PHẬT
THÍCH CA NÓI KINH A DI ÐÀ
NGÀI
VÂN THÊ LÀM LỜI SỚ SAO
*******
QUYỂN
THỨ TƯ
Ðất
Cổ Hàng chùa Vân Thê Sa Môn Chu Hoằng thuật lại.
Cảm Quả
(phân ra làm hai phần)
1.
Phật hiện ngã tiền (Phật hiện trước mặt ta)
2.
Ngã vãng Phật xứ (Ta sanh qua xứ phật)
PHẬT HIỆN
NGÃ TIỀN
Người
kia đến khi mạng chung, Phật A Di Ðà cùng các vị Thánh chúng
hiện ở trước mặt.
Sớ:
“Người kia” là chỉ người tu pháp trì danh niệm Phật.
Nương văn trên nói: Hễ được nhứt tâm bất loạn thời
đến khi sanh mạng sắp cuối cùng, Phật ắt hiện trước
mặt; do vì nhờ sức mình với sức Phật lẽ cảm ứng lẫn
nhau như trong hai bộ kinh và các kinh nói.
Sao:
“Sức mình” là: Phàm người khi mạng chung, lúc thân tiền
hữu sắp mãn, thân hậu hữu chưa sanh thời cả đời bình
sanh làm việc ác hay việc thiện, tự nhiên bây giờ nó hiện
ra trước mặt, như: việc thập ác, việc ngũ nghịch thời
tướng địa ngục hiện ra trước; xan tham tật đố thời
tướng ngạ quỉ hiện ra trước. Nhẫn đến tu ngũ giới,
thập thiện thời cảnh nhơn thiên hiện ra trước.
Nay
người chuyên về niệm Phật, nhứt tâm bất loạn thời tịnh
niệm thành tựu. Trong tâm thanh tịnh, lẽ nào Phật không hiện
ra trước mặt ư? Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhớ Phật, niệm
Phật hoặc hiện đời, hoặc đời sau, quyết định thấy
Phật”, chắc vậy.
“Sức
Phật” là: Kinh Ðại Bổn, ngài Pháp Tạng nguyện rằng: “Khi
ta làm Phật, trong 10 phương vô ương số thế giới các vì
chư Thiên, nhơn dân, ai có phát tâm Bồ Ðề tu các việc công
đức, nguyện sanh về trong cõi của ta thời đến khi mạng
chung, ta cùng đại chúng hiện ra trước mặt người đó để
dẫn về nước”.
Trong
bài văn Tam Bối Vãng Sanh, lại nói: “Người kia khi mạng
sắp chết, Phật cùng các vị thánh chúng đều đến rước
về”. Trong Quán Kinh, văn Cửu Phẩm, hoặc nói Phật A Di Ðà
đến trước người tu kia, hoặc nói đến chỗ người kia,
đều là cái ý hiện ra trước mặt vậy.
Nói
các kinh là: Kinh Xưng Dương Chư Phật Công Ðức nói: “Nếu
có người được nghe danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ Như Lai,
nhứt tâm tin muốn, người đó khi mạng chung, Phật A Di Ðà
cùng các vị tỳ kheo hiện ở trước người đó; ma nó chẳng
dám phá hoại cái tâm chánh giác người kia”.
Lại
kinh Cổ Âm Vương nói: “Trong tứ chúng (1), hoặc có người
nào hay chơn chánh thọ trì danh hiệu Phật kia. Ðến khi mạng
chung, Phật A Di Ðà liền cùng với đại chúng hiện ra ở
trước mặt người đó, khiến cho người đó được thấy”.
Lại Kinh Hoa Nghiêm quyển 46 nói: “Ðức Như Lai có 10 món
Phật Sự: 1. Nếu có chúng sanh nào chuyên tâm nhớ niệm thời
Phật hiện trước mặt người đó” v.v... Chính chỗ gọi
rằng: chúng sanh niệm Phật, Phật rước cả không bỏ sót
một ai. Nếu y theo kinh Bát Nhã thời sức mình lại có
hai nghĩa: 1. Sức mình niệm. 2. Sẵn có sức Phật tánh của
mình và thêm nhờ sức của Phật nguyện rước, mới thành
ba sức. “Sức sẵn có” là như chiếc thuyền. Sức niệm
Phật là như buồm chèo. Sức Phật nguyện rước là như gió
xuôi. Ba việc đủ trọn, ắt chóng lên bờ kia.
Sớ:
“Phật và các vị thánh chúngg là: Phật gồm cả Báo thân
và Hóa thân; thánh chúng gồm luôn các vị Bồ Tát, hàng Thanh
Văn v.v...
Sao:
“Gồm Báo thân, Hóa thân” là: Trong Quán kinh nói rõ về
Phật hiện. Trước nói thân Phật cao 60 vạn ức; kế nói
thân một trượng sáu; thứ nữa thì nói người sanh về phẩm
hạ, vị Hóa Phật đến rước. Thế thời biết người sanh
trong chín phẩm, chỗ thấy Phật chẳng đồng. Trong Nhiếp
Luận cũng nói: “Bực Ðăng Ðịa mới thấy được ông Phật
Báo thân lần hồi mỗi địa càng thấy thân Phật càng nhỏ
nhiệm”. Kinh đây chỉ nói Phật hiện chớ không phân ông
Phật Báo thân hay ông Phật Hóa thân, do vì nói một gồm nhiều.
“Gồm
các vị Bồ Tát, Thanh Văn” là như trong Quán kinh văn Thượng
Phẩm Thượng Sanh, nói: “Phật cùng Quan Âm, Thế Chí, vô
số Hóa Phật, trăm nghìn bí sô, Thinh Văn đại chúng, vô lượng
các đức chúa trời hiện ra trước mặt người đó”. Nhưng
cũng có người niệm Phật mà Phật không đến rước để
các vị Bồ tát đến rước đấy. Văn đây theo phần nhiều
Phật rước.
Sớ:
Hỏi: Cơn lâm chung Phật hiện ra trước, cũng có ma hiện chăng?
Ðáp: Người xưa đã nói không ma; dẫu hoặc có đó quí tại
tự mình biện rành biết lấy.
Sao:
“Không ma” là: Riêng tu một pháp thiền định ma ngũ ấm
nó nổi lên như trong Lăng Nghiêm, trong Chỉ Quán và các kinh,
luận phân biện việc ma rất rành. Kinh đây nói người niệm
Phật nhờ sức oai thần của Phật, sức bản nguyện của
Phật trong hào quang lớn của Phật che phủ, quyết không có
việc ma nó phá. Song cũng có người nghiệp chướng đời trước
sâu dày, hoặc không khéo dụng tâm để cho có ma nổi lên,
chưa chắc có thể quyết định được, phải phòng biện rành
biết lấy.
Như
trong kinh, luận nói: “Người tu thấy Phật muốn biện bạch
biết cho rành thời có hai phép như đây: 1. Thấy Phật hiện
mà không hiệp với trong kinh, luận thì đó là ma sự; 2. Không
hiệp với chỗ tu của mình thì đó là ma sự. Sở dĩ vì sao?
Do vì với người riêng tu pháp thiền định thời gốc chỗ
tu nhơn là duy nhận có tự tâm, chớ không nhận có nương
nơi cảnh; cho nên ngoài tâm có Phật hiện, điều đó thôi
không cần luận, do vì quả chẳng hiệp nhơn. Kinh nầy nói
người niệm Phật, một đời nhớ Phật, cơn lâm chung thấy
Phật, nhơn quả phù hiệp, đâu đặng cho là ma sự ư?
Nếu
mà người chưa đặng rõ quyết Phật hay là ma được thì
phải như hai phép trước kia để biện biệt xét biết mà
thôi. Hỏi Ðã nói rằng không ma thời ắt là thiệt Phật.
Mà sao tôi nghe người xưa nói Phật không khứ không lai, nay
vì lẽ gì có Phật hiện ở trước mặt người kia? Ðáp:
Với cái đạo lý cảm ứng nó liên lạc lẫn nhau, cũng chẳng
ngại gì. Với lẽ không lai mà lai, không thấy mà thấy. Cho
nên ngài Vĩnh Minh bảo rằng: “Như huyễn chẳng thật thời
tâm và Phật đều quên; nhưng tướng huyễn chẳng không thời
không hoại tâm và Phật”. Lại nói: “Ông chơn thật pháp
thân vốn không sanh không diệt. Song từ nơi chơn Phật
mà phát khởi ra ông Phật Hóa thân để dẫn dắt người si
mê. Ðây chính là công đức bản nguyện của Như Lai, khiến
những chúng sanh nào có duyên kia, chuyên tâm tưởng niệm,
hay ở trong tự tâm mình thấy Phật đến rước; chẳng phải
chư Phật thiệt có sai vị Hóa thân đến rước”. Thế
thời với thân Phật vẫn thường vắng lặng mà chúng sanh
thấy có khứ, có lai như hình trong gương, chẳng phải trong,
chẳng phải ngoài, như việc trong mộng, chẳng có chẳng không.
Lại
trong kinh Pháp Hoa nói: “Do chúng sanh muốn cho được thân
Phật hóa độ thời đức Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện
thân Phật ra để vì thuyết pháp cho nghe”, cũng ý đây vậy.
Cho nên hễ có nước trong thời trăng tự đến, tâm thanh tịnh
thời Phật tự hiện. Chỗ gọi rằng cảm ứng đạo giao,
khó nghĩ, khó bàn.
Sớ:
Nên biết khi lâm chung, thiết một tượng Phật và trợ niệm.
Văn đây chép trong kinh Phật, phép đây truyền ra từ bên nước
Tây vức; không nên nghi ngại.
Sao:
Kinh Hoa Nghiêm quyển 15, lời tụng nói: “Hễ thấy có người
lâm chung thì ta khuyên họ niệm Phật. Lại trương tượng
Phật cho họ xem kính; khiến người đó đối với Phật rất
sanh tâm qui ngưỡng theo Phật cho nên đặng thành hào quang
ấy”. Lời sớ nói: “Phép bên Tây Vức có người khi muốn
bỏ sanh mạng, dạy họ trở mặt về hướng Tây; ở trước
để một tượng Phật đứng, tượng kia cũng trở mặt về
hướng Tây. Dùng đảnh phan treo trên tay tượng, bảo người
bệnh tay nắm đuôi phan, tưởng vãng sanh theo Phật, và bao
nhiêu người cùng đốt hương, đánh chuông trợ niệm danh
hiệu Phật. Chẳng những vong giả được sanh về trước Phật,
mà cũng trọn thành thấy được Phật quang. Nếu với người
xuất thần dạo đi các cõi, đi ở tự tại không ngăn ngại,
đó là bực siêu phàm để ngoài lời luận. Còn hoặc người
chưa được như vậy thời phải gắng gổ làm theo trên đó.
Nghĩa là riêng vì trương tượng Phật để trợ việc vãng
sanh; huống chi người kia nhứt tâm bất loạn, cảm Phật hiện
ra trước mặt; chớ lo là ma sự mà tự sanh tâm nghi ngại
không nên!
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh vọng cùng, chơn lộ là nghĩa “cơn
lâm chung Phật hiện”.
Sao:
Vọng tâm chưa hết thời mờ mờ mịt mịt; đó là cái nghĩa
“mạng căn chưa đoạn”. Mê hoặc dứt, chấp trước không,
tình lự tiêu, vọng kiến hết tỷ như người chết nhà hư,
khói tắt tro bay là cái nghĩa “mạng chung” đấy. Các cái
mê vọng hết rồi, không chơn còn đợi gì nữa? Bấy giờ
dẫu cầu Phật đừng hiện ra trước mặt cũng không thể
được vậy. Song mà lòng từ của Phật vô hạn đâu đợi
cơn lâm chung mới là hiện ra trước. Thế cho nên có câu:
"Luôn luôn hiện trước kẻ thời nhơn mà kẻ thời nhơn tự
chẳng biết" (2).
NGÃ VÃNG
PHẬT XỨ
Người
ấy khi chết tâm chẳng điên đảo liền đặng vãng sanh về
nước Cực Lạc của Phật A Di Ðà.
Sớ:
Văn trên nói chữ "lâm" đấy là mạng gần muốn thác. Văn
đây nói chữ "chung thời" chính là nói cái lúc hơi ấm (3)
trong mình sắp hết, thần thức đi ra. Tâm chẳng điên đảo
là do vì nhứt tâm bất loạn nên chẳng điên đảo. Do vì
không điên đảo nên chẳng sanh về chỗ khác. “Liền đặng”
là nói sự vãng sanh rất mau chóng.
Sao:
Ðiên đảo là do người kia khi bình nhựt thuận theo thói vọng
tưởng, không tu chánh niệm, tâm nhiều tán loạn. Như văn
trước đã nói: Lúc sắp bỏ hơi ấm thời một đời chỗ
làm lành hay dữ; bấy giờ đều hiện ra trước mặt; tâm
thần lo sợ trăn trở mò mằn co cúm. Người đáng vào trong
địa ngục thời tự thấy đối với núi đao, rừng kiếm,
lại xem là vườn huê kiểng (vui thích). Người đáng đọa
trong loài súc sanh thời với bụng ngựa thai lừa lại nhận
là nhà cửa. Dầu cho người làm lành, được sanh cõi người
hay cõi trời đi nữa, nhưng cũng chưa khỏi cái khổ: ghét,
thương, cha, mẹ (4); nhẫn đến bực Tiểu Thánh sơ tâm (5)
còn chưa chính biết được chỗ xuất nhập (6) nên chi gọi
rằng điên đảo (7). Nhơn điên đảo đấy nên phải tùy nghiệp
thọ sanh trong 3 cõi, 7 thú (8).
Nay
kinh nầy nói: Ðã nhứt tâm bất loạn thời trong sẵn chánh
niệm, ngoài cảm Phật rước; bỏ báo thân nầy liền sanh
về nước kia như lời Phật dạy: "Tùy kỳ tâm tịnh tắc
Phật độ tịnh". Lại nói tất cả quốc độ duy có tâm tưởng
kềm giữ. Trọn thành tâm tưởng thanh tịnh thời ắt đặng
vãng sanh, hẳn không nghi ngờ gì nữa (không sợ sanh về chỗ
khác).
“Sanh
về chỗ khác” là có ba chỗ: 1. Thế giới Ta Bà đây;
2. Cõi nước Phật khác; 3. Chỗ biên địa nước kia; nay đều
lựa bỏ ra đó. Chữ “tốc” nghĩa là Mau, là không trải
qua thân trung ấm, không cách ngày giờ, nên trong Quán Kinh nói:
“Như trong khi đờn chỉ đã sanh về nước Cực Lạc kia rồi”.
Lại
ngài Trí Giả nói: “Cơn lâm chung mà tâm vẫn ở trong định,
tức là cõi tịnh độ. Khi tâm nó động niệm tức là liền
sanh về cõi tịnh độ”. Chỗ nói “tâm ở trong định”
là: Kinh nầy nói “tâm chẳng điên đảo” vậy. Chỗ nói
“tâm nó động niệm” là sau đó nguyện được sanh
về nước kia.
Sớ:
Kinh Ðại Bổn nói: “Thân thể của người ở bên nước
Tịnh Ðộ, chẳng phải như thân thể của người ở cõi đời
này và cũng chẳng phải như thân thể của chúng ở trên cõi
trời, mà là thân thể ấy đều là những đức chứa các
việc lành nên tự nhiên cảm đặng cái thân thể nhẹ nhàng,
bởi hóa sanh trong hoa sen, cũng không có người nhũ dưỡng”.
Sao:
“Chứa các việc lành” ấy tức là các thân thành tựu bằng
đa thiện căn, đa phước đức, chẳng phải như do tâm ái
dục làm nhơn, cảm quả thân bằng tứ đại làm thể; cho
nên chẳng do thai ngục mà là gá chất nơi ao sen thất bảo
vậy. “Cũng không có người nhũ dưỡng” ấy nghĩa là tự
nhiên khôn lớn, không phải như bên đất Bắc Cu Lô Châu còn
đợi để đầu ngón tay ra sữa mà làm sự nuôi nấng.
Sớ:
Do chỗ "nhứt tâm bất loạn” trên thì với những người
được vãng sanh kia phân ra làm cái nhơn tam bối cửu phẩm.
Lại chín chắn phân tách ra cũng là vô lượng.
Sao:
“Tam cửu” là kinh Ðại Bổn nói tam bối, kinh Thập Lục
Quán nói cửu phẩm, do nhứt tâm phân ra có sự và lý. Sự
lý cũng lại phân mỗi cái có Thắng và Liệt. Sau khi được
vãng sanh đúng như chỗ căn bổn là cái nhơn tu đó mà chia
làm phẩm vị.
“Tam
bối” là như kinh Ðại Bổn nói: Bực thượng bối là do
những người phát tâm Bồ Ðề chuyên niệm Phật A Di Ðà
tu các việc công đức và nguyện sanh về nước kia. Ðến
khi mạng gần thác, Phật và các hàng thánh chúng hiện trước
mặt người đó; người đó liền ở trong ao thất bảo, hoa
sen hóa sanh, trụ bực bất thối chuyển, trí huệ dõng mãnh,
thần thông tự tại. Chỗ ở thì là các cung điện bằng bảy
báu ở giữa hư không, cách Phật rất gần”. Thế gọi là:
người sanh bực thượng bối; phối hợp với văn trước thời
bực này đặng cả sự và lý nhứt tâm.
Bực
trung bối là những người không thể tu các công đức lớn
mà cũng phát tâm Bồ Ðề, chuyên niệm hồi hướng. Khi mạng
chung sanh về cõi kia, công đức trí huệ sút hơn bực thượng
bối; thế gọi là người sanh bực trung bối. Phối hợp với
văn trước thời bực này vừa đặng sự nhứt tâm có dư,
nhưng với lý nhứt tâm thời chưa đủ.
Sanh
bực hạ bối là những người không thể làm các việc công
đức, nhưng cũng phát Bồ Ðề tâm, một bề chuyên niệm nhẫn
đến mười niệm, được sanh về cõi kia; nhưng cung điện
thì chỉ ở trên đất, lại sút hơn bực trung bối; thế gọi
là người sanh bực hạ bối. Phối sánh với văn trước thời
bực nầy chỉ đặng sự nhứt tâm, chớ chưa đặng lý nhứt
tâm.
“Cửu
phẩm” là trong Quán Kinh có nói: Với trong ba phẩm thượng,
có người sanh về cõi kia liền đặng trăm nghìn pháp Ðà
La Ni; có người sanh về cõi kia phải trải một tiểu kiếp
mới đặng bực vô sanh nhẫn, có người sanh về cõi kia, còn
phải trải ba tiểu kiếp mới đặng bách pháp minh môn, trụ
nơi bực Hoan Hỉ địa. So sánh với văn trước thời phẩm
nầy được cả sự và lý nhứt tâm; nhưng có cao và thấp
cho nên thành ba phẩm; đây đồng như bực thượng bối.
Với
trong ba phẩm trung, có người sanh về nước kia liền đặng
quả A La Hán; có người sanh về nước kia đến nửa kiếp
mới đặng A La Hán; có người sanh về nước kia, trải một
kiếp mới đặng quả A La Hán. Phối với văn trước thời
ba phẩm nầy với sự nhứt tâm đầy đủ, Lý nhứt tâm còn
kém thiếu, cũng có cao và thấp, nên thành ra ba phẩm. Lệ
nầy đồng như bực trung bối.
Với
trong ba phẩm hạ, có người sanh về nước kia, phải trải
10 tiểu kiếp mới đặng vào bực Sơ địa; có người sanh
về nước kia trải đến sáu kiếp hoa sen mới nở, phát tâm
vô thượng đạo; có người sanh về nước kia, 12 đại kiếp
mới phát tâm bồ đề; phối với văn trước thời 3 phẩm
nầy chỉ có sự mà không có lý; cũng do cao thấp nên thành
ra 3 phẩm; lệ như bực hạ bối.
“Chín
chắn phân ra” là như trong văn trước nói: Trong bối phẩm
phân ra lại phân ra thời có trăm nghìn vạn ức vô cùng Bối
và Phẩm, đều là do sự nhứt tâm và lý nhứt tâm chỗ đặng
có cao và thấp mà làm ra có thứ lớp nhiều thế.
Sớ:
Như trong Quán Kinh nói: “Bực thượng phẩm thượng sanh là
bực người đã đặng quả vô sanh nhẫn”. Ngài Thiên Thai
phán ra cho thuộc về bực Sơ Ðịa, mà kinh Hoa Nghiêm nói:
“Với quả vô sanh nhẫn tự có bực thấp và cao”. Thời
trong phẩm thượng thượng thật có nhiều phẩm; huống nữa
là các phẩm trung và hạ kia!
Sao:
“Thấp cao” là Kinh Hoa Nghiêm nói bực Bát Ðịa trong phần
Tịnh Nhẫn, lời Sớ nói: “Bực Vô Sanh Nhẫn lược có hai
nghĩa: 1. Ước về pháp; 2. Ước về hạnh. Ước pháp thời
những cái lý vô khởi tác đều gọi là Vô Sanh; tâm huệ
an trụ trong lý đó nên gọi là nhẫn. Ước hạnh thời Báo
thân giới hạnh thuần thục, trí hiệp với lý, không trụ
nơi vô tướng, không chấp nơi vô công, rộng rãi như hư không,
lặng trang như biển đứng; tâm thức vọng hoặc, bặt hết
không khởi, mới gọi là Vô Sanh”. Thuyết trước còn chung
các địa, thuyết sau chỉ riêng về Bát Ðịa; còn bao nhiêu
như trong lời tự quyển trước đã có biện.
Cho
nên biết bực Vô Sanh Nhẫn tự có thấp và cao, thời trong
phẩm thượng thượng từ bực Nhứt Ðịa nhẫn đến bực
Bát Ðịa đã trùm nhiều phẩm. Với các phẩm kia khá
biết vậy nên chín chắn phân ra cũng đến vô lượng.
Sớ:
Lại tam bối cửu phẩm, hai kinh phối nhau thời mỗi thuyết
có chút khác. Như ngài Phụ Chánh chỗ giải dung thông.
Sao:
Trong Quán kinh lời Sớ nói: “Kinh đây nói cửu phẩm vì khiến
cho biết phẩm vị có cao và có thấp, tức kinh Ðại Bổn
nói tam bối”.
Ngài
Cô Sơn nói: “Tam bối trong Ðại Bổn chỉ ngang với sáu phẩm
về trước trong Quán kinh. Vì tam bối thuần nói người hành
thiện, không nói đến người ác vậy”. Ngài Linh chi phân
tam bối chỉ đối với ba ngành phẩm thượng; cho nên nói:
“Các thuyết có khác nhau chút đỉnh”.
Ngài
Thảo Am Phụ Chánh giải rằng: “Ngài Thiên Thai nói chín phẩm
đồng với tam bối là so về ngôi thứ đồng nhau, chớ không
phải nói bằng cách so về hạnh nhơn (cái nhơn tu). Thời ngài
Cô Sơn, ngài Linh Chi đều không trái với ngài Thiên Thai. Sở
dĩ vì sao? Do ngài Thiên Thai chỉ ước về ngôi thứ thời
bối phẩm ngang đồng. Còn hai ngài kia chỉ ước về hạnh
nhơn thời chỉ bằng ngang với phẩm trung, phẩm thượng. Ngài
nào cũng đều có chỗ chứng cứ, nhưng dùng nghĩa chẳng đồng;
cho nên chẳng trái vậy”. Song chắc thật mà luận thời tâm
phiền não chẳng khác tâm bồ đề, trước ác nào ngại gì
sau thiện, người ác đã trở thành người thiện, đâu chẳng
phải đồng bực với thánh hiền? Tam bối cửu phẩm phối
hiệp ngang nhau, không chi phải nghi hết.
Sớ:
Lại kinh Hoa Nghiêm nói: “Người niệm Phật ‘số’ cùng
‘tâm’ bằng nhau” v.v... tức là nghĩa tam bối, cửu phẩm
tùy gốc tu nhơn chẳng đồng.
Sao:
“Số, tâm bằng nhau” là: Kinh Hoa Nghiêm quyển 23, ngài Ly
Cấu Tràng Bồ Tát nói lời kệ rằng: “Như người tu pháp
trì danh, lấy Phật làm cảnh giới, chuyên niệm mãi không
thôi, thời người đó được thấy Phật. Số, cùng tâm kia
bằng nhau” v.v... Giải rằng: Số cùng đồng bực với tâm
nghĩa là tùy niệm tùy hiện. Tùy niệm có hai nghĩa: 1. Tùy
niệm nhiều ít, Phật hiện cũng in như đó. Như niệm Phật
một tiếng, có một vị hóa Phật từ trong miệng bay ra v.v...
2. Tùy niệm cạn, sâu thời Phật hiện cũng xứng đó, như
cơn lâm chung thấy Phật, có thắng, có liệt v.v... Nhiều,
ít, cạn, sâu, tức bối, phẩm phân biệt. “Người ấy
được thấy Phật” tức là đức Phật A Di Ðà hiện ở
trước mặt người đó. “Chuyên niệm” là gì? Tức là nhứt
tâm bất loạn.
Sớ:
Lại ngài Chí Nhãn nói hai món tịnh nghiệp cũng là nghĩa tam
bối, cửu phẩm.
Sao:
Ngài Chí Nhãn pháp sư nói: “Một môn vãng sanh đây có hai
pháp tịnh nghiệp: 1. Pháp chánh quán thầm soi trong bản tâm
của mình. 2. Pháp trợ hành: làm đủ muôn việc lành. Hai việc
đều đặng thời rõ thấu bốn cõi tịnh độ.
Như
người chỉ làm đặng sự thiện, gần thời sanh về cõi Ðồng
Cư, còn xa thì làm cái nhơn cho ba cõi kia. Cho nên biết cõi
Tịnh Ðộ chính là cảnh giới của ông Cứu Lý Bồ Tát đi
lên; mà cũng là gồm chứa chúng sanh ngơ ngơ nữa (Cứu Lý:
Ðắc pháp niệm Phật bằng lý nhứt tâm. Ngơ ngơ: Cái nhơn
còn xa).
Lại
nói rằng: Bực viên cơ thể đạo (rõ đạo) là phép tịnh
nghiệp tối thượng. Nếu thêm lời nguyện để dắt đường
thời liền được dự hàng ưu phẩm (phẩm thượng). Còn những
chúng tối dốt, chỉ niệm Phật phát nguyện thì cũng được
sanh về. Xem một môn Tịnh Ðộ thời vị thánh nhơn không
bỏ một ai cả.
Xét
câu nói: “Pháp chánh quán” thời thông cả phẩm thượng,
phẩm trung. Câu nói: “Pháp trợ hành” thời đồng cả phẩm
trung phẩm hạ. Lại ngài pháp sư làm lời luận đây rất
đúng; kẻ xem đến chớ nên khinh thường.
Sớ:
Có người hỏi: Với chín phẩm mà tám phẩm dưới từ trong
hoa sen hóa sanh ra do vì phẩm thứ nhứt nói kim cang đài. Nay
tham hiệp theo các kinh luận thời kinh luận nào cũng vẫn nói
cả chín phẩm đều thuộc về hoa sen sanh ra.
Sao:
Chấp rằng tám phẩm dưới đều từ hoa sen sanh là họ căn
cứ trong Quán kinh văn thượng phẩm thượng sanh nói: “Người
kia tự thấy thân mình ngồi trên đài kim cang”, bởi trong
đó không có hai chữ “liên hoa”, đó là phẩm thứ nhứt.
Cho nên họ nói tám phẩm sau mới là từ trong hoa sen sanh ra.
Song trong kinh luận đã nói đành rành, đều nói rằng người
sanh Tây phương, cả chín phẩm đều từ hoa sen mà sanh ra kia
mà; kêu bằng "cửu phẩm liên hoa vi phụ mẫu...”
Kinh
Ðại Bổn ngài Pháp Tạng nguyện rằng: “Vô ương số thế
giới chư thiên nhơn dân nhẫn đến loài quyên phi xuẩn động,
hễ sanh về trong cõi của ta thì đều ở giữa ao thất bảo,
trong hoa sen hóa sanh”. Nói chữ Giai (đều) thời gồm cả
chín phẩm nốt.
Lại
nói các bực đại Bồ Tát phương khác, muốn thấy Phật A
Di Ðà thì ở nước kia trong ao thất bảo, hoa sen hóa sanh;
nói bực Ðại Bồ Tát thời ắt không phải phẩm trung, phẩm
hạ.
Lại
nói người đặng sanh bực thượng bối kia, khi mạng muốn
thác, Phật cùng các vị Thánh Chúng đều đến rước về.
Người kia liền ở trong ao thất bảo, hoa sen hóa sanh. Nói
bực thượng bối tức là đối ngang với bực thượng phẩm,
đều không có cái ý rằng bực tối thượng chẳng có hoa
sen? Lại kinh Pháp Hoa nói: “Người nghe kinh điển này, y như
lời nói trên đây mà tu hành, khi mạng chung liền sanh về
Cực Lạc thế giới. Phật A Di Ðà có các vị Bồ Tát vây
đoanh chỗ ở; người ấy trong hoa sen sanh ra đặng bực Bồ
Tát có thần thông, vô sanh pháp nhẫn”.
Xét
rằng: Ðặng bực vô sanh nhẫn chẳng phải bực thượng thượng
phẩm chớ gì?
Lại
phẩm hạnh nguyện, đức Phổ Hiền Bồ Tát dùng 10 lời đại
nguyện vương để dắt về nước Cực Lạc, mà nói rằng:
“Cõi Phật kia chúng hội đều thanh tịnh; ta bấy giờ
ở trong liên hoa tốt nhứt sanh ra”. Xét rằng: Ðức Phổ
Hiền vãng sanh chẳng phải bực thượng thượng phẩm hay sao?
Lại
kinh Bảo Tích nói các vị Bồ Tát ở bực thập tâm Hồi Hướng,
sau đặng vào trong hoa sen hóa sanh. Xét rằng bực thập tâm
Bồ Tát chẳng phải bực thượng thượng phẩm hay sao? Lấy
đây nghiệm xét ắt chứng rành.
Hỏi:
Quả vậy thời trong văn thượng thượng phẩm, sao lại nói
kim cang đài mà chẳng nói hoa sen? Ðáp: Vì rằng lối hành
văn lẫn nhau có và không, chớ nên chấp nhứt. Do đâu biết
thế? Bởi văn thượng phẩm trung sanh cũng nói ngồi trên cái
tử kim đài đó rồi; lại cũng cho rằng từ bảy phẩm dưới
mới có hoa sen sanh hay sao? Huống chi phẩm trung sắp xuống
cũng chỉ nói rằng: “Người ngày khi mạng chung, ví như anh
tráng sĩ trong lúc co duỗi cánh tay đã sanh về Tây phương
Cực Lạc thế giới”, trong văn đều thiếu hai chữ hoa sen,
rồi lại cũng cho rằng: 6 phẩm dưới mới là từ trong
hoa sen sanh hay sao? Xét rằng: Ðã nói không hoa sen là hơn thời
phẩm trung, phẩm hạ là phẩm thua kém, sao cũng chẳng có hoa
sen?
Lại
với cái ngành thượng của trung phẩm sắp lên riêng có nói
liên hoa đài, thời cái đài đó nó đồng một loại với
kim cang đài và tử kim đài chăng? Hay là nó đồng một loại
với liên hoa ư? Lộn xộn không thứ lớp, tấn thối không
căn cứ; thế rõ biết văn thiếu lẫn mà nghĩa ắt lẫn đủ
vậy.
Theo
ý hiểu của tôi (ngài Vân Thê) phẩm nào cũng đều có hoa
sen tất cả, hoa nào cũng đều có đài tất cả. Nhưng mỗi
đài đều chẳng đồng nhau vì có tốt, có xấu, mà cái đài
bằng ngọc kim cang thì là cái đài tốt hơn hết đấy thôi.
Như
ông Trần Hoài Ngọc ngân đài vừa qua, kim đài nối đến,
khá chứng nghiệm vậy. Vả chăng chữ Ðài có hai nghĩa: 1.
Chữ đài thuộc nghĩa cơ đài, là cái đài nó ở phía dưới
hoa vì nó làm cái nền; như ở đời, người ta chạm tượng
Phật, dưới có làm cái bửu đài, trên đài để những cánh
hoa, trên hoa để vị Phật, phải vậy. 2. Chữ đài thuộc
nghĩa phòng đài; là cái đài nó ở trong hoa, vì hoa bao bọc
bốn phía nên gọi là phòng. Như trong Pháp Hoa Huyền Nghĩa
lấy hoa sen nêu 10 nghĩa Như. Ðến văn “như thị báo” nói:
“Ví như hột sen đều ở quanh giữa cái phòng đài”. Lại
nói: “Hột nương ở trong cái đài” thì người đời thường
nói tức là cái gương sen, phải vậy (Liên phòng: buồng sen,
vì nhốt chứa hột sen).
Lại
kinh Hoa Nghiêm văn Thập Ðịa Liên Hoa nói: “Hoa sen kia dùng
ngọc lưu ly làm cọng, gỗ chiên đàn làm đài gương, ngọc
mã não làm nhụy, tua vàng Diêm Phù Ðàn làm lá cánh”. Thế
thì đều có nói cọng sen, gương sen, nhụy sen và cánh sen.
Mà kinh Niết Bàn cũng nói: "Ví như cọng, cánh, nhụy, gương
hiệp làm hoa sen”; đây chỗ gọi rằng: Phòng đài đều là
cái gương sen, tức là ý nghĩa rằng: ngọc báu chân thúc ca
làm đài gương sen của kinh Pháp Hoa. Xem đây, thời biết trong
Quán kinh về pháp quán hoa tòa, trước dạy: Phải tưởng hoa
sen; kế nói lấy ngọc Thích Ca Tỳ Lăng Già làm cái đài sen.
Thế là cái đài nầy nó ở trong hoa.
Lại
nói mỗi mỗi sắc vàng, mỗi mỗi chỗ biến hóa; hoặc biến
làm đài kim cang; hoặc biến làm lưới báu v.v... Thế thời
cái đài nầy lại ở dưới hoa. Cho nên văn thượng phẩm
trung sanh trước nói tử kim đài; kế nói dưới chơn cũng
có hoa sen bằng thất bảo. Thế thời cái tử kim đài nầy
ở dưới hoa đã rõ ràng.
Phàm
hoa sen thời ắt có đài (gương), đài ắt có hoa. Nói Kim Cang
đài không nói hoa, hay nói hoa không nói đài; văn trước, sau
lẫn nhau bày rõ không nên chấp. Nhưng những người đặng
sanh lên phẩm thượng thượng, một phen vừa gá vào hoa sen,
tức thời hoa nở tức thời thấy Phật, tức thời chứng
đạo. Còn các phẩm sau đó thời hoa nở lần lần muộn, thấy
Phật lần lần chậm, chứng đạo lần lần cách xa. Lấy đây
mà phân biệt thời biết chỉ có phẩm thượng thượng là
đặc biệt riêng hơn, nhưng chẳng phải là không hoa sen, vì
hễ nói đài thì đã có gồm cả hoa sen rồi.
Nếu
chấp rằng: Không hoa sen là hơn, có hoa sen là thua, thế là
khi dễ sen vậy! Mà với hoa sen đã là khinh dễ thì sao còn
cầu về nước Liên Bang? Mà trong pháp quán hoa tòa cũng
nói Phật ngồi trên hoa sen thời vị Phật đó cũng là thua
hèn ư? Lý đó sẽ nói làm sao cho thông?
Hỏi: Sao ngài Tứ Minh có nói rằng: “Chín phẩm nước Cực
Lạc, tám phẩm từ hoa sen sanh ra” ư? Ðáp: Ngài Tứ Minh chỉ
nói rằng: “Tám phẩm từ hoa sen sanh, chớ ngài chưa nói không
hoa sen thiệt là phẩm nào?” Do vì với phẩm trung, phẩm hạ,
ngài cũng không nói hoa sen. Nếu quả phẩm thượng thượng
không hoa sen thời chắc ngài cũng ắt có nói rành, chớ lẽ
nào ngài chỉ mở mối đầu mà rốt cuộc rồi ngài không
nói gì hết là sao vậy?
Hay là chữ Bát đó là người ta viết lầm cũng chưa biết
chừng! Ðâu biết chẳng phải ngài Tứ Minh nói: “Nước Cực
Lạc chín phẩm từ hoa sen sanh ra” ư? Ðợi bực cao minh biện
lại đó.
Sớ: Hỏi: Ngoài phẩm hạ, lại có thai sanh, là thiệt có
hay không? Ðáp: Ðó là vì nêu lên cho biết rằng: Người
niệm Phật mà sức tin không kiên cố; chớ thiệt không có
thai sanh.
Sao:
“Không có thai sanh” đó, kinh Ðại Bổn nói rằng: “Ðức
Phật Thích Ca bảo đức Di Lặc: ‘Nếu có chúng sanh tu các
công đức, nguyện sanh về cõi kia mà không rõ trí Phật, chí
ý dụ dự; đến khi mạng chung mới ăn năn lỗi mình. Vì vậy,
sanh về cõi kia mới vào đến chỗ biên địa, thấy thành
thất bảo, liền ở đó, trong hoa sen sanh ra, cũng có tự nhiên
khoái lạc như cõi trời Ðao Lợi nhưng ở trong thành đó trải
qua trăm năm không đặng thấy Phật, không nghe kinh pháp, khổ
là vậy đó! Nên gọi là thai sanh, chớ không phải thật có
thai sanh như cõi nhơn gian nầy vậy đâu. Lại dụ như nhà
vua (Sát Ðế Lợi), thái tử của ngài phạm phép bị cầm
trong nội cung, ở nhà bằng hoa ngọc, lầu cao điện ấm, đồ
ngọc báu trang sức quí tốt rất đẹp, màn báu giường vàng,
thức ăn mặc, vật xài dùng thảy đều dư giả, mà lấy dây
vàng Diêm Phù buộc xiềng hai chơn, chẳng đặng thong thả;
tức dụ như thai sanh vậy.
Lại nói như người đó biết gốc tội của mình, biết tự
hối trách, cầu khỏi chỗ đó, tức đặng về đến chỗ
Phật Vô Lượng Thọ.
Lại trong kinh Bồ Tát Xử Thai nói: “Bên Tây phương cách
cõi Diêm Phù Ðề đây 12 ức na do tha, có một cõi tên là
Giải Mạn. Quốc độ đó toàn bằng thất bảo, sự vui cõi
đó không chi bằng. Bởi móng ý muốn sanh cõi nước của Phật
A Di Ðà, nhưng còn bị nhiễm đắm nơi cõi đó, không thể
đi tới trước đặng”, cũng là đồng loại với nghi thành
và biên địa vậy.
Thế là người niệm Phật mà lòng nguyện vãng sanh không tha
thiết nên mới ra nông nỗi!
Sớ: Hỏi: Ðã nói rằng niệm Phật trong 7 ngày nhưng mà với
người khi lâm chung chỉ có 10 tiếng niệm Phật thì trong giây
phút ít quá, như thế làm sao được vãng sanh?
Ðáp: Chính do vì nhứt tâm bất loạn như trong luận Trí Ðộ
nói. Lại nhờ sức mình và sức Phật như trong kinh Na
Tiên nói.
Sao:
“Luận Trí Ðộ nói”: Chép rằng: “Khi người sắp chết,
cái tâm trong giờ phút rất ít đó niệm Phật, sao cho hơn
đặng trọn một đời gắng sức tu hành? Ðáp: Tuy trong thời
gian chốc lát, nhưng tâm lực nó mạnh mẽ, tâm rốt sau đó
gọi là đại tâm”. Phải biết tâm ấy tức là nhứt tâm
bất loạn.
Kinh Na Tiên nói: “Có ông vua hỏi ngài Na Tiên rằng: ‘Với
người cả đời tạo ác khi lâm chung mới niệm Phật đặng
sanh về nước Phật, ta chẳng tin lời đó?’ Ngài Na Tiên
đáp rằng: ‘Như người rinh một viên đá lớn để ở trên
chiếc thuyền; nhờ thuyền đá đặng khỏi chìm. Người tuy
trước ác, sau nhơn nhờ niệm Phật khỏi đọa địa ngục
mà đặng vãng sanh, cũng lại như vậy”. Thế là tỏ rằng
nhờ tâm lực của mình và nguyện lực Ðức Phật, cả hai
giúp lẫn nhau mới thành được việc.
Sớ: Hỏi: Ðã nói rằng vãng sanh, người xưa lại nói: “Sanh
thời quyết định sanh, đi thời thiệt không đi”, đó là
có sanh không đi qua. Còn nay đây có đi qua để hóa sanh, thành
ra hai nghĩa trái nhau?
Ðáp: Do sanh trong tâm mình, cho nên qua bằng cách không phải
như chơn bước đi qua nên gọi là “vãng sanh”. Như trong
Kinh Hoa Nghiêm lời của ngài Giải Thoát Trưởng giả đã nói.
Sao: Kinh Hoa Nghiêm: “Cõi pháp giới trùng trùng, nhưng cũng
không ngoài cái tâm”. Kinh Lăng Nghiêm Phật bảo A Nan rằng:
“Mười phương cõi hư không đều ở trong cái tâm của ngươi”.
Thế nên biết sanh về nước Cực Lạc tức sanh nơi tự tâm
của mình; vì tâm nó không giới hạn thì không Ðông, không
Tây, thế thì đi đến chỗ nào? Nghĩa là hình dung ra cái lý:
Ðổi uế, làm tịnh, đổi cái cũ thành cái mới, bỏ một
đặng một, tuồng như có chỗ qua, kêu đó là “vãng”, đâu
phải rằng từ đây đến kia, như cái tướng đi qua của trong
thế gian khỏi thành này qua ấp nọ ư?
Câu “Giải Thoát” là: Kinh Hoa Nghiêm phẩm Nhập Pháp Giới,
ông Giải Thoát trưởng giả nói: “Các đức Như Lai kia, chẳng
đi đến cõi nầy, ta cũng chẳng đi đến cõi kia, nhưng hễ
muốn nguyện thấy thế giới An Lạc Phật A Di Ðà, tùy ý
liền thấy”.
Ðó đã nói rằng: tùy ý thời không vượt ngoài một niệm,
mà đã được sanh sang nước kia. Cho nên biết rằng: Hình
dung cái lý đặng sanh kia nên gọi đó là “vãng sanh”, mà
thiệt ra không chỗ để qua. Với lẽ “không qua mà qua”
cũng không ngại gì nói “có qua”. Xét tột mà luận: Chẳng
những không qua, lại cũng không sanh. Với lẽ “không sanh
mà sanh” cũng không ngại gì nói “có sanh”.
Sớ: Hỏi: Với trong Nội Viện Ðâu Suất, người xưa cũng
nguyện sanh về, nay sao riêng chỉ nước Cực Lạc? Ðáp: Vì
với nhơn tu có khó, có dễ, cảnh chứng có thắng, có liệt,
và chủ có thầy có trò.
Lại hỏi: Thế giới Thắng Liên Hoa rất hơn nước Cực Lạc,
sao lại không nguyện về? Ðáp: Vì nước Lạc Bang ở gần
không nên tìm xa.
Sao: Ý người hỏi là cho rằng: Ðức Di Lặc cũng hiện tại
thuyết pháp, chốn Nội Viện cũng thanh tịnh trang nghiêm, mà
không cầu vãng sanh về đó là cớ làm sao? Ðáp: Có ba nghĩa:
1.
Vì cái nhơn tu khó dễ là: Phàm sanh nội viện phải đủ trí
đức, đoạn đức (10), có hai công đức đó mới kham dự
hàng thánh lưu. Ấy là khó, không bằng nước Cực Lạc: hễ
người cầu vãng sanh tịnh niệm thành tựu liền đặng như
nguyện, không luận còn hoặc nghiệp, phải có trí, có đoạn
gì vì được đới nghiệp vãng sanh; ấy là dễ.
Xưa ngài Huyền Tráng Pháp sư nói: “Với chốn Nội Viện
dễ sanh bởi cõi Ðâu Suất cách cõi nhơn gian số dặm đường
có thể tính được; cõi Cực Lạc cách cõi Ta Bà trải qua
nhiều cõi Phật!” Ngài Tráng sư kia chỉ luận về dặm cõi,
chớ không luận về cái nhơn tu; nay kinh nầy luận nhơn tu,
không luận dặm cõi. Mỗi nghĩa đều có chỗ dùng riêng, song
luận cho tột lẽ thì lời ngài Tráng sư là vì căn cơ một
loại đương thời; còn lời của kinh nầy là cái đạo để
muôn đời thường làm.
2. Cảnh có thắng và liệt là: Chốn Nội Viện không khỏi
ở trong tam giớI, còn nước Cực Lạc ra khỏi ngoài tam giới.
Chỗ nghi thành của nước Cực Lạc còn không có nữ nhơn,
còn sanh về chốn Nội Viện rủi sanh trật ở ngoài thời
bị đắm việc vui ngũ dục. Cho nên nói sanh nhằm phẩm hạ
hạ là một bực chót của nước Cực Lạc còn hơn trăm lần
ở chốn thiên cung.
3. Chủ, thầy trò là: Phật Di Ðà là bực quả tròn muôn đức
đã chứng Như Lai; đức Di Lặc là ông Bồ Tát bổ xứ còn
ở bực Ðẳng Giác. Kinh nói trong nước Cực Lạc kia có nhiều
vị Bồ Tát nhứt sanh bổ xứ thời biết rằng đức Di Lặc
sánh ngang với đức Quán Âm, Thế Chí đồng hầu bên vị
Ðạo Sư (Di Ðà) cũng như thầy trò vậy. Cho nên đặng thấy
Phật Di Ðà rồi tức thấy đức Di Lặc, thấy đức Di Lặc
vị tất là thấy Phật Di Ðà vậy. Lại bực cổ đức có
nói: “Trước sanh Tây phương, sau sanh Long Hoa” cũng
có lý lắm. Riêng cầu về Cực Lạc, đâu chẳng phải ư?
Với thế giới Thắng Liên Hoa đã rõ thấy trong văn Thọ Mạng
trước. Nay nói kinh Hoa Nghiêm so luận các quốc độ thời
kế sau cõi Ta Bà, tức gọi là nước Cực Lạc; còn xa đó
lại càng xa đến trăm vạn vô số thế giới mới nói đến
cõi Thắng Liên.
Thế thời cõi Cực Lạc là nước ở gần, cõi Thắng Liên
là nước ở xa lắm. Dụ như nước Việt mất mùa, nước
Ngô đặng mùa; cất bước là tới ngay nước Ngô, thế nhưng
bỏ nước Ngô không tới mà đi mến nước quá xa cách như
nước Yên, nước Tần (11) thì cũng lầm lắm đó.
Sớ: Hỏi: Tôi thấy có người một đời niệm Phật khi lâm
chung chưa ắt vãng sanh, là sao vậy?
Ðáp: Bởi họ chỉ một đời niệm Phật mà chưa phải là
nhứt tâm niệm Phật vậy.
Sao: Những bọn lơ lơ một đời niệm Phật đó mặc dầu
là không giải đãi nhưng cũng không tinh tấn nên chưa đặng
nhứt tâm; thành thử không đặng sanh về. Nếu quả chơn thật
dụng tâm mà chưa được thuần nhứt, tuy đời nay chưa đặng
vãng sanh nhưng cũng đã trồng cái nhơn vãng sanh, sẽ qua đời
sau ắt thành tựu pháp niệm Phật tam muội mà đặng vãng
sanh.
Như trong kinh Phạm Võng nói: “Nay tuy chưa đắc giới mà cũng
đặng thêm phần lợi ích cho sự thọ giới đời sau”. Trong
Tông môn bảo rằng: “Ðời sau vừa ló đầu ra chỉ
nghe một phần mà biết được một nghìn phần” là nghĩa
đây vậy. Dè chớ đổ rằng: Tôi thấy người kia niệm Phật
luống nhọc vô ích, rồi chê lời Phật dạy cho là không đủ
tin!
Sớ: Xứng lý thời tự tánh vô hình là nghĩa “bất điên
đảo”; tự tánh vô cấu là nghĩa “sanh Cực Lạc Tịnh Ðộ”.
Sao: Ðức Lục Tổ nói: “Ta có một vật không đầu, không
đuôi, không bề lưng, không phía mặt”; thế thì dù tìm cái
tướng ngay của nó còn không thể được, toan lấy cái gì
là xiên là lộn ngược mà hòng kêu là “điên đảo” ư?
Bát Nhã Tâm kinh nói: “Ðấy là cái tướng chơn không của
các pháp vì nó bất cấu, bất tịnh", thế thì tìm cái tướng
tịnh của nó còn không thể được, toan chỉ chỗ nào để
gọi là cõi Ta Bà ư?
Vậy nay nói chỗ “không điên đảo” đó là toàn thân đã
ngồi liên đài nước Cực Lạc. Còn nếu một niệm điên
đảo vừa sanh tức thời đã ở ngay quốc độ Ta Bà! Rõ là
tâm tịnh độ tịnh; vì tức tâm tức độ, tức độ tức
tâm thì Tây phương cách đây chẳng xa.
KẾT KHUYÊN
Nầy Xá Lợi Phất! Ta thấy điều lợi ích ấy nên nói lời
khuyên bảo nấy. Nếu có chúng sanh nghe lời đây rồi
nên phải phát nguyện sanh về cõi nước kia.
Sớ: “Ích lợi ấy” là chỉ văn trước “thấy Phật đặng
vãng sanh”. “Lời đây” là: Thấy lợi lớn nầy nên nói
lời nhứt tâm trì danh đây vậy. Người không nguyện sanh
về thời riêng phụ lời Phật. Ðây là lớp khuyên thứ hai.
Sao: Lời mà không lợi ích, Phật Ngài không nói. Nay pháp trì
danh liền đặng vãng sanh đối với chúng sanh có lợi ích
lớn nên Phật ngài nói vậy. Bởi vì đã đặng vãng
sanh đó gọi là tự lợi. Sanh về nước kia rồi, nghe pháp
đắc đạo, trở lại cõi Ta Bà có thể rộng ra độ nhiều
chúng sanh; đó gọi là lợi tha.
Ðủ hai việc lợi trên, cho nên nói là “lợi lớn”. Lớp
khuyên thứ hai là: ban đầu nói chúng sanh nghe ấy chỉ
là đặng nghe nước kia trang nghiêm tốt đẹp nên khởi tâm
nguyện muốn, mà chưa biết làm như thế nào để đặng sanh
đó (là lớp khuyên thứ nhứt).
Nay Phật mới chỉ ra cái nguyên do rằng nhứt tâm trì danh
thời được Phật đến tiếp dẫn, liền đặng sanh nước
kia thời nguyện lại càng thâm, chí lại càng thiết; cho nên
nói lớp khuyên thứ hai.
Sớ: Lại nữa nói việc lợi là: rõ lại với việc hại bởi
không nguyện vãng sanh là chỉ chỗ để ưa và nhàm vậy.
Sao: Cõi nầy tu hành trải nhiều kiếp thăng trầm mà chưa
chắc đặng giải thoát, nay dùng pháp xưng danh niệm Phật
chắc được vãng sanh liền lên bực bất thối; so chỗ lợi
chỗ hại rõ như xem chỉ bàn tay. Lợi tức là các việc vui,
hại tức là các việc khổ, nên phải có ưa và nhàm.
Sớ: Lại chữ "ngã thuyết" (ta nói) chính là rõ về phần
giáo có nói rằng không ai hỏi Phật mà ngài tự nói vậy,
nên gọi bằng "vô vấn tự thuyết".
Sao: Phật thấy lợi ích lớn ấy kíp vì chỉ bày; thế mà
còn e các chúng sanh chậm chạp, mất nhờ chỗ lợi; cho nên
ngài không đợi ai thỉnh vấn vậy.
Sớ: Xứng lý thời tự tánh cụ túc là nghĩa “lợi
ích”.
Sao:
Thử xem tự tánh thiếu thốn sự gì? Trên thể Linh Tri (Phật
tánh) Phật Di Ðà cùng các thánh chúng cả ngày hiện trước;
trong cõi thường Tịch Quang (pháp giới tánh), nước Cực Lạc,
cõi Tịnh bang không giờ phút nào chẳng vãng sanh.
Ngặt vì Phật thấy lợi ấy, chúng sanh như đui. Phật nói
lợi ấy, chúng sanh như điếc. Tuy đã nhọc nNgài mỏi miệng
cạn lời, nhưng cần phải chính ta một phen tự thấy mới
được.