MỤC
LỤC
Lời
Giới Thiệu của Viện Nghiên Cứu
Phật Học Việt Nam
Lời
Dịch Giả
Lời
Người Biên soạn
Sơ
Lược Tiểu Sử Dịch Gỉa
Quyển
I
Phần
Trước: Tổng Luận
Phần
Sau: Phẩm Tựa
Quyển
II
Phần
Trước: Giải thích kinh văn
Phần
Sau: Giải thích kinh văn
Quyển
III
Phần
Trước: Phẩm Phương tiện
Phần
Sau: Phẩm Phương tiện (tiếp theo)
Quyển
IV
Phần
Trước: Nghĩa của Nhất Thừa
Phần
Sau: Phẩm Phương Tiện (tiếp theo)
Quyển
V
Phần
Trước: Phẩm Thí Dụ
Phần
Sau: Phẩm Thí Dụ (tiếp theo)
Quyển
VI
Phần
Trước: Phẩm thứ ba Thí Dụ (tiếp theo)
Phần
Sau: Phẩm thứ tư Tín Giải
Quyển
VII
Phần
Trước: Phẩm Tín Giải
Phần
Sau: Phẩm Hóa Thành Dụ
Quyển
VIII
Phần
Trước: Phẩm Hóa Thành Dụ (tiếp theo)
Phần
Sau: Phẩm Năm Trăm Đệ Tử Thụ Ký
Quyển
IX
Phần
Trước: Phẩm Đề Bà Đạt Đa
Phần
Sau: Tòng Địa Dũng Xuất
Quyển
X
Phần
Trước: Phẩm Tùy Hỉ Công Đức
Phần
Sau: Phẩm Diệu Âm Bồ tát
Lời
Giới Thiệu
Một
trong những bộ kinh quan trọng nhất của hệ tư tưởng Phật
giáo Bắc truyền, không những có ảnh hưởng to lớn đối
với tín đồ Phật giáo mà còn lôi cuốn được sự quan tâm
của giới nghiên cứu, học giả Đông Tây, là Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa. Đây là bộ kinh ẩn chứa nhiều nghĩa lý sâu sắc,
vượt tầm tư duy và suy luận của đời thường. Để giúp
mọi người có thể lãnh hội được triết lý cũng như tính
thực tiển của nó, nhiều tác phẩm nghiên cứu, luận giải,
trước tác rất công phu và có giá trị đã ra đời. Pháp
Hoa Huyền Tán của Đại sư Khuy Cơ là một trong số ấy.
Ở
Việt Nam, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa có một vị trí vô cùng quan
trọng trong việc học và hành trì lời Phật dạy, vì đa số
Phật tử theo truyền thống Bắc tông. Với tâm nguyện giúp
đỡ Phật tử Việt Nam thực hành đúng tôn chỉ và mục đích
của Pháp Hoa, Cố Hòa thượng Thích Chân Thường, một bậc
cao tăng thạc đức, đặc biệt dành nhiều thời gian và tâm
lực để chuyển dịch tác phẩm Pháp Hoa Huyền Tán từ chữ
Hán ra chữ Việt. Tuy nhiên, do điều kiện và hoàn cảnh khách
quan, bản dịch này chưa có nhân duyên ấn hành sâu rộng.
Để
hoàn thành tâm nguyện của bậc Tôn sư, hàng môn đồ pháp
quyến của Cố Hoà thượng đã dày công biên tập, hiệu đính
và kết hợp với Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam để
in ấn tác phẩm nghiên cứu có giá trị này.
Nay,
chúng tôi kính giới thiệu đến chư Tăng Ni, Phật tử và
các độc gỉa bộ Pháp Hoa Huyền Tán này.
Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam
Lời
Dịch Giả
Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa là bộ kinh đại thừa thậm thâm vi diệu
của Phật giáo. Đã có nhiều bộ kinh sớ giải như :
•
Pháp Hoa Huyền Nghĩa của ngài Pháp Vân đời Lương.
•
Pháp Hoa Tam Đại Bộ của ngài Thiên Thai Trí Khải Đại sư
đời Tùy.
•
Pháp Hoa Nghĩa Sớ – Pháp Hoa Huyền Luận – Pháp Hoa Lược
Sớ – Pháp Hoa Dụ Ý – Pháp Hoa Luận Sớ của ngài Gia Tường
Đại sư Cát Tạng đời Tùy.
•
Pháp Hoa Kinh Yếu Giải của ngài Giới Hoàn đời Tống.
Song
đặc biệt vẫn là bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Huyền Tán của
ngài Khuy Cơ – Từ Ân Đại sư biên soạn đời Đường. Bộ
kinh luận này gồm 10 quyển, mỗi quyển chia làm hai phần :
Bản và Mạt. Nhằm giải thích ý nghĩa thậm thâm vi diệu
của bộ kinh đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa.
Trong
phẩm Pháp Sư, đức Phật dạy rằng : “Này Dược Vương
! Kinh điển của ta nói nhiều vô lượng nghìn muôn ức, đã
nói, đương nói, sẽ nói mà trong đó Kinh Pháp Hoa rất là
khó tin, khó hiểu… Sau khi Như Lai diệt độ người nào có
thể biên chép, thụ trì đọc tụng cúng dàng, vì người khác
mà nói, thời được Như Lai lấy y trùm cho, lại được các
đức Phật hiện tại ở phương khác hộ niệm cho. Người
đó có sức tin lớn, sức trí nguyện và sức căn lành, phải
biết người đó cùng Như Lai ở chung, được Như Lai lấy
tay xoa đầu”.
Nhận
thấy lợi ích lớn lao như vậy, tôi không quản tài sơ trí
hẹp, thành tâm phiên dịch bộ kinh này ra nghĩa tiếng Việt
với bản nguyện “Phục vụ chúng sinh tức cúng dàng chư
Phật”. Trong khi phiên dịch chắc chắn có nhiều phần khiếm
khuyết, kính mong các bậc cao minh – thiện tri thức từ bi
hoan hỷ phủ chính cho.
Champigny,
mùa Phật đản năm Quý Dậu
Phật
lịch 2537
Tỳ
Kheo Chân Thường khể thủ
MẤY
LỜI GIỚI THIỆU VỀ TÁC GIẢ TÁC PHẨM
KINH
DIỆU PHÁP LIÊN HOA HUYỀN TÁN
Bộ
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Huyền Tán này là do Đại sư Khuy Cơ
đời Đường biên soạn ra. Đại sư vốn tục danh là Uất
Trì Hồng Đạo, người ở Trường An (nay thuộc thành phố
Tây An, Thiểm Tây, Trung Quốc), xuất gia làm đệ tử ngài
Huyền Trang (tục gọi là Đường Tam Tạng), theo học tông
chỉ của Du Già, Duy Thức.
Ngài
là bậc Cao Tăng, một vị đại Luận sư đã viết tất cả
100 bộ luận để giải thích kinh Phật, đặc biệt là kinh
điển đại thừa. Do vậy, Ngài được người đương thời
gọi là Bách bản Luận sư. Trên đường vân du thuyết pháp,
ngài thường dùng 3 cỗ xe, nên còn được gọi là Tam xa Pháp
sư. Ngài đã từng theo ngài Huyền Trang dịch kinh tại Phiên
Kinh viện ở chùa Từ Ân thuộc Trường An, ở đó ngài rất
siêng trong công việc trước tác, dịch thuật.
Các
tác phẩm của ngài từ đây truyền đi được gọi là Từ
Ân giáo, sau được tôn là Pháp tướng – Hiển lý tông. Ngài
đã viết sớ giải cho nhiều bộ kinh, như các Kinh Di Lặc
Thượng Sinh, Diệu Pháp Liên Hoa v.v… Sớ giải của Kinh Pháp
Hoa chính là bộ sách Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Huyền Tán này.
Sách
này còn gọi là Pháp Hoa Huyền Tán, có chỗ còn gọi là Pháp
Hoa Kinh Sớ, là một trong những bộ sớ giải quan trọng nhất,
nổi tiếng nhất về Kinh Pháp Hoa. Mọi người học Phật điều
biết Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, thường gọi tắc là Kinh Pháp
Hoa, là một trong số kinh điển quan trọng nhất của Phật
giáo đại thừa. Cho nên ở các nước theo Phật giáo đại
thừa, ngoài việc phiên dịch kinh này ra ngôn ngữ bản quốc,
các vị Cao Tăng thạc học đều viết các sách sớ giải về
kinh này.
Để
giải thích Kinh Pháp Hoa, ta thấy ngoài bộ Huyền Tán này,
ở Trung Quốc còn có rất nhiều bộ luận sớ khác như Pháp
Hoa Huyền Luận, Pháp Hoa Nghĩa Sớ của Cát Tạng đời Tùy,
Pháp Hoa Huyền Nghĩa của Triù Khải đời Tùy, Pháp Hoa Kinh
Hội Nghĩa của Trí Húc đời Minh v.v….
Ở
Việt Nam ta, ngoài bản diễn Nôm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh của
ngài Huyền Cơ Thiện Giác, sách Pháp Hoa Quốc Ngữ Kinh của
Lão Thiền Diệc Ngu ra, còn có một số sách sớ giải về
Kinh Pháp Hoa như thời Minh Mạng triều Nguyễn có bộ Pháp
Hoa Đề Cương của Minh Chính thuyền sư, hoặc như thời nay
có Pháp Hoa Đề Cương Yếu Nghĩa của Hòa thượng Thích Từ
Thông …
Các
sách nói trên, mỗi bộ mỗi vẻ, đều nhằm giải thích Kinh
Pháp Hoa, đều giúp cho việc tìm hiểu nghĩa lý sâu xa của
bộ kinh này. Riêng bộ Pháp Hoa Huyền Tán của ngài Khuy Cơ
(còn gọi là Đại sư Từ Ân) được coi là quan trọng bậc
nhất, bởi lẽ sách này ngoài việc nêu ra các nghĩa lý tinh
yếu của Kinh Pháp Hoa, còn giải thích cặn kẽ đến từng
câu từng chữ của kinh này thông qua bản Hán dịch, đồng
thời còn giải thích văn tự của bản Hán dịch. Pháp Hoa
Huyền Tán còn chỉ ra một số từ dịch sai so với nguyên
bản gốc Phạm. Có thể nói những ai muốn hiểu thấu nghĩa
lý thâm diệu của Pháp Hoa, không thể không đọc sách này.
Sách
này chia thành 10 quyển. Mỗi quyển lại chia thành hai phần
: Bản và Mạt (trước, sau). Về bố cục, sách này đại thể
có thể chia làm hai phần :
•
Phần đầu tác giả giải thích một cách tổng quát về Kinh
Pháp Hoa từ tên gọi, tông chỉ của bộ kinh này cho đến
tính xác tín và vị trí của kinh này trong Phật giáo đại
thừa.
•
Phần sau tác giả giải thích kinh văn lần lượt từng phẩm
theo thứ tự sắp xếp trong Kinh.
Khi
giải thích mỗi phẩm, đầu tiên tác giả cũng nêu lên và
giải quyết các vấn đề có tính chất tổng quát của phẩm
đó, theo phương pháp mà tác giả đặt tên là :“Tam môn phân
biệt”.
“Tam
môn phân biệt” nhằm giải quyết 3 vấn đề :
1.
Lai ý : dụng ý của phẩm đó, hoặc vì sao mà có phẩm đó.
2.Thích
danh : giải thích tên gọi của phẩm đó, thông qua việc giải
thích tên phẩm nêu lên nội dung cơ bản của phẩm đó.
3.Giải
phương : giải đáp các thắc mắc quanh phẩm đó.
Sau
phần này, tác giả lần lượt giải thích từng phần, từng
đoạn, từng câu kinh văn trong phẩm, bằng cách đầu tiên
dẫn kinh văn, sau đó giải thích. Khi dẫn kinh văn, để khỏi
rườm rà tác giả chỉ nêu lên mấy chữ đầu và mấy chữ
cuối của đoạn được dẫn, phần bị tỉnh lược ở giữa
được thay bằng chữ “chí” (tới). Cách dẫn kinh cụ thể
theo công thức sau : [-Kinh văn : “XXX” chí “XXX”
], X là chữ được dẫn.
Phần
giải thích được mở đầu bằng : “Tán viết” (Tán rằng),
cũng có khi được mở đầu bằng “Luận vân” (Luận rằng).
Chính là qua phần giải thích này, mà người đọc có thể
hiểu được ý nghĩa thâm diệu của Kinh Pháp Hoa.
Hơn
nữa, qua phần giải thích này còn có thể giúp cho người
tu Phật có được các tri thức phong phú về Phật giáo đại
thừa, vì trong phần này tác giả đã viện dẫn rất nhiều
kinh điển đại thừa.
Đối
với người tu Phật, bộ Pháp Hoa Huyền Tán này có thể coi
là bộ sách giáo khoa về Kinh Pháp Hoa, về Phật giáo đại
thừa. Đối với người giảng kinh, có thể coi đây là bộ
giáo án quý báu để giảng kinh này. Đối với người nghiên
cứu, có thể coi đây là bộ sách tham khảo rất có giá trị.
Tóm lại, nói theo ngôn ngữ của nhà Phật, bộ sách này đem
lại lợi ích to lớn trong việc hoằng pháp lợi sinh.
Chính
vì nhận thấy ý nghĩa hoằng pháp vô cùng to lớn của bộ
Pháp Hoa Huyền Tán này, mà cố Hòa thượng Thích Chân Thường,
một vị chân tu có nhiều công đức trong sự nghiệp hoằng
dương Phật pháp, người đã từng phiên dịch, tổ chức phiên
dịch ấn tống nhiều bộ kinh điển nhà Phật, cũng là người
sau khi đã làm nhiều công đức hoằng pháp tại quê hương
lại cùng một số Cao Tăng Việt Nam khá,c đem Phật giáo sang
truyền bá tại Châu Âu và là người xây dựng lên chùa Quan
Âm ngay tại Paris, thủ đô nước Pháp.
Khi
còn tại thế, Ngài đã từng có tâm nguyện tha thiết là muốn
phiên dịch và ấn tống bộ sách này để lợi lạc quần
sinh. tiếc thay công việc chưa xong thì người đã vội về
cõi Phật. Nay các Pháp tử, Pháp tôn cùng Pháp quyến của
người, tuân theo lời di huấn của người, đã nối tiếp
và hoàn thành công việc to lớn khó khăn đang còn dang dở
đó của người. Công quả ấy đã viên thành, người ở cõi
Cực Lạc hẳn đã mãn nguyện.
Tôi
là người từ lâu đã để tâm vào việc nghiêm cứu Phật
học, đã từng được đọc sách này, nay lại được may mắn
là người đầu tiên được đọc bản thảo bản dịch ra
tiếng Việt. Tôi vô cùng tán thán công đức to lớn của cố
Hòa thượng Chân Thường và những vị nối chí người bởi
lẽ phiên dịch, tổ chức phiên dịch, ấn tống bộ sách này
là một công việc vô cùng to lớn vô cùng khó khăn. (To lớn
vì sách này rất đồ sộ, gần bằng nửa bộ Sử Ký của
Tư Mã Thiên, việc biên dịch in ấn phải tốn nhiều sức
người, sức của. Khó khăn vì ngôn ngữ văn bản rất
khó, phạm vi tri thức Phật học mà tác giả đề cập đến,
hoặc viện dẫn từ Kinh Luật Luận rất rộng). Vậy mà nay
công việc ấy đã được hoàn thành.
Tuy
nhiên, tôi thiển nghĩ cũng như mọi công việc to lớn khác
trong thiên hạ, việc phiên dịch in ấn bộ sách lớn như thế
này dù đã hoàn thành song khó có thể nói là đã “Vạn vô
nhất thất”. Những mong đọc giả đọc bản dịch sách này
với thiện tâm tùy hỉ sẽ góp phần giúp cho bản dịch sách
này được hoàn thiện hơn, bởi lẽ bất cứ một sự
hoàn thành nào đó đều chỉ là tương đối, cũng như trong
kinh Dịch, sau quẻ Ký tế áp cuối tượng trưng cho sự hoàn
thành, đến quẻ Vị tế là quẻ cuối cùng tượng trưng cho
sự vẫn chưa hoàn thành.
Hà
nội, ngày 2 tháng 9 năm 1995
Giáo
sư Trương Đình Nguyên
SƠ
LƯỢC TIỂU SỬ DỊCH GIẢ
THÍCH
CHÂN THƯỜNG
(1912
– 1993)
•
Đạo hiệu : Thích Chân Thường, pháp húy
Bản Như.
•
Thế danh : Trần Đức Ký, sanh năm Nhâm Tý 1912.
•
Quê quán : làng Trà Trung, tổng Trà Lũ, phủ Xuân Trường,
tỉnh Nam Định.
•
Xuất gia : năm Canh Thìn, lúc 38 tuổi.
•
Sơn môn : đầu Phật với Tổ Trà Trung – Linh Ứng.
•
Thụ giới : thụ Cụ túc giới năm 1950 tại bản
tự.
•
Học đạo : Tổ Tuệ Tạng, chùa Vọng Cung, Nam Định.
Hành
đạo: năm Giáp Ngọ 1954, vào Sài Gòn, chuyên tu pháp môn
Tịnh độ và bắt đầu sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh ở
đây.
Kiến
tạo : năm Mậu Tuất 1958, kiến tạo chùa An Lạc,
đường Phạm Ngũ Lão, quận Nhất, Sài Gòn. Ngoài ra, ngài
còn kiến tạo 2 Tịnh xá, một ở Biên Hòa và một ở
Thủ Dầu Một.
Tham
học:
•
Năm 1961, sang nước Cao Miên nghiên cứu giáo lý Theravàdà.
•
Năm 1968, sang Ấn Độ nghiên cứu Mật giáo.
•
Năm 1972, sang Trung Quốc nghiên cứu Cổ bản.
•
Hoằng dương : Là người khai sáng 2 ngôi chùa Việt Nam đầu
tiên trên đất Pháp :
•
Năm Giáp Thìn 1964, sang Pháp khai sáng chùa Linh Sơn, ở Joinville
Bon, ngoại ô Paris. Sau này giao lại cho Hòa thượng Thích
Huyền Vi kế nhiệm.
•
Năm Mậu Thân 1968, khai sáng chùa Quán Âm, ở Champigny
sur Marne, ngoại ô Paris.
•
Thành lập Hội Phật giáo Quán Âm Paris, trụ sở tại chùa
Quan Âm, đó cũng là trụ xứ hoằng đạo của Ngài trên đất
Pháp cho đến lúc cuối đời.
Sự
nghiệp phiên dịch và ấn hành :
Chư
kinh Nhật tụng. (biên soạn)
Kinh
A Di Đà. (phiên dịch)
Kinh
Đại Phương Tiện Phật Báo Ân. (phiên dịch)
Kinh
Đại Bát Niết Bàn. (biên soạn)
Kinh
Pháp Hoa Huyền Tán. (phiên dịch)
Thế
giới An Lập Đồ, (phiên dịch)
Kinh
Địa Tạng. (biên soạn)
Kinh
Phổ Môn. (phiên dịch)
Kinh
Vô Lượng Thọ. (phiên dịch)
Phổ
Đà sơn dị truyện. (phiên dịch)
Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa. (biên soạn)
Công
đức viên mãn : Ngài viên tịch ngày 18 tháng 12 năm 1993
(tức ngày 6 tháng 11 năm Quý Dậu) tại chùa Quan Âm Paris, Pháp
Quốc.
Trụ
thế : Ngài thụ mệnh 82 tuổi đời và có 42 tuổi đạo.