QUYỂN
THỨ TƯ (PHẦN TRƯỚC)
Sa
môn KHUY CƠ, chùa ĐẠI TỪ ÂN soạn.
Nghĩa
của NHẤT THỪA chính là
tông
chỉ của kinh.
Nay
tạm phân biệt sơ qua năm môn :
I.
XUẤT THỂ TÍNH (chỉ ra thể tính)
II.
THÍCH DANH TỰ (giải thích danh tự)
III.
MINH THUYẾT Y.
IV.
CHƯƠNG SAI BIỆT
V.
VẤN ĐÁP BIỆN
I.
XUẤT THỂ TÍNH.
Đại
khái có ba loại :
1.
Tổng hàm thể.
2.
Tùy thắng thể .
3.
Chân thực thể.
•
Một là Tổng hàm thể :
Hết
thảy vô lậu dù là Chủng hay là Hiện, hữu vi hay vô vi, dù
nhân hay quả, căn bản hay phương tiện, có khả năng thành
tựu được Phật đức thì đều gọi là nhất thừa. Nhất
thừa tức đại thừa. Đại thừa tức Vô thượng thừa.
Cho
nên Kinh Thắng Man nói rằng : “nhất thừa đó tức là đại
thừa”.
Bản
luận này nói : Khai là nghĩa Vô thượng này.
Biện
Trung Biên luận, Vô Thượng Thừa phẩm nói có ba Vô thượng
:
1)
Chính hành vô thượng : chỉ Thập độ tùy tu sai biệt có
6 chính hành.
2)
Sở duyên vô thượng : có 12 loại sở duyên.
3)
Tu chứng vô thượng : Chỉ 10 loại tu chứng như Chủng tính
tu chứng v.v… , bao quát hết thảy mọi Cảnh hành quả của
Bồ tát.
Nên
Kinh Thắng Man nói rằng : “A la hán, Bích chi Phật vì sợ
hãi nên quy y. Bốn trí chẳng cứu cánh thì gọi là Hướng
Niết bàn giới”.
Lại
nói rằng : “Chính pháp trụ, Chính pháp diệt, Ba la đề mộc
xoa, Tỳ ni, xuất gia, thụ cụ túc giới. Sáu pháp này được
nói vì mục đích đại thừa”.
Cho
nên biết rằng : hết thảy mọi căn bản phương tiện, hết
thảy vô lậu dù là Chủng hay là Hiện, hữu vi hay vô vi, dù
nhân hay quả, có khả năng thành được Phật đức thì đều
gọi là nhất thừa, vì ba loại Ý sinh thân đều nhập Sơ
địa.
•
Hai là Tùy thắng thể :
Loại
này có sáu loại :
1)
Nhiếp sự qui lý thể :
Trong
các Kinh Niết Bàn, Thắng Man v.v… phần nhiều gọi Pháp thân,
chân lý, Phật tính là nhất thừa.
Kinh
Thắng Man nói : “Nhất thừa tức là đại thừa. Đại thừa
tức là Phật thừa. Phật thừa tức Niết bàn giới (cõi Niết
bàn)”.
Kinh
Thắng Man còn nói : “Trong hằng sa kiếp, tu hành sáu pháp
Ba la mật chẳng bằng có người nghe nhận, đọc tụng thậm
chí chấp trì kinh quyển, huống hồ còn có người vì người
khác mà diễn thuyết rộng rãi”. Đây là đem Hữu vi hạnh
so với Vô vi thừa.
Kinh
Niết Bàn nói : “Nhất thừa tức là Phật tính”. Đây (chỉ
Kinh Pháp Hoa) diệt Hóa thành, tới Bảo sở, chỉ coi Chân như
Pháp thân bình đẳng là nhất thừa.
2)
Lãm dư qui trí thể (thể gom các thứ khác qui về trí) :
Cũng
coi Chân trí là nhất thừa. Đoạn văn kinh trước nói : “Phương
tiện tri kiến đều đầy đủ. Các Bồ tát bất thoái có
số lượng nhiều như cát sông Hằng, dù có nhất tâm cùng
nhau suy lường cũng chẳng thể lường được Phật trí”.
Trí
thể chỉ là Chính thể, Hậu đắc. Bởi vì :
-
Nếu tại Nhân vị thì Trí yếu Thức mạnh.
-
Nếu ở Quả vị thì Trí mạnh Thức yếu.
3)
Ẩn liệt tòng thắng thể (thể giấu cái kém đi theo cái hơn)
:
Phần
dưới của kinh tụng rằng :
“Để thuyết Phật trí tuệ,
Chư
Phật hiện thế gian.
Chỉ
một sự này Thực,
Hai
thứ chẳng phải Chân”.
và
: “Pháp đó trụ ngôi phápï,
Tướng
thế gian thường còn.
Nơi
đạo tràng biết rồi,
Đạo
sư phương tiện thuyết”.
Phẩm
Phân Biệt Công Đức nói : “Có người vì Vô thượng Chính
đẳng Bồ đề, ở 80 vạn ưcù na do tha kiếp, tu hành 5 pháp
Ba la mật thì công đức này chẳng bằng công đức của người
có một niệm sinh tín, vì công đức đạt được của một
niệm sinh tín thì chẳng thể ví dụ được”.
Do
coi Phật quả Lý Trí hai loại là nhất thừa. Lý ngưng
bản hữu, lìa Triền thì gọi là Niết bàn. Trí chiếu mới
sanh, Quả viên thì xưng là Chính giác.
Đó
chính là nguồn lớn của bốn Đức, diệu bản của ba Minh.
Cho nên nói chư Phật vì tri kiến đó (tức Phật tri kiến)
mà xuất hiện ở thế gian.
Coi
hai thứ Lý Trí là thể của nhất thừa.
Trí
tính Trí tướng gọi gộp là Trí.
4)
Nhị vận dụng quảng thể (thể hai thứ vận dụng rộng)
:
Chỉ
coi Nhân trí là nhất thừa. Vì trong ví dụ về nhà lửa, cho
các Bồ tát cùng Thanh văn dùng Bảo thừa này tới đạo tràng,
đó là Nhân hạnh vậy.
5)
Thắng xuất Phân đoạn thể (thể ưu thắng xuất ly Phân đoạn
tử) :
Lấy
cả Lý Trí của Nhân quả xuất ly Phân đoạn tử, coi đó
là nhất thừa.
Trong
bốn nghĩa Khai Thị Ngộ Nhập, ba nghĩa đầu là hai Quả, một
nghĩa sau là hai Nhân. Như trên đã nói, nên lướt qua chẳng
bàn.
Kinh
Thắng Man nói : “như Thủ là duyên, nghiệp Hữu lậu là nhân,
nối với Hậu hữu nên sinh ra Tam hữu. Cũng vậy, vô minh tập
địa là duyên, nghiệp vô lậu là nhân, mà sinh ra ba loại
Ý sinh thân của A la hán, Độc giác và Bồ tát đã được
tự tại”.
Cho
nên Thừa mà Ý sinh thân sử dụng gọi là Nhân trung nhị.
Nhiếp
Đại thừa luận nói : “Vạn hạnh, Chân như đều gọi là
đại thừa”.
6)
Dẫn nhiếp thù thắng thể.
Coi
hai môn Thuyên chỉ là nhất thừa.
Giáo
tùy theo căn cơ mà đặt ra, ý thú thâm diệu khó biết. Lý
giả trí minh (Lý nhờ Trí để đạt tới, nhưng khó biết),
Thể sâu khôn dò. Cho nên phẩm Phương Tiện thoạt tiên coi
Trí tuệ sở thuyên và Giáo môn năng thuyên là nhất thừa.
Trong 17 danh của Kinh Vô Lượng Nghĩa, danh thứ 14 cũng gọi
là nhất thừa.
Do
đó mà luận về Liên hoa (hoa sen) của kinh này cũng có hai
nghĩa :
a)
Thể xuất thủy.
b)
Năng khai phô.
Nghĩa
đầu ví với Trí tuệ, nghĩa sau ứng với Tuệ môn. Nếu chỉ
coi Chân như là nhất thừa thì mới được một nghĩa Xuất
thủy mà mất đi nghĩa thứ hai Năng khai phô. Song nay Liên hoa
đã có đủ bốn nghĩa, lẽ nào riêng Pháp lại chỉ có hai
loại ?
•
Ba là Chân thực thể :
Căn
bản đại thừa Giáo, Lý, Hạnh, Quả, cùng Năng nhập đại
thừa, Phương tiện, Tứ pháp đều gọi là nhất thừa, vì
đều có công năng vận tải.
1)
Căn bản giáo :
Phần
đầu phẩm này nói : “Trí tuệ môn ấy khó hiểu, khó nhập”.
Bản luận giải thích nói : A Hàm rất sâu. Nghĩa Hoa khai phô
để ví với Diệu Pháp. Đoạn kinh sau cũng nói : “Pháp Hoa
kinh tạng sâu bền xa kín v.v…”
Nhiếp
Đại thừa luận nói : đó là các kinh như Đại Thừa A Tỳ
Đạt Mạ v.v…
2)
Phương tiện giáo :
Phẩm
này nói : “Hoặc thuyết Tu đa la, Già đà cùng Bản sự, Bản
sinh, Vị tằng hữu. Cũng thuyết về Nhân duyên, Thí dụ cùng
Kỳ dạ, Ưu ba đề xá kinh. Chín bộ pháp này của ta lấy
việc Nhập đại thừa làm gốc, tùy thuận chúng sinh mà thuyết,
vậy nên thuyết kinh này”.
Kinh
Thắng Man nói rằng : “Chính pháp trụ v.v… Sáu xứ này được
thuyết vì mục đích đại thừa”. Cho nên tiểu thừa tam
tạng đều là đại thừa phương tiẹân.
3)
Căn bản lý :
Chỉ
Pháp tính chân như. Các Hạnh như Lục độ v.v… nhờ vận
dụng chân lý này mà có thể đi tới đích, nên gọi là đại
thừa.
Phần
trên kinh này nói : “chư Phật trí tuệ rất sâu vô lượng”.
Bài tụng ở dưới tụng rằng :
“Pháp
đó trụ ngôi pháp,
Tướng
Thế gian thường còn.
Nơi
đạo tràng biết rồi,
Đạo
sư phương tiện thuyết”.
Bản
luận nói : Quán niệm có nghĩa là người tu đại thừa, quán
pháp vô ngã, Chân như pháp giới v.v… .
Vô
Tính luận nói : Hoặc Thừa ấy tính lớn, nên gọi là đại
thừa.
Biện
Trung Biên nói : Chân như pháp giới gọi là Sở duyên vô thượng.
4)
Phương tiện lý :
Chỉ
lý Tứ đế. Nhị thừa sở quán đều là Phương tiẹân lý.
Kinh
Thắng Man nói rằng : “Thanh văn biết Bốn thánh đế Hữu
tác. Phật biết Bốn thánh đế Vô tác”.
Kinh
Niết Bàn cũng nói : “Thanh văn có Khổ, có Đế mà không
có Thực. Bồ tát thì đủ cả”.
Bản
luận nói : Quán niệm có nghĩa là Thanh văn quán Nhân vô ngã
v.v…
Do
đó, hai lý này đều là Lý nhất thừa.
5)
Căn bản hạnh :
Chỉ
Lục độ vạn hạnh của Bồ tát.
Bồ
tát Địa luận nói : Thất địa tu bốn Bồ tát hạnh.
Phẩm
An Lạc Hạnh nêu các hạnh đều là Bồ tát hạnh. Lại nói
: “dùng Bảo thừa ấy tới thẳng Đạo tràng, đó tức là
Hạnh đại thừa”.
Nhiếp
Đại Thừa luận nói : “vừa là Thừa, lại vừa là lớn,
nên gọi là đại thừa”.
Biện
Trung Biên nói : “mười Ba la mật, đó gọi là Hạnh vô thượng”.
6)
Phương tiện hạnh :
Kinh
Thắng Man nói : “Chính pháp trụ v.v… Sáu xứ này được
thuyết vì mục đích đại thừa”. Y vào Tam tạng giáo mà
tiến Thiện, diệt Ác, tu Vô lậu hạnh, đều là Hạnh đại
thừa.
Pháp
Hoa luận nói : “gọi là Phương tiện là vì Thanh văn thì
quán Ấm, Giới, Nhập, chán khổ lìa khổ. Còn Bồ tát thì
tu Sáu độ, Bốn nhiếp, Hai lợi hành”.
Do
đó hai loại hạnh trên đều là Hạnh nhất thừa.
7)
Căn bản quả :
Là
Bồ đề Niết bàn của Phật thân, tức là hai thân Pháp -
Báo, hai kiến Lý - Trí đã nói ở trên .
Phần
dưới của kinh tụng rằng :
“
Để thuyết Phật trí tuệ,
Chư
Phật hiện thế gian.
Chỉ
mộtù sự này Thực,
Hai
thứ chẳng phải Chân”.
Còn
nói : “ Pháp đó trụ ngôi Pháp,
Tướng
thế gian thường còn.
Nơi
đạo tràng biết rồi,
Đạo
sư phương tiện thuyết”.
Thêm
nữa, Pháp thân, Báo thân, Hóa thân được thuyết ở phẩm
Thọ Lượng đều là Quả nhất thừa.
Biện
Trung Biên nói : trong 10 Tu chứng thì thứ bảy là Tịnh độ,
thứ chín là Phật địa, thứ mười là Thị hiện Bồ đề.
8)
Phương tiện quả :
Là
Bồ đề, Niết bàn của nhị thừa.
Phần
dưới kinh này nói : “Sở hành của các ngươi là đạo Bồ
tát. Phương tiện bày đặt ra xe dê, xe hươu là nhằm cầu
được xe trâu để thoát ra nhà lửa. Hóa thành ở giữa
đường chỉ là chỗ nghỉ chân để đi tới Bảo sở, vì
vậy mà thuyết về nhị thừa. Thực ra chỉ có nhất thừa,
chẳng còn Thừa nào khác”.
Kinh
Thắng Man cũng nói : “Thanh văn, Duyên Giác Bốn trí chẳng
cứu cánh thì gọi là hướng Niết bàn giới (hướng tới
cõi Niết bàn). Nói là được Tô tức xứ (chỗ sống lại,
thở bình thường, chỗ nghỉ ngơi), Bốn trí cứu cánh, đắc
Niết bàn rồi thì đó là phương tiện của Phật”.
Cho
nên Quả nhị thừa cũng là nhất thừa.
Do
đó, người đốn ngộ thì chủ yếu học căn bản Giáo, Lý,
Hạnh, Quả; và để điều phục giáo hóa nhị thừa, cho nên
cũng học thêm cả phương tiện Giáo Lý Hạnh Quả.
Người
tiệm ngộ thì thoạt đầu học phương tiện, sau hồi tâm
rồi mới học căn bản.
Pháp
sở học của hai hạng này giống nhau, nhưng trình tự học
trước sau hoàn toàn khác nhau.
Cho
nên biết rằng chỉ có hai loại Phật tính Lý Trí ; hai Nhân
vô lậu Hiện Chủng, hữu vi vô vi, Giáo Lý Hạnh Quả của
căn bản và của phương tiện khiến có thể thành Phật được,
đó đều là Thể của nhất thừa.
Thêm
nữa, kể cả công đức hữu lậu Địa tiền cùng trợ hạnh
của Thập địa cũng là nhất thừa.
Như
vậy cũng chẳng trái với Chính lý.
Pháp
Hoa kinh luận và các giáo khác, chỉ y theo một môn trong ba
loại Thể này mà xuất, thì chưa hẳn đã bao quát hết. Nếu
y theo các lời văn giải thích về Tổng Hàm ở đây thì không
thứ gì không bao quát hết.
Song
Thể tính này tất cả có năm môn :
1/
Thuyên Chỉ phân biệt, thông Giáo và Lý.
2/
Nhân Quả phân biệt, thông Hạnh và Quả.
3/
Trí Phúc phân biệt, thông Phúc và Trí.
4/
Giác Tịch phân biệt, thông Diệt Đạo đế và Bồ đề Niết
bàn.
5/
Hai Lợi phân biệt, thông Tự lợi và Lợi tha.
Đây
thuyết nhất thừa, nên nghĩa thông suốt. Nếu nói Phật thừa,
thì nêu Quả mà bao gồm cả cái danh của Nhân. Nếu gọi là
Bồ tát thừa, thì nêu Nhân mà hàm chứa cả cái hiệu
của Quả. Danh tuy chẳng chung, mà nghĩa có thể gồm cả.
Lại
nữa, do hành giả tu tập hai trí Chính thể Hậu đắc, quán
hai lý Sinh không Pháp không, đoạn hai chướng Phiền não Sở
tri, trừ hai tử Phân đoạn Biến dịch, chứng hai quả Bồ
đề Niết bàn; viên đắc hai Diệt Vô dư Vô trụ, hành hai
lợi Tự lợi Lợi tha, xứng đáng thì Quả mãn.
Thế
thì :
Hai
chướng sở đoạn gồm trong Tập đế.
Hai
tử sở trừ gồm trong Khổ đế.
Hai
trí sở tu, Bồ đề sở chứng gồm trong Đạo đế.
Hai
lý sở quán, hai Diệt sở đắc, Niết bàn sở chứng gồm
trong Diệt đế.
Hai
lợi
sở hành gồm trong Diệt Đạo đế.
Gộp
Diệt Đạo này gọi là nhất thừa.
Cho
nên bản luận này trong mục giải thích về Già nói rằng
: không có nhị thừa thì không có Niết bàn của nhị thừa.
Chỉ có Phật Như Lai chứng đại Bồ đề, cứu cánh đầy
đủ hết thảy trí tuệ thì gọi là đại Niết bàn, vì chỉ
có một Phật thừa.
Trong
Kinh Niết bàn đã coi Ma ha Bát nhã, Pháp thân và Giải thoát,
ba sự đó viên mãn, là đại Niết bàn. Cho nên nhất thừa
này, hai đế là Thể.
II.
GIẢI THÍCH DANH TỰ.
Thừa : có nghĩa là vận tải (chuyên chở). Nên sách Quảng
Nhã nói rằng : Thừa nghĩa là Giá (xe, đi xe). Sách Chu Lễ
nói : Thừa có nghĩa là Tải, vì có nghĩa là vận tải hành
giả sang bờ bên kia.
Cho
nên kinh nói rằng : “Dùng bảo thừa (xe báu) này thẳng tới
đạo tràng”.
Nhiếp
Luận cũng nói : Lục độ vạn hạnh vừa là Thừa lại vừa
Lớn. Pháp tính chân như chuyên chở đại tính. Sự Lý đều
có khả năng chuyên chở được hành giả, chở mình chở người
tới bờ bên kia, đều gọi là Thừa.
Hỏi
: Nhân hành có khả năng tự vận tới Quả mới đáng gọi
là Thừa. Phật quả tự vận ngừng, lẽ ra chẳng là Thừa
thể ?
Đáp
: có năm nghĩa:
1)
Vận tải, đó gọi là Thừa. Trong Nhân thông cả Nhị vận
(tự vận, vận tha). Tới Quả rồi, quảng vận tha (chở rộng
khắp cho người, chỉ việc phổ độ quần sinh của Phật
thừa), do đó cũng gọi là Thừa.
2)
Thể Năng thông nhị vận. Năng Thể đều gọi là Thừa. Thể
có sẵn trong Quả, Năng chẳng phải là không, cũng bao gồm
ở trong Thừa. Như danh tự Cắt vì Dao mà có. Thế thì cái
khả năng cắt ấy đã chứa sẵn trong Dao rồi, chẳng phải
là cần phải thị hiện rộng rải ra cái khả năng Cắt ấy
mới là Dao, nếu không chẳng phải là Dao. Phật quả đức
Thể Năng là Nhị vận, chẳng cần phải vận dụng rộng rãi
mới gọi là Thừa.
3)
Nhị thừa chỉ tự vận, là hạng Tiểu mà còn được gọi
tên là Thừa, Phật quảng Vận tha, lẽ nào chẳng phải là
Thừa.
4)
Lý Trí trong Nhân có khả năng song vận (Tự vận Vậân tha).
Nhị dụng thù thắng nên gọi là Thừa. Lý Trí trong Quả nhân
tu mà thành. Chủng loại Nhân thừa cũng thuộc về Thừa.
5)
Nhị vận trong Nhân thường tăng tiến. Tác dụng hiện thắng
được gọi tên là Thừa. Tự vận trong Quả đến tận cùng
thời vị lai, khiến Tha tăng tiến thì được gọi tên là
Thừa.
Bốn
nghĩa đầu là Tùy tha Bất chính đáp.
Một
nghĩa sau là Tùy tự Chính nghĩa đáp.
Cho
nên Đối Pháp luận nói : nhất thừa là chỗ y chỉ của Tự
Tha song lợi.
Nhất có ba nghĩa :
•
Giản biệt nên gọi là Nhất.
•
Phá biệt nên gọi là Nhất.
•
Hội biệt nên gọi là Nhất.
1)
Giản biệt, nên gọi là Nhất :
Ngày
xưa thuyết tam thừa, ngày nay thuyết nhất thừa. Cho nên biết
rằng Lý sở thuyên cực nhất mà là Thực. Còn Giáo năng
thuyên nhị thừa tức là Quyền (thừa). Không có hai lý khác,
đó là Cực. Vô ngã, giải thoát tuy thảy đều bình đẳng,
nhưng tới Phật quả mới gọi là Cực. Cho nên Lý sở thuyên
- Phật trí gọi là Nhất. Chẳng phải là biệt giản Tam, chỉ
vì không có hai cực.
Luận
giải thích về Già nói : không có nhị thừa có nghĩa là không
có nhị Niết bàn thể. Song kinh nói : “Ta đặt ra phương
tiện này để cho chúng sinh được nhập Phật tuệ”. Lại
nói : “Trong nhà lửa, hứa cho ba xe. Sau khi ra khỏi cửa rồi,
thì chỉ cho xe trâu”, “lại thuê nó hốt phân, suốt 20 năm
giả danh làm con”. Nên nhị thừa đó là cái Nhân để sau
này được làm con thật và được giao phó việc nhà.
Thêm
nữa, dùng quả Nhất để giản biệt nhân Tam, tức có hai
thứ giản :
a)
Lý giản Giáo.
b)
Quả giản Nhân.
Vì
“sở hành của các ngươi là đạo Bồ tát”.
2.
Phá biệt, nên gọi là Nhất:
Nhị
thừa chẳng biết Nhị là phương tiện, chấp quả nhị thừa
cho rằng đó là Chân cực. Nay thuyết nhị Niết bàn chỉ là
Hóa thành, thuyết nhị Bồ đề chỉ là quyền giáo được
bày đặt ra như chuyện xe dê, xe hươu. Chẳng phải Bồ đề
Niết bàn sở đắc sở chứng của nhị quả (quả nhị thừa)
là Chân thắng cực.
Để
phá mê tình của họ chấp là có Nhị quả cực, nên mới
thuyết Nhất. Đó tức là điều trong kinh đã nói: “Những
người cầu tam thừa có kẻ ôm mối nghi ngờ, Phật sẽ
giúp họ đoạn trừ hết sạch không sót gì nữa”. Thu Tử
cũng nói : “Song chúng con chẳng hiểu phương tiện, tùy nghi
sở thuyết, mới nghe Phật pháp, gặp liền tín thụ. Thậm
chí đoạn trừ được các điều nghi hối”. Ca Diếp cũng
nói : “Hơn nữa ngày nay chúng con đắc Niết bàn chứng, đối
với Bồ tát pháp chẳng sinh tâm ưa thích”.
Nhiếp
Luận cũng nói : Đoạn trừ Tứ xứ chướng, nhị thừa tác
ý v.v… tức là Chấp này.
Phần
cuối bản luận cũng nói phẩm Phương Tiện có năm phần thị
hiện : phá nhị, minh nhất, chẳng nói phá tam v.v…
Hoặc
có người nói rằng : vì phá tam chấp, nên chẳng phải chỉ
là phá nhị. Như Tát Bà Đa chấp hóa thân Phật là chân Phật.
Nay thuyết là Hóa, nên phá tam chấp.
Ở
đây chẳng thế. Pháp Hoa chỉ coi nhất thừa mà tự mình tu
được là Tông, hội phá các thừa kia khiến nhập Nhất, chứ
chẳng phải coi một thân sở tri là Tông hội phá các thân
kia khiến nhập một thân.
Thêm
nữa, không chấp Hóa thân đó là Cực, không cầu cạnh tới
đó, mà cũng chẳng cầu cạnh thân khác. Nay phá chấp đó
khiến cầu một thân, nên chỉ phá chấp nhị thừa là Cực,
chẳng phá chấp hai thân kia là Cực.
Cũng
có người giải thích rằng : xưa nghe thuyết Tam, chấp Tam
đều là cực. Nay thuyết Nhất cực, nên phá Tam chấp. Vì
đó là Bồ tát Địa tiền khởi lên, nếu phá chấp Đại
cực mà còn thuyết cho họ về nhất thừa thì càng tăng thêm
bệnh của họ, thế sao gọi được là Phá ?
Thêm
nữa, khi chưa xuất trạch (chỉ việc ra khỏi nhà lửa) thì
hứa cho xe trâu, sau khi xuất trạch rồi cũng phá cả đại
thừa ư ? Thế thì còn gì là xe nữa ?
Nếu
nói rằng : vì cho trâu trắng, bỏ bò vàng cũ đi. Đã thế
thì phải bỏ Đốn học Tiệm. Tướng bò vàng, trâu trắng
là Nhân hạnh, hỏi có gì khác ? Đã trả lại bò cũ, chứng
tỏ là chẳng phá Đại. Nếu chấp Nhất cực, cũng chẳng
trái với việc cầu Đại, cần gì phải phá.
Chính
vì chấp nhị là Cực, chẳng cầu Đại nữa, nên mới cần
phải phá.
Nếu
đắc quả vị nào liền chấp đó là Cực, thì chưa thấy
trong Nhân cầu đại thừa có loại chấp này. Giả thử có
thế, rồi cũng cho phá thì sẽ cần phải phá đến vô cùng.
Do đó chỉ phá chấp nhị là Cực.
Lại
nữa, chẳng phải phá chấp tứ thừa là Cực, vì thuyết Nhân
thiên thừa cho loại vô chủng tính hiểu có tứ thừa chẳng
chấp Cực. Chấp nhị là Cực chẳng khác phá nhị.
Không
chấp Nhân thiên thừa là Cực, vì người
chấp thì chẳng hiểu Thừa, đã hiểu Thừa thì chẳng chấp.
Vì nhất đối với tứ, nếu nhất là phương tiện thì cần
phá chấp nhất mà qui tứ thừa. Cũng chẳng phải là phá ngũ,
vì chấp Bất định thừa cũng giống chấp tam.
Do
đó, Kinh Thắng Man chỉ nói : “A la hán, Bích chi Phật vì
sợ hãi, nên qui y” và “Nói là được Bốn trí và Niết
bàn, đó là phương tiện của Phật”.
Kinh
này nói :
“
Chỉ một sự này thực,
Hai
thứ chẳng phải chân”.
Vì
ngầm khiến hạng nhị thừa có chỗ nghỉ chân nên thuyết
nhị thừa chẳng thuyết tam thừa, chứ thực ra nhị thừa
(dương xa, lộc xa) chẳng phải là chân thừa.
Tính
từ loại hơn đến loại kém thì Phật thừa là đệ nhất,
Độc giác là đệ nhị, Thanh văn là đệ tam. Không có đệ
nhị là Độc giác, đệ tam là Thanh văn, chứ chẳng phải
là không có đại thừa thể Cực trong ba thừa.
Xét
bản tiếng Phạm nói rằng : “Không có đệ nhị, đệ tam”.
Nay bản dịch gọi tắt, nên nói rằng: “Không nhị cũng không
tam”.
Ở
đây có người hỏi vặn rằng : Kinh thuyết biệt thể Tam
bảo, chẳng phá biệt thể để mà qui về nhất thể, cớ
sao lại phá nhị thừa qui về nhất thừa ?
Đây
thì chẳng thế. Nếu chấp biệt thể là Cực thì cũng giống
như phá chấp này. Vì nếu là biệt tướng Tam bảo thể thì
cũng không có ba cực. Tuy thế, cũng không cần trụ biệt thể.
Song có thể khiến nó hội nhập vào đồng thể.
Rộng
ra thì như kinh nói : “Chẳng phải là Quyền Thực tông”.
3.
Hội biệt, nên gọi là Nhất.
Giáo
Lý Hạnh Quả đều có căn bản và phương tiện.
Hội
biệt này có hai thứ : Hội tiệm ngộ và Hội nhất.
•
Hội tiệm ngộ :
Có
nghĩa là hạng nhị thừa thoạt tiên dùng Giáo Lý Hạnh Quả
làm Đại phương tiện để tu tập thành tựu.
Theo
bản luận này, thì Bồ tát Sơ địa trở lên lìa Phân đoạn
tử, trước Kiến đạo, tu tập Giáo Lý Hạnh Quả là căn
bản Nhân của Bất thoái địa.
•
Hội nhất.
Y
chung vào các kinh văn thì Hội nhất có 4 thứ :
1/
Hội giáo :
Kinh
Vô Cấu Xưng nói : “Phật dùng một âm mà diễn thuyết pháp,
chúng sinh ai nấy đều tùy theo căn cơ của mình mà lý giải”.
Phần
dưới kinh này nói : “Một mưa tưới khắp ba cỏ hai cây,
sinh trưởng khác nhau”.
Đây
là Hội Giáo đồng Cơ dị, vì ba thừa về Giáo có Thiên (chỉ
thiên về một đối tượng), có Phổ (chung cho mọi đối tượng).
2/
Hội lý :
Bảo
Tính Luận nói : Như thỏ, ngựa, voi ba loài thú ấy cùng lội
qua sông, tính sông không khác, nhưng loài lội được nông,
loài lội được sâu có sự khác nhau.
Phần
dưới kinh này nói : “Ví như ở trên cao nguyên, đào để
lấy nước. Nếu thấy đất khô, biết nước còn xa. Nếu
thấy đất ẩm, biết nước chẳng xa. Nếu nhìn thấy bùn,
biết nước rất gần”. Tính nước không khác. Mức được
có khác.
Đây
là Hội Lý đồng Chứng dị, vì ba thừa Chứng Lý có viên,
có khuyết khác nhau.
3/
Hội hạnh :
Thu
Tử nói : “Là pháp cứu cánh này, là đạo sở hành này”.
Phật cũng nói : Ta đặt ra phương tiện này để khiến chúng
sinh đắc nhập Phật tuệ”.
Kinh
Thắng Man nói : “Sáu xứ này được thuyết vì mục đích
đại thừa”.
Nên
biết rằng Hạnh đồng nhưng Tu dị, vì ba thừa tu hành có
Phận (chỉ bộ phận) có Toàn (chỉ Toàn thể).
4)
Hội quả :
Phần
dưới kinh này nói :
Vì
là chỗ nghỉ, nên thuyết nhị thừa. Giữa đường đặt ra
Hóa thành để dẫn tới Bảo sở mới là chỗ cứu cánh. Để
cầu xe trâu ra khỏi nhà lửa, nên quyền nghi bày đặt ra chuyện
xe dê, xe hươu (chỉ nhị thừa), nhưng sau đều cho xe trâu
(chỉ đại thừa).
Kinh
Thắng Man nói : “Thanh văn, Duyên giác bốn trí chẳng cứu
cánh, gọi là Hướng Niết bàn giới”. Tức là hội Bồ đề
Niết bàn nhị thừa dù là Lý hay Trí đều qui về nhất thừa.
Cho
nên biết rằng Quả đồng mà Chứng dị, vì ba thừa về quả
có trước, có sau khác nhau.
Tuy
y vào các kinh văn, hội chung bốn thứ này, nhưng trong Pháp
Hoa thì hiển hội Giáo Lý, mật hội Hạnh Quả.
a)
Hiển hội Giáo Lý : tức là chư Phật Trí tuệ cùng Trí tuệ
môn đã nêu ở trên.
“Một
mưa tưới khắp” : đó là hội Giáo.
“Ngưu
xa, Bảo sở” : đó là hội Lý.
Đây
lấy Sở thuyên gọi đó là Lý, chứ chẳng cứ phải là chân
như. Muốn tỏ sở đắc rất sâu khó hiểu, có nói ra thì
ý chỉ cũng khó biết, pháp sở đắc ở đạo tràng không
ai có thể phát vấn được, cho nên Phật nói : “Ý ta khó
thể dò, cũng không ai có thể hỏi được”.
Cũng
tỏ rõ Pháp Hoa khai Phương tiện môn, hiển Chân thực tướng,
tức là Pháp Hoa khai phô, tú xuất.
b)
Mật hội Hạnh Quả : nhị đồng.
“Ta
bày đặt ra phương tiện này để khiến chúng sinh đắc nhập
Phật tuệ, cưỡi bảo thừa này thẳng tới đạo tràng”
: tức là hội Hạnh.
“Giữa
đường đặt ra Hóa thành để tới Bảo sở” : tức là hội
Quả.
Nhưng
Kinh Thắng Man thì hiển hội Hạnh Quả :
“Sáu xứ này được thuyết vì mục đích đại thừa” :
chính là hội Hạnh.
“Bốn trí nhị thừa chẳng phải là cứu cánh, gọi là Hướng
Niết bàn giới” : tức là hội Quả.
Vì
Kinh Thắng Man chủ yếu thuyết về nhân quả nhất thừa, cho
nên hiển hội Hạnh Quả, mật hội Giáo Lý.
Kinh
Pháp Hoa chủ yếu nói rõ xưa là Quyền, nay là Thực, cho nên
hiển hội Giáo Lý; và để khiến tu chứng, cho nên mật hội
Hạnh Quả.
Do
đó nhất thừa cứ Thực thông hội Giáo Lý Hạnh Quả, tổng
giải các kinh văn về Lý, và Danh rồi.
Cho
nên nói rằng : Hội biệt, gọi đó là Nhất.
Kinh
này chủ yếu lấy nhân quả nhất thừa làm Thể chân thừa,
Giáo làm phương tiện, nên chẳng trái ngược nhau.
Nay
một chút nghĩa này tuy chưa động biển Trí, nhưng cứ
như điều tôi biết thì cũng là tuyệt ở xưa nay rồi. Bậc
trí sâu thức rộng ắt tự mình thấy rõ.
Trong
ba nghĩa, hai nghĩa đầu giải thông cả Định tính và Bất
định tính. Nghĩa sau phần nhiều chỉ y vào Bất định tính.
Đại thừa vô thượng tuy tức nhất thừa nhưng chẳng phải
là điều Kinh cần bàn tới, nên lược qua chẳng nói.
III.
MINH THUYẾT Ý.
(nói
rõ dụng ý thuyết pháp)
Nhiếp
Đại Thừa luận nói :
Để
dẫn nhiếp một loại,
Và
nhậm trì loại khác,
Do
Bất định chủng tính,
Chư
Phật thuyết nhất thừa.
Pháp
vô ngã giải thoát,
Vì
chủng tính khác nhau,
Đắc
nhị ý lạc hóa,
Cứu
cánh thuyết nhất thừa.
Trong
này có 10 nhân :
1)
Để dẫn nhiếp một loại Bất định chủng tính Thanh văn
Duyên Giác, khiến họ y vào đại thừa Bát Niết bàn, nên
một hội Pháp Hoa phần nhiều vì loại này mà thuyết về
nhất thừa. Pháp Hoa luận gọi là thoái rồi lại phát đại
Bồ đề tâm. Do bọn các ông Thu Tử v.v… xưa đều cầu đại,
thoái tu tiểu quả, gọi là thoái rồi lại phát, chứ chẳng
phải là các Bất định tính đều thoái rồi lại phát tâm.
Loại này nên gọi là Bất định chủng tính.
2)
Để nhậm trì loại khác : Bồ tát địa tiền Bất định
chủng tính trước Đệ lục trụ vẫn tại thoái vị, vì sợ
ở đại thừa tinh tiến sẽ hoại, thoái nương Bát Niết bàn
nhị thừa. Nên kinh này nói : “Bồ tát nghe pháp này, lưới
nghi đều đã trừ”.
Bản
luận cũng nói : Như Lai chính là đã vì hai loại người mà
giải thích. Hai loại này đều là Bất định chủng tính,
vì hai loại này, nên thuyết nhất thừa.
3)
Vì Pháp v.v… : Hạnh thừa tuy khác, chân như hướng tới không
hề sai biệt. Nên Pháp Hoa luận thuyết phần nhiều giống
với ở đây.
4)
Vì Vô ngã v.v…. : nếu có chân thực Bổ Đặc Già La, thì
có thể có sự phân biệt về thừa. Ngã đã không khác, cho
nên thuyết nhất thừa.
5)
Vì giải thoát v.v… : vì ba thừa đều cùng ở trong phiền
não chướng mà được giải thoát, nên giải thoát không có
sự sai biệt.
6)
Vì tính khác nhau : vì Bất định tính trong nhị thừa có sự
khác biệt. Thân Thanh văn này có đủ Thanh văn tính và Phật
tính. Do có tính này, nên thuyết nhất thừa.
7)
Vì Phật đối với hữu tình đã có được Đồng tự thể
ý lạc, nên nói “ta tức là họ, họ tức là ta. Ta đã thành
Phật, họ cũng thành Phật”.
8)
Vì nhị thừa từ ở Phật mà đắc Đồng tự thể ý lạc,
cùng gọi là Bồ tát được Thụ ký biệt. Vì ở hội này
Phật biệt ký cho nhị thừa, để khiến họ thụ được ý
lạc như vầy : “chúng ta và Phật bình đẳng không khác”.
Hơn
nữa ở trong hội này có các Bồ tát đồng danh với họ,
do đắc thụ ký biệt.
Một
lời của Phật chứa hai loại ích : đó là hạng nhị thừa
thì đắc Đồng Phật tự thể ý lạc, và các Bồ tát thì
được thụ ký biệt.
9)
Vì Hóa. Như Thế tôn nói : “Này các ông Bật sô! Ta nhớ
xưa kia đã hàng vô lượng trăm ngàn lần quay trở lại y vào
Thanh văn thừa mà Bát Niết bàn.
Vì
sao đã thành Phật rồi, sau lại y vào nhị thừa để Bát
Niết bàn ? Đó chính là vì muốn điều phục Thanh văn sở
hóa mà Phật Bồ tát v.v… đã tự hóa thân mình thành ra đồng
loại của họ, ở Vô dư y, hiện Bát Niết bàn, trải trăm
ngàn kiếp ham rượu Tịch diệt, say sưa mà nằm, sau từ đó
dậy hiện thụ Phật ký, khiến các nhị thừa Bất định
chủng tính thảy đều nghĩ rằng : Các bậc kỳ túc xưa kia
nhập Niết bàn, nay đều lại trở dậy, hiện thụ Phật ký.
Lẽ nào ta nay chẳng mong làm Phật mà nhập Niết bàn ? Các
ông Phú Lâu Na v.v… ở trong hội này ngày nay chính là loại
ấy”.
Trong
Pháp Hoa luận, “để hóa Thanh văn thụ ký” tức là chuyện
này. Và cũng là để hạ bớt cái thói kiêu mạn của hạng
nhị thừa đó, vì ta cũng đắc Niết bàn của ngươi.
Rộng
ra thì như Kinh Lăng Già nói rằng : “A la hán nhập Vô dư
Niết bàn trải trăm ngàn kiếp ham rượu Tam muội, say sưa
mà nằm, sau từ đó dậy mới phát đại tâm. Đó đều là
sự hóa tác của Phật Bồ tát”.
Nếu
chẳng thế thì thực nhập Vô dư, thân trí đều tận, sau
từ đó dậy, pháp sinh từ đâu ? Cho nên biết đó là Hóa.
10)
Vì cứu cánh. Vì ngoài thừa này ra không có thừa nào khác
hơn được. Theo lý cứu cánh, thừa này là tối thù thắng.
Nên nói là Nhất.
Nay trong hội này, theo luận thì chỉ Ký biệt cho hai hạng
người :
a)
Hạng Bất định tính.
b)
Hạng ứng hóa.
Vì
hạng Bất định tính : tức các nghĩa thứ nhất, thứ nhì,
ít phần nghĩa thứ tám.
Vì
hạng ứng hóa : tức nghĩa thứ chín cùng một ít các nghĩa
khác, mà thuyết về nhất thừa, chứ chẳng phải hoàn toàn
vì hạng Vô định tính.
Cho
nên nhất thừa này là mật ý thuyết.
Kinh Giải Thâm Mật nói : “Tướng, Sinh Thắng nghĩa, Vô tự
tính, ta đều đã hiển thị như vậy. Nếu chẳng biết mật
ý này của Phật thì sẽ thất hoại chính đạo, chẳng thể
đi theo các tịnh đạo thanh tịnh”.
Chỉ
theo nhất thừa này, vì không có đệ nhị. Ở trong đó lập
nhất thừa chẳng phải là hữu tình tính không có sự khác
biệt. Đối với các loại Định tính, Bất định tính, Hữu
tính, Vô tính đều thuyết nhất.
Kinh
Niết Bàn nói : “Nhất thừa một đạo bốn quả, thánh nhân
đều được làm Phật. Chẳng hiểu ý ta, cho nên chỉ nên
thuyết như vậy là tốt”.
Nay
10 nghĩa này thuyết về nhất thừa.
Trong
Pháp Hoa luận không đầy đủ như vậy. Bộ Hiển Dương thì
thuyết sáu nhân, Trang Nghiêm luận thì nói 8 nghĩa về nhất
thừa, chẳng qua được 10 nghĩa này, nên chẳng thuật lại.
IV.
CHƯƠNG SAI BIỆT.
(Nêu
rõ sự sai biệt)
Kinh
này thuyết về nhất thừa có tướng sai biệt với các Kinh
Thắng Man, Niết Bàn.
Đây
(chỉ Kinh Pháp Hoa) thì thông cả Lý và Trí. Đó (chỉ các
Kinh Thắng Man, Niết bàn) thì chỉ thuyết Phật tính.
Đây
chỉ Nhiếp nhập. Đó thông Xuất sinh.
Đây
chỉ Hữu tính. Đó thông Vô tính.
Đây
chỉ riêng Bất định tính. Đó thông cả Định tính.
Đây
nói nhiều về Giáo lý. Đó nói nhiều về Hạnh Quả.
Đây
nói nhất thừa là Thực, nhị thừa là Quyền. Đó nói nhất
thừa là Quyền, tứ thừa là Thực.
Nên
Kinh Thắng Man nói rằng : “Nếu Như Lai tùy theo ý muốn của
họ mà phương tiện thuyết, thì chỉ có nhất thừa, không
có thừa khác”.
Phân
tích sự sai biệt với nhiều kinh sách khác thuyết về nhất
thừa thì như trong mục Thích danh đã giải thích rộng.
Tướng
sai biệt này cùng với mục thứ năm là Vấn đáp biện v.v…
thì đều như chương khác, chẳng cần nêu ra.
*
-Kinh
văn : “Này Xá Lợi Phất” tới “hoặc nhị hoặc
tam”.
Tán
rằng : đây là mục thứ tư : khiến trụ nhất thừa trong
phần Dữ ký (thụ ký cho).
Đem
nhất thừa này mà thuyết pháp cho chúng sinh vì không có các
thừa đệ nhị, đệ tam là Độc giác, Thanh văn vì theo thứ
tự từ hơn đến kém, chứ chẳng theo thứ tự tu tập nông
sâu khó dễ.
Nên
trong kinh này :
Lượt thứ nhất nói: “Hai thứ chẳng phải chân” .
Lượt thứ hai nói: “Mật khiến người tu nhị thừa”.
Lượt
thứ ba nói : “vì là chỗ nghỉ chân, nên thuyết nhị thừa,
chẳng thuyết tam thừa”.
Cho
nên biết rằng chẳng phải là nói chung không có tam thừa.
Chỉ nên nói nghĩa sở thuyết như ngày nay, hội cả Giáo Lý
Hạnh Quả sở tu của họ làm đại nhân (nhân lớn - nhân
đại thừa) ngày nay, khuyên họ trụ ở đại thừa.
*
-Kinh
văn : “Xá Lợi Phất” tới “pháp cũng như vậy”.
Tán
rằng : dưới đây là mục thứ năm : hiển thị theo Pháp.
Nay
Phật Thích Ca y vào hết thảy Phật thuyết pháp quĩ tắc,
đầu tiên thuyết về phương tiện, sau đó thuyết về chân
thực, khuyên họ sinh tín, dẫn họ thành đạo.
Đại
văn có ba phần :
•
Phần đầu : nói rõ mười phương Phật pháp thức là như
vậy.
•
Phần thứ hai : thuyết minh pháp thức ba đời của Phật là
như vậy.
•
Phần cuối : nói rõ pháp thức này của ta cũng như vậy.
+
Đây là phần đầu : tuy lìa ba đời thì không còn có mười
phương, lìa mười phương cũng không còn có ba đời, vì ngang
(đồng đại) dọc (lịch đại) khác nhau, nên có sự phân
biệt khác nhau.
Nhiếp
Đại Thừa luận nói : “số chốn của các hữu tình thuộc
nẻo người là vô lượng, niệm niệm chứng Đẳng giác, vì
vậy chớ nên thoái nhụt, vì mười phương Phật hiện tại
này pháp thức nhiều vô cùng và cũng đều giống nhau”.
*
-Kinh
văn : “Xá Lợi Phất” tới “vì một Phật thừa”.
Tán
rằng : dưới đây là thuyết minh về pháp thức của
Phật ba đời.
Có
hai phần : đầu tiên là thuyết minh về pháp thức ba đời,
sau đó là kết luận : sở vi (chỉ việc tu tập, việc tu hành)
đều giống nhau.
Trong
phần đầu tiên có ba phần : đầu là quá khứ, thứ đến
vị lai, cuối cùng là hiện tại.
Trong
ba phần đó, mỗi phần đều có hai bước : đầu tiên nói
rõ Phật thuyết pháp thức giống nhau. Sau đó thuyết minh cho
chúng sinh được độ đắc đạo giống nhau.
Đây
nói rõ pháp thức Phật quá khứ giống nhau, và là phần đầu
tiên :
Dùng
nhiều thứ nhân duyên v.v… thuyết pháp làm phương tiện,
đó đều là Hậu đắc nhất Phật thừa.
Bản
luận nói rằng :
Phương tiện, có nghĩa là :
+
Tiểu thừa : thì quán Ấm Giới Nhập, chán khổ lìa khổ,
đắc giải thoát.
+
Đại thừa : thì là các Ba la mật, Bốn nhiếp pháp, nhiếp
thủ Tự thân Tha thân lợi ích, đối trị pháp.
+
Nhân duyên : thì Bản luận đã giải thích trong thuyết thứ
hai về sáu nghĩa rồi. Đó là chỉ các loại nhân duyên mà
trên kia đã nói rằng : “như thuyết trước kia”. Tức là
chỉ pháp tam thừa. Tam thừa đó chỉ là thuyết bằng danh
tự chương cú, không phải là có thực nghĩa, nên thực nghĩa
ấy là bất khả thuyết.
+
Thí dụ : có nghĩa là ví như dựa vào trâu bò thì có Nhũ
(sữa tươi), Lạc, Sanh tô, Thục tô cho đến Đề hồ. Đề
hồ là đệ nhất. Tiểu thừa như Nhũ, đại thừa như Đề
hồ. Nên thí dụ này thuyết minh đại thừa vô thượng, các
Thanh văn v.v… cũng đồng đại thừa vô thượng.
Thanh
văn đồng, tức là tỏ rõ tính của Thanh văn đồng với tính
của Pháp thân chư Phật Như Lai, Pháp thân của các phàm
phu, Thanh văn, Bích chi Phật là bình đẳng, không sai biệt,
được thị hiện trong thí dụ này.
Trong
này ý nói : phàm phu như trâu, Thanh văn như Nhũ, Bích chi như
Lạc, tiểu Bồ tát như Sanh tô, đại Bồ tát như Thục tô,
Phật như Đề hồ, Đề hồ là đệ nhất. Phật thừa cũng
thế. Vốn do cùng một nhũ tính từ trong bụng trâu biến chuyển
tốt hơn lên mà được tới đề hồ. Cũng vậy, từ phàm
phu cho tới thành Phật, tướng mạo có sai biệt, nhưng thể
tính thì bình đẳng, vì vốn không hai.
Nay
văn kinh này chỉ có ba mục này.
Bản
luận giải kinh, còn có thêm mục Quán niệm.
+
Quán niệm tức là :
Tiểu
thừa : thì quán Nhân vô ngã v.v…
Đại
thừa : thì quán chân như, pháp giới, thực tế, Nhân vô ngã,
Pháp vô ngã v.v…
Kinh
này xếp thứ tự từ Phương tiện, Nhân duyên, Thí dụ đến
Ngôn từ. Bản luận giải thích kinh thì lấy Thí dụ, Nhân
duyên, Quán niệm, Phương tiện làm thứ tự sắp xếp. Nay
dẫn Kinh và Luận khác nhau, người học cần thấy rõ.
*
-Kinh
văn : “Các chúng sinh này” tới “nhất thiết
chủng trí”.
Tán
rằng : đoạn này nói rõ chúng sinh đã độ trước kia đắc
đạo đều giống nhau, lúc đầu tuy làm nhị thừa, nhưng sau
đều thành Phật, đắc Nhất thiết chủng trí. Nhất thiết
chủng trí tức Phật Chính trí, vì chủng biệt năng tri Nhất
thiết pháp, chính là Ngưu xa.
*
-Kinh
văn : “Xá Lợi Phất” tới “là một Phật thừa”.
Tán
rằng : đoạn này chỉ rõ vị lai Phật pháp thức đồng.
*
-Kinh
văn : “Các chúng sinh này” tới “nhất thiết
chủng trí”.
Tán
rằng : đoạn này chỉ rõ chúng sinh sẽ độ trong thời vị
lai đắc đạo giống nhau.
*
-Kinh
văn : “Xá Lợi Phất” tới “vì một Phật thừa”.
Tán
rằng : đoạn này chỉ rõ hiện tại Phật pháp thức đồng.
Nhiêu
ích : có nghĩa là làm cho được lợi ích.
An
lạc : có nghĩa là làm cho được yên vui.
Cứu
khổ cho vui, cho Trí và Phúc, cho quả Thế gian và quả Xuất
thế gian, cho Tiểu quả Đại quả, cứ theo như thứ tự ấy
mà ghép vào.
*
-Kinh
văn : “Các chúng sinh này” tới “nhất thiết
chủng trí”.
Tán
rằng : đoạn này chỉ rõ chúng sinh được độ trong thời
hiện tại đắc đạo giống nhau.
*
-Kinh
văn : “Xá Lợi Phất” tới “nhập Phật tri kiến
đạo”.
Tán
rằng : đây là kết về sở vi. Chúng sinh sở vi tới lúc cứu
cánh chỉ là Bồ tát vì sẽ làm Phật. Vì xưa nhân phát tâm,
các hạnh sở tu đều hướng Đại quả, nên đều gọi là
Bồ tát; pháp sở vi đều là nhất thừa. “Vì đem Phật tri
kiến mà thị cho chúng sinh đó, giác ngộ chúng sinh đó, muốn
khiến chúng sinh nhập Phật tri kiến đạo”.
Kinh
văn không có từ “Khai”, vì đã bao hàm trong nghĩa chung.
Nghĩa
“Thị” như trên, luận không giải thích thêm.
Lại
giải “Ngộ” là khiến chúng sinh ngoại đạo giác ngộ,
bỏ tà nhập chính.
Lại
giải “Nhập” : có nghĩa là khiến người đã đắc quả
Thanh văn nhập đại Bồ đề, bỏ Tiểu theo Đại.
Bản
luận nói rằng : phen thứ nhất giải nghĩa Khai là vô thượng;
phen thứ hai giải nghĩa Thị là đồng, có nghi tu hành; phen
thứ ba giải nghĩa Ngộ là bất tri, chưa phát tâm thì khiến
phát tâm, khiến cho ngoại đạo sinh giác ngộ; phen thứ tư
giải nghĩa Nhập là nhập Bất thoái vị, đã phát tâm rồi
thì khiến nhập pháp, khiến người đắc Thanh văn nhập đại
Bồ đề.
Cứ
theo văn, mà phen thứ nhất ghép vào trong phần chính giải
về đại sự, phen thứ hai ghép vào trong phần kết về đại
sự, phen thứ ba ghép vào trong phần y pháp. Luận văn đều
giải ở trong mục đại sự, về lý cũng không sai.
*
-Kinh
văn : “Xá Lợi Phất” tới “nhất thiết chủng
trí”.
Tán
rằng : đây chỉ rõ : ta do pháp thức này cũng như vậy. Vì
chỉ có Phật mới có mọi thứ Thắng giải trí lực, nên
biết mọi loại dục của các chúng sinh.
Vì
Phật có Biến thú hành trí lực nên biết rõ điều chấp
trước trong thâm tâm của chúng sinh.
“Trước”
ở đây chỉ những điều ưa thích chấp trước trong việc
tu hành, hoặc là những điều ưa thích chấp trước do tình
thức ham muốn khởi lên. Có nghĩa là chúng sinh chỗ nào cũng
chấp trước, Phật dẫn dắt họ ra khỏi sự chấp trước
đó. Đó đều là những điều mà Thắng giải trí lực biết
được. Phật có các loại Giới trí lực, nên biết bản tính
chúng sinh, và đã biết các ham muốn trong việc tu của hạng
Bất định chủng tính.
Đầu
tiên thuyết tam thừa là phương tiện, nay thuyết nhất thừa
là cứu cánh đều là cốt để cho chúng sinh đắc Nhất thiết
chủng trí của một Phật thừa. Văn trên đều nói đắc một
Phật thừa Nhất thiết chủng trí, cho nên biết rằng Chủng
trí tức là một Phật thừa.
*
-Kinh
văn : “Xá Lợi Phất” tới “huống
chi là có Ba”.
Tán
rằng : đây là mục Già – mục thứ sáu.
Thừa
thứ hai là Độc giác còn không có, huống chi là thừa thứ
ba Thanh văn.
Do
kinh này nói rằng : xe dê, xe hươu là cốt để cầu xe trâu
đặng ra khỏi nhà lửa, nên chỉ phá nhị thừa chẳng nói
còn phá thêm cả xe trâu. Đây là không có Niết bàn thể cứu
kính của nhị thừa.
Luận
nói rằng : không có nhị thừa, có nghĩa là không có Niết
bàn của nhị thừa, chỉ có Phật Như Lai mới chứng đại
Niết bàn. Rốt ráo đầy đủ Nhất thiết trí tuệ thì gọi
là đại Niết bàn, vì ba sự thể nghĩa đều đầy đủ.
Nhị
thừa chẳng thế, chỉ là Giả trạch diệt, không có pháp
thân đại trí. Chẳng phải là Thanh văn, Duyên Giác v.v… có
đại Niết bàn pháp, vì chỉ có một Phật thừa.
Một
Phật thừa có nghĩa là y vào bốn loại nghĩa như trên đã
nói.
Luận
dùng sáu nghĩa trong mục Thụ ký cho mà phối hợp với năm
nghĩa từ “Những pháp gì ?” cho tới “Pháp thể gì ?”
như đã nói trên.
1.
“Những pháp gì” : chỉ nghĩa thứ nhất “Chưa được nghe
thì khiến được nghe” có nghĩa là thuyết pháp Vị tằng
hữu cho mà nghe.
2.
“Pháp như thế nào ?” : chỉ điều nói trong nghĩa thứ hai.
Đầu tiên thuyết bằng phương tiện, các loại ngôn từ, thí
dụ.
3.
“Pháp tựa như gì ?” : chỉ nghĩa thứ ba đã nói ở trên
: căn cứ vào những nghĩa gì ? Chỉ vì một đại sự !
4.
“Pháp tướng thế nào ?” : chỉ nghĩa thứ tư “khiến trụ
nhất thừa”, có nghĩa là tùy theo căn khí của chúng sinh,
thảy đều có Phật tính mà khiến họ trụ ở chư Phật pháp.
5.
“Pháp thể gì ?” : chỉ mục Già – mục thứ sáu.
Già
(ngăn lại), không có hai thể, chỉ có một nhất thừa thể,
tức là pháp thân bình đẳng của chư Phật Như Lai. Nhân quả,
Quán hạnh của ba thừa khác nhau, có thể có sự sai biệt,
đó chẳng phải là đối tượng của Già ở đây.
Nay
đối tượng của Già ở đây là “Già, không có hai loại
Thể của pháp thân”, vì pháp thân chân như của ba thừa
giống nhau, chứ chẳng phải có nghĩa là “Già, không có Thể
nhị thừa”.
Hết
thảy đều là Không, cứ căn cứ vào lý này mà suy luận thì
có thể hiểu được. Nếu chẳng thế thì lời văn của Luận
hơi tối nghĩa, khó hiểu. Chỉ không có nghĩa thứ năm nói
về chư Phật pháp thức. Nên dùng năm nghĩa khác mà lần lượt
phối hợp thì lập tức có thể hiểu được !
*
-Kinh
văn : “Xá Lợi Phất” tùới “mệnh
trược”.
Tán
rằng : tới đoạn thứ ba khơi đây là Thực tướng, gợi
đó là Quyền môn, trong đó có hai :
•
Trên đã giải thích về hai ký : Thủ ký và Dữ ký
•
Dưới phá bốn loại nghi.
Trong
năm phần mà Luận phân tích, phần thứ năm dưới đây là
Đoạn nghi.
Luận
nói về bốn loại nghi :
1.
Thuyết thời nào ?
2.
Làm sao mà biết là Tăng thượng mạn ?
3.
Thế nào thì kham thuyết ?
4.
Thế nào mà chẳng thành vọng ngữ ?
Đây
phá nghi đầu.
Luận
rằng : chư Phật Như Lai khởi phương tiện thuyết pháp ở
trong những thời nào ? Có nghĩa là Phật đầu tiên thuyết
nhị thừa là quyền, sau đó nói rõ nhất thừa là thực ở
trong thời nào ?
Trong
lời giải đáp dưới đây có hai ý : đầu tiên nêu lên việc
“Phật xuất hiện vào thời Ngũ trược”, sau đó nói rõ
nguyên do. Đây là phần đầu.
•Nghĩa
Ngũ trược được phân biệt bằng năm môn:
1.
Thích danh 2. Xuất thể 3. Đối trị
4.
Phế lập 5. Tương nhiếp.
1.
Thích danh (giải thích danh tự) :
•
Trược : có nghĩa là cặn bã uế tạp. Như ăn các thứ cặn
bã uế tạp thấp kém xấu xa có thể bị ô nhiễm, đó gọi
là Trược (đục). Câu này ý nói : Lúc kiếp tăng, ba tai giảm
nhẹ, phiền não thành nhẹ, chúng sinh hướng hảo, ố kiến
nhỏ dần, mệnh căn thành dài, dần dần tới chỗ tốt đẹp.
Vì thượng hảo đáng ưa, nên gọi là Thanh (trong). Chúng sinh
không khổ thì Hóa Phật chẳng ra đời.
Hóa
Phật xuất thế ắt vào lúc kiếp giảm, tai nhỏ khởi lên
dần dần, phiền não trở thành nặng nề, chúng sinh hướng
ác, nhiễm kiến thịnh dần, mệnh căn trở nên ngắn ngủi,
dần dần tới chỗ kém cỏi xấu xa đáng chán, cho nên đặt
ra tên gọi là Trược.
•
Ngũ : được giải thích là Số kèm thêm số.
Về
Thích biệt danh (giải thích danh riêng) thì đều là Trì nghiệp
thích. Hoặc dùng Biệt để giản (chọn lựa) Tổng, cũng theo
Y chủ thích (phần giải thích chủ yếu).
2.
Xuất thể (chỉ ra thể tính) :
Địa
Trì Luận nói : Nói rằng người đời nay phần nhiều đoản
thọ, dài nhất là 100 tuổi, đó gọi là Mệnh trược.
Ở
đây gọi Bản thức là chủng tử, coi mệnh căn có công năng
khác nhau bởi nghiệp dẫn là Thể. Lực thiện nghiệp yếu,
mệnh căn ngắn dần, vì sự cảm ứng của nghiệp sát sinh.
Nếu các chúng sinh chẳng biết cha mẹ, chẳng biết Sa môn,
Bà la môn cùng tôn trưởng tông tộc, chẳng tu nghĩa lý, chẳng
sợ chẳng hãi quả báo ác nghiệp đời nay đời sau, chẳng
tu huệ thí, chẳng làm công đức, chẳng tu trai pháp, chẳng
giữ cấm giới, thế thì gọi là Hữu tình trược.
Tuy
thức thứ tám gọi là hữu tình, nay nói do gần ác ngoại
duyên nên cái ngũ uẩn giả hợp ấy làm ác, không lành, nên
gọi đó là Hữu tình trược.
Gộp
thức thứ tám cùng năm uẩn lại gọi là Tính.
Nếu
chúng sinh đó tăng Phi pháp tham, hoặc cho dao kiếm hoặc thí
khí trượng, tranh tụng, đấu loạn, xiểm khúc, vọng ngữ,
nhiếp thụ tà pháp cùng ác pháp, bất thiện pháp khác thì
đó gọi là Phiền não trược.
Ngoài
năm kiến ra, hết thảy phiền não, tùy phiền não khác đều
là Thể của Phiền não trược.
Phi
pháp tham đó như cho dao kiếm v.v… sai làm việc giết hại,
hoặc bủn xỉn hám của chỉ bỏ dao kiếm, nhân vì Phi pháp
tham mà gây ra việc tranh tụng cho tới ác pháp, bất thiện
pháp khác, bao gồm hết trong mọi phiền não, phiền não chướng.
Do
Tính tập luôn, gặp ác cảnh lôi cuốn phiền não càng nặng,
như ở đời nay pháp hoại, chính pháp bị mai một, tượng
pháp dần khởi, tà pháp nảy sinh, thế thì gọi là Kiến trược.
Loại này lấy năm kiến làm thể tính, hay gần ngoại đạo,
ác kiến thường sinh.
Nếu
kiếp đói khát khởi lên, kiếp tật bệnh khởi lên, kiếp
binh đao khởi lên thì gọi là Kiếp trược. Loại này lấy
sắc uẩn tứ trần làm thể, hoặc thông năm uẩn nhưng lấy
Bất tương ưng thời làm thể, vì y vào Tứ ngũ uẩn
mà kiến lập. Phiền não tăng nhiều, ác nghiệp càng tăng
thì sẽ chuốc ác quả, ba tai sẽ nảy sinh.
3.
Đối trị :
Có
nghĩa là tùy theo tướng nó mà thuyết pháp đối trị. Trong
Trí Độ Luận lập ra bốn Tất đàn, Tất đàn là tông :
1)
Thế giới Tất đàn.
2)
Các các vị nhân Tất đàn.
3)
Đối trị Tất đàn.
4)
Đệ nhất nghĩa Tất đàn.
Kiếp
trược, Chúng sinh trược thì đối trị bằng Thế giới Tất
đàn, vì biết Khí thế gian, chúng sinh thế gian đều là hư
huyễn, nếu chán sợ mà tu đạo thì sẽ vĩnh ly.
Mệnh
trược thì dùng Các các vị nhân Tất đàn mà đối trị,
vì người do thiện nghiệp có được nhờ sự tu trì tịnh
giới, thực hành Bất sát v.v… thì mệnh căn tự nhiên sẽ
lâu dài. Hoặc đối với người ở ba thừa thì tùy thừa
nào thuyết pháp thừa ấy cho họ, khiến họ đắc quả Niết
bàn của thừa mình, sẽ trừ được mọi Mệnh trược của
sinh tử.
Phiền
não trược, Kiến trược thì dùng Đối trị Tất đàn mà
trị, vì tu tập đạo đối trị tương ứng thì khiến chúng
chẳng khởi lên. Do ba Tất đàn phá ngũ trược, nên nhập
Đệ nhất nghĩa, chứng hội chân tông.
4.
Phế lập :
Hỏi
1 : vì sao chỉ lập ngũ trược, chẳng tăng
giảm
?
Đáp
: chúng sinh có hai :
a)
Ác hạnh chỉ hạng bạch y tại gia.
b)
Tà hạnh chỉ hạng người ngoại đạo xuất gia.
Bạch
y không có tuệ, khi phiền não tăng, gọi là Phiền não trược.
Ngoại
đạo tà giải, khi suy nghĩ lung tung, gọi là Kiến trược.
Những
hạng ngu độn mê hoặc gọi là Phiền não trược.
Các
hạng Lợi hoặc khác gọi là Kiến trược.
Do
hai nhân này lúc đắc đương quả, ly hợp khác nhau, lại chia
làm hai thứ trược :
•
Gộp hai nội quả, gọi là Chúng sinh trược, vì chúng sinh
ác.
•
Gộp hai ngoại quả, gọi chung là Kiếp trược, vì khí cụ
ác.
Kiếp
: chỉ thời phận. Thời : không có thời nào khác, vì y vào
pháp mà phân biệt.
Kiếp
trược thì lấy ác khí làm thể. Ác chúng sinh đó cùng với
ngoại quả tuy đã nói chung đó là hai Trược quả, nhưng
chưa phân tích cái gì là thể của chính Ác quả.
Nay
nói rõ căn bản, nên lập ra Mệnh trược. Nội ác quả thì
gọi là Mệnh trược. Ngoại ác quả thì gọi là Kiếp trược.
Ác
nhân quả này do ai mà có ? Đó là chỉ ác chúng sinh, nên gọi
là Chúng sinh trược. Do ngũ trược này căn cứ vào Tăng hành
tướng, muốn khiến chúng sinh, sinh ra chán ghét, nên thuyết
thiên về Ngũ (năm thứ).
Hỏi
2 : cớ sao hoặc khổ gọi là chướng, nay tách lìa ra gọi
đó là trược. Nghiệp cũng bao gồm ở chướng này, chẳng
lập ở trược ?
Đáp
: chướng có nghĩa là ngại, cả ba đều là ngại, vì trở
ngại cho thánh giáo. Trược có nghĩa là cặn bã ô uế, trong
nghiệp nghĩa trược rất nhỏ, nên chẳng lập làm trược.
Hơn nữa đao binh trong kiếp cũng tức là Nghiệp trược.
Kiếp
trược nghĩa rộng, nên đặt tên theo nghĩa rộng. Nếu lập,
cũng không sai.
5.
Tương nhiếp :
KinhTát
Già Ni Kiền Tử đặt ra 12 trược :
1)
Thị hiện Kiếp trược.
2)
Thị hiện Thời trược.
3)
Thị hiện Chúng sinh trược.
4)
Thị hiện Phiền não trược.
5)
Thị hiện Mệnh trược.
6)
Thị hiện Tam thừa sai biệt trược.
7)
Thị hiện Bất tịnh quốc độ trược.
8)
Thị hiện Nan hóa chúng sinh trược.
9)
Thị hiện Thuyết chủng chủng phiền não trược.
10)
Thị hiện Ngoại đạo loạn trược.
11)
Thị hiện Ma trược.
12)
Thị hiện Ma nghiệp trược.
“Này
Thiện nam tử ! Quốc độ chư Phật đều là xuất thế, công
đức trang nghiêm, cụ túc thanh tịnh, không có các trược.
Lỗi lầm như vậy đều là chư Phật phương tiện thị hiện
để làm lợi lạc cho chúng sinh”.
Chỉ
nói thị hiện, cho nên biết rằng Nghiệp v.v… cũng có thể
lập làm trược. Mười hai trược này chỉ đại thừa có.
Tùy theo hai pháp hơn kém của cõi mà Phật giáo hóa mà thị
hiện lập ra khai hợp khác nhau. Ngũ trược chỉ căn cứ vào
tướng uế độ. Tăng nghĩa môn : nói chung cho cả tiểu thừa
đại thừa cũng có.
Kiếp
trược và Thời trược ở đây tức là Kiếp trược.
Chúng
sinh trược và Nan hóa chúng sinh trược tức là Chúng sinh trược.
Phiền
não và Thuyết chủng chủng phiền não tức Phiền não trược.
Mệnh
tức mệnh trược.
Ngoại
đạo loạn trược tức là Kiến trược.
Tám
trược này tức là Ngũ trược. Còn bốn loại khác tức Tam
thừa sai biệt trược, Bất tịnh quốc độ trược, Ma trược
và Ma nghiệp trược chẳng phải là bao gồm trong ngũ trược.
Ngũ
trược căn cứ vào sự hơn trội, đó quả thực là tạp nhiễm.
Mười hai trược thì chung cho cả Năng hóa và Năng chướng,
vì đó là Phật thị hiện.
Nếu
theo kinh Tỳ Ni Mẫu thì trong ngũ trược không có Kiến trược,
nhưng lại đặt ra Nghiệp trược. Nếu theo kinh này thì Phiền
não và Nghiệp, mỗi thứ là một trược. Trong quả thì chia
làm ba :
1/
Chính báo thể, đó gọi là Mệnh trược.
2/
Nội báo thể, đó gọi là Chúng sinh trược.
3/
Ngoại quả thể, đó là Kiếp trược.
Chướng
căn cứ vào loại giống nhau, hợp lại lập thành ba chướng,
hoặc gộp thêm Pháp chướng nữa. Trược thì căn cứ vào
cặn bã uế tạp hoặc gộp lại hoặc tách ra, tùy cơ mà khác
nhau, khiến sinh chán sợ, chẳng thể bắt bẻ.
Thập
Địa luận, quyển thứ nhất nói rằng : Thanh tịnh có nghĩa
là Bất trược. Trược có sáu loại, lìa các trược đó nên
gọi là thanh tịnh :
1)
Bất dục trược.
2)
Uy nghi trược.
3)
Cái trược.
4)
Dị tưởng trược, vì khởi tâm đố thắng, tâm phá hoại.
5)
Bất túc công đức trược, vì thiện căn bé nhỏ, tâm chẳng
thích trụ ở trong thuyết ấy.
6)
Si trược, chỉ ngu si v.v…
Đây
chỉ căn cứ vào Hành trược, chứ chẳng phải căn cứ chung
vào các pháp, vì có sáu thứ đối trị là : lìa giải đãi,
nghiêm, tịnh, kiên cố, công đức cụ túc, trí cụ túc. Có
sáu thứ sở trị này nên lập ra sáu trược, chẳng cần hòa
hội. Còn lại thì như chương khác, vì sợ rườm nên dừng.
Theo
phép thì Phật xuất hiện, ắt phải vào thời Ngũ trược.
Cho nên nói rằng Phật xuất ở thời Ngũ trược Ác thế.
Hỏi
1 : vì nguyên nhân gì mà Phật Di Lặc sinh vào lúc chúng sinh
thọ tám vạn tuổi, còn Phật Thích Ca lại xuất hiện vào
lúc chúng sinh thọ một trăm
tuổi
?
Đáp
: vì nguyện lực khác nhau. Vì đều là trược thế, cùng hóa
tam thừa, trước quyền sau thực, đều là hóa thân.
Nếu
các Báo Phật và Hóa Phật chẳng hóa nhị thừa đúng cách
trước quyền sau thực, thì chưa hẳn là trược thời Phật
mới xuất thế.
Nếu
hóa nhị thừa, trước quyền sau thực, ắt trược thời xuất
thế, vì ác sinh khó hóa, dần dần mới nhập đạo.
Đây
nói trược, có nghĩa là vào trong kiếp giảm dần sinh năm
thứ này, thì gọi là Trược thời (thời ô trược). Cho nên
Phật Di Lặc, lúc kiếp bắt đầu giảm tới tám vạn tuổi,
dần dần hướng tới ngũ trược, mới xuất thế.
Cho
nên chẳng cứ phải tới lúc người chỉ thọ hai ba mươi
tuổi, tai vạ nhỏ khởi lên mới gọi là Kiếp trược. Nên
các Luận nói rằng : kiếp giảm, Phật ra đời, kiếp tăng
thời Chuyển luân vương.
Hỏi
2 : nếu lúc kiếp giảm Phật mới ra đời, kiếp tăng thời
là Chuyển luân vương, thế sao Tương Khư và Di Lặc lại cùng
thời ? Lại nữa, Phật chẳng xuất gia thì hẳn sẽ làm Luân
vương. Tám con của Nhật Nguyệt Đăng Minh đều thống trị
Tứ thiên hạ. Thế sao gọi là kiếp giảm ?
Đáp
: Vua Tương Khư xuất thế lúc kiếp tăng, thọ mệnh dài nên
gặp Phật Di Lặc, chứ chẳng phải là Phật Di Lặc xuất
thế vào thời chẳng giảm. Thêm nữa Phật nếu chẳng xuất
gia thì hẳn là ở ngôi vị Kim luân vương, nhưng chẳng phải
Ngài định làm. Nghĩa lý chuyện tám con của Phật Đăng Minh
cũng giống như thế, vì đó là báo thân, nên cũng chẳng sai.
Đây nói Kim Luân ắt kiếp tăng mới xuất, còn lúc Ngân, Đồng
Thiết luân vương xuất thế thì chẳng nhất định. Bởi vậy
không lo thời Luân vương thì Phật diệt. Tuổi thọ con người
một trăm năm là thời Thiết luân vương vậy.
*
-Kinh
văn : “Như vậy Xá Lợi Phất” tới “phân biệt thuyết
tam”.
Tán
rằng : dưới là giải thích về ngũ trược, lý do đã khiến
Phật ra đời, nhắc lại ngũ trược đã được thuyết minh,
được nêu ra trước đây, cho nên nói là “Như vậy”.
“Thời
loạn kiếp trược” : giải thích kiếp trược nói trên :
thời đói rét, dịch bệnh, binh đao”.
“Chúng
sinh cấu trọng” : Cấu, chỉ Lục cấu (sáu thứ dơ dáy nhơ
bẩn). Ô nhiễm thân tâm, điểm nhiễm bất tịnh thì gọi
là Cấu. Tăng cường khó phá thì gọi là Trọng.
Lục
cấu gồm :
1)
Hại 2) Hận 3)Não
4)
Xiểm 5) Cuống
6) Kiêu.
Thích
làm tổn não đối với hữu tình thì gọi là Hại.
Trước
thì do tức giận, rồi kết thành thù oán dai dẳng chẳng bỏ
thì gọi là Hận.
Nhớ
điều ác xưa, chạm nghịch duyên nay, tâm liền hằn học,
hay thốt ra những lời ầm ỹ, hung bạo, thô bỉ, châm chọc
sói móc thì gọi là Não.
Ba
thứ này lấy Sân làm thể.
Cạm
bẫy người khác, hoặc giấu lỗi mình, hoặc lấy ý người,
giả bày vẻ khác, thâm hiểm quắt quéo thì gọi là Xiểm.
Để
kiếm lợi danh, giả vờ biểu hiện là có đức, quỉ quyệt
dối trá thì gọi là Cuống (lừa dối, bịp bợm).
Ý
nói kẻ kiểu cuống là kẻ trong tâm chứa mưu mô khác, vì
thường hay thể hiện ra sự tà mệnh chẳng thật.
Hai
thứ này lấy hai pháp Tham Si làm thể.
Nhiễm
trước rất sâu đối với sự thịnh đạt của bản thân,
say sưa ngạo mạn thì gọi là Kiêu. Kiêu lấy Tham làm thể.
Do
các chúng sinh sáu cấu nghiêm trọng, chẳng biết Sa môn, chẳng
tu thiện pháp, nên gọi là Chúng sinh trược.
“Xan,
tham, tật, đố ” : tức là Phiền não trược.
Đam
mê chấp trước đối với tài pháp đã có được, chẳng
thể huệ xả, bủn xỉn giấu kín thì gọi là Xan (keo kiệt,
bủn xỉn).
Đối
với những thứ mình chưa có được, hoặc đã có đủ mà
còn mong muốn thêm nhiều thì gọi là Tham.
Xan
dẫu tức là tham, nhưng vì tham là đối với những thứ đã
được hoặc chưa được đều nhiễm trước, mong muốn được
các thứ khác, nên chia làm hai môn.
*
Chữ Tật [ 嫉 ] có ba âm Tất, Tuất, Tật (nay đọc âm Tật)
có khi viết là [ ] , có nghĩa
là độc hại (Tật: có nghĩa là ghét).
Liều
chết vì danh lợi của bản thân mình, chẳng chịu nổi trước
sự thịnh đạt của người khác, đố kỵ buồn bực thì
gọi là Tật đố (ghen ghét).
Tật
tuy tức là Đố, song duyên tha chính pháp danh thể thì
gọi là Tật, còn duyên tha vinh lạc danh lợi thì gọi là Đ