PHẬT
THÍCH CA NÓI KINH A DI ÐÀ
NGÀI
VÂN THÊ LÀM LỜI SỚ SAO
*******
QUYỂN
THỨ BA
Ðất
Cổ Hàng chùa Vân Thê Sa Môn Chu Hoằng thuật lại.
THIÊN NHẠC
VŨ HOA (phân ra làm bốn phần)
1.Thiên
nhạc (nhạc trời)
2.Kim
địa (đất vàng)
3.Vũ
hoa (tuôn hoa)
4.Tổng
kết (tóm kết)
THIÊN NHẠC
Lại nầy nữa Xá Lợi Phất! Cõi nước của Phật kia thường
trỗi nhạc trời.
SỚ: Văn trước kể ao báu, văn đây nói trên đất bằng
vàng, có hoa trời, nhạc trời xen lẫn chói hực. “Nhạc trời”
là khác với nhạc đời vậy. “Thường trỗi” là không
hở dứt vậy.
Sao: “Khác với nhạc đời” là kinh Ðại Bổn nói: Cõi
trời thứ nhứt có 4 vua Trời và các vị Thiên nhơn đem trăm
ngàn món hương hoa, trăm ngàn tiếng âm nhạc để cúng dường
Phật và các vị Bồ Tát, chúng Thinh Văn. Cõi trời thứ hai,
trời Ðế Thích (đức Chúa Trời) và 32 vua trời, với cả
các đức Chúa Trời ở Dục giới cho đến trời thứ bảy
là cõi trời Phạm (Phạm Thiên), tất cả các trời đều đem
hoa thơm, nhạc hay của mỗi cõi lần lựa gấp bội phần,
đem dâng cúng Phật và đại chúng.
Lại nói: “Cũng có tự nhiên muôn món kỹ nhạc, không món
nào là chẳng phải tiếng nói pháp, thanh tao thảnh thót, rõ
hay thanh nhã; tất cả các tiếng tăm khác không thể sánh kịp”.
Quán Kinh nói: “Có vô lượng các vị trời và thần trỗi
tiếng nhạc trời. Lại có các món đồ âm nhạc, như treo
tòn ten ở trên hư không, tợ hồ các bửu tràng của trời
Ðế Thích, không ai khảy mà nó tự kêu”. Vì thế những
tiếng nhạc của các vị thiên nhơn đánh kia, không phải trong
nhơn gian này có được. Cho nên nói “khác với nhạc đời”
vậy.
“Không hở dứt” là: Nhạc đời cần người, có đánh,
có nghỉ. Nhạc Trời tự kêu, cho nên nói “thường trỗi”
vậy. Nay người niệm Phật, ngày lâm chung, có nhạc trời
rước trên không, chính cõi Tịnh Ðộ mới có nhạc trời
thường trỗi vậy (Trời: thiên nhiên, tự nhiên, nghĩa là
sẵn sàng).
SỚ: Xứng lý thời tự tánh có muôn đức dung hòa là nghĩa
thiên nhạc.
Sao: Tự tánh như thật không thời chẳng dính một mảy
trần; như thật chẳng không thời lẫn bày muôn đức, điều
hòa và xuôi thuận chẳng trái, đằm thắm một mực không
sai. Mức nhẫn tấn (nhẫn nhục, tinh tấn) vừa chừng cao thấp
như tiếng quyên reo, tiếng trì trỗi. Chỉ Quán đều thành
Ðịnh Huệ thời tiếng khánh dứt, tiếng chuông khua. Giọng
từ bi thương mà không hại, nhịp hỷ xả, vui mà không đắm
(1). Thiên nhạc như thế, chẳng những không khua, lại còn
không tiếng. Tiếng Võ lặng, tiếng Cung trầm nhưng vang cả
trời, rền cả đất.
Kim Ðịa
Vàng ròng làm đất.
Sớ:
Văn đây noi theo trước để khởi văn sau, nói Cực Lạc thế
giới trên thời có nhạc trời, dưới đất có vàng la liệt.
Mà ở trên đất vàng ròng ấy, chẳng những tai nghe tiếng
nhạc trời, mắt cũng được thấy hoa trời nữa.
“Vàng ròng” là nói trên đất bằng ngọc lưu ly xen thêm
thứ vàng ròng. Song cũng nhiều thứ báu, không nhứt định
(vì tùy công đức tu niệm Phật đến đâu được đến đó).
Sao:
“Xen thêm vàng ròng” là gì? Như trong Quán kinh nói: “Thấy
đất lưu ly trong ngoài ánh suốt. Dưới có trụ kim tràng bằng
ngọc kim cang thất bảo, đỡ đội trái đất lưu ly. Hình
tràng có tám khía, bằng trăm món báu hiệp thành. Mỗi thứ
ngọc báu phóng ra hàng nghìn tia sáng. Mỗi mỗi ánh sáng có
tám vạn bốn nghìn màu sắc, chói hực trên quả đất lưu
ly như ức nghìn mặt nhựt. Trên quả đất lưu ly, có các
dây bằng vàng ròng, lộn lạo xen nhau. Lại có bảy thứ ngọc
báu làm giới hạn chừng ngằn rành rẽ”.
Cứ đây thời quả đất vốn là lưu ly mà vàng ròng lại
là món trang nghiêm để cản lót, ngăn ranh trên mặt đất
vậy.
Kinh Ðại Bổn nói: “Cõi kia tự nhiên (sẵn có) bảy món
báu, thể tánh nó mềm mại ấm áp, xen nhau làm đất. Hoặc
chỗ thì thuần một món báu, ánh hòa quang chói vọi, vượt
khỏi mười phương, rộng rãi, thênh thang không thể cùng tột.
Ðất đều bằng phẳng không có núi Tu Di và các non, biển,
hầm, hố, giếng, hang và các chỗ u ám”.
Cứ đây, thời cũng có thể nói: Cõi đất kia chỉ toàn là
bằng vàng ròng. Bởi vì nước kia rộng lớn, chẳng những
một góc vàng ròng hay lưu ly. Ðó là chỉ nói một, hoặc hai
món báu đó thôi. Thật ra cả các món báu hợp thành cõi đất,
thế thì sẽ còn ngọc báu nhiều đến vô cùng!
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh chơn như bình đẳng là nghĩa đất
vàng.
Sao:
Chơn Như thời không tạp, không uế, không đổi, không dời,
trải muôn kiếp mà thường mới. Bình đẳng thời chẳng tăng,
chẳng giảm, chẳng thấp là chỗ nghìn bậc thánh, chung nơi
(đi). Phật Tỳ Xá Như Lai nói: “Trước phải bình cái tâm
địa thời thế giới mới bình” (2). Như ông Xá Lợi Phất
tâm có cao thấp mới thấy rõ cõi này gò nổng, hầm hố.
Cho nên chỗ đi của mỗi người là vàng ròng, đâu đợi đức
Như Lai lấy ngón chơn nhấn dưới đất (3).
Vũ Hoa
(phân ra làm ba phần)
1.- Thiên vũ diệu hoa (Trời rải bốn thứ hoa quí)
2.- Trì dĩ cúng Phật (chúng đem hoa cúng Phật)
3.- Cúng dĩ tự thích (cúng rồi tự vui sướng)
Thiên Vũ
Ðiệu Hoa
Ngày
đêm sáu thời trời rải hoa Ðà-La.
Sớ:
Nói trên quả đất vàng ròng đây thường rải hoa tốt đẹp
vậy. Cõi kia không núi Tu Di và mặt nhựt, mặt nguyệt mà
nói sáu thời là lấy hoa nở chim kêu làm chừng vậy.
Hội niệm Phật ở non Lô Sơn dùng cái đồng hồ hình hoa
sen là phỏng theo ý kinh này.
Sao:
Cõi này mặt nhựt, mặt nguyệt xoay vòng quanh núi Tu Di mà
phân ra ngày đêm. Như vị trí Châu Thiệm Bộ chính ngay phía
Nam núi Tu Di, ban ngày, lúc hừng sáng là mặt nhựt đi đã
đến phân nửa Ðông Châu; kế nó vòng qua Nam Châu. Lúc cuối
ngày là mặt nhựt đi đã đến phân nửa Tây châu. Ban đêm,
lúc đầu hôm là mặt nhựt nó đi đã đến phân nửa Tây
châu; kế nó vòng qua Bắc châu; lúc cuối đêm là mặt nhựt
đi đã đến phân nửa Ðông châu. Mặt nhựt đi giáp một
vòng như thế là phối với 12 giờ, 6 giờ ban ngày, 6 giờ
ban đêm là một ngày vậy. Nước kia đã không núi Tu Di, lại
không mặt nhựt, mặt nguyệt, sáng mãi không tối, ngày đêm
không phân biệt, chỉ lấy hoa nở, chim kêu làm ngày; hoa xếp,
chim đậu (nghỉ) làm đêm vậy. Song với mặt nhựt, mặt nguyệt
có hay không? Thì các bản dịch nói chẳng đồng, như bản
dịch đời nhà Hán nói: “Mặt nhựt mặt nguyệt ở giữa
hư-không”. Bản dịch nhà Ngô cũng như nhà Hán. Nhưng ngài
Vương Nhựt Hưu lại nói: “Ở giữa hư không mà không vận
chuyển”. Bản dịch nhà Tào Ngụy chẳng nói có hay là không.
Còn bản dịch nhà Ðường và nhà Tống quyết định rằng
không có. Nếu hòa hợp lại để nói thì là mặt nhựt, mặt
nguyệt tuy có, nhưng do vì hào quang của Phật và thánh chúng
che lấp ánh sáng thì dù có cũng như không vậy. Song mà xét
cho tột lý, không có là phải hơn. Vì sao? Từ cõi trời Ðao
Lợi sắp lên, còn không cần ánh sáng của mặt nhựt, mặt
nguyệt, huống chi nước Cực Lạc?
Hay là bản dịch đời nhà Hán, trên hai chữ "nhựt nguyệt"
thiếu hai chữ "không có" cũng chưa biết được?! Vậy nhờ
bậc cao minh giải rõ cho!!
“Ðồng hồ hình hoa sen” là: Tổ Huệ Viễn lập hội nhóm
chúng niệm Phật tại non Khuôn Lô, chạm cây làm hình hoa sen
đủ 12 cánh, dẫn giọt nước chảy vô ao hồ, chia phiên niệm
Phật. Mỗi một giờ là nước ngập một cánh; ngày đêm 6
thời, thiền tụng không trễ. Các bậc hội viên tu niệm Phật
được vãng sanh rất nhiều. Người đời nay phân thời tu
Tịnh nghiệp là gốc của tổ Huệ Viễn căn cứ nơi kinh này.
Sớ:
“Mạn Ðà La” là tên hoa trên trời, đây dịch là Thích
Ý, lại dịch Bạch Hoa. Trời rải hoa là khen ngợi đạo đức
như sự tích ông Không Sanh (Tu Bồ Ðề) và trời Ðế Thích.
Sao:
“Bạch hoa” là gì? Hoa trời nhiều thứ, như Mạn Thù Sa
là thứ hoa đỏ; nay chỉ nói có một thứ hoa trắng là bớt
văn cho gọn. Cũng có thể nói phương Tây thuộc Kim, lấy nghĩa
là nghiệp trắng sạch.
“Thích ý” là gì? Hoa trời xinh tốt, làm vui đẹp ý người
vậy.
Kinh Ðại Bổn nói: “Tất cả chư thiên đều đem trăm nghìn
hoa thơm trên cõi trời, đến cúng dường đức Phật kia, các
vị Bồ Tát, cùng chúng Thinh Văn”.
“Khâm khen” là gì? Người đời làm lành, các vị trời
hoan hỷ, huống chi nước kia đức Như Lai, các vị Bồ Tát
và Hiền Thánh toàn là bậc Thượng Thiện cùng nhau nhóm hợp
nên trời, thần khen ngợi rải hoa, lẽ cố nhiên, phải vậy.
“Như ông Không Sanh (Tu Bồ Ðề) và trời Ðế Thích”: ông
Không Sanh (Tu Bồ Ðề) yên ngồI, trời Ðế Thích rải hoa.
Ông Tu Bồ Ðề hỏi: “Ai ở trên không rải hoa đó?” Ðáp:
“Tôi là Thiên Ðế. Do vì tôn giả nói pháp Bát Nhã rất
hay!”
Xem đây nên biết, những người vãng sanh về Tịnh Ðộ là
bực đều đặng nhứt tâm bất loạn thời các vọng niệm
chẳng sanh, muôn pháp vắng lặng, tức là khéo nói pháp Bát
Nhã, cảm động đến các trời, còn nghi chi nữa?
Sớ:
Lại hoa có hai thứ: 1) Hoa trời, 2) Hoa cây. Nay chỉ nói hoa
trờI là vì hoa trời gồm cả hoa cây vậy.
Sao:
“Hoa trời” là từ trên trời rải xuống, nghĩa như văn
trước đã giải.
“Hoa cây”: Kinh Ðại Bổn nói: “Bốn phương tự nhiên nổi
gió, reo ra năm trăm thứ tiếng thổi các hoa cây. Hoa tiết
ra mùi hương lạ theo gió bay khắp bốn phương, bay đến chỗ
các vị Bồ tát, Thinh Văn đại chúng. Hoa rơi xuống đất,
chứa dày bốn tấc, sáng ngời chói mắt, thơm tho không chi
bằng. Ðến lúc hoa hơi héo, tự nhiên gió thổi cuốn đi”.
Thế thì cõi kia cũng có rải hoa cây, cho nên nói “hoa trời
đã gồm có hoa cây” là thế.
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh mở tỏ nghĩa là hoa đẹp.
Sao:
Tự tánh còn mê như hoa còn búp; tự tánh thoạt ngộ, như
hoa nở xòe. Lại màu sắc rực rỡ, không vẽ mà thành, mùi
thơm bát ngát, chẳng đi mà đến. Hoa rải tự nơi không, chẳng
trồng mà mọc, chẳng hái mà tự nhiên rơi xuống. Tự tánh
thần linh thông đạt cũng lại như thế!
Trì Dĩ
Cúng Phật
Chúng sanh cõi kia thường mỗi bữa sáng sớm, mỗi người
lấy cái y kích, hứng đựng các thứ hoa đem đi cúng dường
10 muôn ức Phật ở phương khác. Ngay trong giờ ăn sớm, về
đến nước mình.
Sớ:
Văn đây nói trời rải hoa, chúng sanh lấy đi cúng Phật. “Chúng
sanh” là chừa Phật ra, còn thì đều là chúng sanh. “Sáng
sớm” là một trong sáu giờ vậy. “Y kích” là cái đựng
hoa. Cúng Phật rồi trở về nước còn trong thời ăn sớm
là vì bay đi bằng phép thần túc thông vậy.
Sao:
“Chừa Phật ra” là duy có một mình Phật, riêng xưng là
bậc Ðại Giác, còn từ bực Bồ Tát sắp xuống, nhẫn đến
kẻ sơ tâm phàm phu vãng sanh về nước kia đều kêu là “chúng
sanh”, với Phật tương đối.
“Một trong sáu thời” là sáng sớm là thời trước nhứt
trong một ngày. Lấy buổi sáng sớm đi cúng Phật là để
tỏ lòng chí kỉnh vậy.
Lại lúc sáng là lúc khí đêm còn thảnh mảnh (tươi vui).
Sáng sớm cúng Phật là dùng tâm còn trong sạch vậy.
Chúng sanh nước kia, tuy ngày đêm nhứt tâm (bất loạn) vốn
không thanh trược; nhưng người chưa chứng lên bực Phật
còn có chút vô minh, chạm việc gặp duyên, chi cho khỏi xúc
động; cũng lấy lúc vừa rạng sáng, gọi là tâm thảnh mảnh.
Cũng có thể là tùy thuận phương này mà tạm nói là sáng
sớm vậy.
“Thường” là gì? Vì mỗI bữa vẫn thường như vậy, vì
không nhàm mỏi.
“Mỗi người” là vì mỗi người đều như thế, vì không
ai siêng năng, không ai lười biếng. “Ðồ đựng hoa”: Ngài
Chơn Ðế nói: “Y kích là cái đồ đựng hoa của người
ngoại quốc; hoặc nói cái y khâm (giỏ lam), cũng như lấy
vạt áo đựng hoa”. Nói “phương khác” là từ nước mình
đến phương khác; đây không nói nước mình là bớt văn.
“Mười muôn ức đức Phật”: Mỗi một đức Phật là một
cõi Ðại Thiên, 10 muôn ức là nói chỗ rộng xa vậy.
“Thời ăn” là bữa ăn sớm mai; sáng sớm đến bữa ăn
buổi mai là thời rất ít. Lấy thời rất ít cúng Phật rất
nhiều là nói sự đi rất chóng vậy.
Như Kinh Ðại Bổn nói: “Các vị Bồ Tát nương oai thần
của Phật chừng trong một bữa ăn khắp đến 10 phương vô
lượng thế giới cúng dường các vị Phật. Ðồ hoa hương,
kỹ nhạc, y phục bảo cái, tràng phan, vô số đồ cúng. Hoặc
muốn dưng hoa thời ở giữa hư không hóa thành cái bửu cái
bằng hoa. Khắp 40 dặm nhẫn đến sáu trăm, tám trăm dặm,
đều y theo ý muốn lớn nhỏ, đứng dừng giữa hư không.
Cái thế nó đều xủ xuống, dùng thành pháp cúng dường.
Lại dùng tiếng rất hay để khen ngợi đức Phật, nghe lãnh
kinh pháp. Ðã cúng dường xong, thoạt nhiên bay bổng, về đến
nước mình còn chưa đến giờ ăn sớm.
Cứ đây, thời có đủ thứ những đồ cúng dường, lại
hóa tràng hoa thành những tán cái và cúng rồi nghe pháp nữa.
Văn đây chỉ nói dùng hoa cúng dường đều là bớt văn vậy.
Thế nào là thần túc? Như kinh Ðại Bổn, ngài Pháp Tạng
nguyện rằng: “Khi ta thành Phật, người trong cõi của ta
đều đặng pháp Thần Túc Thông, trong một phút trải qua trăm
nghìn vạn ức số na do tha thế giới”.
Lại nguyện rằng: “Liền đặng pháp túc mạng thông”. Lại
nguyện rằng thiên nhãn thông. Lại nguyện rằng thiên nhĩ
thông. Lại nguyện rằng tha tâm thông.
Thế thì biết, người sanh nước kia, sáu phép thần thông
tự tại không những bay đi mà thôi; nhưng đây không nói cũng
là bớt văn vậy.
Sớ:
Xét pháp thần túc thông đây, các vị Bồ Tát về bực Thập
Trụ, Thập Hạnh mới có như trong kinh Hoa Nghiêm nói.
Sao:
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Bực Bát Trụ Bồ Tát trong một giây
phút dạo đi giáp vô số thế giới”.
Lại trong kinh Thập Hạnh, lời tụng nói: “Cõi Phật vô biên
không có số đếm, vô lượng chư Phật ở trong đó. Các vị
Bồ Tát ở trong đó thân cận cúng dường sanh tâm tôn trọng”.
Thế thời với pháp thần túc nay đây hàng Tiểu thừa đâu
dễ kịp ư?
Hỏi: Thế thời ba món ý sanh thân sẽ thuộc về bực nào?
Ðáp: Kinh Lăng Già nói ba món chia ra thuộc Thinh Văn, Bồ Tát
và bực Ðại Thánh (4).
Thời biết người sanh về nước kia, tùy chỗ tu của mình
đều có chỗ sở chứng, lệ như trong văn cửu phẩm.
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh tự trang nghiêm là nghĩa “đựng hoa
cúng dường”. Tự tánh tự biến khắp là nghĩa “mười
muôn ức cõi Phật”. Tự tánh tự lặng không là nghĩa “thời
ăn về kịp”. Tự tánh tự trụ là nghĩa “nước mình”.
Sao:
“Tự trang nghiêm” là tâm vốn đủ trùm muôn đức; trở
lại dùng muôn đức để nghiêm tâm. Ðức mà không khoe chỗ
đức, nghiêm mà không trụ chỗ nghiêm, đó mới chính là chơn
thật cúng dường.
Kinh Tư Ích nói: “Người mà hay cúng dường cho Phật thời
người ấy thông đạt lý vô sanh”.
Kinh Bảo Võ nói: “Kẻ nào tư duy đúng như lý, tức là cúng
dường đức Như Lai đó vậy”. “Tự biến khắp” là do
tự tâm khắp tất cả xứ, tức là đều dâng thờ mỗi vị
Phật, không bỏ luống qua vậy.
Cho nên kinh Duy Ma nói: “Ðồng thời cúng dường, không trước,
không sau”. “Tự lặng không” là : Tâm thể vốn vắng không,
không thì không tới, không lui. Cho nên chỉ thời ăn về kịp,
chỉ đối với sự vất vả lặn lội ở phương này mà thôi.
Thật ra thời không vượt ra ngoài sát na (một niệm) đã trở
về nước rồi.
“Tự trụ” là nguồn tâm vắng lặng, thường trụ không
dời đổi; đó là cái chỗ: quê xứ ruộng đất để an thân
lập mạng của mỗi người.
Kinh Kim Cang nói: "Huờn chí bổn xứ" tức như kinh này nói:
"Huờn đáo bổn quốc”. Ðấy mới đáng gọi là vụ bổn,
gọi bằng quân tử vụ bổn; người quân tử chuyên về việc
gốc là bổn phận.
Cúng Dĩ
Tự Thích
Ăn cơm rồi đi kinh hành.
Sớ:
Nương văn trên nói giờ ăn, cho nên kế đây nói việc ăn.
“Ði kinh hành” là nghĩa xoay vòng không dứt. Về rồi ăn,
ăn rồi đi là cái dáng thảnh thơi, tự thích vậy.
Sao:
“Ăn cơm” là gì? Kinh Ðại Bổn nói: những người được
vãng sanh đến giờ ăn cơm, với các bình bằng bạc, bằng
vàng, mỗi món bát báu tùy ý muốn thứ nào, tự nhiên nó
hiện ra thứ nấy; trăm món ẩm thực dẫy đầy trong đó.
Chua, mặn, ngọt, lạt, đều theo sở thích, không dư không
thiếu, không vì sự ăn quá lượng. Ăn rồi tự tiêu, chứ
không còn cặn phẩn. Hoặc người ăn bằng cách thấy sắc
nghe hương, tưởng lấy làm cách ăn, tự nhiên no đủ, không
đắm thèm chi, thân tâm nhẹ nhàng. Ăn xong rồi, các đồ nó
tự biến hóa đi, đến giờ ăn nó lại tự hiện ra.
“Xoay vòng” là như đường canh suốt đường chỉ, thoi dệt
liên kết, qua lại không thôi vậy. “Ăn rồi lại đi” là:
1.- Do điều hòa thân thể, đừng để ngưng trệ. 2.- Ðiều
hòa tâm trí, chớ cho buông lung. “Thảnh thơi” là ý nói
rảo bước tự rỗi. Người đời ăn rồi, nếu không giong
ruổi việc trần thời cũng mải mê giấc ngủ; còn ở nước
kia, ăn rồi đi tản bộ bằng cách kinh hành, là với cái thể
dạng giải thoát, cái trạng thái tiêu diêu, khá tưởng thấy
vậy.
Sớ:
Chỉ nói ăn cơm, không nói đến áo mặc v.v... Chỉ nói đi
kinh hành, không nói đến ngồi nằm v.v... cũng là bớt văn
vậy.
Sao:
“Áo mặc” là kinh Ðại Bổn, ngài Pháp Tạng nguyện rằng:
“Khi ta thành Phật người trong cõi của ta, ý muốn có áo
mặc thì nó tùy theo niệm liền đến, không cần cắt may,
nhuộm đập giặt xả. Lại còn có vô lượng đồ y phục
tốt đẹp như: mão, ngọc, vòng, xuyến, hoa tai, chuỗi anh lạc,
tràng hoa dây chuyền, các ngọc báu rực rỡ, trăm nghìn sắc
đẹp, tự nhiên hiện ở nơi mình”.
Lại nguyện rằng: “Còn có vô lượng như ý diệu hương,
hương thoa, hương bột thơm tho bát ngát khắp cả nước Phật
kia”. Nên biết không nói áo mặc vì nói cơm ăn là gồm áo
mặc và tất cả đồ nuôi sống.
Không nói đến sự ngồi nằm đó, kinh giáo có chia ra bốn
pháp tam muội: 1.-Thường hành Tam muội; 2.- Thường tọa Tam
muội; 3.- Bán hành bán tọa Tam muội; 4.- Phi hành phi tọa Tam
muội (5).
Chính trong văn đây thời chỉ có pháp thứ nhứt, song trong
hai bộ (Ðại Bổn và kinh này) đều nói người vãng sanh ngồi
trong hoa sen.
Kinh Ban Châu Tam muội thời nói đứng, nên biết: vì nói pháp
đi đã gồm pháp ngồi và luôn bốn oai nghi vậy.
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh thường định là nghĩa ăn cơm. Tự
tánh thường huệ là nghĩa đi kinh hành.
Sao:
Lấy thiền duyệt làm món ăn cho nên thiền định có nghĩa
ăn. Trí hay vận chuyển cho nên huệ có nghĩa đi, như trong
Luận lời tụng nói: “Yêu thích mùi pháp của Phật, lấy
pháp thiền tam muội làm món ăn”. Lại Luận Phật Ðịa nói:
“Trong cõi tịnh độ, chư Phật, Bồ Tát hay giảng thuyết,
hay thọ dụng pháp vị Ðại thừa”. Lại nữa, để trì thân
chánh báo thọ dụng mùi vị chơn như, hay giữ gìn giới thân
huệ mạng khiến không đoạn hoại và nuôi lớn muôn pháp
lành nên có nghĩa gọi là ăn.
Lại Kinh A Hàm, luận Duy Thức v.v... đều nói năm món ăn ra
khỏi đời: 1.- Thiền duyệt; 2.- Nguyện; 3.- Niệm; 4.- Giải
thoát; 5.- Pháp hỷ. Nghĩa là do pháp thiền định nuôi dưỡng
tinh thần, nhẹ nhàng vui đẹp, đó tức là nghĩa ăn. Sức
nguyện giữ gìn chánh pháp thời pháp thân tăng trưởng, tức
là nghĩa ăn. Sức niệm nhớ rõ thời Thánh Ðạo hiện tiền,
tức là nghĩa ăn. Giải thoát là hết chướng nghiệp, hẳn
hòi được lợi ích, tức là nghĩa ăn. Món pháp hỷ là tu
đắc pháp thì mừng trong tâm dẫy đầy nên no bằng rất vui
mừng, tức là nghĩa ăn.
Văn đây chỉ nói pháp thiền định là nói một gồm bốn
vì trong pháp thiền định, không pháp nào mà chẳng thâu nhiếp.
Kinh Duy Ma nói: "Người chưa phát ý Ðại thừa, ăn món cơm
này, đến chừng phát ý Ðại thừa, mới tiêu; người đã
phát ý đại thừa, đặng quả vô sanh nhẫn rồi mới tiêu.
Người đặng vô sanh nhẫn, đến nhứt sanh bổ xứ mới tiêu”.
Kinh Hoa Nghiêm, văn Cụ Túc Ưu Bà Di nói: "Nếu các vị Bồ
tát nhứt sanh bổ xứ ăn cơm của ta, đều ở dưới cây Bồ
Ðề, thành bực chánh giác”. Ðều là lý tự tánh chơn như
vô tận, mà làm món ăn vậy.
“Ði kinh hành” là: Kinh Trì Thế nói: “Chỗ đi của Ðức
Như Lai là chỗ không đi. Chỗ không đi ấy là Chơn Huệ vậy”.
Cho nên biết, cầm thìa (muỗng), buông đũa, mỗi miếng không
rơi; giở cẳng, động thân, mỗi bước đạp nhằm... Ðâu
đặng vùi đầu ăn cơm, luống qua một đời, ngắm nước
xem non, uổng công muôn dặm.
Tổng Kết
Nầy
Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang
nghiêm như vậy.
Sớ:
Kết văn trên: Nhạc trời, hoa trời v.v… món món trang nghiêm
đều do hạnh nguyện công đức của Phật kia, mới đặng
thành tựu như thế.
Sao:
Nguyện là như kinh Ðại Bổn, ngài Pháp Tạng nguyện rằng:
“Khi ta thành Phật, từ đất sắp lên, đều có vô lượng
món tạp bảo, trăm nghìn món hương để hiệp cộng lại làm
nên cảnh trang nghiêm ấy”.
Lại nguyện rằng: “Khi ta thành Phật, 10 phương vô ương
số thế giới, chư thiên, nhơn dân, nghe danh hiệu Ta, thắp
đèn rải hoa cúng dường”.
Lại nguyện rằng: “Khi Ta thành Phật, các vị Bồ tát trong
cõi ta dùng hương hoa v.v... các món đồ cúng, muốn đến thế
giới phương khác để cúng dường các đức Phật, chừng
trong bữa ăn liền đặng khắp đến”.
Lại nguyện rằng: “Khi ta thành Phật, người trong cõi của
ta, chừng khi muốn ăn ngay trong bát báu, tự nhiên có trăm
món đồ ẩm thực nó hiện ra ở trước. Ăn rồi liền hóa
đi”.
Ðến nay Ngài thành Phật, mỗi mỗi lời nguyện của ngài
thảy đều thành tựu.
Hạnh là như kinh Ðại Bổn nói: “Ngài Pháp Tạng Tỳ Kheo
đã phát nguyện rồi, trời mưa hoa mầu mà rải trên đó”.
Lại nguyện rằng: “Hoặc làm thầy tỳ kheo; hoặc làm vị
vua trời; hoặc làm vị vua người, là Luân vương. Hoặc quan
đại thần, thường đi đến chỗ Phật, dâng thờ cúng dường”.
Lại nguyện rằng: “Trong tay thường hóa ra đồ y phục, đồ
ẩm thực tràng phan, bảo cái, tất cả tiếng âm nhạc”.
Ðến nay ngài thành Phật. Như văn trên: Nhạc trời, hoa trời
v.v... các phước báo cũng đều thành tựu.