PHẬT
THÍCH CA NÓI KINH A DI ÐÀ
NGÀI
VÂN THÊ LÀM LỜI SỚ SAO
*******
QUYỂN
THỨ TƯ
(tiếp
theo)
D.
HỖ CHƯƠNG NAN SỰ LINH THIẾT CẢM PHÁT
(Phân ra
làm ba)
1. KỶ TÁN CHƯ PHẬT (Thích Ca khen Chư Phật)
2. CHƯ PHẬT TÁN KỶ (Chư Phật khen Thích Ca)
3. TỔNG KẾT NAN SỰ (Chung kết việc khó)
KỶ TÁN
CHƯ PHẬT
Nầy Xá Lợi Phất! Như ta nay đây khâm khen công đức chư
Phật bất khả tư nghì.
Sớ: Bổn kinh của đời nhà Ðường dịch đã nói: “Như
ta đây rao bày khâm khen đức Vô Lượng Thọ Phật”.
Kinh nầy nói: “Khâm khen các đức Phật”. Nư lời Cổ
Nhai nói: “Do vì đức Phật Di Ðà với chư Phật đồng một
pháp thân”.
Sao: “Ðồng một pháp thân” là như kinh Hoa Nghiêm lời
tụng nói: “Mười phương các đức Phật Như Lai, đồng chung
một pháp thân; một thân một trí huệ, Thập lực, Tứ vô
úy cũng thế”.
Thời đức Phật Di Ðà tức là các đức Phật, các đức
Phật tức là Phật Di Ðà; cho nên chẳng nói đức Di Ðà mà
nói các đức Phật. Số là gồm đức Di Ðà cùng các đức
Phật đồng khâm khen đức Thích Ca vậy.
Sớ: Bản dịch đời nhà Ðường do đức Di Ðà gồm các đức
Phật; nay kinh này: Do các đức Phật gồm đức Di Ðà. Nếu
cả hai thuyết gồm nói đủ thời với văn đã thuận mà nghĩa
lại cũng cụ túc.
Sao: “Ðủ hai thuyết” là nói: Như ta nay đây khâm khen đức
Phật A Di Ðà, cùng với các đức Phật đều có công đức
bất khả tư nghì; thế thời văn kinh đã thuận mà với nghĩa
đồng một Pháp thân cũng ở trong đó, văn nghĩa đều tốt.
Nên biết ngài La Thập vốn có ý đây, nhưng vì ngài muốn
bớt văn cho dễ, ngài Huyền Tráng dịch sau chỉ vì riêng nói;
ấy là muốn cho người đối trong hai kinh khéo hiểu nói ý
kia mà không chấp nơi văn tự vậy. Lại các đức Phật với
Phật Di Ðà đồng nhau cũng là bất khả tư nghì.
CHƯ PHẬT
TÁN KỶ (Phân ra làm 2 phần)
1. ÐẮC ÐẠO NAN (Chứng đạo là khó)
2. THUYẾT PHÁP NAN (Nói pháp là khó)
ÐẮC ÐẠO
NAN
Hết thảy các đức Phật kia cũng khâm khen công đức của
ta bất khả tư nghì mà nói lời như vầy: “Thích Ca Mưu Ni
Phật hay làm những việc ít có rất khó, lại hay ở trong
cõi nước Ta Bà nhằm đời dữ năm trược: Kiếp trược,
kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược và mạng
trược mà được chứng quả a nậu đa la tam miệu tam bồ
đề”.
Sớ: Mỗi vị Phật khâm khen lẫn nhau là vì để tiêu biểu
pháp môn Tịnh Ðộ này, quyết phải tín thọ.
Sao: “Mỗi vị Phật lẫn nhau khen” là: Vì với pháp môn
niệm Phật cầu sanh Tịnh Ðộ đây, dẫu một vị Phật riêng
khen cũng phải tín thọ không nghi; huống nay chẳng những một
đức Thích Ca khen nơi hội Kỳ Viên mà thôi, cho đến chư
Phật ở sáu phương cũng vẫn đồng khen ngợi. Lại Phật
đây, Phật kia lẫn nhau tán thán, há chẳng phải pháp môn
tối yếu siêu sanh thoát tử hay sao? Thế nên nhắc lại bốn
phen dặn dò, nhiều phương dạy bảo, ơn hơn mẹ đẻ, nhơn
quá trời cao, dầu cho có làm hạnh chi đến tan xương nát
thịt đi nữa cũng khó mà đền đáp cho vừa.
Sớ: “Các Ðức Phật kia” tức là Phật Di Ðà cùng 6 phương
chư Phật vậy. Thích Ca, dịch: Năng Nhơn; Mưu Ni, dịch: Tịch
Mặc.
Sao: Năng Nhơn Tịch Mặc, đủ có hai nghĩa: 1. Theo đối đãi
mà nói thời chữ Năng là pháp phương tiện quyền khéo chìu
theo cơ ưa hợp. Chữ Nhơn là trí, đức hồng ân khắp nhuần
muôn loại, là lòng đại bi lợi vật. Chữ Tịch là lặng
vậy bất động, bặt dứt muôn điều.Chữ Mặc là vắng vậy,
quên lời, hằng lìa sự hý luận, ấy là cái đại trí hiệp
với chơn lý. 2. Với viên dung mà nói: Do vì bi tức là trí
nên trọn ngày độ sanh mà không có tướng chúng sanh nào khá
độ; đấy là tức Ðộng mà Tịnh vậy.
Do vì Trí tức Bi nên chẳng khởi lên một mảy niệm mà thường
độ chúng sanh; đây tức là Tịnh mà Ðộng vậy. Cho nên biết
rằng chỉ nói hai chữ Bi, Trí nhẫn đến một lời thì toàn
đức của Phật đều gồm được hết.
Sớ: Câu “Ít có rất khó” là lời nói chung cả hai việc
khó ở dưới, Làm đủ hai việc khó đây nên gọi công đức
bất tư nghì.
Sao: “Nói hai việc khó” là: Ở trong đời ngũ trược mà
tu chứng đặng quả Bồ Ðề, đó là một việc khó. Lại
ở trong đời ngũ trược mà nói ra pháp môn Tịnh Ðộ này,
đó là việc khó thứ hai. Gồm cả hai việc đây thật là
cái việc rất khó làm mà duy có Phật làm được. Với việc
ít có, khó thấy ấy cũng chỉ một mình Phật có đó.
Lại việc khó làm mà làm được cũng chưa phải là điều
ít có. Nay việc rất khó làm mà được đó, đấy mới là
tột xưa suốt nay, siêu hiền vượt thánh, trên trời dưới
trời đồ sộ đặc biệt riêng một mình mà không ai so sánh
cho bằng bực ấy nên nói là “ít có”.
Sớ: Chữ Ta Bà dịch là Kham Nhẫn, cũng dịch là: Nhẫn Giới,
tức là cõi Ðại Thiên Thế Giới của đức Phật Thích Ca
Thế Tôn làm Pháp chủ. Chữ “ngũ trược” là gì? Do năm
việc uế trược nó đánh lẫn lộn nhau làm nhơ đục chơn
tánh của chúng sanh nên gọi là đời ác trược. Thời kỳ
nào không năm món trược đây thì gọi là đời thiện tịnh
vậy.
Sao: Kham Nhẫn là do vì chúng sanh ở đây kham xiết đành chịu
ba điều độc hại phiền não, xoay vần trong đường sanh tử
mà không nhàm lìa. Nhẫn Giới là vì đức Như Lai ở
trong cõi nầy, riêng một mình ngài chứng đặng bực Tự Thệ
tam muội (19).
Lại thời kỳ sơ kiếp có vị Phạm Vương tên là Nhẫn (20).
“Ngũ trược quấy lộn lẫn nhau” là bản tánh vốn vắng
lặng, do kiếp trược v.v... cả năm trược xáo lẫn nổi lên
cát bụi bặm, cặn cáu. Như kinh Lăng Nghiêm nói: “Ví như
nước đang trong, lấy đất cát quăng vô, đất rã làm cho
nước mất tánh trong sạch, vì lộn lạo đục ngầu”.
Chữ Thế là nghĩa “dời đổi không ngừng”. Thời đời
trước, đời nầy và sau đời nầy, phải có một đời gọi
là thiện thế vì bấy giờ không ngũ trược. Nay nói
đời ác thế (21) là căn cứ vào thời kỳ Phật Thích Ca đương
hiện thế mà nói.
Sớ: Chữ “kiếp” đọc đủ tiếng Phạm là Kiếp Ba, dịch
là Thời Phận. Chữ Kiếp trược là nó không có cái
thể riêng; do có 4 trược kia mà đặt cái tên cho nó (là kiếp
trược); các điều trược cấu cặn lẫn với nhau tức là
tướng hiện thật của nó (kiếp trược).
Sao: “Kiếp trược” là trong một đại kiếp có bốn trung
kiếp là: Thành, Trụ, Hoại, và Không. Mỗi một Trung kiếp
đều có 20 tiểu kiếp, xây vòng tăng, giảm.
Thuở mà loài người tuổi sống tăng đến khi mỗi người
sống được 8 muôn (80.000) tuổi là số tăng đã tột. Lại
một trăm năm giảm xuống một tuổi, cứ giảm như vậy cho
đến khi con người còn sống được hai muôn (20.000) tuổi,
tức là vào thời kỳ kiếp trược rồi.
“Không có cái thể riêng” là do bốn trược sau đều ở
trong kiếp trược đây, nhơn đó mà đặt tên là "Kiếp trược".
Phần của kiếp đây, nội dung hiện tượng của nó là các
trược đua nhóm lẫn nhau, tơi bời xen lộn, cho nên nói là
“trược”.
Trái lại để thêm rõ trong nước Cực Lạc, đương thời
là Phật A Di Ðà hiện tại thuyết pháp, là vì thời gian thanh
tịnh không phải kiếp trược... Ngày nay chúng ta vì sao đành
ở trong đời kiếp trược nầy mà chẳng cầu sanh về nước
kia ư? Bốn trược sau cũng nương theo đây.
Nên ngài Trí Giả nói: “Cõi Tịnh Ðộ kia vì không có ba
độc và năm trược nên gọi là cõi ngũ thanh” là ý đây
vậy.
Sớ: Kiến trược là lấy năm món lợi sử làm thể, chia ra
thì thành 62 cái v.v... Các tà kiến lừng lẫy tức là
tướng của nó (kiến trược).
Sao: Năm món lợi sử là: 1. Thân kiến: Nghĩa là chấp ngã
và ngã sở mà khởi ra tà kiến chấp có thân ta. 2. Biên kiến:
Nghĩa là chấp đoạn, chấp thường, mất lý trung đạo mà
khởi ra tà kiến, chấp một bên. 3. Giới thủ: Nghĩa
là chẳng phải chánh nhơn mà chấp cho là nhơn, để tu theo
lối khổ hạnh của tà đạo mà khởi ra tà kiến, chấp trước
rằng ta hãy giữ giới (giới của tà đạo). 4. Kiến thủ:
Nghĩa là chấp quấy làm phải, như chuyện gánh gai bỏ vàng
mà khởi ra tà kiến, tự phụ chỗ sở kiến của mình. 5.
Tà kiến: Nghĩa là bác đi nói không có nhơn quả, mắc về
cái tội chấp không, trống rỗng (ngoan không) gây ra cái
thấy biết không chánh đáng của bọn tà ngoại.
Năm điều ấy nó hay khiến chúng sanh đi vào con đường sanh
tử cho nên gọi là "Sử". Nhưng mà cái thể nó mảy mún, nhặm
lẹ làm hại chẳng phải nhỏ. Vì đối với năm Ðộn sử
để nói nên kêu là Lợi sử, nghĩa là nó sai khiến rất nhanh
chóng.
“Chia ra thời thành 62 Sử” là: Dùng hai cái chấp đoạn
và chấp thường làm gốc mà sắc ấm v.v... năm ấm, mỗi
ấm có đủ bốn câu, nhơn cho ba đời thành 60, thêm hai gốc
Ðoạn và Thường kia cộng thành 62 sử (sai khiến).
Các cái tà kiến đấy cũng như rừng rậm quấn buộc quanh
co, người đời không thể ra khỏi, khuấy rối chơn tánh,
cho nên nói là “trược”.
Trái lại với trên là để rõ trong nước Cực Lạc, mỗi
người đều đủ sức chánh kiến vì chẳng mắc cái kiến
trược như chúng sanh ở cõi nầy.
Sớ: Phiền não trược là lấy năm món Ðộn sử làm thể,
nhơn rộng ra thì nhiều đến thành 10 món, 108 món, tám vạn
bốn ngàn (84.000) món, và hằng sa đẳng món v.v... để vời
mắc lấy tam tai, tức là cái hiện tướng của phiền não
trược.
Sao: Năm món Ðộn sử là: 1. Tham: Nghĩa là gặp các cảnh thuận
tình thì khởi ra tâm yêu đắm, vì không thể bỏ lìa 2. Sân:
Nghĩa là gặp những cảnh trái tình thì khởi tâm hờn giận,
vì không thể dung nhẫn. 3. Si: Nghĩa là đối với cảnh không
phải trái, chẳng phải thuận thì khởi ra tâm ngu ám, vì không
thể xét biết. 4. Mạn: Nghĩa là: Ðối với tất cả. Chúng
sanh khởi tâm kiêu ngạo trên lấn, dưới lướt, vì không
hay kính nhường. 5. Nghi: Nghĩa là đối với các pháp lành
khởi ra tâm nghi nan, khi muốn tấn, lúc muốn thối, vì chẳng
hay tự quyết định được.
Năm cái đây cũng hay khiến người thẳng vào trong đường
sanh tử, cho nên gọi là "Sử"; sánh với năm sử trước thì
nặng nề chậm chạp hơn nên gọi nó là “Ðộn sử”, nghĩa
là cũng sai khiến mà chậm lụt lắm!
“Nhơn rộng ra” là đem năm độn sử hiệp cộng với năm
lợi sử trước, làm thành 10 món phiền não. Lại chia ra thời
làm thành 98 món phiền não, thêm món thập triền thời thành
108 món phiền não. Lại chín chắn suy ra nữa thời tới tám
vạn bốn nghìn (84.000) phiền não, nhẫn đến hằng sa và đa
đa vô lượng. Bởi nó làm nhọc nhằn tâm ta, không đặng
an ổn, nóng nảy tâm ta không đặng mát mẻ!
Lại các món rộn ràng, nó ép ngặt tâm thần làm cho tánh
chơn minh chẳng xán lạn; cho nên gọi nó là “phiền não”.
Với “mắc tam tai” là do lòng tham nên cảm chịu lấy tai
cơ cẩn (đói kém, mất mùa), lòng sân cảm chịu lấy tai đao
binh; lòng si cảm thụ ra tai tật dịch; nhẫn đến tai nước,
tai lửa, tai gió các tai nạn lớn, cũng đều do theo một loại
của phiền não nó sai khiến cho nên nói nó là “trược”
vậy.
Trái lại với trên là để rõ trong nước Cực Lạc, mỗi
người đều trí huệ trong sạch vì chẳng phải phiền não
trược như cõi này.
Sớ: Chúng sanh trược là: Một chỗ nói: Lấy ba nghĩa của
kinh A Hàm để làm thể. Lại chỗ thì nói trộn lẫn với
năm ấm: Ấm, kiến thức, mạn khinh; quả báo để làm thể.
Tên xấu tiếng nhơ tức là tướng của nó vậy.
Sao: “Ba nghĩa” là Kinh A Hàm nói: 1. Ban đầu kiếp trụ do
chúng sanh cõi trời Quang Âm bị đọa xuống ở mặt đất
nầy. 2. Hòa hợp với 5 ấm để lẫn sanh ra. 3. Tùy theo mỗi
chỗ (6 đường) để thụ sanh theo mỗi trường hợp; cho nên
nói “chúng sanh trược”.
“Năm ấm” tức là sắc ấm, thọ ấm v.v... Chữ “kiến”
là không thật có chủ tể mà chấp bướng rằng thân nầy
thật có chủ tể, thế là “ngã kiến” (chấp ta, tự ái,
bản ngã: tự nhận thấy có làm chủ thân nầy, vật
nọ).
Chữ Mạn là chấp cu sanh chủ tể (“cu sanh” là cái chấp
đời trước, còn thừa lại đều theo sanh ra với thân đời
nầy) gọi là “ngã mạn” (trọng mình khinh người).
“Quả báo” là đời trước đã tạo nhơn, đời nầy phải
chịu quả báo, cũng là nghĩa thọ sanh như trên.
“Tên xấu, tiếng nhơ” là: Ðối với Phật thì “chúng
sanh” là cái tên tuổi tiếng tăm rất hèn xạ xấu xa bởi
luân hồi trong sáu đường, chịu đủ các việc thống khổ
cho nên nói là Trược.
Trái lại với trên là để rõ trong nước Cực Lạc, người
người toàn là bực thượng thiện đồng hội hợp một xứ,
vì chẳng phải như chúng sanh mang những danh xưng ác trược
như cõi này!
Sớ: Mạng trược là: Lấy sắc và tâm chuyền luôn, nối
giữ làm thể, thâu thúc năm, tuổi, giảm ngắn số thọ tức
là tướng của nó vậy.
Sao: “Chuyền luôn nối giữ” là: Y theo nghiệp lực nó dẫn
dắt
hột giống thức thứ tám; ngoài sắc thân, trong thời tâm
thức, liên thuộc lẫn nhau. Tức là do "hơi thở", "chất
ấm" và "thần thức", ba cái nó cùng giữ gìn nhau, như hồ
keo không cho tan rã (sống trong một thời kỳ) đó gọi là
Mạng căn. Nếu rủi ro một cái không luôn giữ cho nhau
tức thì cái Mạng căn liền đoạn, như chất keo hết dính
(chết), nên lấy ba cái đây làm thể của Mạng căn.
“Thâu năm, giảm thọ” là đương trong kiếp giảm đây,
mạng căn con người sống không đến trăm năm mà lại dường
như bọt, bóng, như đèn giữa gió, trong giây phút chẳng dừng,
rất là ngắn ngủi, cho nên nói là “trược” vậy.
Trái lại với trên là để rõ trong nước Cực Lạc: Nhơn
dân thọ mạng đồng với Phật vô lượng vì chẳng phải
mạng căn ô trược như cõi này.
Sớ: Với ngũ trược mà giải nói như thế là căn cứ theo
phần quả; còn như kinh Lăng Nghiêm nói, hoặc phối vớI tam
tế, lục thô; hoặc phối với ngũ ấm thì nghĩa nó cũng chẳng
khác.
Sao: “Phối với tam tế, lục thô” v.v... là: Lấy cái kiếp
trược phối với nghiệp tướng, nghĩa là: Cái vô minh khi
ban đầu khởi ra vì tánh nó liền nhơ trược vậy; kế lấy
mạng trược phối với nghiệp hệ khổ tướng.
“Phối với ngũ ấm” là: Lấy kiếp trược phối với sắc
ấm, nghĩa là với điều không, điều thấy chẳng rành, cái
thấy bậy vốn không, cả hai đều không thật thể vì tánh
nó vẫn trược vậy. Kế lấy Kiến trược phối với Thụ
ấm; kế lấy phiền não trược phối với Tưởng ấm; kế
lấy chúng sanh trược phối với hành ấm; kế lấy mạng trược
phối với thức ấm.
Nói “không khác” là: Một thuyết trước nói: Tâm không
có cái tướng ban đầu là vô minh thì vượt khỏi kiếp trược,
nhẫn đến không có cái tướng nghiệp hệ khổ thì vượt
khỏi mạng trược; thế là đoạn được cái vô minh v.v...
Nên gọi Phật Ngài ở cõi ngũ trược mà chứng quả Bồ Ðề.
Một thuyết sau nói: Phá được sắc ấm thì vượt khỏi kiếp
trược, nhẫn đến phá được thức ấm v.v... nên gọi là
Phật Ngài ở trong cõi đời ngũ trược mà chứng đặng quả
Bồ Ðề. Vì hai thuyết nói có chút khác, nhưng nghĩa rất
đồng nhau.
Sớ: Trong Quán kinh nói: “Tạo cái nhơn trược ác, bất thiện
nên bị cái quả năm món khổ ép ngặt”. Nay ở đây không
nói năm món khổ là văn bớt.
Sao: “Năm món khổ” là: Lời Sớ nói: “Sự khổ giữa ngũ
đạo (năm loài) là hoặc cái khổ ngũ thống, cái khổ ngũ
thiêu, cái khổ ngũ ác (23) v.v... rõ đủ như trong kinh Ðại
Bổn, đây chẳng chép nhiều”. Do trược ắt có khổ, nói
trược thì gồm khổ nên nói “bớt văn”.
Sớ: Ở trong cõi đời ngũ trược đây, những người có thể
tự lập (làm nên mình) cũng đã ít lắm rồi; huống đặng
thành bực chánh giác, đâu chẳng khó ư? Thế là việc khó
lần thứ nhứt, thế là rõ công đức tự lợi thiệt không
thể nghĩ bàn.
Sao: “Tự lập” là: Cái thời kỳ đủ năm điều ác trược
mà loài người sanh ra nhằm trong đời ấy với hoàn cảnh
ngoài thời bị thời thế ép ngặt; với trong thân tâm thì
bị mê hoặc nghiệp chướng nó buộc ràng. Huống hồ cái
thân thể buộc giữa bốn loài, mạng còn trong hơi thở. Bởi
thế nên muốn sạch mà nó cứ nhơ, cầu lên mà lại rớt
trở xuống. Thế mà có năng lực ở trong cõi này, khéo phân
biệt điều thiện ác là trì giới tu phước để lập được
cái địa vị chốn nhơn thiên. Kẻ mà được như thế cũng
rất ít có lắm rồi! Huống nữa hay ở trong cõi ngũ trược
này có một số người rất sợ cơn vô thường, biết tu pháp
Tứ Ðế, pháp Thập Nhị Nhơn Duyên để tự lập cái địa
vị các thánh Thanh Văn, Duyên Giác, lại càng ít có hơn nữa.
Phương chi cũng ở giữa cõi này mà đoạn hẳn màn Vô Minh,
vượt cao ngoài ba cõi để chứng đặng quả Vô Thượng Chánh
Ðẳng Bồ Ðề; thiệt là chẳng khác nào đồng ở trong đám
nhà cháy mà riêng một mình được ngồi trên chiếc xe báu
đi ra; đồng chìm dắm trong sông mê mà riêng lên bờ giác.
Thế đâu chẳng phải là kẻ nhẫn được những cái mà đại
đa số người không thể nhẫn; làm được những cái mà đại
đa số không thể làm! Vậy mới gọi là khó, thế mới là
công đức tự lợi không thể nghĩ bàn.
Sớ: Xứng lý thời tự tánh Thỉ Giác hiệp với Bổn Giác
là nghĩa “ta khen chư Phật”. Bổn Giác ngầm hợp với Thỉ
Giác là nghĩa “chư Phật khen ta”. Tự tánh tịch mà thường
chiếu; chiếu mà thường tịch là nghĩa Thích Ca Mưu Ni. Tự
tánh không nhiễm mà nhiễm, nhiễm mà không nhiễm là nghĩa
“ở trong cõi ngũ trược mà chứng quả Bồ Ðề”.
Sao: Nhơn trùm biển quả, quả suốt nguồn nhơn thời Thỉ,
Bổn chẳng hai; dụng chẳng lìa thể, thể chẳng lìa dụng
thời tịch và chiếu đồng thời, không nhiễm mà nhiễm, khó
đặng tỏ biết, là quả Bồ Ðề chìm ngập trong cõi ngũ
trược. Nhiễm mà không nhiễm, khó đặng tỏ biết, là đồng
ở trong cõi ngũ trược mà riêng chứng quả Bồ Ðề.
Nên biết rằng Phật đây, Phật kia cũng đồng qui về một
cái tự tâm tịch vẫn chiếu; phiền não hay Bồ Ðề cũng
chẳng ra ngoài một niệm Ngộ với Mê thế thì Bổn Sư tức
là ta, ta tức là Bồ Ðề và chứng đặng Bồ Ðề thiệt
không chỗ đặng.
THUYẾT
PHÁP NAN
Vì các chúng sanh mà ta nói ra pháp này, tất cả thế gian lấy
làm khó tin.
Sớ: Văn trước là nói việc khó giữa loài người; văn đây
là nói việc khó nhứt trong các việc khó vậy.
Bởi vì với pháp môn Tịnh Ðộ, tất cả thế gian đều khó
tin. Phật ở giữa đời ác trược mà chứng đặng đạo quả,
lại ngay trong đời ác trược nói trắng ra pháp này để độ
chúng sanh lại là việc khó rất tột bực trong các việc khó
vậy. Thế là việc gấp hai lần khó để rõ rằng công đức
lợi tha của ngài thật không thể nghĩ bàn.
Sao: “Nói điều khó tin” lược kể có mười nghĩa. Nay ở
trong cõi uế ác đây, chúng sanh an tâm chịu đã lâu đời
rồi, bỗng nghe nước kia trang nghiêm thanh tịnh, tất là nghi
không có sự thật đó. Ấy là một điều khó tin vậy.
Dầu tin có nước kia, nhưng lại nghi rằng 10 phương cõi Phật
đều có thể tùy ý muốn sanh về cõi nào cũng được, hà
tất quyết định sanh về Cực Lạc? Là hai điều khó tin vậy.
Dầu tin sẽ được sanh về, nhưng lại nghi rằng cõi Ta Bà
đây cách xa nước Cực Lạc, đến 10 muôn ức cõi, thế làm
sao rất xa mà đặng sanh về nước phước đức kia, là ba
điều khó tin vậy.
Dầu tin là không xa, nhưng lại nghi rằng tất cả phàm phu
tội chướng sâu nặng, làm sao mau đặng sanh về nước kia?
Là bốn điều khó tin vậy.
Dầu tin đặng sanh về, nhưng lại nghi rằng sanh về cõi Tịnh
Ðộ đó quyết phải có tu pháp môn kỳ diệu gì và nhiều
món công hạnh mới được; làm sao chỉ tu trì danh hiệu Phật
mà liền đặng sanh về? Là năm điều khó tin vậy.
Dầu tin tu pháp trì danh, nhưng lại nghi rằng tu trì danh hiệu
nầy ắt phải cho nhiều năm, nhiều kiếp mới đặng thành
tựu, làm gì chỉ niệm một ngày hoặc bảy ngày mà liền
đặng sanh về nước kia? Là sáu điều khó tin vậy.
Dầu tin bảy ngày đặng sanh về, nhưng lại nghi rằng trong
bảy thú thọ sanh, chẳng lìa noãn, thai, thấp, hóa, làm sao
sanh về, vì nước kia, đều là chỉ sanh bằng hoa sen hóa sanh?
Là bảy điều khó tin vậy.
Dầu tin gá nơi hoa sen để hóa sanh, nhưng lại nghi rằng kẻ
sơ tâm vào đạo gặp nhiều chướng duyên phải thối lui,
làm sao một phen sanh về nước kia liền đặng bực Bất thối?
Là tám điều khó tin vậy.
Dầu tin không thối, nhưng lại nghi rằng: Pháp môn đây là
để dẫn dắt những chúng sanh tối dốt, chớ bực thượng
trí sáng suốt, không cần sanh về nước kia? Là chín điều
khó tin vậy,
Dầu tin người sáng suốt cũng sanh về, nhưng lại nghi rằng:
Trong kinh khác hoặc nói có Phật, hoặc nói không Phật, hoặc
có cõi Tịnh Ðộ, hoặc không cõi Tịnh Ðộ, rồi trong tâm
hồ nghi chẳng quyết; là mười điều khó tin vậy.
Cho nên nói pháp khó tin mà nói rằng “tất cả thế gian”
đó là chẳng những chúng sanh trong ba đường ác nó khó tin
mà là chúng sanh cõi nhơn, thiên hoặc còn nghi đó; chẳng những
kẻ ngu mê khó tin mà bực hiền trí hoặc còn nghi đó; chẳng
những kẻ sơ cơ khó tin mà đến những bực tu lâu hoặc còn
nghi đó; chẳng những kẻ phàm phu khó tin mà đến hàng Nhị
Thừa hoặc còn nghi đó; cho nên nói là cái pháp mà “tất
cả thế gian khó tin” là vậy.
Nay ở trong đời ác trược nầy, diễn nói ra pháp đây thiệt
là chẳng khác nào như vào trong nước lõa hình mà trao bày
việc oai nghi; đối với người mù quáng mà chỉ cho màu mè
đen, trắng; thế mới gọi là khó, thế mới gọi là công
đức lợi tha không thể nghĩ bàn vậy.
Sớ: Lại kinh Pháp Hoa, kinh Kim Cang đều nói nghĩa khó tin đó
cũng đồng với ý đây.
Sao: Kinh Pháp Hoa nói: “Muốn cho chúng sanh đều đặng nghe
biết cái pháp mà tất cả thế gian khó tin”.
Lại nói: “Kinh nầy khó nghe, mà tín thọ cũng khó”.
Kinh Kim Cang Bát Nhã nói: “Nghe nói kinh nầy tâm bèn cuồng
loạn, hồ nghi không tin”. Nay nói kẻ nghe rồi không kinh,
không hãi, không sợ là ít có.
Không kinh sợ v.v... tức là tin đặng. Nay kinh nầy (Di Ðà)
nói cái điều khó tin của kinh thời đồng với hai kinh (Kim
Cang, Pháp Hoa) đâu nên khinh vậy (Kinh nầy cũng như kinh Kim
Cang, kinh Pháp Hoa là pháp tối thượng thừa chỉ ngay tự tánh
thành Phật). Chúng sanh cõi này mê nhiều ngộ ít, khó nhận,
nên gọi "nan tín".
Sớ: Hỏi: Ðã nói rằng khó thời nói ra thêm rầy rà, vậy
nói làm chi? Ðáp: Nhưng vì Phật nói cũng có người tin.
Sao: Nhơn Phật nói có người tin là cái pháp nhiệm mầu đây.
Nếu đức Như Lai chẳng từng nói ra thời muôn đời hằng
đồng như đêm tối, trọn không có một người niệm Phật
cầu sanh. Cho nên ngài than là pháp nan tín! Ðó là để
cho hiểu rằng: Nếu như người thấy mà không tin là tại
người bỏ, còn người nào có thể tin là người có duyên,
khiến cho tất cả chúng sanh tự biết thương tủi, e mất
phần mà hân hạnh được nghe. Cho nên nay những người tin
Tịnh Ðộ đều là nhơn nhờ Phật nói mà phát khởi lòng
tin vậy.
Mặc dầu nay không tin, nhưng một phen nghe lọt vào tai, hằng
làm hột giống đạo muôn đời.
Sớ: Xứng lý thời với tự tánh không thể đo lường là
nghĩa “pháp khó tin”.
Sao: Phải biết với tự tánh đây không thể lấy cái hữu
tâm mà tìm, không thể lấy cái vô tâm mà đặng, không thể
lấy lời để tạo, và không thể lấy cái vắng lặng mà
thông, lìa bốn câu, dứt trăm lỗi, trồng hoa giữa hư không,
đạp mặt trăng trong lằn sóng, không chỗ để cho nhà ngươi
đặt tay chưn; cho nên trên hội Linh Sơn, bực thượng đức
trọn thành cái hại bại Bắc. Ðất Hớn Ðịa, kinh Kim Cang
mới có cái tưởng diệt Nam (24) hay tín pháp nầy, há chẳng
khó ư?
TỔNG KẾT
NAN SỰ
Nầy Xá Lợi Phất! Phải biết ta ở cõi đời ngũ trược
ác thế làm những việc khó đây mới đặng quả a nậu đa
la tam miệu tam bồ đề. Lại vì tất cả thế gian nói pháp
khó tin đây, thiệt là rất khó!...
Sớ: Nhắc lời của chư Phật lặp lại tỏ bày ra để cho
chúng sanh nhơn thấy rõ hai việc khó đây đặng hiểu rằng:
Phật xưa chẳng luống làm lời khen, Phật nay chẳng lầm chịu
tiếng ngợi tốt, thật nói thật làm, cả hai đều phù hợp
với nhau, muôn đời chúng sanh phải tin chắc mà chớ nghi,
cảm ơn mãi không thôi. Ấy vậy khá gọi rằng cặn kẽ dặn
dò, ba tâm rất thiết.
Sao: Ðắc Ðạo là khó, cái khó kia có hai nghĩa:
Một là tu ở trong đời thiện thế đắc đạo, chưa đủ
là khó vì hoàn cảnh thuận tiện. Nay Phật tu ở trong đời
ác thế đắc đạo mới thiệt là khó (vì cảnh trái ngược).
Hai là ở trong đời ác thế thuyết pháp, mà thuyết những
pháp dễ tin ấy cũng chưa lấy làm khó vì chúng dễ hiểu.
Nay thuyết pháp khó tin thế thiệt là khó vậy (vì mặc dầu
có Phật quốc, nhưng ở rất xa bởi chưa từng nghe thấy).
Lược làm bốn lời dụ: Lời dụ thứ nhứt:
Ví như có người thân đi vào trong biển lớn, lại ngồi trong
chiếc thuyền bể, lại nhằm gió ngược, lại đụng sóng
to, lại gặp quỉ dữ (La Sát), cá lớn, rồng độc, sự nguy
còn chỉ trong giây phút mà có thể ở trong đó an ổn đặng
qua thiệt là khó, nhưng chẳng những qua một mình mà lại
còn đem nhiều người đều qua, để trên bờ kia. Thế mới
thiệt là cái khó trong các cái khó.
Biển lớn, thuyền bể, gió ngược, sóng to và quỉ dữ, các
điều ấy là dụ ở trong đời ngũ trược. Một mình qua khỏi
là dụ Ðắc đạo. Cứu các người đều qua là dụ thuyết
pháp vậy.
Lời dụ thứ hai:
Ví như có người thân mang bệnh nặng, lại ở chỗ sương
gió, lại thiếu đồ ăn uống, lại bị trặc chơn gãy giò,
lại gặp thầy dở cho uống lầm thuốc, sự nguy hiểm chỉ
còn trong giây phút mà hay ở trong đó điều trị mạnh lành,
thiệt gọi là khó; nhưng chẳng những mạnh khỏe một mình
mà lại còn cứu luôn bệnh các người khác đều được bình
phục. Thế mới thiệt là cái khó trong các cái khó!
Lời dụ thứ ba:
Ví như có người thân ở trong tù giam, lại bị tra tấn, lại
gông cùm, lại nhiễm bệnh dịch, lại bị cấm cố, sắp đến
kỳ giết, sự nguy chỉ còn trong giây phút mà hay ở trong đó,
bỗng nhiên thoát khỏi, thiệt gọi là khó; nhưng chẳng những
khỏi một mình, mà lại cứu luôn các người tội đều đặng
lìa khỏi. Thế mới thiệt là cái khó ở trong các cái khó!
Lời dụ thứ tư:
Ví như có người thân té xuống giếng, lại gặp rắn độc,
lại bị chông gai, lại dầm nước lạnh, lại trúng kẻ ác
nhơn quăng liệng đất đá, sự nguy còn trong giây phút mà
hay ở trong đó, vượt nhảy lên khỏi, thiệt gọi là khó.
Chẳng những ra một mình mình mà lại đem luôn các người
đồng té đều lên một lượt. Thế mới thiệt là khó trong
các cái khó.
Các lời đây đều dụ trong đời ngũ trược, nghĩa đã nói
đồng văn trên: Trong bốn lời dụ đây, lần lượt dụ
đức Thích Ca với hai việc khó. Nói cạn dễ hiểu. Cho biết
rằng: Ðức Như Lai chẳng sợ nhọc nhằn, từng trải cực
khổ, là vì bọn chúng ta làm việc khó trong các việc khó
làm, đến đỗi như thế nầy! Người nghe cái khó đây
đều phải mừng thương, khấp khởi, cảm tột kêu la, tiếng
vang cả ba nghìn đại thiên thế giới, rồi chẳm hẳm sấn
sướt, lo làm sao để trả ơn Phật.
Song muốn trả ơn cho Phật, chẳng ngoài hai việc: 1. Lợi mình.
2. Lợi người khác.
“Lợi mình” là: Ở trong đời ác thế này, gắng sức tu
pháp môn này, nhơn được vãng sanh, cũng đã gọi rằng khó.
“Lợi cho người khác” là: Ở trong đời ác thế này, lại
khuyên mọi người chung tu pháp môn này, đồng được vãng
sanh, thế mới thiệt là khó trong các cái khó.
Sớ: Lại trong kinh Pháp Hoa rất khen các kinh, cũng đồng ý
đây.
Sao: Kinh Pháp Hoa rất khen là: “Nói hết các kinh... tay quăng
hòn núi Tu Di, chưn đá sập cõi Ðại Thiên đều chưa phải
là khó, hay ở trong đời ác thế này, nói kinh Pháp Hoa thế
mới thiệt là khó”. Nay nói kinh này (Di Ðà) sự khó nói
lại cũng như vậy.
Sớ: Lại có hai nghĩa: Văn trước nói “rất khó” ấy để
rõ lại rằng: Bên nước Cực Lạc tu đắc đạo rất
dễ. Văn sau nói “rất khó” đó là để cho chúng ta nghe
được rõ lại rằng bên nước Cực Lạc thuyết pháp rất
dễ.
Sao: Với điều đắc đạo rất dễ là: Trong luận Bà Sa nói:
“Niệm Phật được vãng sanh, nhờ nguyện lực của Phật
là cái đạo rất dễ làm. Còn ở trong đời ngũ trược ác
thế này, tu các pháp khó tấn vì là cái đạo rất khó làm”,
cớ vậy.
Thuyết pháp rất dễ là: Trong nước kia chúng nhơn toàn là
người bực thượng thiện, huệ nhiều chướng ít, chí ý
hòa dịu, tiếng gió, cây, chim đều giúp cho mình tỏ ngộ.
Vì chẳng phải như cõi này chúng cang cường khó dạy. Nói
điều khó là để rõ dễ, chính là để chỉ rõ rằng với
nước Cực Lạc chúng ta quyết định phải cầu về đó.
Sớ: Xứng lý thời tự tánh nó vừa lẫn với tâm vừa lẫn
với cảnh là nghĩa làm được hai việc khó đây.
Sao: Tâm niệm dù theo cảnh để sanh nhưng tâm thể nguyên thường
vắng lặng, thời tâm tánh nó là "vô sở đắc". Thế đắc
cái "vô sở đắc" đó gọi là đắc vô thượng Bồ Ðề.
Cảnh tùy tâm hiện. Tự thể của cảnh vốn không, thời với
cái mà không pháp nào khá thuyết đó mới gọi là thuyết
đó. Vì ngoài tâm không cảnh, ngoài cảnh không có tâm. Thế
mới gọi là Tự Giác, Giác Tha, Giác Hạnh Viên Mãn.
LƯU THÔNG
PHẦN (phân ra làm hai phần)
1. TRÙNG CỬ THÍNH CHÚNG (Lặp lại chúng nghe)
2. MINH TẤT PHỤNG HÀNH (Rõ rồi vưng tu)
TRÙNG CỬ
THÍNH CHÚNG
Phật thuyết kinh này rồi, ông Xá Lợi Phất và các bực tùy
theo tất cả thế gian, các vì chư Thiên và chúng nhơn, thần
A tu la v.v... đồng nghe thọ lãnh.
Sớ: Pháp ắt phải lưu thông vì Phật thuyết pháp để phổ
độ chúng sanh. Lại kể bày chúng thính giả là: Ðầu kinh
nói số chúng nghe pháp, cuối kinh lại nói chúng thọ pháp.
Riêng nói một mình ông Thân tử là vì ông đương cơ kinh
này. Ðây không nói bồ tát là vì gồm thâu trong hàng
tỳ kheo. A tu la dịch: Phi Thiên. Chữ Ðẳng: Gồm luôn
cả bát bộ và chúng sanh trong sáu đường.
Sao: “Lưu thông” là: Kinh Quang Minh lời sớ nói: “Chữ Lưu
cũng như nước chảy xuống, chữ Thông là nghĩa không ngăn
trệ”.
Lại ngài Khuê Phong nói: “Pháp nếu không có người đi tuyên
truyền thời chẳng lưu động”. Lưu là không dừng, truyền
mà gặp sự ngăn ngại thời chẳng thông. Thông là không phải
ngăn; nghĩa là suốt thể lan rộng phổ cập vậy.
Phổ độ là gì? Lưu thông khắp cả 10 phương, nhẫn đến
ba đời chẳng những chỉ vì chúng sanh trong một xứ một
thời mà thôi.
“Ðương cơ” là chi? Do pháp khó tin đây, duy người trí
mới tin nổi không nghi; cho nên từ đầu chí cuối đều gọi
bảo nói ông Xá Lợi Phất vậy.
“Nhiếp thuộc trong hàng tỳ kheo” là: Các Bồ Tát mặc dầu
không thường theo đức Như Lai, song vì cùng với các hàng
tỳ kheo đồng làm bạn lữ giữa hiền thánh.
Lại các vị Bồ Tát đều có lẫn giữa Chơn đế và Tục
đế. Vì tùy loại ứng cơ cũng có thể nói nhiếp thuộc trong
cả thế gian cũng được.
Tất cả trong thế gian chỗ bao gồm thì đông (nhiều) mà nay
đây riêng nói về 3 đường lành là Thiên đạo, Nhơn đạo,
A tu la đạo đó là để cho rõ biết rằng đối với "pháp
trì danh niệm Phật" đây, tất cả chúng sanh trong sáu đường,
so sánh ra thì phần nhiều hơn hết là chúng sanh trong đường
lành đều tu pháp niệm Phật. “Phi Thiên” là: cõi thần
a tu la sự giàu có vui sướng cũng đồng như cõi trời, nhưng
vì cái đức hạnh không bằng trời; rõ có bốn loài (25),
đây chẳng kể nhiều.
Trong bài kể tên chúng hội trước kia không nói đến tên
Tu La là vì nhiếp thuộc trong hàng Thiên nhơn và đại chúng.
Hỏi: Loại thần Tu La rất là hung hăng, làm gì chấp trì thánh
hiệu là để tu niệm Phật?
Ðáp: Loài quỉ, súc sanh còn biết qui y, thần Tu La đâu không
tín thọ ư? Há chẳng nghe trong phẩm Thế Chúa Diệu Nghiêm
nó các thần Tu La v.v... đều đặng pháp môn giải thoát hay
sao? Nay ở giữa loài người đây mấy kẻ ngơ lửng không
biết tin niệm đó mới đáng trách a!!
Sớ: Xứng lý thời tự tánh nó cứu cánh viên mãn là nghĩa
“Phật nói kinh rồi”. Tự tánh châu biến hàm dung là nghĩa
“tất cả thế gian”.
Sao: “Cứu cánh” thời trước sau viên chiếu, không thiếu
không đủ. “Châu biến” thời phàm thánh bao gồm, nghìn
đủ, muôn đủ. Với bổn kinh như thế thì trước khi Phật
chưa kêu ông Thân Tử đã nói hết toàn văn, lại nào đợi
ngài Diệu Thủ (Văn Thù) bạch chùy, ông Song Lâm (Di Lặc)
phủ xích sau rồi mới bảo là thuyết pháp hay sao?
Cho nên nói: Khi thăng đường nhập thất đại chúng không
thêm, lúc trống lặng chuông ngưng các Nhơn Thiên cùng chẳng
giảm.
MINH TẤT
PHỤNG HÀNH
Nghe Phật nói rồi hoan hỉ tín thọ, làm lễ mà lui.
Sớ: “Hoan hỉ” là vì mừng chỗ được nghe. “Tín thọ”
là vì lãnh thọ chỗ đã được nghe. “Làm lễ” là vì trọng
chỗ đã được nghe. Chữ Khứ là nghe rồi thời lui về
giữ tu vậy. Cũng là ba món tư lương và ba huệ, như văn trướcđã
nói.
Sao: “Mừng chỗ được nghe” là: Nhiều kiếp phiêu linh là
chính do chưa nghe pháp này. Nay biết pháp trì danh được vãng
sanh, khá gọi như chứng bệnh mê man nơi chiếu gối, bỗng
gặp phương hay thần diệu. Ví như khách ngụ lâu xứ lạ
quê người, thoạt nghe tin nhà hân hạnh chi xiết, nên nói
là “mừng”.
“Lãnh chỗ đã được nghe” là: Tin rồi không còn nghi. Thọ
rồi chẳng dám sái như vâng lời của quốc hội, tuân mạng
lệnh của đấng gia thân (cha lành) cho nên nói là lãnh vậy.
“Trọng chỗ đã được nghe” là: Trong lòng cảm kích, năm
vóc kiều cần, như nhớ ơn rất tột, lạy tạ không thôi,
cho nên nói là “trọng”.
“Giữ tu” là: người xưa nói: “Tới mà nghe Ðạo nơi Thầy,
lui về làm Ðạo nơi mình”, chẳng phải như đời bây giờ:
nghe vào lỗ tai, nói ra lỗ miệng (năng thuyết bất năng hành).
“Ba món tư lương” là như văn trước nói: Nghe mà tin là
Tín tư lương; Tín mà chịu là Nguyện tư lương, chịu rồi
đi là Hành tư lương.
“Ba huệ” là: Văn tức thuộc văn huệ, hoan hỉ tín thọ
đó tức thuộc Tư huệ, đi về giữ tu đó tức là thuộc
tu huệ.
Sớ: Lại chữ hoan hỉ đây cũng đủ ba nghĩa thanh tịnh như
lời sớ trong Quán kinh nói.
Sao: Ba nghĩa là: Lời sớ trong Quán kinh nói: 1. Người năng
thuyết được thanh tịnh. 2. Pháp bị thuyết được thanh tịnh.
3. Y theo pháp tu đạo quả, được Thanh tịnh. Ðủ ba nghĩa
đây, cho nên nói “hoan hỉ”.
Nay nói pháp trì danh được vãng sanh chính là đức Phật ngài
thyết. Phật là người bực Nhứt Thế Trí, chẳng phải
như cái pháp của bốn hạng người kia thuyết vậy; thế là
người được thanh tịnh. Gặp người như vậy đâu chẳng
hoan hỉ?
Trì danh được vãng sanh liền chứng pháp tam muội, thế là
thật giáo Ðốn và Viên, chớ chẳng phải pháp quyền thừa
vậy; thế là pháp được thanh tịnh. Nay nghe pháp như vậy
đâu chẳng hoan hỉ.
Trì danh được vãng sanh liền chứng đặng bực bất thối
chuyển, thẳng đến thành Phật, chớ chẳng phải bực tiểu
quả vậy; thế là quả được thanh tịnh. Chứng quả như
vậy đâu chẳng hoan hỉ.
Sớ: Lại chữ “hoan hỉ” đây cũng gồm có cao có thấp,
là mỗi mỗi đều tùy theo sở đắc của mỗi người tu.
Sao: “Cao và thấp” là như kinh Hoa Nghiêm bực sơ địa, gọi
là bực Hoan Hỉ địa. Lại trong văn kinh nói: Ðủ hai mươi
món hoan hỉ.
1. Ðời sau được 10 câu: Như chỗ nói: Vì niệm được danh
các vị Phật, nên sanh tâm hoan hỉ. Vì niệm được các pháp
môn nên sanh tâm hoan hỉ v.v...
Nay người nghe được kinh này tự mừng rằng: Ta đời sau
cũng được như Phật A Di Ðà, ta đời sau cũng được các
pháp mầu như thế của Phật A Di Ðà vậy.
2. Hiện đời được 10 câu: Như chỗ nói: Ðã xa lìa tất
cả cảnh giới thế gian nên sanh tâm hoan hỉ. Vì được thân
cận tất cả vị Phật nên sanh tâm hoan hỉ v.v... Nay người
nghe được kinh nầy, hiện đời được xa lìa cảnh giới
Ta Bà ngũ trược. Hiện đời được sanh về Tịnh Ðộ cửu
liên được gần gũi Phật A Di Ðà và chư Phật vậy.
Hai mươi hoan hỉ đây thuộc về trong địa vị (ngôi thập
địa). Cứ theo kinh Hoa nghiêm thì điều hoan hỉ của kinh nầy
thuộc về trong ngôi thập địa Bồ tát. Ngoài ra thì ngôi
thập hạnh, về sơ hạnh cũng tên là Hoan Hỉ; trong văn Thập
trụ về ngôi sơ trụ cũng nói: “Ðược vô biên việc hoan
hỉ” v.v... Cho nên nói: “Có cao có thấp”. Nếu thấp lại
còn thấp nữa thời tùy theo phân lượng tu nhơn của mỗi
người kia thì cũng được phần vui về pháp hỉ mà thôi.
Sớ: Lại kết qui về chữ Tín Thọ là do vì từ ban đầu
cho đến cuối sau đều dùng chữ Tín làm căn bản.
Sao: “Ban đầu, cuối sau” là: Ðầu kinh nêu hai chữ Như
thị, là lời Tín Thuận. Nay cuối kinh lại nói Tín Thọ thời
biết nhơn Tín mới sanh ra nguyện, nhơn nguyện mới khởi ra
hạnh. Từ đầu phát tâm, kế cuối được vãng sanh, rốt
ráo thành Phật đều nhờ sức Tín; cho nên nói: “Từ đầu
chí cuối lấy chữ Tín làm căn bản”.
Sớ: Kinh Ðại Bổn lời kết kinh có nói đủ các chúng sanh
đều được lợi ích được Long Thiên Hộ pháp xuống phước
lành. Nay kinh này, không nói là bớt văn vậy.
Sao: Kinh Ðại Bổn nói: “Phật nói kinh này rồi, có vô lượng
chúng sanh phát tâm để tu chứng bực vô thượng chánh giác.
Một vạn hai nghìn số na do tha người chứng pháp Nhãn Tịnh;
22 ức vị chư Thiên, kẻ Nhơn dân đắc quả A Na Hàm. 80 vạn
tỳ kheo đặng bực Lậu Tận Ý Giải; 40 ức Bồ tát đặng
bực bất thối chuyển. Ba nghìn Ðại thiên thế giới sáu
món rúng động, hào quang sáng lớn, tủa chiếu khắp 10 phương
các quốc độ, trăm nghìn tiếng âm nhạc tự nhiên nổi lên.
Vô lượng thứ hoa mầu, lăng xăng rải xuống, nhẫn đến
trời A Ca Ny Tra đều sắm đủ món vi diệu cúng dường”.
Lại nói: “Có 25 ức chúng sanh đặng bực bất thối chuyển
nhẫn đến bốn vạn ức số na do tha chúng sanh đối với
quả Vô Thượng Bồ Ðề chưa từng phát tâm, nay mới bắt
đầu phát khởi, trồng các thiện căn, nguyện sanh về Cực
Lạc thế giới, đồng sẽ sanh về, đều ở các phương khác
theo thứ lớp thành Phật, đồng một danh hiệu là Diệu Âm.
Lại có 80 vạn ức số na do tha chúng sanh được thọ ký pháp
nhẫn”.
Sớ: Lại kinh Ðại Bổn có dặn dò công đức trì kinh, nay
trì kinh này cũng phải có công đức như vậy.
Sao: Kinh Ðại Bổn Phật bảo Ngài Di Lặc: “Nay đem pháp môn
này giao phó lại cho ông. Ở trong đại chúng, ông cũng khai
thị cho chúng phải dạy viết tả, giữ gìn đối trong kinh
nầy, sanh lòng tưởng như vị Ðạo Sư”.
Lại nói có vô lượng ức các vị Bồ Tát cũng đều cầu
pháp môn vi diệu nầy: “Các ông chớ trái lời ta (Phật)
mà bỏ qua, sẽ khiến cho các ông mê man trong đêm dài, chịu
đủ muôn điều nguy khổ. Thế cho nên ta nay nói lời đại
chúc lụy”. Nay kinh này không nói, đều là bớt văn vậy.
Sớ: Lại kinh Ðại Bổn và kinh Pháp Diệt đều nói: “Ðến
ngày Pháp của Phật tiêu diệt, riêng còn để lại kinh này”.
Cho nên biết kinh nầy có cái năng lực tổng trì cho đời
mạt pháp như trong luận Hoa Nghiêm nói.
Sao: Kinh Ðại Bổn nói: “Qua đời đương lai (26) trong buổi
khói lửa, kinh điển và đạo lý đều bị diệt hết. Ta do
tâm từ bi riêng để lại kinh này một trăm năm. Chúng sanh
được gặp, không có một người nào mà chẳng đắc độ”.
Nếu có chúng sanh đối với quyển kinh này, viết tả cúng
dường thọ trì đọc tụng, vì người khác diễn nói, đến
khi mạng chung Phật cùng các vị thánh chúng hiện ra trước
mặt người ấy trong giây lát liền sanh về cõi kia vậy.
Kinh Pháp Diệt nói: “Chừng đó, kinh Thủ Lăng Nghiêm diệt
trước (27), kế đến các kinh thảy đều diệt hết; riêng
còn kinh Vô Lượng Thọ độ các chúng sanh” (kinh này có tên
là Vô Lượng Thọ).
Trong Hoa Nghiêm Luận nói đến cái thời chánh pháp đã diệt
(28) do nhờ sức tổng trì (29) kinh này (Kinh Hoa Nghiêm) gìn
giữ các tông pháp khác, làm cái nhơn cho giáo lý được hoạt
động lưu chuyển.
Nay đây nói các kinh đều lần lượt tiêu diệt, riêng còn
kinh A Di Ðà tức kinh Vô Lượng Thọ này là một môn niệm
Phật, rộng độ chúng sanh. Thời ra các kinh đã
diệt mà kinh Tiểu Bổn tức Ðại Bổn này không diệt, tức
là còn để lại một món trì danh niệm Phật này lưu chuyển
vô tận. Thế thì biết rằng: chính cái pháp trì danh niệm
Phật của kinh này nó cũng có cái sức tổng trì như kinh Hoa
Nghiêm kia.
Tất cả chúng sanh phải nên tôn trọng cung kính, tín thọ
phụng hành kinh này vì kinh này ở chỗ nào cũng như Phật
ở chỗ đó.
Hỏi: Câu “riêng để kinh này một trăm năm”, hai chữ “kinh
này” số là chỉ cho kinh Ðại Bổn, này sao lại đem chỉ
cho kinh Tiểu Bổn này?
Ðáp: Văn trước đã chẳng nói rồi hay sao? Văn có nhiều
và ít, nhưng nghĩa không hơn kém. Nghĩa là nói rộng thời
là kinh Vô Lượng Thọ, còn nói hẹp thời là kinh Tiểu Bổn
Di Ðà này, chớ chẳng phải có hai vậy. Vì A Di Ðà dịch
là "Vô Lượng Thọ"; thế thì Vô Lượng Thọ kinh tức A Di
Ðà kinh.
Sớ: Xứng lý thời tự tánh không phiền não là nghĩa “hoan
hỉ tín thọ”. Tự tánh không trụ trước là nghĩa “tác
lễ nhi khứ”.
Sao: Tâm phiền não vốn vắng lặng, tánh hoan hỉ cũng không
thời cõi khổ đâu chẳng phải là cõi vui. Ðến, thiệt không
biết từ đâu mà đến, đi cũng chẳng biết sẽ đi về đâu.
Thế thời vãng sanh mà rốt ráo vô sanh, dùng vô sanh đây để
mà sanh về cõi kia. Ðúng ra chẳng phải sanh về cõi kia mà
thiệt là sanh nơi tự tâm của mình vậy.
Vậy sau không ai hỏi tự nói: Ðức Thế Tôn khỏi phụ lời
không đàm; riêng lãnh đương cơ, ông Thân Tử khỏi phụ lời
trọng thác (lời giao phó). Ðây thiệt là hoan hỉ, đây
thiệt là tín thọ, mới gọi là đúng phép làm lễ đức Như
Lai. Nếu ngoài cõi Cực Lạc Cửu Liên kia mà riêng nói
là duy tâm; bỏ tên Di Ðà vạn đức mà riêng tìm tự tánh,
nên gọi rằng: “Ðang qua sông mà hỏi bến đò, đối trước
đèn mà đi tìm lửa” đó vậy.
KẾT THÍCH
CHÚ Ý
(Kết giải
ý nghĩa chú vãng sanh)
Bài thần chú Ðà-la-ni Nhổ Tất Cả Cội Gốc Nghiệp Chướng,
Ðặng Sanh Về Cõi Tịnh Ðộ".
Sớ: Giải thích đại ý của bài thần chú này: Do chú để
giúp với kinh, kinh có thần chú thời kinh càng rõ. Do kinh trước
chú, chú có kinh văn thời chú càng linh, xen nhau mà dùng nên
cần phải kết giải. Chú này rõ thấy trong truyện Bất
Tư Nghì Thần Lực.
Người trì chú này, hết tội được vãng sanh. Nên dùng danh
nghĩa là “nhổ hết nghiệp chướng được sanh về Tịnh
Ðộ”.
Chữ Ðà La Ni dịch là Tổng Trì vậy.
Sao: Nghiệp chướng là: kể chướng có ba nghĩa: 1. Phiền não
chướng. 2. Nghiệp chướng. 3. Báo chướng.
Nay nói nghiệp chướng là nói cái giữa thì đã gồm luôn
cái trước và cái sau. Bởi sao? Vì phiền não là cái Nhơn
của nghiệp; vì báo chướng là Quả của nghiệp. Nghiệp ắt
có Nhơn; nghiệp ắt chịu Quả; nên nói nghiệp chướng thì
đã gồm hai chướng kia. Nay chúng ta muốn trừ chướng, quí
nhứt là trừ cội gốc của nó. Như gốc tuyệt thời không
đâm chồi; chồi không nẩy thời cành lá hoa trái đều không
sống vậy.
Nay trì chú này thời phiền não không khởi là nghĩa “nhổ
trốc gốc nghiệp chướng” vậy.
Như trong truyện nói: Ngày đêm đều trì ba hoặc bảy hay là
21 biến diệt được tội ngũ nghịch, tội báng pháp v.v...
các tội; phải vậy.
“Ðặng sanh về Tịnh Ðộ” là: Chúng sanh luân hồi trong
cõi Ta Bà đều là do nghiệp chướng, nghiệp chướng đã không
thời hột giống cõi uế độ liền diệt, tùy nguyện vãng
sanh, nên được sanh về cõi nước Cực Lạc Phật A Di Ðà.
“Tổng trì” là tổng thống, nhiếp trì lại không sót và
mất; tức là tên riêng của chú nầy.
Truyện tên "Bất Tư Nghì Thần Lực Chú", tức kinh này tên
là "Bất Tư Nghì Công Ðức Kinh".
Trì thần chú hay trì danh hiệu Phật cũng đều được vãng
sanh một cách nên đồng tên là “Bất Tư Nghì”.
Ðời nhà Tống, niên hiệu Nguyên Gia (30), nước Thiên trúc,
ngài Tam Tạng tên Cầu Na Bạt Ðà La dịch ra thần chú này.
Sớ: Chữ Tống là tên nước thuộc về đời Nam Bắc triều
(31), Nguyên Gia là niên hiệu. Chữ Thiên Trúc là nước Tây
Vức, Cầu Na Bạt Ðà La dịch Công Ðức Hiền.
Sao: Ðời Tống mà nói là đời Nam Bắc đây, là đương thời
đời đó Nam Bắc phân chia làm vua. Vua nhà Tống ở miền Giang
Nam thì gọi là Lưu Tống (32).
Chữ Nguyên Gia là vua Văn Ðế niên hiệu Nguyên Gia năm rốt
vậy (453). Nước Thiên Trúc có chỗ khác nói: Nước Thân Ðộc,
Thiên Trúc có năm nước đều chung gọi là cõi Tây Vức.
Ngài Bạt Ðà là người rộng thông ba tạng, rất chuyên pháp
Ðại thừa nên hiệu ngài là Ma Ha Diễn. Nhưng cái thần dị
đặc sắc của ngài chẳng phải một, chép đủ trong bộ truyện
ký; đây sợ nhiều không dẫn. Có một bổn dịch hai chữ
Ðà La, mà dưới chữ Ðà không có chữ La. Hoặc có người
nghi là ngài Cầu Na Bạt Ma. Do vì hai Ngài đồng thời đó,
chưa rõ thần chú nầy là của ngài nào dịch (mà dầu của
Ngài nào dịch cũng đều đúng cả).
Tụng chú như đây:
Nam mô A Di Ða Bà Dạ, đa tha dà đa dạ đa điệt dạ tha: A
di rị đô bà tỳ, a di rị đa tất đam bà tỳ, a di rị đa
tỳ ca lan đế, a di rị da tỳ ca lan đa, già di nị, dà dà
na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha.
Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào hay tụng chú này
thời Phật A Di Ðà thường đứng trên đỉnh đầu người
đó, ngày đêm ủng hộ không cho kẻ oán thù làm hại, đương
đời thường đặng an ổn, đến khi mạng chung, được tự
tại vãng sanh.
Sớ: Các bổn kia nghe phân câu cách có hơi khác; nay y theo bản
xưa, với thần chú không phiên dịch bất tất gì cưỡng giải.
Sao: “Các bổn chẳng đồng” là: Như câu: Nam mô A Di
Ða bà dạ, một bổn khác viết: “Nam mô a di đa bà da đa”,
lấy chữ Ða ở đầu câu kế đem liên thuộc với câu trên,
cho nên nói là “có hơi khác”. Nay bất tất gì nhọc nhằn
tìm xét phải quấy, miễn y theo một bổn, chí tâm tụng trì
tự thành lợi ích.
Lại có chỗ nói: câu "Nam mô a di đa bà dạ, dịch: “Kính
lạy đức Vô Lượng Thọ Phật”; câu" "đa tha dà đa dạ"
tức là câu "đa đà a dà độ" dịch Như Lai. Câu "Ða điệt
dạ tha", bản tân dịch: "Tha đích giả thát", bản cựu dịch:
"Ðát điệt tha".
Chữ “điệt” bộ Mịch, âm chữ Ðiệt bộ Xước, tức
hai chữ "địa dạ" nói nhập lại làm một tiếng, dịch: ‘tức
thuyết chú viết”. Từ đây sắp sau mới thiệt là lời mật
ngữ:
Song câu thần chú từ xưa dịch để nguyên âm chứ không dịch
nghĩa, lược nói có năm ý:
1. Như lời mật chỉ của vị quốc chủ, chớ quấy rao truyền,
vì chỉ phải kính vưng.
2. Hoặc một danh từ hàm có nhiều nghĩa, ví như chữ Tiên
Ðà Bà (33).
3. Hoặc phương này không có ví như cây Diêm Phù Ðề (34).
4. Hoặc thuận theo văn xưa ví như chữ A Nậu Bồ Ðề.
5. Hoặc tôn trọng, chẳng phải tiếng nói của người Tàu
đối chiếu đặng, ví như chữ "Bát Nhã" (dịch "Trí Huệ"
cũng chưa hết nghĩa).
Có một chỗ nói: “Cũng có thể cưỡng giải”, nhưng đã
nói rằng “cưỡng” chi bằng nín là hơn.
Sớ: Kinh và chú tương liên với nhau, chính là nghĩa Hiển
và Mật viên thông.
Sao: Rõ bày nước kia, y chánh trang nghiêm và môn Tín, Hạnh,
Nguyện như trong kinh đã giải rõ đó gọi là Hiển.
Tuân theo lời kín nhiệm của Phật, chỉ tụng chú này thời
liền đặng vãng sanh, đó gọi là Mật.
Hiển là bày rõ chỗ Mật ấy ra. Mật là giấu kín chỗ Hiển
vậy. Gồm tụng cả hai thời đều tốt cả. Riêng tụng trì
chừng một cũng tóm thâu không sót, nên nói rằng Viên Thông.
Sớ: Tuy nói rằng tóm thâu không sót, nhưng mà pháp chuyên
trì danh hiệu còn hơn trì chú, cũng hơn thần chú khác và
cũng hơn tất cả công đức khác.
Sao: Riêng khen pháp trì danh niệm Phật là:
1. Hơn thần chú Vãng Sanh này.
Vì lời giải của thần chú nói: “Tụng 30 vạn biến thời
mới được thấy Phật A Di Ðà”, mà pháp trì danh niệm Phật
này thời chỉ một ngày được nhứt tâm liền có Phật hiện
trước mặt.
Lại chú nói: “Ngày đêm 6 thời đều 3 hoặc 7 biến, hay
là 21 biến diệt được tội ngũ nghịch cùng các tội khác”,
mà pháp trì danh thời chỉ chí tâm niệm Phật một tiếng
liền diệt được 80 ức kiếp đường sanh tử tội nặng.
2. Hơn các thần chú khác là: Chuyên niệm danh hiệu Phật tức
là chú Ðại Thần, chú Ðại Minh, chú Vô Thượng và chú Vô
Ðẳng Ðẳng.
Vì do 10 tiếng niệm Phật liền đặng vãng sanh, một phen sanh
liền đặng bất thối, oai linh chẳng lường, thế gọi là
Ðại Thần; còn mấy nghĩa khác so đó để biết vậy.
Hỏi: Công đức của Chuẩn Ðề rất rộng, rất lớn mà thế
nào chỉ niệm danh hiệu Phật lại đặng hơn kia?
Ðáp: Vì phẩm và lượng của Chuẩn Ðề là còn ở nơi Nhơn
Ðịa Bồ Tát, còn Di Ðà là quả vị Như Lai. Vậy nhơn đó
để so mà biết được rằng:
Trì chú Chuẩn Ðề đã có thần lực rất rộng rất lớn
như thế thì niệm Phật A Di Ðà há chẳng linh ứng nhiều
hơn chú Chuẩn Ðề à?
Cho nên trong kinh nói: “Niệm 62 ức số hằng hà sa danh hiệu
các vị Bồ Tát, chẳng bằng niệm một tiếng Nam Mô Quan Thế
Âm Bồ Tát, phước kia bằng nhau”.
Lại nói: “Niệm vô lượng vô số danh hiệu đức Quán Thế
Âm Bồ Tát, chẳng bằng niệm một tiếng Nam Mô Ðịa Tạng
Bồ Tát, phước kia bằng nhau”. Ðó, niệm Bồ Tát còn được
như thế, huống chi là niệm Phật?!
3. Cũng hơn các công đức khác là: Lục Ðộ vạn hạnh, pháp
môn vô lượng, nhưng chuyên niệm một danh hiệu A Di Ðà thì
gồm thâu được tất cả công đức của mỗi mỗi pháp môn
khác do vì không ngoài một lý Nhứt Tâm như trong văn trước
đã nói rộng.
Vậy xin các bạn giữa "Tịnh nghiệp đệ tử" nên chuyên một
đức tin, chuyên một tâm niệm Phật mà thôi, chớ đừng lưỡng
lự gì nữa. Như trong kinh nói: “Dầu có một pháp nào cao
hơn cõi Niết Bàn đi nữa, cũng là chẳng đoái đến”.
Trong Thiền tông các vị tri thức có dạy người chỉ giữ
một câu thoại đầu (một câu niệm Phật) không cần tu các
pháp nào khác.
Nên biết rằng: Nguyên những người đã tu học các pháp môn
khác, còn phải bỏ đi để tu theo pháp niệm thay, huống chi
những người vốn đã tu pháp môn niệm Phật lại đổi chỗ
sở thú của mình mà chuộng về môn khác ư?
Thế là tâm muốn hàng hai, chí chẳng qui nhứt, làm sao để
đặng thành tựu pháp Tam Muội?
Rủi tới cơn vô thường, luống không đặng chi, chẳng xét
nhớ lỗi mình, trở đem phao lời hủy báng. Than ôi! Lầm lắm!!
Sớ: Xứng lý thời tự tánh nó không thì vẫn là không
là nghĩa “nhổ trốc hết nghiệp chướng’.
Tự tánh nó có thì cũng vẫn có nó là nghĩa Ðà La Ni. Tự
tánh nó chẳng có chẳng không là nghĩa “sanh về Tịnh Ðộ”.
Sao: Tìm tâm rốt không thể đặng thời là nghĩa tất cả
nghiệp chướng ai làm cội gốc? Tức là tâm nó không chỗ
nào mà chẳng đủ tất cả công đức, không đức nào nó
chẳng tổng trì!
Ðương khi nó tổng trì mà chẳng dính một mảy trần thì
cái có đó là có bằng "tức không".
Thể nó không có cội gốc mà sanh ra cả muôn pháp thì cái
không đó là không bằng cái "tức có".
Tức có thời chẳng phải thật không, tức không thời chẳng
phải thật có. Chẳng không chẳng có, chỉ có nhứt Tâm, chẳng
vượt ngoài nhứt tâm, ấy gọi là Tịnh Ðộ.