PHẬT
THÍCH CA NÓI KINH A DI ÐÀ
NGÀI
VÂN THÊ LÀM LỜI SỚ SAO
*******
QUYỂN
THỨ BA
(tiếp
theo)
CHÚ-THÍCH
KINH A DI
ÐÀ SỚ SAO
QUYỂN
THỨ BA
1.
"Vui mà không đắm": Sách Luận Ngữ, đức Phu Tử nói: "Thơ
Quan Thơ vui mà không đắm, thương mà chẳng hại". Lời chú:
Ðắm: vui quá độ mất điều chánh đáng. Hại: vì quá ưu
thương mà hại nơi hòa.
2.
"Thế giới mới bình": Ðương đời đức Phật Phổ-Quang,
ông Trì Ðịa Bồ Tát tu hành: bồi đắp che bằng mặt đất
trên đường lộ. Ðến thuở đức Tỳ Xá Như Lai, có nhà
vua trong nước rước Phật chứng tiệc chay. Bấy giờ Bồ
Tát vẫn đương bình trị địa giới để đợi Phật đi qua.
Như Lai đến rờ đầu Bồ Tát và dạy rằng: Phải lo bình
lấy tâm địa thì tất nhiên thế giới sẽ bình theo, vì cảnh
không ngoài tâm.
3.
"Tâm có cao thấp": Kinh Duy Ma chép: Xá lợi Phất nói: Tôi thấy
thế giới đây có gò nổng, hầm hố, gai góc, cát sạn, các
núi đất đá, nhơ nhớp đầy nhẫy”. Trời Phạm Vương phê
bình: “Ðó là tự Nhơn-giả tâm còn cao thấp, không nương
nơi Phật huệ; thành thử thấy thế giới nầy bất tịnh
thế thôi”. Nhơn đó, Phật dùng ngón chơn bấm xuống đất
tức thì đại thiên thế giới hiện thành cõi tịnh bửu nghiêm.
4.
"Ba thứ ý sanh thân": 1. Chánh thụ ý sanh thân: cái thân nầy
sống bằng cái vui pháp tam muội, thân này thuộc về các thánh
Thanh Văn. 2. Tánh ý sanh thân: sống bằng cách biết tự tánh
của các pháp, thân nầy thuộc về các thánh Bồ Tát. 3. Vô
hành tác ý sanh thân: sống bằng cách đều sống với các
chủng loại, thân nầy thuộc về của các đức Phật.
5.
"Bốn thứ tam muội": 1. Pháp tam muội thường đi: kinh Ban Châu
dạy lập một kỳ hạn 90 ngày, chuyên tâm niệm danh hiệu
của Phật A Di Ðà. Cũng gọi là Phật Lập tam muội,
nghĩa là trong 90 ngày đó không được ngồi nằm, chỉ đứng
niệm Phật. 2. Thường Tọa tam muội: kinh Văn Thù Vấn Bát
Nhã dạy rằng: chín mươi ngày làm kỳ hạn, chuyên tâm buộc
về lý pháp giới, chớ không kiêm đến sự tướng, cũng gọi
là Nhứt Hạnh tam muội, nghĩa là chuyên một hạnh niệm Phật
bằng cách quán xét lý pháp giới. 3. Bán hành bán tọa tam
muội: tu pháp này không nhứt định kỳ hạn, hoặc 21 ngày,
hoặc bảy ngày, hoặc 10 ngày để niệm Phật bằng cách lạy
các pháp sám Phương Ðẳng, Pháp Hoa... Ba pháp trên đồng là
quán xét lý thật tướng. 4. Phi hành phi tọa tam muội:
trong các kinh về phép tu này chẳng chuyên đi và ngồi, đều
thân thuộc về pháp đây, tức là tùy theo tự ý tam muội.
Một pháp nầy chỉ thuộc sự quán.
6.
"Ðọa loài chim này": Nguyên trước thì đức Thích Ca và ông
Ðiều Ðạt cả hai cùng đọa làm con chim Cộng Mạng, gọi
là "báo đồng thức dị", nghĩa là vẫn đồng một cái báo
thân mà thức tánh lại khác nhau. Thành thử một đàng làm
Ðiều Ðạt thì ưa ngủ mãi, một đàng làm Thích Ca thì ưa
thức. Bên thức nhơn kiếm được quả thơm ngon để ăn; bên
ngủ thức dậy ganh ghét chỉ trích rằng: Sao lại dối ta kiếm
ăn một mình và nghĩ bụng để kiếm trái độc hại đi cho
rồi. Nên sau khi ăn độc quả, hai mạng đều chết luôn!
7.
"Tiếng đờn người Do": Người Do tức là Tử Lộ. Ðức Phu
Tử nói: “Người Do khảy đờn sắt có ích gì với
nhà cửa ta?” Lời chú rằng: Tiếng đờn của Do nó bất
hòa, vì nghe ra nó xẵng quá, không có hòa rập với tiếng
đờn của ai cả! "Tiếng nói nước Trịnh": Ðức Khổng Tử
nói: “Buông bỏ tiếng nói của nước Trịnh, xa lìa lời
của người nịnh”. Vì tiếng ấy lừa dối và tà; người
ấy là miệng lời lanh lợi và hại.
8.
"Huỳnh Chung, Ðại Lữ": Âm nhạc có 12 tiếng luật: 6 tiếng
thuộc Dương là: 1. Huỳnh Chung; 2. Thái Thốc; 3. Cô Tẩy; 4.
Nhuy Tân; 5. Di Tắc; 6. Vô Dịch; 6 tiếng thuộc Âm là:
1. Ðại Lữ; 2. Giáp Chung; 3. Trọng Lữ; 4. Lâm Chung; 5. Nam
Lữ; 6. Ứng Chung.
9.
"37 đạo phẩm": xin xem cái biểu đồ ở phần kỷ niệm sách
Khánh Anh Văn Sao sẽ dễ hiểu hơn.
10.
"22 căn": 1. Ðức tin; 2. Tấn tới; 3. Nghĩ nhớ; 4. Lòng
định; 5. Huệ sáng; 6. Lòng lo; 7. Lòng mừng; 8. Cực khổ;
9. Vui sướng; 10. Xả bỏ; 11. Nhãn: mắt; 12. Nhĩ: tai;
13. Tỷ: mũi; 14. Thiệt: lưỡi; 15. Thân: mình; 16. Ý: nghĩ;
17. Nam căn: ngọc hành; 18. Nữ căn: âm hộ; 19. Căn chưa biết
muốn biết; 20. Căn đã biết 21. Mạng căn và 22.
Căn đủ biết.
11.
"Năm món tà mạng": 1. Mong vì lợi dưỡng mà giả dối hiện
ra các tướng lạ lùng như là: ngủ ngồi, ăn ớt, tịch cốc,
đi đầu trần, cữ cơm ăn mì, ăn bông chuối, dị đoan, mê
tín, dối gạt kẻ tín tâm, tham cầu lợi dưỡng không nghe
lời cha mẹ, phản nghịch với thầy tổ bổn tông v.v... 2.
Cốt vì lợi dưỡng mà tự khoe công phu đức hạnh của mình
ra để người kính trọng, như là: Thánh thần mách bảo
như thế nọ, Diêm chúa mời hỏi như thế kia v.v... 3.
Chuyên nghề bói quẻ, coi tướng, coi số, dùng làm cơ quan
thuyết pháp bằng cách cát hung, họa phước xui hên để thủ
lợi. 4. Lợi dụng mưu thần chước quỉ, bùa ngải thư ếm,
dọa nạt hăm he, cho người khiếp sợ lo lót. 5. Khoe nói kẻ
kia dâng hộ vật kia, người nọ cúng dường món nọ, ông
A có đạo tâm lắm vì đã cúng tiền mặc áo Phật, bà B có
lòng thành lắm vì hằng bữa hộ đồ ăn cho chúng tăng. Quan
lớn kia cả nhà được phước đức nhiều lắm vì thường
ngày về chùa lạy xá lợi của Phật luôn v.v... Nói những
lời ấy để cảm động lòng người, để đặng lợi dưỡng.
Bởi sanh nhai bằng cách không chánh đáng, nên bảo là tà mạng,
trái lại là chánh mạng.
12.
"Năm ngôi": 1. Ngôi tư lương: 10 tín, 10 trụ, 10 hạnh, 10 hồi
hướng. 2. Ngôi gia hành: 4 căn hành. 3. Ngôi thông đạt:
sơ địa nhập tâm. 4. Tu tập vị: sơ địa trụ tâm đến
thập địa xuất tâm. 5. Ngôi cứu cánh: Phật vị.
Với
5 ngôi trên, có chia làm ba a tăng kỳ để chỉ rõ lối tu nhơn
chứng quả của 41 vị tu Phật. Xin xem cái biểu đồ ở Nguyên
Nhơn Luận.
13.
"Nhứt bộc thập hàn": Một ngày dang nắng, 10 ngày dang lạnh,
là ví dụ sự học hỏi, tu dưỡng của người, làm và nghỉ
không thường. Thầy Mạnh nói: “Mặc dầu có vật dễ sống
nhứt trong thiên hạ mà một ngày đem phơi nắng, mười ngày
để dang lạnh cũng chưa có thể sống nổi. Việc tu học cũng
thế! Nếu một bữa học, 5, 10 bữa không thì sự kết quả
thành công cũng khó mà thành được”.
14.
"Ngũ dục", cũng kêu là ngũ trần: 1. Sắc; 2. Thinh; 3. Hương;
4. Vị; 5. Xúc. Người đời vì 5 thứ ấy mà làm cho chơn lý
bị vùi lấp đi nên gọi là trần. Lại ngũ dục là: 1. Tài.
2. Sắc. 3. Danh. 4. Thực. 5. Thụy miên. Người đời bị 5 món
ấy nó khêu gợi lòng tham muốn nên gọi là dục. Luận Trí
Ðộ nói: “Thương cho chúng sanh thường bị năm dục làm
hại vì tham cầu không thôi. Bởi 5 dục hễ đặng thì càng
khốn như lửa hơ ghẻ ngứa, 5 dục vô ích như chó nhăn
đuốc lửa; 5 dục thêm giành như chim giành mồi, 5 dục đốt
người như cầm đuốc nghịch gió; 5 dục hại người như
đạp rắn độc, 5 dục không thật như mơ được vàng, 5 dục
chẳng lâu như mượn phải trả. Người đời ngu si, quá tham
5 dục đến chết không buông nên mãi luân hồi, chịu vô lượng
khổ”.
15.
"Tám gió": Sách Thuyết Văn chép: “Gió đông là gió minh thứ,
gió đông nam là gió thanh minh; gió nam là gió cảnh; gió tây
nam là gió lương; gió tây là gió xương hợp; gió tây bắc
là gió bất châu; gió bắc là gió quảng mịch; gió đông bắc
là gió dung điều”.
16.
"Tám thứ gió thanh": Là gió trong của tám phương: 4 phương
4 góc. Kinh Quán vô Lượng Thọ nói: “Tám thứ gió trong từ
ánh sáng ra”. Tổ Thiên Thai nói: “8 thứ gió ấy, bên Tịnh
Ðộ hẳn không thời tiết” v.v...
17.
"Diệt Tận Ðịnh": Tiếng Phạm Nirodhasamàpatti. Lại tên là
diệt Thụ Tưởng Ðịnh, là pháp thiền định diệt hết tâm
sở, tâm vương của thức thứ 6, không cho nó phát khởi hiện
hành. Các Thánh đã chứng quả Bất Huờn nhẫn lên, vì mượn
cái tưởng vào Niết Bàn nên vào tu cái định nầy, rất lâu
là ngồi định luôn 7 ngày, thuộc về cảnh giới trời Phi
Tưởng. Còn chúng ngoại đạo tu vào cái định vô tâm, gọi
là vô tưởng, thuộc về trời Tứ Thiền. Sách Ðại Thừa
Nghĩa Chương, cuốn 2 nói: “Diệt tận định ấy là các thánh
nhơn lo vì cái tâm nó lao lự lắm nên tạm dứt cái tâm thức
đi, để đặng cái pháp hữu vi phi sắc tâm bổ vào chỗ tâm,
nghĩa là diệt hết cái thụ tâm sở, cái tưởng tâm sở nên
gọi là Diệt Thụ Tưởng Ðịnh".
18.
"Trống trời": Kinh Hoa Nghiêm nói: “Các đức Chúa Trời ở
cõi Tam Thập Tam thiên, lúc nào đắm say 5 thứ dục lạc, phóng
túng tánh tình thì cái trống trời nó thốt tiếng ra, để
rao bảo các Chúa Trời rằng: Cái vui ấy là vô thường, vì
vui là cái nhơn sẽ đưa đến cái khổ; vậy chớ nên buông
lung”.
19.
"Tiếng sấm rừng báu": Lôi âm tỷ như cung trời Ðao Lợi;
bảo lâm so như trống trời cũng là cảnh vật nói pháp để
cảnh tỉnh trời người.
20.
"Công đức và tánh công đức": Hư không công đức ấy. Luận
Vãng Sanh lời tụng rằng: “Vô lượng báu lẫn xâu, lưới
giăng giữa hư không, mỗi thứ linh reo lên tiếng, kêu ra tiếng
pháp rất hay”. Tánh công đức ấy, lời tụng rằng: “Ðạo
chánh, từ bi lớn, vì sản xuất các căn lành”.
21.
"...vô biên quang": Kinh Vô Lượng Thọ nói: Ðức Vô Lượng
Thọ Phật có uy thần quang minh là bực nhứt... thế nên đức
Vô Lượng Thọ Phật hiệu là: Vô Lượng Quang Phật, Vô Biên
Quang Phật, Vô Ngại Quang Phật, Vô Ðối Quang Phật, Diệm
Vương Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật, Hoan Hỷ Quang Phật,
Trí Huệ Quang Phật, Bất Ðoạn Quang Phật, Nan Tư Quang Phật,
Trí Huệ Quang Phật và Siêu Nhựt Nguyệt Quang Phật. Cả 12
Phật trên đều là mỗi tên hiệu riêng của đức Phật A
Di Ðà.
22.
"Số thọ trăm năm": Cái thời kỳ Phật Thích Ca ra đời nhằm
kiếp giảm của tiểu kiếp thứ 9. Bấy giờ số trung bình
tuổi sống mỗi người là một trăm tuổi; từ đó về sau:
Cứ một trăm năm là giảm 1 tuổi... đến nay đã giảm mất
25 năm rồi vì từ Phật ra đời đến nay đã trải qua là
2516 năm, thế thì hiện nay (năm Quí Tỵ 1953) số trung bình
mỗi người còn được 75 tuổi.
23.
"8 vạn tuổi": Là số thiếu của "8 vạn 4 nghìn". Với giữa
thời kỳ tăng lấy tuổi sống của mỗi người đủ 8 vạn
4 nghìn tuổi là rất dài; lấy tuổi sống của mỗi người
còn 10 tuổi là rất ngắn.
Luận
Cu Xá nói: “Từ 10 tuổi đến 8 vạn, lại từ 8 vạn đến
10 tuổi. Như tiểu kiếp thứ chín nầy, về thời kỳ giảm,
thuở con người sống còn 60.000 tuổi là cái thời Phật Câu
Lưu Tôn ra đời.... Cứ giảm xuống 100 năm là giảm 1 tuổi...
mãi xuống thuở mà con người sống còn 100 tuổi là cái thời
Phật Thích Ca ra đời. Luân Vương ra đời nhằm thuở người
sống đủ 8 vạn 4 nghìn tuổi, vì là thời tăng, đọc theo
tiếng Phạm Cakravartiraja, dịch: Chuyển Luân Thánh Vương. Luận
Cu Xá cuốn 12 nói: “Châu Nam Diêm Phù Ðề nầy về thời
tăng, con người sống đủ 8 vạn tuổi. Bấy giờ có vị Chuyển
Luân Thánh Vương ra đời, thân có 32 tướng tốt. Từ 8 vạn
4 ngàn tuổi của mỗi người sống là cái thời của Luân
Vương ra đời; đến thời giảm: từ mỗi người sống còn
chỉ tám vạn tuổi sắp xuống đến chỉ còn 10 tuổi. Trong
thời gian đó chẳng có Luân Vương vì những hạnh phúc giàu,
vui, sống lâu của chúng sanh ở thế giới nầy đều bị tổn
giảm mà độc ác phiền não càng tăng thạnh, phi căn khí của
đại nhơn, nên không có Luân Vương ra đời.
Thiên
Ðế Thích: Trời nầy ở trên đảnh núi Tu Di, thân tướng
dài một do tuần, sống lâu một ngàn tuổi, một ngày ở đấy
bằng một trăm năm ở dưới nhân gian.
24.
"Pháp vương": Pháp là vạn pháp, Vương là tự tại. Ðối
với vạn pháp, Phật đều sáng suốt, tự tại vì không còn
một pháp nào làm chướng ngại nên gọi Pháp Vương. Kinh Duy
Ma phẩm Phật Quốc nói: “Ðối với các pháp được tự
tại, thế nên cúi đầu lạy thánh nhơn ngôi tột gọi là
Pháp Vương”. Phàm nhơn ngôi tột gọi là Luân vương.
25.
"Số tăng kỳ": Ðọc đủ là A Tăng Kỳ, dịch: vô số, tiếng
Phạm. Asanikhya. Cách đếm: muôn muôn là một vẹo (ức), muôn
vẹo là triệu. Một A Tăng Kỳ là: một ngàn muôn muôn muôn
muôn muôn muôn muôn muôn triệu. Tiếng Phạn lại là: Asamikhyya
tức là 100.000.000.000. 000.000.000.000.000.
26.
"10 con số lớn": Chưa kịp thấy, xin nhờ vị nào rộng thấy
bổ cho.
27.
"Số lạc xoa", tiếng Phạn: Laksa. Một lạc xoa là 10 vạn.
Một trăm lạc xoa là một cu chi, cu chi có 3 hạng: một là
mười vạn; hai là trăm vạn; 3 là nghìn vạn.
28.
"Số vô lượng": Sách Nhiếp Ðại Thừa Luận Thích cuốn 8
nói: Không thể sánh vì để biết đặng là vô lượng,
vì quá nhiều quá lớn, chẳng kể lường. Một vô lượng
là 100.000.000.000.000. 000.000.000.000.000.
29.
"Ta Bà 1 kiếp, Cực Lạc 1 ngày đêm": Kiếp có 3 hạng: 1. Tiểu
kiếp kể có 16 triệu năm (16.000.000 năm). 2. Trung kiếp kể
có 3 trăm hai chục triệu năm (320.000.000 năm). 3. Ðại kiếp:
kể có một nghìn 2 trăm 80 triệu năm.
30.
"Một Ðại kiếp": Kể có 1.280.000.000 năm.
31.
"Con cháu Vương lão sư": Uy Âm Vương Phật là đức Phật trước
nhứt ra đời thuở không kiếp mới thành; còn về trước
thì chưa có Phật xuất thế, nên chỉ trong Tông môn chỉ về
chỗ trước nhứt là nói rằng Uy Âm Na Bạn nghĩa là trước
Phật Uy Âm, đó là chỉ chỗ thật lý. Về sau Phật Uy Âm,
đó là chỉ môn Phật sự. Ðấy là mượn để tỷ dụ về
chỗ rõ đạo, ngõ biết rằng chỗ sở đắc chẳng từ nơi
ai. Nghĩa là sở đắc ấy cực kỳ lâu xa trước hơn hết.
Vì cho Phật tánh là cái có từ trước, còn Phật sự là việc
ở sau.
Vương
Lão Sư: Ðất Trì Châu Nam Tuyền, ngài Phổ Nguyện Thiền Sư
họ Vương, thường tự xưng là Vương Lão Sư. Ngài Hoàng Bá
đến tham học nơi Nam Tuyền, bữa nọ đến thời cơm trưa,
bưng bình bát tới trước ngồi lên chỗ ngồi của Nam Tuyền.
Nam Tuyền tới sau, thấy thế hỏi: ‘Trưởng lão này hành
đạo tu trong khoảng năm nào?’ Sư Hoàng Bá đáp: ‘Trước
Phật Uy Âm’. Nam Tuyền bình rằng: ‘Cũng còn là con cháu
của Vương Lão Sư nầy! Vì là cái chỗ ta đã ngồi từ trước
rồi’ (Nếu hiệp về lý tánh thì Phật tánh sẵn có từ
vô thỉ, không những từ Uy Âm ra đời).
32.
"Ô Ba Ni Sát Ðàm": Tiếng Phạn Upanisad, dịch: Gần ít, rất
nhỏ, là một con số đã cùng cực; Ðại Luận dịch là “vi
tế phần”, là phân tích đã đến chỗ tột, còn số Lân
Hư nữa là hết.
33.
"Xóm Trang Nhạc": Ðối với Ðới Bất Thắng, thầy Mạnh
bảo rằng:
“Ở
tại nước Sở, quan đại phu muốn cho con mình nói tiếng nước
Tề, vậy khiến người nước Tề dạy nó nói, hay là sai người
nước Sở dạy nó nói ư?”
“Sai
người nước Tề dạy nó nói”.
“Chỉ
có một người nước Tề dạy nó học nói tiếng nước Tề,
mà chung quanh nó phần nhiều là người nước Sở, hằng giờ
toàn nói tiếng nước Sở thì dù cho hằng ngày đánh để
buộc nó nói tiếng nước Tề cũng chẳng thể được.
Còn như đem nó để ở giữa xóm Trang Nhạc bên nước Tề
chừng vài năm, dù mỗi ngày đánh buộc nó không nói cũng
không thể đặng”. Tỷ rằng chúng sanh vãng ở giữa nhóm
chư thượng thiện nhơn thì đã dễ lại mau thành bực người
bên nước Cực Lạc.
34.
"Vô ương số": do tiếng "A Tăng Kỳ" mà dịch là Vô hoặc
dịch là Vô Ương. Vô ương cũng như vô tận tức là vô cùng
tận.
35.
"Bần mẫu sanh lên": Thuở xưa có một cụ già, hết sức nghèo
khổ, đến đỗi không có cái chòi để che thân nên thường
vùi núp nơi đống cỏ rác của chúng nhơn ở chợ đem đổ
bỏ. Hằng ngày đi kiếm đồ dư thừa cặn cáu của nhơn dân
vứt bỏ đem về ăn!
Tổ
Ca Diếp thấy thương muốn tạo phước cho nên đến xin vật
ăn. Bần mẫu đem đồ cặn bã mới lượm về dâng cho Tổ.
Tôn giả hỏi: ‘Bà nguyện được chi?’ Bà lão thưa rằng:
‘Già này chỉ muốn trả rồi kiếp nghèo khổ là được
siêu sanh lên cõi trời, là chí nguyện thế thôi’.Vài ngày
sau bà mãn phần, thần thức được sanh lên cõi trời Ðao
Lợi, hưởng phúc hơn các trời trong cõi đó.
36.
"Nhạc thần trị ngục": Vua nước Tỳ Sa đánh với vua nước
Duy Ðà Thỉ, nhưng vũ lực chẳng bằng, phải bại trận. Nghĩ
giận mà thề rằng: Qua đời sau ta làm Diêm chúa nơi địa
ngục để trị bọn quân thù đó. Còn 18 vị đại thần kia
cũng đồng nguyện như thế để theo giúp việc. Hiện nay Diêm
chúa ở địa ngục đó tức là vua nước Tỳ Sa trước kia;
còn 18 vị chủ ngục hiện nay cũng nguyên là 18 quan đại tướng
quân trước đó. Ðó là tùy nguyện v.v...
37.
"Hiệp như phù tiết": Thầy Mạnh bàn rằng: “Chỗ đắc chí
của vua Thuấn, vua Văn Vương được thi hành nơi Trung Quốc.
Nó phù hợp nhau như cái ấn tiết”. Phù tiết làm bằng ngọc,
hoặc tròn hay vuông theo ý định của đôi bên, giữa thì khắc
chữ bằng thứ chữ triện xưa, rồi phân ra làm hai, mỗi bên
cầm giữ một nửa. Sau mỗi khi có tờ giấy gởi qua lại,
đóng con dấu ấy, đem so mà đôi bên nó đều vừa vẹn in
hịch với nhau, thế là tin rằng thật sự của đôi bên, khỏi
bị giả mạo, nên nói “hiệp như phù tiết”, nghĩa là hợp
đồng với nhau.
38.
"Cùng tử": Một dụ trong 7 dụ của kinh Pháp Hoa. Cả chúng
sanh 3 giới tỷ như kẻ cùng tử vì chẳng có của cải bằng
pháp tài công đức. Kinh Pháp Hoa phẩm Tín Giải nói: Thí như
người lúc tuổi còn nhỏ bỏ cha trốn đi, ở lâu nước khác.
Bốn năm chục năm, đến lúc đã lớn, càng thêm cùng khổ,
rong ruổi 4 phương để van xin ăn mặc... Bài thí dụ ấy,
bọn 4 người giữa ông Tu Bồ Ðề... là 4 thánh Thinh Văn sau
khi lãnh được công đức Ðại thừa, mới tự nói tỷ mình
như cùng tử... Kinh Lăng Nghiêm cuốn nhứt nói tỷ như cùng
tử bỏ cha trốn đi. Ông Lưu Thủy giải lời sớ rằng: “Hẳn
không công đức pháp tài để nuôi pháp thân huệ mạng nên
gọi cùng tử!”
39-40.
"Long môn, Dinh Châu": Bên nước Tàu, đời Ðông Hán có ông
Lý Ưng là người chuộng cái khí tiết thanh bạch cao thượng,
ít giao thiệp với ai. Người nào mà được ông thâu nạp,
họ lấy làm vinh diệu như được lên chốn Long Môn; tỷ dụ
người có danh vọng rất cao cả là Long Môn. Thư của Lý Thái
Bạch dâng cho Hàn Kinh Châu có 2 câu: “Nhứt đăng Long Môn
giá trọng bách bội!” Ðời Ðường vua Thái Tông mở cái
quán Hằng Văn, dùng các ông Ðỗ như Hối, Ngô thế Nam,
Chữ toại Lương... cả 18 người làm chức học sĩ. Người
ta khen tặng là rất vinh hạnh, vì được tuyển vào. Dinh Châu
là hòn núi giữa biển Ðông. Sử Ký nói: “Giữa biển có
3 núi thần tiên là Bồng Lai, Phương Trượng và Dinh Châu”
(các hòn đảo nước Nhựt Bổn ngày nay) mà người Tàu xưa
cho là chỗ ở của các ông tiên biết bay!
41.
"Cầu vào hội Liên Lục": Ngài Trường Lô Trách thiền sư
hiệu triệu tổ chức thành lập lên hội Liên Hoa Thắng để
phổ khuyến niệm Phật. Ban đêm ông nằm mộng: có người
khăn đen áo trắng, vóc dạng thanh tốt, chắp tay thưa rằng:
“Xin cho tôi vào Liên Hoa Thắng hội của ngài”. Thiền sư
hỏi: “Tên chi?” “Phổ Huệ”. Biên rồi. “Gia huynh tôi
là Phổ Hiền cũng nhờ ngài biên vào”. Ðến chừng thức
giấc dậy, thiền sư nhớ lại trong phẩm Ly Thế Gian của
kinh Hoa Nghiêm có danh đức của hai vị Bồ Tát ấy, thành
thử đem hai đức Bồ Tát đứng đầu hội.
"Chọn
xóm có nhơn": Sách Luận Ngữ, đức Phu Tử nói: “Xóm nào
mà nhân dân lòng đều có nhơn mới là thuần phong mỹ tục;
người mà chẳng chọn chỗ ở có điều nhơn thì đâu phải
là có trí!”
42.
"Ðạo nhơn khó thục, đạo khác khó thành": Với ngũ cốc
là thứ giống rất tốt vì loài người sống nhờ nó, nên
đã tặng cho nó một danh rất quí báu là "hột ngọc"! Thế
mà, nếu với việc làm mùa không chuyên thục, thì trái lại,
nó chẳng bằng giống Ðề Bái là thứ lúa lép, lúa ma! Ôi!
Với việc tu nhơn cũng thế: Cốt tu làm sao cho được chuyên
thục đó mà thôi!? Chớ đừng tưởng rằng: Với cái đạo
tu nhơn cho là khó chuyên thục rồi bỏ đi, lại tính tu qua
cái đạo gì khác cho có thành. Ý là: Tu trì danh niệm Phật
khó chuyên thục rồi thôi đi, để tu pháp gì khác cho mau thành!
Thì ra người như thế đó, dù tu học cái gì cũng bất thành!
Vì với cái nọ đã lam nham thì dầu cái kia cũng trật vuột
như nhau!