PHẬT
THÍCH CA NÓI KINH A DI ÐÀ
NGÀI
VÂN THÊ LÀM LỜI SỚ SAO
*******
QUYỂN
THỨ BA
(tiếp
theo)
Hóa Cầm,
Phong Thọ (phân ra làm ba phần)
1.- Hóa cầm diễn pháp (hóa chim nói pháp)
2.- Phong thọ diễn pháp (gió cây nói kinh)
3.- Tổng kết nhị nghiêm (tóm kết hai món đẹp)
Hóa Cầm
Diễn Pháp (phân ra làm hai phần)
1.- Chánh thị pháp âm (chỉ ngay tiếng pháp)
2.- Thích vô ác đạo (rõ không đường dữ)
Chánh Thị
Pháp Âm (phân ra làm hai phần)
1.- Tuyên âm (rao tiếng pháp)
2.- Hoạch ích (nghe đặng lợi ích)
Tuyên Âm
Lại
nữa, này Xá Lợi Phất! Nước kia thường có các thứ chim
kỳ diệu, tạp sắc như: chim Bạch Hạc, chim Khổng Tước,
chim Anh Võ, chim Xá Lợi, chim Ca Lăng Tần Già và chim Cộng
Mạng. Các loài chim ấy ngày đêm sáu thời, kêu ra những tiếng
hòa nhã. Tiếng kia nói rõ các pháp: Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất
Bồ Ðề Phần, Bát Thánh Ðạo Phần, như vậy.
Sớ:
Văn trước nói các trời dâng cúng hoa màu, văn đây nói: Các
thứ chim, cây báu diễn nói thành tiếng các pháp của Phật.
Lại văn trước nói: Sự cúng dường rất thù thắng, văn
đây nói: Sự nghe pháp rất thù thắng. Mỗi mỗi các món là
nói không phải chỉ một món.
“Kỳ diệu” là cái tốt đẹp lạ thường.
“Tạp sắc” là nhiều màu sắc, xen lộn rất khéo. Chim Bạch
Hạc v.v... là trong nhiều thứ mà chỉ nói một, hai thứ thôi.
Bạch Hạc, Khổng Tước và Anh Võ là thứ chim ta thường thấy
được biết. Chim Xá Lợi xem giải văn trước. Chim Ca Lăng
Tần Già đây dịch là Diệu Âm. Cộng Mạng có chỗ nói “mạng
mạng”. Như vậy là các thứ thảy đều kỳ diệu, chẳng
phải chim ở cõi phàm sánh kịp.
Sao:
“Kỳ diệu” là hình nó khác với loài chim kia, gọi là Kỳ.
Tiếng hay gọi là Diệu. Chim Bạch Hạc ấy: Cõi này cũng bốn
thứ hạc đen, vàng, xanh, trắng, mà hạc trắng thì tốt hơn.
Song hạc tuy trắng, nhưng chưa toàn trắng, chẳng phải là
chơn Bạch Hạc vậy. Khổng tước, anh võ đều là thứ chim
được người ở cõi này cho là quí nên đây riêng nói. Tần
Già: đây dịch là Diệu Âm, vì khi nó còn ở trong trứng đã
có tiếng kêu tốt hơn các chim khác!
Kinh Chánh Pháp Niệm xứ nói: “Tiếng tốt của chim này, dù
tiếng của người, của trời, của thần Khẩn Na La v.v...
cũng đều không thể bì kịp, chỉ trừ tiếng của Ðức Như
Lai”, cho nên nói: Diệu Âm.
Chim Cộng Mạng, cũng nói Mạng Mạng, cũng nói Sanh Sanh; nguyên
tên là Kỳ Bà Kỳ Bà Ca, một mình hai đầu, thân quả báo
đồng nhưng thần thức khác. Như về đời quá khứ, đức
Thích Ca và ông Ðiều Ðạt từng đọa trong loài chim này (6).
Lại ở non Tuyết sơn có con chim hai đầu. Một thuyết nói:
Chim Ca Lầu Trà. Một thuyết nữa nói: Chim Ưu Ba Ca Lầu Trà,
thật vậy. Hình nó cũng mường tượng như nghĩa con rắn hai
đầu, con chim chín đầu, con cá nghìn đầu. Nay thợ chạm
hoặc vẽ làm thân người có hai đầu, e sai đó vậy.
Mấy loài chim nói trên, bốn loại chung có ở nước Chấn
Ðán (Tàu), hai loại riêng có cõi Tây Càn (Ấn Ðộ). Ở cõi
đây (Ta Bà) đã khen quý lạ nên ở nước (Cực Lạc) hình
thể, màu, tiếng càng thêm kỳ diệu. Nay chỉ lấy tên đồng
mà thật thời khác, lệ như lan can, lưới giăng, hàng cây
v.v... đều dùng các ngọc báu làm thành, chẳng phải người
đời ở đây có được!
“Nói một hai loài” là vì nhiều không thể nói hết, như
trong Quán Kinh nói chim Phù, chim Nhạn và chim Oan Ương v.v...
Nay dùng ít loại để gồm số nhiều, cũng là bớt văn vậy.
Sớ:
Song các loài chim cõi này, chỉ có một vài thứ như chim Anh
Võ biết nói tiếng người, nhưng cũng chỉ gọi là học nói
mà thôi! Nước kia thời ngày đêm kêu ra tiếng đã hòa lại
nhã vì hay diễn nói các pháp: Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác
Chi, Bát Chánh Ðạo, tất cả đạo phẩm; chẳng phải lãng
mạn, vô ý nghĩa!
Sao:
“Chỉ khen học nói”: Nói, chỉ biết nói theo người mà
không thể hiểu nghĩa.
Sách Lễ Ký nói chim Anh Võ hay nói, nhưng không ngoài loài chim
bay; con Tinh Tinh hay nói cũng chưa lìa loài cầm thú. Thế thời
việc nhơn đạo chúng nó nói còn chưa thông, huống chi luận
đến việc Phật pháp. Chim Anh Võ còn như thế, chim khác thì
khá biết vậy.
“Hòa Nhã” là: Hòa đối với xẵng như chim Oanh, chim Ly v.v...
là loài chim kêu tiếng tục (quê kệch).
Dịu dàng êm ái, không có thô xẵng, hay khiến người nghe,
tâm nóng nảy cũng tự hết; thế gọi là “tiếng hòa”.
Chánh đại cẩn nghiêm, không có tà mị, hay khiến người
nghe, tâm ham muốn tự bình; thế gọi là “tiếng nhã”.
Tiếng đờn Sắt của ông Tử Do còn thiếu nơi đạo hòa;
tiếng nói của người nước Trịnh rất trái với thói nhã
(7). Chim kia gồm hai tiếng đều tốt (hòa nhã); thế là tiếng
huỳnh chung, tiếng đại lữ (8) đều chẳng bì kịp tiếng
chim!
Chữ Diễn là mở cho rộng ra, vì nghĩa vô tận. Chữ Sướng
là giải cho thông vì ý không ngăn trệ. Như thế, diễn giải
các pháp: Căn, Lực, Giác, Ðạo, cả 37 đạo phẩm vậy (9).
Ðạo phẩm là: Do phẩm loại đây để vào đạo cớ vậy.
Sớ:
Song 37 phẩm đây thuộc về pháp Tiểu thừa, nhưng thật ra
cũng chung cả Ðại thừa nữa vì tùy theo tâm hạnh của người
Ðại như trong các kinh, luận nói.
Sao:
“Chung cả Ðại thừa” là: Luận Du Già quyển 44 nói: “Pháp
Ðại thừa Bồ Ðề phần có nhiều món như 37 phẩm đây,
nhưng trong đó có nghĩa riêng biệt và thông đồng đối với
bực Ðại và Tiểu” (Ðại thừa thì thấy đại thừa...).
Luận Trí Ðộ nói: “37 phẩm không thừa nào mà nó chẳng
nhiếp gồm cả”, tức nhiên vô lượng đạo phẩm cũng ở
trong đó. Kinh Tịnh Danh nói: “Các đạo phẩm là đạo tràng”.
Lại nói: “Ðạo phẩm thâu nhiếp trong cái nhơn của pháp
thân”. Luận Ðại Thừa nói: “Ðạo phẩm là cây đuốc
báu Ðà La Ni của ông Bồ Tát”.
Kinh Niết Bàn nói: “Nếu người hay nghiên cứu pháp Bát Chánh
Ðạo tức thấy được Phật tánh, gọi là đã được vị
đề hồ”. Ðây đều là ước theo pháp Ðại thừa để nói.
“Tùy theo tâm hạnh kia” là như kinh Niết Bàn nói: “Trí
có hai món: 1)Trung trí; 2) Thượng trí”.
Như quán các Ấm (thân ngũ ấm) là khổ; thế gọi là bực
trung trí. Phân biệt các ấm có vô lượng tướng, chẳng phải
hàng Thinh Văn, bực Duyên Giác biết được; thế gọi là bực
thượng trí. Thời biết đạo phẩm là một, nhưng cái trí
nghiên cứu của mỗi người Ðại, Tiểu vốn không nhứt định.
Sớ:
Pháp ngũ căn là: 1) Tín; 2) Tấn; 3) Niệm; 4) Ðịnh; 5) Huệ.
Hay sanh thánh đạo nên gọi là căn (gốc). Lại như Luận Cu
Xá có đủ ba nghĩa.
Sao:
Chữ “căn” có hai nghĩa: 1) Nghĩa năng trì: Giữ cái chỗ
đã đặng mà phần mình không cho mất vậy. 2) Nghĩa sanh hậu:
Sanh những cái chưa đặng mà mình gắng tấn cầu lên vậy.
Nói chữ “tín căn” là: Ðối trong đế lý, cương quyết
bỏ hẳn việc ngũ dục lạc; ấy gọi là tín căn. Một căn
đây là tổng (gốc) còn 4 cái kia nương theo trên (tín căn).
Tấn căn là đã tin lý đây, cần cầu không thôi; ấy gọi
là Tấn. Niệm căn là đã cầu lý đây, tưởng đây ở đây,
nhớ rõ không quên, ấy gọi là Niệm.
Ðịnh căn là đã tưởng lý đây, buộc duyên một cảnh, tương
ưng không tán loại, ấy gọi là Ðịnh.
Huệ căn là đã định tâm nơi đạo, lại pháp chánh quán
rõ ràng, quyết chọn phải quấy; ấy gọi là Huệ.
“Hay sanh thánh đạo” là do năm pháp đây điều trị tâm
kia, ví như không khí âm dương hòa hợp, tất cả hột giống,
đều đặng nở mọc, cớ vậy.
“Cu Xá ba nghĩa” là trong Luận Cu Xá nói: 1) Tối thắng;
2) Tự Tại và 3) Quang hiển là căn.
Tối thắng là vì căn thể thù thắng. Tự tại là vì căn
dụng thù thắng. Quang hiển là vì thể và dụng đều bày.
Ðây chia ra 22 căn (10) vì có tín v.v... cả năm căn.
Sớ:
Pháp ngũ lực tức ngũ căn trước tăng trưởng thêm lên, đủ
có sức mạnh nên gọi là lực.
Sao:
Chữ Lực có hai nghĩa: 1) Không bị cái khác đè ép và 2) Có
thể đè ép được cái khác. Như Luận Du Già nói: “Vì pháp
ngũ lực (năm sức mạnh) đây hay đến đời sau và đời sau
đối với chỗ chứng pháp xuất thế gian, sanh tâm rõ biết
thâm ý một cách thù thắng. Với tất cả những cái khác
dù khó mà có thể đè ép nó được và lại có oai thế rất
lớn và mạnh, có thể xô dẹp được tất cả bọn ma quân
(phiền não), cớ vậy”.
Tín Lực là: Tin sâu Ðế Lý (lý chắc thật) càng thêm tăng
trưởng, hay ngăn những việc nghi hoặc, không cho lay động;
hay chống lũ tà ngoại, không cho mê loạn và hay phá tâm phiền
não không cho nó xâm hại, cớ vậy. Một tín lực là tổng,
các cái sau nương theo, lệ như Tín căn nói trên.
Tấn lực là: Vì tấn căn tăng trưởng hay phá được các
món giải đãi thân tâm, thành xong các món sự nghiệp ra khỏi
đời.
Niệm lực là: Vì niệm căn tăng trưởng, hay phá được tâm
tà niệm, thành tựu được tất cả tâm chánh niệm ra khỏi
đời.
Ðịnh lực là: Vì định căn tăng trưởng, hay phá được
tất cả cái tưởng tạp loạn, phát khởi các pháp thiền
định sự và lý.
Huệ
lực là: Vì huệ căn tăng trưởng, hay phá được tất cả
tà kiến của kẻ tà, ngoại, hay đoạn được tất cả những
cái chấp của bực thiên tiểu (Tiểu thừa).
Sớ:
Thất Bồ Ðề phần tức là Thất Giác Chi, cũng do năm căn,
năm lực trước mới đặng bảy cái huệ dụng đây: 1) Niệm;
2) Trạch pháp; 3) Tinh tấn; 4) Hỷ; 5) Kỳ; 6) Ðịnh; 7) Xả.
Có một chỗ nói: 1) Trạch pháp; 2) Tinh Tấn; 3) Hỷ; 4) Trừ;
5) Xả; 6) Ðịnh; 7) Niệm. Nay giải theo thuyết sau.
Sao:
“Giác Chi” là: Giác tức Bồ Ðề, Chi tức là phần; nghĩa
là mỗi phần mỗi phần, tùy chỗ hợp mà dùng vậy. “Do
căn lực trước” là: Luận Du Già nói: ‘Ðã chứng vào ngôi
chánh vị của các pháp rồi thời phải dùng giác huệ như
thật ấy làm chi phần”. Cho nên biết năm căn, năm lực đã
chắc chắn rồi, vậy sau cần có cái giác huệ theo chỗ hợp
mà dùng. “Giải theo thuyết sau” là: Do vì thuyết sau của
ngài Thiên Thai giải, ý rất rõ hơn.
Lại kinh Hoa Nghiêm lời Sớ cũng lấy phần trạch pháp làm
phần tự thể, còn mấy phần kia làm từ phần: 1) Trạch pháp
là: Vì khi nghiên cứu các pháp phải khéo hay rõ biết, để
lựa riêng cái nào chơn thì dùng, cái nào ngụy thì bỏ. 2)
Tinh tấn là: Vì khi tu đạo pháp, khéo hay biết rõ không tu
lầm những cái khổ hạnh vô ích. 3) Hỷ là: Vì khi Tâm đặng
pháp hỷ, khéo hay biết rõ, không theo những pháp điên đảo,
mà sanh tâm hoan hỷ. 4) Trừ là: Vì khi trừ các việc tà kiến,
tâm phiền não, khéo hay biết rõ, đoạn hết các việc luống
dối, không hại căn lành chơn chánh. 5) Xả là: Vì khi xả
được sở kiến niệm trước, khéo hay biết rõ: Thủ, Xả,
Hư, Ngụy, hằng không vói tưởng. 6) Ðịnh là: Vì khi phát
ra cái pháp thiền định, khéo hay biết rõ những pháp thiền
hư giả (giả dối) không sanh tâm kiến ái. 7) Niệm là: Vì
khi tu đạo ra khỏi đời, khéo hay biết rõ, thường khiến
định huệ quân bình, nếu tâm chìm đắm phải nhớ dùng "Trạch
pháp", "Tinh tấn" và "Hỷ" ba chi, xét mà đánh thức nó. Nếu
tâm phù động lắm phải nhớ dùng: "Trừ", "Xả" và "Ðịnh"
ba chi thâu nhiếp mà dẹp nó. Mỗi niệm mỗi niệm điều hòa
khiến cho vừa phải.
Sớ:
Bát Thánh Ðạo ấy cũng có tên là Bát Chánh Ðạo. Do trước
nhờ có trạch pháp v.v... cho nên đến đây được vào chánh
đạo: 1) Chánh kiến; 2) Chánh tư duy; 3) Chánh ngữ; 4) Chánh
nghiệp; 5) Chánh mạng; 6) Chánh Tinh Tấn; 7) Chánh niệm; 8)
Chánh định.
Sao:
1.- Chánh Kiến là: Trong bộ Tạp Tập nói: “Nếu khi tu giác
chi mà ngộ chơn thật rồi thời phải dùng chánh huệ để
thành lập vững vàng, xét thấy được đế lý rành rẽ, không
còn lầm lộn”. 2.- Chánh Tư Duy là: Khi thấy rõ đế lý này,
nó tương ưng với tâm vô lậu, với sự suy nghĩ so lường,
khiến nó tăng trưởng để vào cõi Niết Bàn. 3.- Chánh Ngữ
là: Chẳng những tâm không tà tư loạn tưởng, lại còn dùng
trí vô lậu để nhiếp 4 khẩu nghiệp, trụ vào 4 lời thiện
ngữ. 4.- Chánh Nghiệp là: Do nơi trí vô lậu, trừ được
3 nghiệp của thân, tất cả tà nghiệp để trụ vào thân
nghiệp thanh tịnh. 5.- Chánh Mạng là: Do nơi trí vô lậu để
trừ 5 món tà mạng (11) trong 3 nghiệp (thân, khẩu và ý). 6.-
Chánh Tinh Tấn là: Do nơi trí vô lậu nên riêng tu tinh tấn
để tới đạo quả Niết bàn. 7.- Chánh Niệm là: Dùng trí
vô lậu, đối trong pháp chánh đạo và pháp trợ đạo, phải
nhớ niệm để tâm không động thất (xao lãng). 8.- Chánh Ðịnh
là: Do cái trí vô lậu để tương ưng nhau, đặng chánh trụ
nơi đế lý quyết định không dời đổi. Tóm lại đều nói
chữ Chánh là: Do không nương theo lối chênh lệch, tà vạy
nên gọi là Chánh và hay đi đến đạo của Niết bàn nên
gọi là Ðạo.
Bằng theo kinh Hoa Nghiêm, phẩm "Ly thế gian" thời pháp Bát
Chánh đều là cái đạo của ông Bồ Tát.
Chánh kiến là xa lìa tất cả các cái thói tà kiến. Chánh
tư duy là xả bỏ cái tâm vọng tưởng phân biệt để thuận
theo "Nhứt thế trí”. Nhẫn đến chánh định là khéo vào
pháp môn bất tư nghì giải thoát của ông Bồ Tát. Với từ
ở trong một pháp tam muội mà tự tại ra vào luôn cả các
pháp tam muội khác.
Giải rằng: Chứng cứ văn đây, đâu chẳng sâu mầu. Do đó
suy ra: Pháp Thất Giác Chi, pháp Ngũ Căn; Ngũ Lực, luôn 37 phẩm
đều tùy theo chỗ tu nhơn của chúng sanh nên căn nhận thấy
chẳng đồng, thành thử chỗ chứng Ðại, chứng Tiểu, mỗi
mỗi đều có chỗ sở đắc cả, riêng biết (như trên đã
nói).
Sớ:
Câu "Như thị đẳng pháp”. Chữ Ðẳng là nói chung các pháp:
Tứ niệm xứ, tứ chánh cần, tứ như ý túc thành ra 37 phẩm
và còn tất cả các pháp khác nữa.
Sao:
37 phẩm mà trên chỉ nói 25 phẩm, cho nên thêm chữ "Ðẳng"
để bao quát đó.
Tứ Niệm Xứ là: 1.- Quán xét thân bất tịnh, 2.- Quán xét
thọ dụng là khổ. 3.- Quán xét tâm vô thường. 4.- Quán xét
pháp vô ngã. Mà nói niệm xứ là: Lấy điều bất định là
chỗ để cho mỗi người quán xét thân, cần phải niệm (nhớ)
vậy. Cho đến pháp khổ, pháp vô thường v.v... cũng lại như
vậy.
Tứ chánh cần đã giải thấy ở văn trước; do vì sanh thiện
diệt ác không giải đãi nên kêu là cần. Vì cần (siêng)
với chỗ đáng cần, hiệp nhằm chơn lý nên nói Chánh Cần.
Tứ Như Ý đó cũng có tên là tứ thần túc, như: Dục như
ý túc; Tâm như ý túc; Cần như ý túc; Huệ như ý túc. Bởi
do tứ niệm xứ, tứ chánh cần đến đây, sự tinh tấn tăng
nhiều, định tâm hơi kém nên bảo phải tu 4 món định lực
này để nhiếp tâm lại thời trí và định quân bình, hay
đoạn được cái kiết sử, chỗ sở nguyện đều toại, nên
gọi là như ý túc vậy. Hiệp với 7 loại phẩm trên thì là
37 phẩm. Trong luận Bà Sa, luận Trí Ðộ đều có dụ rõ:
Tứ Niệm Xứ dụ hột giống, Tứ Chánh Cần như gieo trồng,
Tứ Thần Túc như nứt mộng. Ngũ căn như mọc rễ. Ngũ lực
như lên mầm, đâm lá. Thất giác chi như trổ bông. Bát Chánh
đạo như kết trái. Cho nên gọi tên là cây Ðạo Thọ. Còn
tất cả các pháp như pháp Tứ Vô Lượng Tâm và Lục Ðộ
vô lượng pháp môn v.v....
Sớ:
Hỏi: Tại sao không kể bày trước là Tứ Niệm Xứ v.v...
mà lại bắt đầu nói pháp Ngũ Căn? Ðáp: Do vì trọng chữ
Tín vậy. Bởi có đức tin là chủ. Lại vì từ ba khoa trước
đến đây mới có căn và lực (ngũ căn, ngũ lực).
Sao:
Cứ theo thứ lớp của 7 phẩm loại là nghe pháp: Trước phải
niệm trì và nhớ giữ, kế thì cần tu. Vì Cần nên mới thâu
nhiếp tâm được điều hòa, vì nhu hòa nên mới thành căn
bản chắc. Căn đã tăng trưởng thành thế lực, nhẫn đến
thất giác là để phân biệt. Bát Chánh là làm nên hạnh chơn
chánh!
Nay “trọng chữ Tín” đó là do Kinh này dùng đức Tín làm
chủ, mà căn, lực, cả hai cũng đều lấy Tín làm đầu. Vì
Tín có thể kềm giữ 4 cái kia (Tấn, Niệm, Ðịnh, Huệ) và
vì Tín là gốc của Ðạo, là mẹ sanh ra các công đức vậy.
Như trong năm ngôi (12), chữ Tín cũng ở dầu. Trong ngôi Thập
Tín, chữ Tín cũng đứng đầu và 11 pháp lành, chữ Tín cũng
ở trước nhứt cớ vậy.
“Ba khoa” trên ấy là từ khoa Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần,
Tứ Như Ý Túc tu hành đến đây mới đặng có căn, lực khiên
cố, làm cho các pháp đã đặng từ trước kia nó không có
thối thất và lại những pháp sẽ đặng sau này, rốt ráo
đều được thắng lợi cũng do một chữ Tín; cho nên đầu
tiên phải nói căn, lực trước đã!
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh biến hóa là nghĩa các loại chim; tự
tánh sanh ra tất cả các pháp môn là nghĩa Căn, Lực, Giác,
Ðạo.
Sao:
Văn sau nói: “Ðức Phật kia biến hóa làm ra”, văn đây
nói: “Sắc tốt đẹp tiếng hòa nhã”. Toàn thể tự tâm
mình hiển hiện thì đâu đặng nhường cho cõi Thánh mà mình
không có hay sao?
Lại tâm địa dụ như quả đất bao hàm các giống thì các
pháp Ngũ Căn v.v... toàn thể là của tự tâm vun trồng (căn
lành đầy đủ) cần gì rong ruổi bên ngoài tìm kiếm. Cho
nên bực Tiên Ðức nói: “Tín tâm kiên cố, lặng như hư
không tức là pháp Ngũ Căn, Ngũ Lực. Tâm giác không khởi
vọng, tức là Thất Giác Chi. Quyết rõ nơi tâm tánh rồi,
tà, chánh chẳng ăn thua, tức là pháp Bát Chánh Ðạo”. Cho
nên nói: Biển Giác sanh ra muôn vật, không vật nào mà chẳng
phải biển. Nguồn tâm sanh ra muôn pháp, không pháp nào mà
chẳng phải tâm.
Hoạch
Ích
Chúng sanh cõi kia nghe tiếng ấy rồi, thảy đều niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng.
Sớ:
Nghe tiếng vô ích thời đồng với tiếng thế tục, vì cũng
chỉ để mua vui mà chơi. Nay niệm ngôi Tam Bảo chính là nói
việc hữu ích vậy.
Tam Bảo là lược có 3 tướng: 1.- Trụ trì tướng; 2.- Biệt
tướng; 3.- Ðồng tướng. Vì đáng tôn quí nên gọi là Bảo.
Sao:
“Trụ trì tướng” là chạm, đúc, đắp, vẽ gọi là Phật
Bảo. Cuốn vàng, gáy đỏ gọi là Pháp Bảo. Tỳ kheo năm chúng,
hòa hiệp không tranh, gọi là Tăng Bảo. Tức là ngôi Tam bảo
thường ở trong thế gian vậy.
Biệt tướng là lược có 3 nghĩa: 1) Tam bảo tự biệt; 2)
Tam bảo đại, tiểu thừa biệt; 3) Tam bảo danh tướng các
biệt.
Tổng quát đại ý kia thời cái thân thông thường mà cao lớn
hơn hết, nhưng thị hiện chẳng đồng, gọi là Phật Bảo.
Với các Giáo, Hạnh, Lý, Quả, ngài lập ra pháp môn chẳng
đồng, gọi là Pháp bảo, Bực Tam Hiền, Thập Thánh, Tứ Quả,
Tứ Hướng, Duyên Giác, Ðộc Giác, ngôi bực chẳng đồng,
gọi là Tăng bảo, tức là ngôi Tam bảo xuất thế gian vậy.
“Ðồng tướng” là bằng ước về năm giáo mà nói thời:
1) Môn lập sự tựu nghĩa (lập sự để đi lần tới lý).
2) Môn hội sự về lý. 3) Môn sự lý dung hiển (đều bày).
4) Môn tuyệt tướng lý thật (sự lý) tánh tướng đều bặt.
5) Môn dung thông vô ngại (có đủ cả Viên giáo) tuy trước
thấp sau cao, nhưng đồng về một gốc. Tổng quát đại ý
kia thời cái tánh thể linh giác, chiếu tỏ các pháp, gọi
là Phật bảo. Hằng sa đức tánh đều khó giữ gìn, gọi
là Pháp bảo. Tánh tướng không hai, thầm hiệp không trái,
gọi là Tăng bảo. Tức là ngôi Tam Bảo xuất thế gian tối
thượng vậy.
“Tôn quý” là Phật là Lưỡng Túc Tôn; Pháp là Ly Dục Tôn,
Tăng là Chúng Trung Tôn. Y theo đó tu hành thời ra khỏi ngoài
ba cõi. Thế gian yêu trọng, không bậc nào có thể so sánh
nên gọi là Bảo.
Sách Thông Thơ cũng nói: “Rất tôn trọng là Ðạo, rất yêu
quí là Ðức”, huống ngôi Tam Bảo là Ðạo và Ðức rất
tột, há chẳng xưng Bảo hay sao?
Sớ: Nghe chim nói pháp đều niệm Tam Bảo tự có 4 nghĩa:
1) Vì trong tiếng chim kêu, khâm khen ngôi Tam Bảo. 2) Vì tiếng
chim thuyết pháp có phương tiện hay cảm vào thâm tâm của
người. 3) Vì tiếng pháp ngày đêm không hở dứt, quen nhuần
lỗ tai. 4) Vì chim còn biết nói pháp để khuyến khích nên
người phải gắng tâm hăng hái thêm hơn.
Sao:
“Khen ngợi Tam Bảo” là: Mặc dù mỗi mỗi các pháp Căn,
Lực, Giác, Ðạo trên mỗi phẩm chẳng đồng, nhưng nói tóm
lại đều nhiếp thâu trong ngôi Tam Bảo cả.
Khi mà chim diễn nói pháp này (37 phẩm): Hoặc nói loài hàm
linh sẵn đủ tánh giác, tức là Phật tánh; chúng sanh nghe
rồi, tỏ đặng bổn tâm mình mới biết mình sẵn có đủ
Phật tánh (Phật bảo). Hoặc nói tánh ấy đủ các thứ tướng:
chúng sanh nghe rồi rõ nghĩa thâm diệu mới biết mình có sẵn
pháp, (Pháp bảo). Hoặc nói tánh tướng hòa hợp không hai,
chúng sanh nghe rồi sự lý không ngại mới biết mình sẵn
có Tăng (Tăng bảo). Cho nên thường niệm ngôi Tam Bảo là
thế.
“Khéo tỏ vào tâm người” là: Tuy nói pháp nhiệm mầu,
nhưng lập lời không khéo thời người nghe bắt dội ngược.
Nay chỉ nói tiếng hòa nhã, êm ái, dịu dàng, nghĩa lý đẹp
tâm, người nghe sanh mừng nên nhớ niệm ngôi Tam Bảo.
“Quen nhuần lỗ tai” là: Tuy khéo nói pháp mầu, nhưng một
bữa sốt sắng, mười bữa nguội lạnh (13) thời tâm cũng
ắt giải phế. Nay chỉ nói sáu thời tương tục thường nghe
quen nhớ, thấm tủy, nhuần da, huấn luyện thành tánh nên
nhớ niệm ngôi Tam Bảo.
“Khuyến khích tâm người hăng hái” là: chim còn có thể
nói pháp, người sao chẳng bằng, thoạt sanh tâm tàm quý, tự
nhiên phát tâm tinh tấn, nhớ niệm ngôi Tam Bảo.
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh chơn tâm một thể là nghĩa Phật,
Pháp và Tăng.
Sao:
Như văn trên, chỗ bày ngôi Tam Bảo đồng tướng; thời biết
chỉ có một chơn tâm, lại không thể nào riêng khác: Tâm
thể vốn tự giác chiếu, tức là Phật Bảo. Tâm thể vốn
tự tánh ly (vọng) tức là Pháp Bảo. Tâm thể vốn tự không
hai, tức là Tăng Bảo, cho nên nói: “Mình qui y ông Phật mình,
mình qui y Pháp mình, mình qui y Tăng mình”, chỉ khiến qui
y về mình, không nói qui y về người khác, nghĩa là mỗi niệm
trở về tâm mình. Thế gọi là thật nhớ niệm ngôi Tam Bảo.