưa phát tâm Bồ đề mà có thể
chứng được. Như vậy cho đến “cùng mức thấp là hơi
cuối đầu v.v…” ở đoạn văn trên cũng như thế.
*
-Kinh
văn : “Nếu như người vì Phật” tới “đều
đã thành Phật đạo”.
Tán
rằng : dưới là 6 tụng rưỡi, thuyết minh về việc tạo
tượng. Trong có hai :
•
5 tụng đầu nói về tạo.
•
1 tụng rưỡi cuối là kết.
Phần
đầu lại chia làm bốn :
-
1 tụng về việc điêu khắc.
-
2 tụng về mười vật để trang sức..
-
1 tụng về việc vẽ lụa màu (làm tượng Phật).
-
1 tụng về việc đùa làm (tượng Phật).
Đây
là phần đầu : nói rõ là làm tượng Phật chứ chẳng phải
làm tượng khác. Cho nên nói là vì Phật. Vì cầu làm Phật,
vì kính nhớ Phật nên gọi là vì Phật. Lại nói : vì Phật
mà làm các tượng, để trang nghiêm Phật, đó gọi là vì
Phật.
Kinh
Tạo Tượng Công Đức nói tạc tượng được 11 loại quả
:
1)
Đời đời sinh ra hai mắt tinh khiết, mặt mũi ngay ngắn.
2)
Sinh xứ không ác.
3)
Thường sinh ở quý gia.
4)
Thân thể đẹp đẽ màu vàng tía.
5)
Thường có nhiều đồ chơi quý báu.
6)
Sinh ở nhà hiền thiện.
7)
Sau sinh làm vua thắng trội nhất trong các vua.
8)
Làm Kim luân hoá vương.
9)
Sau sinh ở Phạm thiên thọ mệnh một kiếp.
10)
Chẳng theo đường ác.
11)
Trong lần sinh sau vẫn trọng Tam bảo, thích đem vật tốt lại
làm công đức tạo tượng nữa.
Một
Phạm phúc nhiều gấp mười lần biển lớn của Tứ thiên
hạ.
*
-Kinh
văn : “Hoặc dùng bảy báu làm” tới “đều đã
thành Phật đạo”.
Tán
rằng : 2 tụng này nói về việc dùng mười vật trang sức
để làm tượng.
*
Sách Thiết Vận nói : Diên (chì) tức là Tích (thiếc). Có
thuyết nói : thiếc là loại ở giữa bạc và chì, Ngọc
Thiên nói : đó là loại thanh kim (kim loại màu xanh).
*
-Kinh
văn : “Vẽ vời làm tượng Phật” tới “đều
đã thành Phật đạo”.
Tán
rằng : đây là tụng về vẽ tượng Phật.
*
-Kinh
văn : “Cho đến trẻ con đùa” tới “mà vẽ thành tượng
Phật”.
Tán
rằng : đây là tụng về đùa mà làm (tượng Phật).
*
-Kinh
văn : “Những hạng người như vậy” tới “độ thoát
vô lượng chúng”.
Tán
rằng : đây là kết. Người có đầy đủ tâm Đại bi, làm
bất cứ việc thiện gì, cũng ắt phải mang Bi tâm mới thành
“tới bờ bên kia”, cho nên thành Phật đạo.
*
-Kinh
văn : “Nếu người nơi tháp miếu” tới “lòng kính mà
cúng dàng”.
Tán
rằng : dưới có 7 tụng thuyết minh về cúng dàng. Có hai phần
:
Phần đầu là 5 tụng rưỡi thuyết minh về cúng dàng.
Phần cuối là 1 tụng rưỡi, đó là kết luận.
Trong
phần đầu lại chia làm 5 :
+
1 tụng về sự cúng dàng bằng 4 vật.
+
1 tụng rưỡi nói về sự cúng dàng bằng âm nhạc.
+
1 tụng nói về sự cúng dàng bằng ca bối (chỉ việc tụng
niệm kinh kệ).
+
1 tụng nói về việc cúng dàng bằng hoa.
+
1 tụng về cúng dàng bằng thân nghiệp (thực hành cung kính).
Đây
là 1 tụng phần đầu :
Phát
Bồ Đề Tâm Kinh nói rằng : “Nếu bố thí bằng hoa thì được
hoa Thất giác, bố thí bằng hương thì được hương Năm phần
pháp thân, bố thí bằng phướn thì được Đà la ni chuyển
các điều ác, bố thí bằng lọng thì được Bốn vô lượng
che cho chúng sinh”.
Nghiệp
Báo Sai Biệt Kinh nói : “Mỗi loại bố thí đều được mười
đức”.
*
-Kinh
văn : “Nếu sai người tấu nhạc” tới “đem
hết để cúng dàng”.
Tán
rằng : đây là cúng dàng bằng âm nhạc.
*
Chữ “Nhạc” [ 樂] có âm đọc là Nhạo, vì làm cho
người ta sinh ra vui thích. Còn có âm đọc là Lạc. Thời hoàng
đế Linh Luân làm lấy chữ này làm Nhạc.
Sách
Thuyết Văn nói đó là tên gọi chung của năm thanh tám âm.
Sách
Lễ Ký nói rằng : Can thích vũ mao (chỉ giáo mộc lông vũ
lông mao dùng để múa) đó gọi là Nhạc.
Trịnh
Huyền nói : Tám âm hài hòa thì gọi là Nhạc.
“Cổ”
(trống) : có nghĩa là động, là khua vang. Phàm phát ra tiếng
thì gọi là Cổ. Nay tang gỗ bịt da, động vào là kêu (đó
gọi là Cổ)
“Giác”
(tù và) : là (nhạc cụ) hình cong giống như sừng thú.
“Bối”
: tức là loa (ốc biển). Kinh Niết Bàn nói : thổi loa để
biết thời giờ.
“Tiêu”
: là ống quản (tức ống sáo).
*
Sách Ngọc Thiên nói : ghép ống nhỏ lại để mà thổi.
Chữ Tiêu còn viết là [ ].
“Địch”
: có bảy lỗ. Còn gọi là “Thược”, tục gọi là Trực.
*
Sách Ngọc Thiên có nói tới Trúc địch năm lỗ. Khương địch
có ba lỗ.
“Cầm”
(đàn cầm) : có nghĩa là cấm, người quân tử giữ nếp chính
đính, tự răn cấm mình. Đàn cầm là do vua Thần Nông chế
tác ra.
“Không
hầu”: hình dáng như đàn tỳ bà, có thể biết được.
“Kiểng”
: cũng như cái Lệnh nhưng to hơn.
*
Sách Ngọc Thiên nói : đó là loại chiêng nhỏ.
Theo
quân pháp, thập Lưởng cầm não bạt. Năm người là một
Ngũ, năm Ngũ tức 25 người là một Lưỡng. Quan Lưỡng tư
mã cầm mõ. Não bạt bằng đồng có hai mảnh đánh vào nhau
thành tiếng.
*
Chữ Bạt có khi viết là [鈸], không biết nguồn gốc từ
đâu, hoặc viết là [跋 ].
Kinh
Phát Bồ Đề Tâm nói rằng : “Âm nhạc và nữ sắc không
thể đem bố thí cho người, vì sẽ làm loạn chúng sinh”.
Đây đem cúng Phật, nên cũng chẳng sai trái, như việc cúng
dàng âm nhạc của Kim Tạng (dân tộc Tạng ở nước Kim).
*
-Kinh
văn : “Hoặc bằng tâm hoan hỷ” tới “đều đã
thành Phật đạo”.
Tán
rằng : đây là chỉ việc cúng dàng bằng ca ngâm chúc tán,
sẽ được giọng nói âm thanh của bậc Đại sĩ.
Tiếng
Phạm gọi là Bà Trắc. Ở phương đây gọi là tán thán. Phiên
âm là Bối Nặc là phiên sai.
Xưa
Trần Tư vương lên núi Ngư Sơn nghe tiếng tụng kinh từ
động đá vang ra, âm thanh thánh thót ngân nga vang tận hang
xa, bèn bắt chước âm thanh đó mà chế định ra Phạm Bối.
Cho nên nay tục gọi đó là Ngư Phạm, ngầm hợp với tam khế
thất thanh của Tây vực do Văn Câu Đê Nhĩ v.v… đặt ra.
*
-Kinh
văn : “Nếu người tâm tán loạn” tới “dần
thấy vô số Phật”.
Tán
rằng : đây là cúng dàng bằng hoa.
Cúng
hoa có gì khác với bốn sự trên ? Đằng kia thì chuyên thiện
tâm, đằng này thì với tán tâm. Cho nên chẳng trái gì nhau.
Chỉ nói qua việc cúng tượng vẽ, cúng dàng tượng khác cũng
được.
*
Kinh
văn : “Hoặc có người lễ bái” tới “hoặc
chỉ hơi cúi đầu”.
Tán
rằng : đây thuyết minh về sự cúng dàng bằng thân nghiệp
: thực hành cung kính. Ca ngâm chúc tán nói trên là ngữ nghiệp.
Còn năng phát tâm tức là ý nghiệp. Ngoài ra đều là ngoại
tài cúng dàng, Tam nghiệp hạnh cúng dàng.
*
-Kinh
văn : “Lấy đó cúng dàng tượng” tới “như
củi hết lửa tắt”.
Tán
rằng : đây là kết luận về cúng dàng.
*
-Kinh
văn : “Nếu người tâm tán loạn” tới “đều
đã thành Phật đạo”.
Tán
rằng : đây nói về xưng tụng Phật, được làm Phật. Chỉ
cử một lần xưng tụng còn được làm Phật huống hồ là
xưng tụng nhiều. Như Kinh Dược Vương Dược Thượng nói
rằng : “Ta thường xưng tụng năm mươi ba danh Phật, nên
nay được làm Phật” tức là sự này.
*
-Kinh
văn : “Nơi các Phật quá khứ” tới “đều được thành
Phật đạo”.
Tán
rằng : trong phần tụng về chúng sinh nghe pháp đắc chủng
trí, đây là phần thứ ba kết : thành Phật đạo.
*
-Kinh
văn : “Các Thế tôn vị lai” tới “cũng phương tiện
thuyết pháp” .
Tán
rằng : dưới là 6 tụng rưỡi, nói về pháp thời vị lai,
trong đó chia làm hai :
-
Đầu tiên là 3 tụng rưỡi, nêu rõ pháp thời vị lai cũng
giống như ngày nay : thuyết Thực.
-
Sau đó là 3 tụng giải thích lại nghĩa trên.
Trong
phần đầu lại chia làm ba :
+
1 tụng nêu rõ : cũng giống như ngày nay, đầu
tiên
là phương tiện.
+
1 tụng rưỡi nêu rõ : sau thành thuyết Thực.
+
1 tụng giải thích nguyên do trên.
Đây
là phần đầu.
*
-Kinh
văn : “Tất cả các Như Lai” tới “không ai
không thành Phật”.
Tán
rằng : tụng này nêu rõ : sau thành thuyết Thực, khiến người
nghe pháp đều được thành Phật. Phật và chúng sinh cả hai
gộp lại mà thuyết.
*
-Kinh
văn : “Chư Phật vốn thệ nguyện” tới “cũng cùng được
đạo này”.
Tán
rằng : đây là giải thích về nguyên do trên : do bản nguyện.
*
-Kinh
văn : “Chư Phật đời vị lai” tới “kỳ thực
là nhất thừa”.
Tán
rằng : dưới là 3 tụng giải thích lại nghĩa trước, chia
làm hai :
•
Đầu tiên là 1 tụng, nói rõ phương tiện lúc đầu đều
vì nhất thừa.
•
Sau đến 2 tụng, nói rõ vì liễu ngộ được xu hướng của
các pháp ba tính, cho nên như vậy.
Đây
là phần đầu.
*
-Kinh
văn : “Chư Phật lưỡng túc tôn” tới “Đạo
sư phương tiện thuyết”.
Tán
rằng : đây nói rõ do ngộ được xu hướng của các pháp
ba tính, cho nên đầu tiên thuyết về quyền thừa, sau đó
mới thuyết về nhất thừa. Phật chứng tri được chân như
diệu lý, thể tính thường trụ.
Biến
kế sở chấp sinh pháp nhị ngã, Thể tính là vô. Vì Phật
đã chứng được lý Vô ngã, nên cũng biết rằng cái Vô này
là phàm hư vọng chấp.
“Phật
chủng từ duyên khởi” : có nghĩa là chủng tử Báo Phật,
vô lậu y tha, do nhân duyên mà sinh ra, từ duyên mà khởi lên,
nhân tu tác mà thành. Do chứng được chân lý, đoạn trừ
được Nhiễm phần y tha của cái tâm năng chấp, biết rõ
cái sở chấp là vô, từ ở Tịnh phần y tha nhân duyên mà
tu Phật chủng, đó là nhất thừa. Vì sao vậy ? Vì nhất thừa
nhiều lần tỏ rõ Thường pháp tức là Viên thành thực.
“Pháp
trụ pháp vị”: chân như trụ trong các pháp, Thể tính thường
hữu, đó gọi là pháp trụ. Pháp có nhiễm tịnh, lìa nhiễm
được tịnh, phần vị hiển lộ, đó gọi là pháp vị.
“Tướng”
: đây là chỉ thể tính thế gian bản thể, tức là Thường
trụ chân như thực tính. Đó là thể của nhất thừa.
“Nơi
đạo tràng biết rồi, Đạo sư phương tiện thuyết” : nghĩa
là ở tòa kim cương nơi đạo tràng biết được bản thể
tính các pháp đó rồi, các pháp vốn không có danh tướng,
nhưng Đạo sư phương tiện dùng danh tướng mà thuyết pháp.
Hết
thảy các pháp, tóm lại đều có hai loại : một là Không,
hai là Hữu.
Không
pháp không có sự sai biệt, đặt chung một tính gọi là Biến
kế sở chấp.
Hữu
pháp có sự sai biệt, chia làm hai loại : một là thường,
hai là vô thường. Thường thì gọi là Viên thành thực tính.
Vô thường thì là Y tha khởi tính.
Y
tha khởi tính lại chia làm hai : một là Hữu lậu, hai là Vô
lậu. Hữu lậu là Y tha khởi tính. Vô lậu là Viên thành thực
tính.
Nay
y vào môn trước, vô thường là Y tha. Y tha hữu lậu thảy
đều trừ đoạn, tựu trung chỉ lấy Vô lậu vô thường Tịnh
phần y tha, cứu cánh mãn vị thành Bồ đề.
Cho
nên nói rằng : “Phật chủng từ duyên khởi”. Ý nói có
khả năng chứng được Thường trụ pháp tính chân như, chứng
được lý Vô ngã, thì mới có thể biết rõ nhị ngã là không,
y ở thiện hữu, tu tập trí tuệ, theo pháp Duyên khởi, Bồ
đề giác mãn để chứng Diệu lý chân như nhất thừa.
Diệu
lý tức là : “Thị pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường
trụ”. Ở ngay đạo tràng đã chứng tri Đại bát Niết bàn
rồi, nay vì chúng sinh mà phương tiện thuyết pháp đó khiến
họ cũng muốn chứng được.
Nay
Y tha đây tức là Bồ đề, Viên thành tức là Niết bàn, hợp
thành nhất thừa. Viên thành thắng trội, nên gọi riêng là
nhất thừa.
Do
đoạn được Hữu lậu Y tha khởi tính, trừ được Biến
kế sở chấp, chứng được hai quả này.
Do
liễu ngộ Y tha sở chấp tính, cho nên trước tiên thuyết
về A hàm, sau đó thuyết về Bát nhã, thuần Hữu Không giáo,
đó gọi là phương tiện.
Nay
cả ba đều thuyết, nên gọi là chân thực. Nghĩa của ba tính
(tam tính) thì như chương khác đã nói.
*
-Kinh
văn : “Được trời người cúng dàng” tới “cũng
thuyết pháp như vầy”.
Tán
rằng : dưới có 4 tụng rưỡi, tụng về hiện tại. Chia làm
ba :
•
Đầu là 1 tụng rưỡi để nêu.
•
Sau đến 1 tụng khai quyền hiển thực.
•
Cuối cùng là 2 tụng nêu rõ ý.
Đây
là phần đầu.
*
-Kinh
văn : “Biết đệ nhất tịch diệt” tới “kỳ
thực là nhất thừa”.
Tán
rằng : đây là phần đầu khai quyền, sau đó lại hiển thực.
*
-Kinh
văn : “Biết các hành chúng sinh” tới “tùy ứng
phương tiện thuyết”.
Tán
rằng : đây nói rõ cái ý trước quyền sau thực.
“Các
hành của chúng sinh” : đó là tổng cú, là tâm hành tướng
vậy.
Dưới
là biệt cú, hoặc là thắng giải vậy.
“Tâm
sở niệm” : đó là Biến thú hành.
“Nghiệp
lực” : đó là Tự nghiệp.
“Dục
lực” : chỉ thắng giải.
“Tính
lực” : chỉ chủng chủng giới.
“Tinh
tiến lực” : chỉ xứ, phi xứ v.v…
Hoặc
thể của tinh tiến v.v… tức là Tính lực, vì thể của chủng
tính tức là ngũ căn. Chữ Lực ở dưới quán thông cả ở
trên (Kinh văn : “Dục, Tính, Tinh tiến lực”).
“Căn
lợi độn” : có nghĩa là căn có lực hơn kém khác nhau. Phật
có trí lực này, biết được những điều ấy, bởi vậy
trước là quyền, sau lại chân thực.
Ở
phần trước nói chư Phật đời vị lai Phật do ngộ ba tính,
ở đây nói Phật hiện tại do biết chúng sinh bình đẳng,
ảnh hưởng lẫn nhau, cho nên đầu tiên là phương tiện, sau
đó thuyết chân thực.
*
-Kinh
văn : “Nay ta cũng như vậy” tới “đều khiến
được hoan hỷ”.
Tán
rằng : dưới là 30 tụng rưỡi nói về Thích Ca cũng giống
: “Nay ta cũng giống như vậy” .
Chia
làm hai :
•
2 tụng đầu, nêu lên.
•
28 tụng rưỡi sau, giải thích rộng.
Đây
là phần đầu : tụng đầu nói rõ nay là thực, tụng sau nói
rõ xưa là quyền, đều khiến hoan hỷ dần dần nhập đạo.
*
-Kinh
văn : “Xá Lợi Phất nên biết” tới “nghèo túng
không phúc tuệ” .
Tán
rằng : dưới là giải thích rộng. Chia làm hai:
-
21 tụng rưỡi nói về thoạt đầu dùng tam thừa phương tiện
để dẫn dụ, tức là đoạn văn trường hàng nói rằng :
“Biết các chúng sinh có nhiều dục vọng mà thâm tâm họ
đắm trước, cho nên tùy theo bản tính của họ mà dùng nhiều
thứ nhân duyên, thí dụ, ngôn từ, phương tiện lực mà thuyết
pháp cho họ”.
-
7 tụng, tụng về ý nay thuyết chân thực, tức là đoạn văn
trường hàng nói rằng : “Như vậy đều là để được Nhất
thiết chủng trí của một Phật thừa. Tức là tụng về nghĩa
trước quyền sau thực.”
Trong
đoạn văn đầu lại chia làm bốn phần :
a)
3 tụng rưỡi đầu : nói về thấy sinh xứ nguy nan.
b)
3 tụng tiếp theo : muốn cứu chẳng thể được.
c)
11 tụng rưỡi kế tiếp : thỉnh niệm thiết phương tiện
quyền thừa.
d)
3 tụng rưỡi cuối : chính thuyết tam thừa hóa.
Trong
phần đầu lại có hai :
+
1 tụng : không thiện.
+
2 tụng rưỡi : có ác.
Đây
là phần đầu.
•Kinh
Bát Nhã nói Phật có năm loại mắt :
1)
Nhục nhãn : chẳng phải do tu định mà sinh ra, mà là do tứ
đại tạo nên, hoặc trưởng dưỡng hoặc dị thục, tịnh
sắc là tính.
2)
Thiên nhãn : đoạn với định chướng, đã tu tập mà thành,
chỉ là trưởng dưỡng, do tứ đại tạo ra, tịnh sắc là
tính.
3)
Pháp nhãn : quán sự Hữu tuệ.
4)
Tuệ nhãn : quán Không lý tuệ.
5)
Phật nhãn : nhân tích mà quả viên, lấy cả bốn loại trên
làm thể.
•
Long Thụ giải thích rằng : Bốn sông lớn chảy tới ao trời
gọi tên chung là biển cả. Cũng giống như vậy, bốn mắt
chảy tới quả Phật, gọi chung là Phật nhãn.
Hai
loại đầu là thể sắc, hai loại sau là thể trí. Một loại
cuối thông với cả hai.
•
Lại nói : Người v.v… thì có nhục nhãn. Trời v.v… thì
có thiên nhãn. Nhị thừa có tuệ nhãn. Bồ tát có pháp nhãn.
Phật có Phật nhãn. Do đó mà nói là năm.
•
Du Già, quyển 14 nói có ba loại mắt :
1)
Nhục nhãn : soi được các sắc hiển lộ không có chướng
ngại.
2)
Thiên nhãn : soi được các sắc ẩn tàng cũng như hiển lộ,
có chướng cũng như không chướng.
3)
Tuệ nhãn : soi được mọi thứ sắc cũng như phi sắc.
Pháp
nhãn thể tuệ, hợp tuệ làm một, sắc khác nhau, nhãn cảnh
có ẩn có hiển, ở đây lược đi chẳng nói.
Phật
nhãn tức là bốn loại mắt trước, chỉ bàn về nhân, chứ
chẳng phải quả, nên lược đi chẳng bàn.
•
Kinh Hoa Nghiêm nói về mười loại mắt :
1)
Nhục nhãn : thấy được mọi sắc.
2)
Thiên nhãn : thấy được chết ở đây sinh ở kia.
3)
Tuệ nhãn : thấy các chúng sinh các căn sai biệt.
4)
Pháp nhãn : thấy được đệ nhất nghĩa của mọi pháp.
5)
Phật nhãn : thấy được mười lực của Phật.
6)
Trí nhãn : phân biệt rõ được mọi loại pháp.
7)
Quang minh nhãn : thấy được ánh quang minh của Phật.
8)
Xuất sinh tử nhãn : thấy được pháp Niết bàn.
9)
Vô ngại nhãn : thấy được mọi pháp, không có trở ngại.
10)
Phổ nhãn : có nghĩa là thấy được Pháp giới bình đẳng
pháp môn.
-
Loại thứ nhất trong mười mắt này là loại thứ nhất trong
năm mắt trước, vì thấy được các sắc.
-
Loại thứ hai này là loại thứ hai trước.
-
Năm mắt : thứ ba, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, thứ
chín ở đây, là Pháp nhãn trước.
-
Các loại thứ tư, thứ tám trong này là Tuệ nhãn trước,
vì thấy được chân đế.
-
Hoặc ba mắt : thứ tư, thứ tám, thứ chín ở đây là
Tuệ nhãn trước, vì đều thấy được lý.
-
Mắt thứ mười Phổ nhãn : là Phật nhãn trước, vì khắp
thấy Pháp giới bình đẳng tính.
“Quán
bằng Phật nhãn” : có nghĩa là quán bằng Phật nhãn trong
Ngũ nhãn, vì Phật nhãn trong Thập nhãn chẳng thấy chúng sinh,
chỉ thấy Thập lực.
Chúng
sinh sáu đường từ vô thủy chẳng tu hai nhân Phúc Trí, chưa
được bảy loại Thánh tài và bảy Pháp tài của nhân thiên.
Đó là : Thí, Giới, Nhẫn, Cần, Định, Tuệ, Phương tiện,
cho nên không có phúc và tuệ.
*
-Kinh
văn : “Vào đường hiểm sinh tử” tới “mù loà
chẳng thấy gì”.
Tán
rằng : 2 tụng rưỡi ở dưới nói về có ác.
Chia
làm hai :
•
1 tụng rưỡi đầu : hiện khổ chìm đắm, phiền não thêm
nhiều.
•
1 tụng sau : muốn cầu xuất ly, nhưng hành tà hạnh.
Đây
là phần đầu.
Con
Ly ngưu (trâu mao) ở thế gian do tự yêu cái đuôi của nó,
nên náu mình giữ đuôi. Người ta tham hám đuôi nó, cho nên
đã giết thân nó. Chúng sinh cũng thế, do tham trước năm dục
cho nên tự giấu thân mình, rồi vì tham ái mà tự bại hoại,
bị hư hỏng khốn đốn sa đọa vào đường ác.
“Tự
tệ”: tự làm hại mình, có bản viết là “Tự tế” .
Tế là yểm chướng (che lấp)
Như
con ly ngưu yêu đuôi mà làm hại tâm, đến nỗi mất mạng.
Chúng sinh cũng thế, tham ái che lấp mất tâm.
*
“Ly ngưu”: sách Thuyết Văn giải thích là loại trâu có
râu dài của Tây Nam Di.
Chữ
Ngưu có chỗ viết là [ 貓 ] Miêu (mèo), đó là loài bắt chuột
trong nhân gian, chẳng đúng với nghĩa ở đây. Có chỗ viết
là Miêu miêu [ 貓 描 ], chả biết xuất xứ từ đâu.
*
-Kinh
văn : “Chẳng cầu Đại Thế Phật” tới “vì
khổ muốn xả khổ”.
Tán
rằng : muốn cầu xuất ly, mà lại hành tà hạnh. Phật có
thần thông uy thế và pháp dùng trí tuệ để đoạn trừ
khổ mà lại chẳng cầu tới, lại sa vào lưới tà kiến ngoại
đạo. Tu hành các hạnh khổ hạnh về thân để xả bỏ nỗi
khổ sinh tử, thế là chưa được.
Bởi
vậy mà sáu năm chỉ ăn vừng ăn mạch vẫn chẳng chứng được
Bồ đề, ngồi nằm trên gai góc đâu có chứng được đạo
quả ! Như chó đuổi hòn đất, hòn đất càng lăn thêm, đâu
có giống với sư tử đuổi người chẳng đuổi hòn đất.
*
-Kinh
văn : “Phật vì chúng sinh này, mà khởi tâm Đại bi”.
Tán
rằng : dưới đây là 3 tụng nói về tư duy muốn cứu mà
chẳng thể được. Chia làm ba :
a)
Nửa tụng đầu, là tư duy muốn khởi nhân hành.
b)
1 tụng ,chỉ đắc quả đã tư duy.
c)
1 tụng rưỡi, chỉ tư duy muốn cứu mà chẳng thể được.
Đây
là phần đầu : thấy các chúng sinh có hai duyên này, nên khởi
bi tâm, phát tâm tu hành, tư duy muốn cứu.
*
-Kinh
văn : “Ta xưa ngồi đạo tràng” tới “tư duy
sự như vầy”.
Tán
rằng : đây là đắc quả rồi tư duy.
Phật
thành đạo rồi, kinh hành dưới cây, ngắm cây, mừng rằng
đạo của mình đã viên thành, kinh hành tư duy (đi lại ngẫm
nghĩ) muốn làm lợi cho ngoại vật.
Lại
nhìn cây, tâm ngưng tụ diệu lý, kinh hành nghĩ muốn giáo
hóa cho các chúng sinh.
Lại
ngắm cây, muốn làm bóng mát che cho chúng sinh, kinh hành nghĩ
đến bố thí phúc và tuệ cho chúng sinh.
Các
kinh nói về thời điểm thuyết pháp của Phật sau khi thành
đạo, mỗi kinh mỗi khác :
-
Kinh này nói là (sau) 3 lần 7 ngày.
-
Di Sa Tắc luật nói rằng : “Tam muội bảy ngày”, giống
như Thập Địa kinh, 7 ngày chẳng thuyết pháp để chỉ rõ
tự mình thụ pháp lạc, để khiến chúng sinh càng thêm yêu
kính.
-
Luật và Tát Bà Đa truyện thì nói là sau 6 lần 7 ngày, tức
là sau 42 ngày mới thuyết pháp, vì Phạm thiên đến thỉnh
và bọn các ông Kiền Trần Như căn cơ đã chín.
-
Lại có thuyết nói rằng : sau Hạ an cư mới độ cho 5 người.
-
Thập Nhị Do kinh thì nói là sau khi thành đạo đã 2 năm mới
độ cho 5 người.
-
Trí Độ luận nói là: 50 lần 7 ngày chẳng thuyết pháp.
Đó
đều là do ý kiến các bộ bất đồng chưa thể hòa hợp.
Song những nhà giải thích ngày nay theo đại thừa thì lấy
Pháp Hoa làm chính.
Thuyết
này thông hành Tứ đế Pháp luân nên là 3 lần 7 ngày. Nếu
chỉ thuyết đại thừa Pháp luân, Thập địa là chính, thì
sang tuần 7 ngày thứ hai mới thuyết Thập địa.
*
-Kinh
văn : “Trí tuệ mà ta được” tới “làm sao mà
độ được ? ”.
Tán
rằng : đây là tư duy muốn cứu mà chẳng thể được, vì
có bốn nguyên nhân :
1.
Pháp sâu khó hiểu. 2. Căn độn khó cứu.
3.
Trước lạc khó xả. 4. Ngu mù khó ngộ.
Thế
thì làm sao mà độ được ?
*
-Kinh
văn : “Bấy giờ các Phạm vương” tới “thỉnh ta chuyển
Pháp luân”.
Tán
rằng : dưới là 11 tụng rưỡi xin Phật hộ niệm, đặt ra
phương tiện quyền nghi.
Trong
chia làm bốn phần :
-
2 tụng : chư thiên thỉnh thuyết.
-
3 tụng : thị tướng tư duy.
-
4 tụng rưỡi : hoá độ gặp duyên lành.
-
2 tụng cuối : xót thương dẫn dụ theo cách quyền nghi.
Đây
là phần đầu.
Đại
Tự Tại thiên : tức là Sắc giới thiên. Nay đối với tam
thừa, thuyết pháp đúng phép vì đều đợi phải thỉnh mới
thuyết.
Trí
Độ luận nói rằng : Tịnh Cư thiên khuyên (Phật) xuất gia.
Tứ Thiên vương dâng bát. Đế Thích dâng tòa báu. Phạm thiên
thỉnh chuyển Pháp luân. Lúc đầu Phật chẳng ưng thuận.
Phạm vương nói có ba căn, tha thiết nài thỉnh, Phật mới
ưng thuận, đầu tiên thuyết về tam thừa.
Thắng
Thiên Vương Bát Nhã nói : các Tứ Thiên vương dâng bát. Thiên
Đế Thích dâng tòa. Phật bèn nhận. Ai nấy thấy chỉ riêng
mình được (Phật) nhận, cho nên đều phát tâm thắng trội.
Song
ở đọan kinh dưới thì chỉ có Phạm vương thỉnh Phật Đại
Thông Trí Thắng. Ở đây thì nói chung cả chư thiên. Ở đó
nêu loại thắng trội, chẳng phải là không có thiên khác
thỉnh Phật đó.
*
-Kinh
văn : “Ta liền tự tư duy” tới “vội nhập vào
Niết bàn”.
Tán
rằng : dưới là 3 tụng Thị tướng tư duy, chia làm hai :
-
2 tụng đầu : nếu thuyết ngay đại thừa thì sẽ có sự
tổn hại cho chúng sinh.
-
1 tụng cuối : tạm thuyết tam thừa thì có lợi ích cho chúng
sinh.
Phần
đầu này, vì các chúng sinh hiện đang ở trong cảnh khổ của
cõi tục, nếu xuất gia thì tu xằng theo pháp khổ hạnh, không
còn có lúc nào rảnh mà có thể tin ngay pháp đại thừa. Nếu
thuyết cho họ (về đại thừa ngay) thì ngược lại họ sẽ
sinh ra phỉ báng, nghi hoặc, phá hoại. Nếu sinh bất tín thì
lại sa vào đường ác.
Còn
hạng tại tục không khổ thì chẳng tin. Kẻ xuất gia ngoại
đạo thì phá pháp nên chẳng tin.
Đã
có sự tổn hại đó thì thà chẳng thuyết pháp mà vội nhập
Niết bàn. Sao lại gây tổn hại cho các chúng sinh được !
Tức giống như Trí Độ luận, lúc đầu chẳng ưng thuận.
*
-Kinh
văn : “Nhớ tới Phật quá khứ” tới “cũng nên
thuyết tam thừa”.
Tán
rằng : đây là nói về tạm thuyết tam thừa, chúng sinh được
ích lợi, vì giống với chư Phật.
Đây
giống như Trí Độ luận : thỉnh nhiều lần mới ưng thuận.
*
-Kinh
văn : “Lúc tư duy như vậy” tới “mà
dùng lực phương tiện”.
Tán
rằng : dưới có 4 tụng rưỡi nói về việc hóa độ gặp
duyên lành. Chia làm ba :
-
2 tụng đầu : Phật hiện tán dương.
-
1 tụng sau : khuyên giống chư Phật.
-
1 tụng rưỡi cuối : dẫn bản thân mình ra làm chứng : sau
thực trước quyền.
Đây
là 2 tụng đầu : mười phương Phật hiện ca ngợi Phật lành
thay, ca ngợi người thày giỏi nhất đắc pháp vô thượng,
khuyên nên giống như chư Phật: sau thực, trước quyền.
Thích
Ca là họ, nghĩa là Năng.
Mâu
Ni là hiệu,nghĩa là Tịch.
Nay
nói qua về lời văn, như âm mà giải thuyết. Đúng theo phép
mà tùy hỉ, đều nói là : “Lành thay !”.
*
-Kinh
văn : “Chúng tôi cũng đều được” tới “phân
biệt thuyết tam thừa”.
Tán
rằng : dưới là 2 tụng rưỡi dẫn bản thân mình ra làm chứng,
sau thực trước quyền. Trong này có ba phần :
-
1 tụng đầu dẫn bản thân mình ra làm chứng.
-
1 tụng giải thích nguyên do chuyện này.
-
Nửa tụng kết luận qui về chân thực.
Đây
là phần đầu : dẫn chứng bản thân lúc đầu thuyết tam
thừa.
*
-Kinh
văn : “Trí kém thích tiểu pháp” tới “chỉ dạy
cho Bồ tát”.
Tán
rằng : đây giải thích về nguyên do và kết luận qui về
chân thực.
Vì
người bất định (tính) lúc đầu còn là phàm phu trí thấp,
ưa tiểu pháp, không có ý thích pháp đại thừa, chẳng tin
tưởng mình sẽ được thành Phật, cho nên đầu tiên thuyết
về tam thừa.
Dẫu
rằng đầu tiên là quyền, sau đó ắt phải là chân thực,
song chỉ hóa độ cho Bồ tát.
*
Kinh
văn : “Xá Lợi Phất nên biết” tới “hỉ xưng
Nam mô Phật”.
Tán
rằng : dưới là 2 tụng, nghĩ theo quyền thừa mà dẫn dụ.
Chia làm hai :
a)
Tụng đầu : nghe xong tôn kính tán thán.
b)
Tụng sau : tư duy muốn thuận theo hạnh của họ.
Đây
là phần đầu.
Có
bản viết là “xưng Nam mô chư Phật”. Nên theo “hỉ xưng
Nam mô Phật” (mừng niệm Nam mô Phật), đó mới là (văn
bản) đúng.
Đúng
ra phải phiên âm là Nạp Mô, có chỗ phiên là Nạp Mạc, phương
đây gọi là Kính lễ. Nếu nói Bạn Đàm hoặc Bạn Đề thì
ở phương đây gọi là Lễ bái. Cách nói cũ gọi là Hòa Nam,
đó là dịch vừa sai vừa tỉnh lược.
*
-Kinh
văn : “Lại có ý như vầy” tới “ta cũng tùy
thuận hạnh”.
Tán
rằng : tư duy muốn thuận theo hạnh của họ.
Duyên
lành đã gặp, khuyến khích ta dùng quyền thừa mà giáo hóa.
Ta nghĩ sinh ở kiếp trược, phải nên tùy thuận theo hạnh
của họ.
*
-Kinh
văn : “Tư duy sự này rồi” tới “thuyết cho
năm Tỳ kheo”.
Tán
rằng : 3 tụng rưỡi dưới đây, là chính thuyết tam thừa
hóa, chia làm ba :
-
1 tụng rưỡi đầu : chính khởi quyền hóa.
-
1 tụng sau : Tam bảo dấy lên.
-
1 tụng cuối : hội thành kim cổ.
Đây
là phần đầu.
Tiếng
Phạm gọi là Bà La Ni Tư, hoặc gọi là Ba La Nại (đây là
phiên sai). (Thành này) thuộc xứ trung Ấn Độ.
Xưa
kia ở đất này có hai đàn hươu mỗi đàn có hơn 500 con.
Phật là Lộc vương của một đàn. Đề Bà Đạt Đa làm vua
một đàn. Bấy giờ vua nước này đi săn bắn ở đồng nội.
Bồ
tát Lộc vương bèn đến trước nhà vua mà thỉnh rằng : Đại
vương săn bắn ở trung nguyên, thả chó bắn tên, chỉ trong
sáng sớm hôm nay tất cả thuộc hạ của tôi ắt sẽ mệnh
tận. Thế thì ngay trong ngày sẽ thối rữa, không còn có thịt
hươu tươi làm thức ăn cho vua nữa. Vậy xin đại vương cho
chúng tôi mỗi ngày dâng nộp một con hươu, như vậy thì đại
vương có món ăn bằng thịt tươi, mà chúng tôi cũng được
kéo dài mệnh mình thêm một sớm một tối.
Vua
cho lời tâu ấy là phải, bèn quay xa giá trở về. Từ đó
hai đàn hươu lần lượt theo thứ tự tới nộp mạng.
Trong
đàn của Đề Bà có con hươu chửa đến lượt phải chết,
bèn bạch với chúa mình rằng : “bản thân tuy đáng phải
chết, nhưng (hươu) con (trong bụng) chưa đến lượt, xin tạm
cử hươu khác thay. Sinh đẻ xong, sẽ đi nộp mạng.”
Lộc
vương Đề Bà nổi giận nói : “Ai mà chẳng quí mạng mình.”
Hươu cái nghe xong than rằng : “Vua ta bất nhân, không mấy
nữa ắt sẽ chết !” .
Thế
rồi vội báo Bồ tát Lộc vương. Bồ tát Lộc vương nói
: “Thương thay ! Tấm lòng của mẹ hiền thương tới cả
đứa con chưa thành hình ! Ta nay sẽ thay ngươi !”.
Rồi
ngài tới cửa vua. Người đi đường (thấy vậy) kháo nhau
nói : “Đại Lộc vương ấy nay tới vào trong đô ấp”.
Nhân dân kinh đô ai nấy đều đổ đến xem. Vua nghe tin ấy
cho là chẳng thực. Người canh cửa tâu với vua, vua mới tin
là đúng. Vua hỏi : “Lộc vương sao mà đã vội đến đây
thế ?”. Lộc vương nói : “Có con hươu cái đến lượt
phải chết, nhưng con nó trong thai chưa sinh. Tâm tôi chẳng
nỡ, dám xin đem thân đến chết thay !”.
Vua
nghe xong than rằng : “Ta là hươu mang thân người, không có
tâm từ bi dưỡng dục. Còn ngươi chính là người mang thân
hươu, vì có đức thế mạng”. Thế rồi tha cho hết thảy
các hươu chẳng còn phải nộp mạng nữa. Liền lấy rừng
đó làm nơi hội tụ cho loài hươu, nhân đó mà gọi là Thí
lộc lâm. Danh hiệu Lộc Dã phát sinh từ đó.
Ban
đầu sau khi thái tử Tát Phọc Hát Lạt Tha Tất Đà (theo tiếng
Đường, có nghĩa là Nhất Thiết Nghĩa Thành, xưa phiên là
Tất Đạt Đa, vừa sai vừa tỉnh lược) đã nương thân ở
núi, ẩn mình trong hang, quên mình vì đạo pháp. Tịnh Phạn
vương bèn sai ba người trong gia tộc và hai người cậu đi
và nói rằng : “Nhất Thiết Nghĩa Thành con ta bỏ nhà đi
tu học một mình nơi chốn núi đầm, một thân ở nơi rừng
rú, cho nên sai các ngươi đi theo để biết chỗ nó dừng lại
ở đâu. Các ngươi trong thì là chú là bác là cậu, ngoài
thì là nghĩa vua tôi, mọi động tĩnh của con ta các ngươi
cần phải biết để khuyên nhủ can ngăn”.
Năm
người vâng lệnh, cùng nhau bảo vệ. Nhân đó cũng tha thiết
cầu mong được xuất ly. Họ thường bảo nhau rằng : “Người
tu đạo do khổ mà chứng được hay sướng mà chứng được
?” Hai người nói : “An lạc vì đạo”. Ba người nói :
“Cần khổ vì đạo”. Hai, ba lần tranh cãi với nhau mà vẫn
chưa có gì để chứng minh được.
Bấy
giờ thái tử suy ngẫm về điều chí lý, tu theo lối khổ
hạnh của ngoại đạo, tức là dùng vừng, lúa mạch để
duy trì sắc thân.
Hai
người kia thấy vậy liền nói : “Lối tu hành của thái tử
chẳng phải là pháp chân thực. Xét ra cái gọi là đạo phải
sướng mới chứng được. Nay là cần khổ như vậy, thì đó
chẳng phải người bọn ta”. Bèn bỏ mà trốn đi xa, nghĩ
cách để chứng quả.
Thái
tử tu khổ hạnh sáu năm vẫn chưa chứng Bồ đề, muốn nghiệm
xem khổ hạnh chẳng phải là chân thực pháp, liền nhận sữa,
thế mà lại chứng quả. Ba người nọ nghe chuyện bèn nói
: “Công sắp thành rồi mà nay lại lùi. Sáu năm khổ hạnh,
một sớm vứt công”. Rồi cũng bỏ đi, bèn cùng nhau đi tìm
hai người kia.
Bọn
họ gặp nhau rồi ba người nọ bèn ngồi ngay ngắn, lớn tiếng
nghị luận rằng : “Xưa thấy thái tử Nhất Thiết Nghĩa
Thành ra khỏi cung vua tới nơi hang vắng, bỏ quần áo đẹp,
khoác mảnh da hươu, siêng năng gắng chí, trinh tiết khổ tâm
cầu pháp thâm diệu, mong quả Vô thượng thế mà nay lại
nhận sữa của cô gái chăn bò, bại đạo nhụt chí. Tôi biết
chắc chắn thái tử chẳng thể làm lên trò trống gì đâu
!” .
Hai
người kia nói : “Ôâng sao thấy muộn làm vậy ! Con người
này chỉ là người điên rồ mà thôi. Đang ở trong thâm cung,
yên ổn tại địa vị tôn quý, thế mà chẳng chịu tĩnh chí,
lại đi lẩn lút trong chốn núi rừng. Bỏ ngôi Chuyển luân
vương mà hành động như người quê mùa hèn hạ ! Thế thì
đâu đáng để quan tâm nữa!” Càng nói càng gay gắt.
Bồ
tát tắm ở sông Ni Liên xong, lên ngồi dưới cây Bồ đề,
thành Đẳng chính giác, được danh hiệu là bậc thày của
trời người, lặng lẽ điềm nhiên, chỉ quan sát xem ai là
kẻ đáng độ.
Ngài
ngẫm nghĩ nói : “ Ôâng Uất Đầu Lam Tửû kia đã chứng
được Phi tưởng định, đáng thụ pháp của ta”. Chư thiên
trong không trung nghe tiếng liền báo rằng: “Uất Đầu Lam
Tử mệnh chung đến nay đã bảy ngày rồi !”. Như Lai than
tiếc : Người này sao mà chẳng gặp, sắp được nghe diệu
pháp thì vội theo đà biến hóa”.
Rồi
ngài lại quan sát thấy có A Lam Ca Lam đã chứng đắc Vô sở
hữu xứ định, là người đáng được truyền thụ cho chí
lý. Chư thiên lại mách : Người này mệnh chung đã năm ngày
rồi. Như Lai lại than thở xót thương cho sự bạc phúc của
người này.
Thế
rồi ngài lại quan sát thật kỹ xem ai là người đáng được
thụ giáo, thì thấy chỉ có bọn năm người ở rừng Thí
Lộc là đáng được dẫn thụ trước.
Bấy
giờ Như Lai từ dưới cây Bồ đề đứng dậy, đi đến vườn
Lộc dã, uy nghi tịnh tĩnh, thần quang sáng ngời, mày chứa
vẻ ngọc, thân rực sắc vàng, ung dung tới trước năm người
để dìu dắt họ. Năm người này xa xa trông thấy Như Lai
bèn bảo nhau rằng :
“Nhất
Thiết Nghĩa Thành từ đó đến nay tháng ngày lần lữa, thánh
quả chẳng chứng, tâm muốn quay về, nên mới tìm đến bọn
ta. Chúng ta ai nấy đều nên lặng im, chớ đứng lên làm lễ
nghênh đón”. Như Lai dần dần càng đến gần, oai thần tác
động đến ngoại vật. Năm người quên cả điều đã giao
ước, bèn lạy rước chào hỏi, theo hầu đúng như nghi thức.
Như Lai bèn dẫn dụ dần dần, chỉ cho họ rõ diệu lý.
Tương
truyền giải rằng : năm người đó gồm :
1)
Trần Như.
2)
Thập Lực Ca Diếp.
3)
Át Bề, tức Mã Thắng Tỳ kheo.
4)
Bạt Đề.
5)
Ma Ha Nam Câu Lợi.
Đáng
nghe thuyết pháp, cớ sao lại chỉ có năm người này ? Có
người nói rằng : thời Phật Ca Diếp có chín người cùng
học, bốn người lợi căn đã đắc đạo trước, năm người
độn căn nên đến nay mới ngộ, vì nguyện được gặp Phật
Thích Ca xuất thế thành đạo.
Lại
nữa, kinh nói rằng : “Thời quá khứ Thích Ca làm thân cá
lớn, có nguyện rằng ai ăn thịt ta trước thì sẽ được
độ trước, năm người này ăn trước nên được Phật độ
trước”.
Thêm
nữa, kinh còn nói rằng : “Sáu người cúng dàng Phật, năm
người lấy hoa lúa cúng dàng, một người chờ lúa chín. Cho
nên năm người ngộ ngay từ đầu, một người sau này mới
ngộ, đó tức là Tu Bạt Đà La”.
Ngoài
ra, đó tức là năm Dạ xoa ăn thịt Từ Lực Vương vậy. Trong
năm người này, Trần Như đắc Sơ quả. Còn bốn người thì
tại Tứ thiện căn, tới đầu Hạ mới đắc đạo.
Tây
Vực Ký nói rằng : Hạ an cư xong mới đắc đạo tích.
Pháp
tịch diệt tướng tức là chân như, chẳng thể dùng ngôn
ngữ mà tuyên thuyết, vì tính lìa ngôn thuyết. Pháp không
có danh tướng mà lại dùng danh tướng để diễn thuyết thì
đó gọi là Phương tiện lực. Tới Ba La Nại là để thuyết
cho năm người.
*
-Kinh
văn : “Đó gọi chuyển Pháp luân” tới “tên
Pháp, Tăng sai khác”.
Tán
rằng : thế là Tam bảo được lập ra vậy.
Nghĩa
từ “Pháp luân” này, đại để dùng 5 môn để phân biệt
:
1.
Xuất thể. 4. Sai biệt.
2.
Thích danh. 5. Tam thừa.
3.
Chuyển tướng.
1.
Xuất thể :
Câu
Xá luận quyển 24 nói rằng :
Cái
gọi là Sa môn tính cũng gọi là Bà la môn, cũng gọi tên là
Phạm luân, vì là chân Phạm sở chuyển.
Trong
đó chỉ có Kiến đạo gọi tên là Pháp luân, vì nhanh như
bánh xe, vì có nan hoa như bánh xe. Tức là ở trong này, y vào
Kiến đạo. Có chỗ gọi Thế tôn tên là Pháp luân. Như bánh
xe thế gian có các tướng như nhanh chóng v.v… Kiến đạo
tựa như thế, nên gọi là Pháp luân. Có nghĩa là chứng ngộ
chân lý thì vận hành đạo nhanh chóng, có lấy có bỏ, hàng
phục thứ chưa phục, trấn áp thứ đã phục, trên dưới
chuyển, có đủ năm tướng ấy tựa như bánh xe ở thế gian.
Cho
nên Hiển Tông luận nói rằng : như bánh xe của thánh vương
lấy trước bỏ sau, Kiến đạo cũng thế : bỏ cảnh Khổ
v.v… lấy Tập v.v… Ý này tỏ rõ việc thấy lý Tứ đế
ắt chẳng đồng thời.
Như
bánh xe của thánh vương bắt hàng kẻ chưa phục, tôn giả
Diệu Âm thuyết như vậy.
Cũng
như bánh xe thế gian có các nan hoa v.v…, các chi phần của
Tám thánh đạo tựa như đó, gọi là Luân. Có nghĩa là :
Chính
kiến, Chính tư duy, Chính cần, Chính niệm : tựa như nan hoa
bánh xe thế gian.
Chính
ngữ, Chính mệnh, Chính nghiệp : tựa như ổ trục.
Chính
định như vành bánh.
Cho
nên gọi là Pháp luân.
Thế
nên biết, Pháp luân đâu chỉ là Kiến đạo ? Và khi nhóm
các ông Kiều Trần Na Kiến đạo, thì đó gọi là đã chuyển
Chính Pháp luân.
Thiên
Thân Luận chủ căn cứ vào tông chỉ của phái Kinh bộ, đã
đả phá Tát Bà Đa bộ, nói : Hành tướng ba chuyển chẳng
phải chỉ là Kiến đạo !
Làm
sao mà có thể nói rằng : đặt ra danh từ Pháp luân chỉ là
để chỉ Kiến đạo ? Bởi vậy chỉ nên coi tất cả pháp
môn gồm 3 chuyển 12 hành tướng này là Pháp luân mới có
thể đúng với chính lý.
Thế
nào gọi là chuyển ?
Có
nghĩa là do pháp môn này tới Tha tương tục (tha nhân, người
khác) khiến họ hiểu nghĩa vậy.
Hoặc
là đạo của chư Thánh đều gọi là Pháp luân, vì ở ngay
nơi muốn hóa độ mà sinh thân để chuyển đúng pháp.
Đối
với Tha tương tục, từ lúc Kiến đạo cho tới lúc bắt đầu
chuyển, thì gọi là đã chuyển.
Đây
có sự giải thích, nói rằng :
Thoạt
tiên thuyết về Kiến đạo, gọi tên là Pháp luân, chẳng
phải là Tát Bà Đa chính nghĩa.
Tạp
Tâm luận cũng kể bất chính nghĩa, nói : Mâu Ni thuyết
Kiến đạo mau chóng, gọi là Pháp luân.
Câu
Xá luận lại nói : hoặc đạo của chư Thánh đều là Pháp
luân v.v… Đó là bản ý của Tát Bà Đa sư.
Cho
nên Hiển Tông luận nói rằng : đó là bản ý của Tỳ Bà
Sa sư. Nói chung mọi Thánh đạo đều gọi là Pháp luân, cho
nên nói ba chuyển bao gồm ba đạo.
Lúc
Tha tương tục Kiến đạo, gọi là đã chuyển. Chẳng phải
chỉ có Kiến đạo với tám Thánh đạo mới được riêng
gọi là Pháp luân.
Cho
nên điều mà tôn giả Diệu Âm thuyết, chẳng phải là nghĩa
chính.
Thành
Thực luận nói :
-
Chuyển lần đầu sinh ra Văn tuệ.
-
Chuyển lần hai sinh ra Tư tuệ.
-
Chuyển lần ba sinh ra Tu tuệ.
Cũng
không có 12 hành tướng, chỉ có một Không hành.
Nay
đại thừa quán xuyến chung ý các văn bản.
Nói
về Pháp luân, thấy có năm ý :
1/
Luân tự tính : chỉ Trạch pháp giác chi, Chính kiến, Chính
trí. v.v…
Du
Già luận, quyển thứ 95 nói rằng : Chính kiến v.v… là tính
do pháp tạo thành, nên gọi là Pháp luân, vì tự tha ba chuyển
thông suốt cả Kiến đạo cùng Tu đạo và Vô học đạo.
Vì tuệ nhãn chư thánh có khả năng phá hủy phiền não, nên
gọi là Pháp luân.
Câu
Xá luận cũng nói rằng mọi Thánh đạo đều là Pháp luân.
Hoặc
vì Thể chỉ lấy tám Thánh đạo chi, như bánh xe có đủ ổ
trục, vành bánh, nan hoa với nghĩa viên mãn :
Chính
kiến, Chính tư duy : gọi là ổ trục, vì đó là căn bản.
Chính
ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh : gọi tên là nan hoa, nhân ổ
trục mà có.
Chính
niệm, Chính cần, Chính định : gọi tên là vành bánh vì nó
thâu tóm các thứ còn lại của bánh xe.
Khác
với tiểu thừa, hành tướng tu riêng biệt của tám Thánh
đạo này tuy tại Tu đạo, nhưng thực ra Thể của chúng thông
với Kiến đạo và Vô học đạo.
Thế
tôn ưng vô tám Thánh đạo (ý nói Phật không còn phải tu
tám Thánh đạo chi).
2/
Pháp luân nhân : chỉ các giáo pháp Văn, Tư, Tu v.v… có
khả năng sinh ra Thánh đạo sau này. Trong 17 danh của Kinh Vô
Lượng Nghĩa cũng có tên là Pháp luân. Trong các kinh luạân
đều nói rằng giáo pháp của Phật gọi tên là Pháp luân.
Câu
Xá luận cũng nói : đó tức là tất cả pháp môn 3 chuyển
12 hành tướng gọi là Pháp luân.
Du
Già cũng nói : 3 vòng 12 hành tướng gọi là phương tiện để
đắc cái sở đắc.
Cái
trước làm nhân cho cái sau, gộp lại làm nhân quả, nên gọi
là phương tiện.
Lại
nói : 3 vòng chính chuyển Kiến, Tu, Vô học theo thứ tự của
chúng. Trí kiến hiện quán, gọi là phương tiện.
3/
Luân quyến thuộc : chỉ các Thánh đạo trợ giúp cho năm uẩn.
Du
Già v.v… nói rằng : đó là các pháp Giới và Tín v.v… mà
bậc Thánh ưa thích. Những pháp này giúp cho việc quán thêm
sáng suốt, giúp đạo trừ hoặc, nhưng chẳng phải là chính
đoạn.
4/
Pháp luân cảnh : chỉ các pháp bốn Thánh đế, mười hai nhân
duyên, ba tính v.v…
Du
Già nói : cảnh sở duyên để đắc cái sở đắc, đó là
chỉ bốn Thánh đế. Kinh này cũng nói : Đại Thông Trí Thắng
chuyển mười hai nhân duyên.
Kinh
Giải Thâm Mật thuyết Y hiển liễu tướng, nói : ba vô tính
đều y vào biến kế sở chấp, đó gọi là Pháp luân.
5/
Pháp luân quả : Du Già nói : “để đắc cái sở đắc, đó
là đại Bồ đề”. Văn sau còn nói : đó là quả bao gồm
trong bốn quả Sa môn. Bồ đề của Thanh văn của Độc giác
và Vô thượng Bồ đề của các vị Như Lai, đó là Pháp luân
quả.
Du
Già lại nói : 3 vòng 12 hành tướng, đó gọi là phương tiện
để đắc cái sở đắc.
Lại
nói : 3 vòng chủ yếu chuyển Kiến, Tu, Vô học theo thứ tự
của chúng. Trí kiến hiện quán gọi là đắc phương tiện.
Cho nên Bồ đề Niết bàn gọi là quả sở đắc.
Song
năm thể này chẳng qua chỉ là bốn loại :
1)
Giáo 3) Hạnh
2)
Lý 4) Quả
2.
Thích danh (giải thích tên gọi) :
•
Gọi là Phạm luân : Như Lai Ứng cúng là Phạm. Chuyển pháp
bằng thứ ngôn ngữ tăng thượng, nên gọi là Phạm luân.
•
Gọi là Pháp luân : Pháp có nghĩa là đáng để quỹ trì (làm
khuôn phép để giữ gìn). Là tính do các pháp như Chính kiến
v.v… hình thành, nên gọi là Pháp luân.
Luân
(bánh xe) có bốn nghĩa :
a)
Nghĩa Viên mãn (tròn trặn đầy đủ); có đủ ổ trục, vành
bánh, nan hoa. Hoặc Trạch pháp giác v.v… thể dụng đầy đủ
thì gọi là Luân.
b)
Nghĩa tồi hoại (phá hủy trừ diệt) : bốn loại pháp này
dù phục, hay đoạn, dù trợ hay chính đều có khả năng tồi
hoại được các phiền não chưa đoạn.
c)
Nghĩa trấn át : vì khiến cho các phiền não đã hàng phục
được chẳng thể tái hiện.
d)
Nghĩa bất định : từ tự Kiến tới tự Tu, từ tự Tu tới
tự Vô học, từ tự Vô học trí phát ra ngôn giáo.
Tha
từ ngôn Giáo mà hiểu đế Lý, tha từ đế Lý mà khởi chính
Hạnh, tha từ chính Hạnh mà khởi Quả trí , xoay vần như
vậy lại vì tha mà thuyết.
Như
luân bảo của Chuyển luân vương, có khả năng hàng phục
được phiền não chưa phục, trấn át được phiền não đã
phục, qua rồi lại qua.
Du
Già luận nói : “Cần phải biết rằng Thế tôn chuyển pháp
sở giải đặt vào ngay nơi thân A Nhã Kiều Trần Như”.
Đây
lại tùy căn cơ mà đặt vào thân khác. Đó lại tùy duyên
mà chuyển đặt vào thân khác.
Vì
nghĩa xoay vần tùy chuyển này, cho nên gọi tên là Pháp luân.
Pháp tức là luân, đó là Trì nghiệp thích.
Chuyển
: có nghĩa là Động, là Hiển, là Vận, là Khởi :
Động
tuyên ngôn giáo.
Hiển
dương diệu lý.
Vận
thánh giáo trước âm thanh.
Khởi
chân trí sau ngôn ngữ.
Trừ
diệt hoàn toàn mọi chướng não, gọi là chuyển Pháp luân.
Sở
chuyển : tức là Pháp luân, hoặc là sự chuyển động của
Pháp luân. Hai cách giải thích đều được.
3.
Chuyển tướng :
Du
Già quyển 95 nói rằng do năm loại tướng chuyển Pháp luân,
cần phải biết rằng đó gọi là khéo chuyển Pháp luân :
1/
Khi Thế tôn còn là Bồ tát thì là cảnh giới sở duyên để
đắc sở đắc.
2/
Đắc sở đắc phương tiện.
3/
Chứng đắc điều tự mình cần phải chứng.
4/
Chứng rồi thì gây dựng cho người khác, khiến họ sinh tín
giải sâu sắc đối với điều mình tự chứng được.
5/
Khiến người khác sinh ra tín giải sâu sắc đối với điều
mà người khác chứng.
Ý
này nói chung về hóa thân hóa tướng lúc tự chứng quả cũng
khiến hạng Thanh văn v.v… có điều sở chứng, chẳng y vào
báo thân Bồ tát mà thành nghĩa. Hoặc cũng y vào thực Bồ
tát mà chuyển nghĩa, y chung vào thủy chung cứu cánh mà thành
luận, chẳng y vào một hội mà thành ba chuyển.
•
Cảnh sở duyên : chỉ bốn Thánh đế, vì y vào An lập đế,
Phi an lập đế, y vào ba tính đều bao gồm cả ở đây.
•
Đắc phương tiện : chỉ 3 vòng 12 hành tướng trí ở ngay
trong bốn Thánh đế này. Đây là từ tướng ba vòng chuyển
Pháp luân để được cái nhân của Bồ đề vô thượng.
Ba vòng chuyển :
•
Vòng chuyển đầu : chỉ xưa kia lúc Bồ tát nhập hiện quán
đã biết rõ như thực rằng đây là Khổ thánh đế, nói rộng
ra cho đến đây là Đạo thánh đế, trong đó tất cả hiện
lượng thánh trí có khả năng đoạn trừ được các phiền
não mà Kiến đạo đoạn trừ, bấy giờ được gọi là Chân
thánh tuệ nhãn.
Vì
căn cứ vào ba đời quá khứ, vị lai, hiện tại mà có sự
sai biệt theo thứ tự các đời đó mà gọi là Trí minh giác.
Đây là nói về một trí có tên chung gọi là Pháp nhãn, có
ba hành tướng gọi là Trí minh giác, chứ chẳng phải ở một
đế mà biệt khởi bốn trí.
Do
chân Kiến đạo chỉ một sát na, chẳng giống với tiểu thừa
trên dưới biệt quán. Căn cứ vào ý nghĩa của việc chứng
Diệt mà thuyết chung cho cả ba đời, chứ chẳng phải ba đời
đều có Diệt đế.
•
Vòng chuyển thứ hai, đó là nói rằng : đây là hạng Hữu
học, nhờ diệu tuệ mà thông đạt được đúng như thật
rằng : “sau này ta vẫn còn việc phải làm, đó là cần phải
biết hết Khổ đế (mà ta) chưa biết, cần phải đoạn hẳn
Tập đế mà ta chưa đoạn, cần phải chứng được Diệt
đế (mà ta) chưa chứng, cần phải tu tập Đạo đế (mà ta)
chưa tu”. Như vậy thì cũng có bốn hành tướng như trên
nên biết.
•
Vòng chuyển thứ ba, đó là nói rằng : đây là hạng Vô học,
vì đã được Tận trí Vô sinh trí.
Nói
rằng “các việc cần làm ta đều đã làm”, có nghĩa là
“ta đã biết hết Khổ đế chưa biết”, nói rộng ra cho
tới “ta đã tu tập Đạo đế chưa tu”. Cũng có bốn loại
hành tướng như trên nên biết.
4.
Sai biệt :
Chỗ
sai biệt ở đây là ở chỗ bốn hành tướng của hai vòng
chuyển đầu là Chân thánh tuệ nhãn của hạng Hữu học,
còn của vòng chuyển cuối cùng là Chân thánh tuệ nhãn của
hạng Vô học.
Xem
ý văn này thì lúc chuyển vòng đầu, ở địa vị Gia hạnh
trí trước Kiến đạo tuy biết bốn đế, nhưng chỉ là chuyển
nhân, vẫn chưa phải là chính chuyển, vì chưa tồi phá. Do
đó chỉ gọi là “tổn lực ích”, bao gồm trong năng
chuyển vị.
Nhập
chân Vô gián đạo trong Kiến đạo mới chính thức được
gọi là chuyển, vì thực sự đoạn được Hoặc.
Giải
thoát đạo cùng Tương kiến đạo cũng gọi là sơ chuyển,
(vì) tuy chưa đoạn Hoặc nhưng đoạn thô trọng, trấn át
được (các thứ) đã hàng phục, cho nên cũng chẳng phải
là biệt tri tướng bốn đế.
Sau
đó các hành tướng mà Tu đạo khởi lên như Ứng biến tri
v.v… trước khi đoạn Hoặc thì gọi là chính chuyển tướng.
Chính
khởi chân trí cho đến tâm kim cương đoạn các phiền não
cũng thuộc chuyển này, vì khởi Biệt hành tướng chỉ muốn
hướng tới cách đoạn trừ các Hoặc.
Chiết
phục, chính đoạn đều gọi là Chuyển cả.
Còn
như trí cho rằng “ta đã làm việâc cần phải làm” của
hạng Vô học khởi lên sau Giải thoát đạo, sau này chẳng
đoạn nữa, chỉ trấn át các Hoặc đã chịu hàng phục, không
hàng phục các Hoặc chưa bị hàng phục. Trước Kiến đạo
tuy có cách hàng phục các Hoặc, vẫn chẳng gọi là chuyển,
vì chẳng phải vô lậu. Vì trước không có vô lậu nên chẳng
đồng Tu.
Như
vậy thì Bồ tát tự làm ba chuyển :
-
Chuyển đầu : tại Kiến đạo, gọi là Ấn tướng chuyển.
-
Chuyển sau : tại Tu đạo gọi là Ứng tu chuyển.