PHẬT
THÍCH CA NÓI KINH A DI ÐÀ
NGÀI
VÂN THÊ LÀM LỜI SỚ SAO
---o0o---
QUYỂN
THỨ HAI
(tiếp
theo)
CHÁNH TÔN
PHẦN (phân ra làm 4 phần)
A.Tường
trần y, chánh linh sanh tín nhạo: Rõ bày y báo, chánh báo đều
tốt sạch để cho chúng nảy lòng tin ưa.
B.Chánh
thị nguyện hạnh linh sanh tu chứng: Chỉ ngay nguyện hạnh
ra, khiến cho chúng biết để mà tu chứng.
C.Giao
dẫn Phật ngôn linh đoạn nghi hoặc: Lẫn nhau dẫn lời Phật
nói để cho chúng dứt lòng nghi lầm.
D.Hỗ
chương nan sự linh thiết cảm phát: Lẫn nhau rõ sự khó khăn
để cho chúng nảy lòng cảm thiết.
A. TƯỜNG
TRẦN Y CHÁNH LINH SANH TÍN NHẠO (phân ra làm hai phần)
1.ÐỐI
CƠ: Ðối với người đương cơ.
2.THỊ
PHÁP: Chỉ bảo y chánh.
1. ÐỐI
CƠ
Nhĩ thời Phật cáo trưởng lão Xá Lợi Phất.
(Bấy giờ Phật bảo Ngài Trưởng lão Xá Lợi Phất)
SỚ: Từ văn đây sắp xuống thuộc về phần chánh tông,
về trước là phần tự dẫn, về sau là phần lưu thông (truyền
bá). Duy có văn đây là chánh nghĩa sở tôn trong một bộ kinh
vậy.
“Nhĩ thời” là: Ðương thời đủ sáu món thành tựu kia.
“Phật cáo” là vì kinh này không ai phát khởi (mở lời
hỏi), Phật tự kêu ông Thân Tử mà nói. Bởi vì kinh này
cứu đời cần kíp nên không đợi ai thỉnh.
Sao: Phàm nói chữ “nhĩ thời”, chắc trước có lời
duyên khởi (mở đầu) cho nên nói “đương thời” vậy (6
món thành tựu). “Phật tự thuyết” là: Các kinh đều có
Thông (chung) Biệt (riêng), hai bài tự: Thông là bài tự Chứng
- Tín. Biệt là bài tự Phát - Khởi. Như Kinh Pháp Hoa thời
tướng Bạch Hào của đức Phật phóng quang là mở đầu giáo
pháp nhứt thừa (nhứt thừa Thật tướng). Kinh Duy Ma thì ngài
Duy Ma thị tật (giả bệnh) nơi thành Tỳ Da là khai hiển pháp
môn bất nhị. Còn kinh Viên Giác, kinh Kim Cang cho đến các
kinh, phần nhiều nhơn có người hỏi trước, sau đó Phật
mới vì đó mà diễn nói.
Nay kinh này không phải vậy, cho nên nói: “Không người phát
khởi”.
“Cứu đời cần kíp” là gì? Chúng sanh đời mạt pháp căn
độn chướng sâu, rất khó đặng hạng người tu theo hai pháp
giải thoát và thiền định! Nên Phật dùng lòng đại bi thương
xót thuyết ra một môn trì danh niệm Phật này để cứu cấp
chúng sanh bằng cách chấm dứt đường sanh tử vì đi tắt
ra khỏi 3 thế giới mà còn e không kịp nên chẳng đợi ai
thỉnh cầu.
Ví như có người xảy mắc chứng bệnh quá ngặt, sanh mạng
chỉ còn trong hơi hoi hóp dù ta sẵn có phương thuốc hay đối
chứng mà còn y đó bào chế thì e trễ nãi ngày giờ, thuốc
chưa làm xong, mạng đã chết trước.
Chi bằng, đã sẵn có thuốc làm rồi, đổ vô miệng là tức
thì sống ngay. Nếu người có lòng nhơn, phải cho lập tức,
đâu lẽ còn đợi người kia sắm lễ ân cần vậy sau mới
là cho thuốc!? Phật cứu chúng sanh cũng y như thế.
SỚ: Hỏi: Với các kinh khác thì không luận; chỉ như bổn
giáo hai kinh đều có người phát khởi; sao riêng kinh này chẳng
như thế có? Ðáp: Vì ý chỉ càng thiết, cũng là có phát
khởi bằng cách không phát khởi đó thôi.
SAO: “Bổn giáo hai kinh” là kinh Thập Lục Quán và kinh
Ðại Bổn, đồng bộ với kinh này, cả hai đều chuyên nói
về pháp tu Tịnh Ðộ, cho nên goi là bổn giáo.
Quán Kinh thời do bà Vi Ðề Hi bị đứa con ác nghiệt (vua
A Xà Thế) làm hại, nên bà chán cõi đời ngũ trược mà cầu
sanh nước thanh tịnh. Bà bạch đức Phật rằng: “Con nguyện
sanh về thế giới thanh tịnh, không muốn ở thế giới ác
trược cõi Diêm Phù Ðề này”.
Ðấy là do mẹ con vua A Xà Thế làm người phát khởi.
Kinh Ðại Bổn nói: “Một bữa nọ dung nhan đức Thế Tôn
khác thường, thị giả là ông A Nan thấy vậy, bạch hỏi:
‘Từ khi con theo hầu Phật, chưa từng có lúc nào được
thấy dung nhan Phật như ngày hôm nay. Phải chăng Phật nghĩ
nhớ các đức Phật đời quá khứ hay là chư Phật kiếp vị
lai, cho nên có sự khác thường như thế?’
Phật bảo: ‘Quí quá thay A Nan! Có các vị chư thiên mượn
đệ tử đến hỏi hay đệ tử tự hỏi như thế?
Này A Nan! Câu hỏi của đệ tử đó nó có phước đức hơn
gấp trăm lần, nghìn lần, muôn lần đối với kẻ đã trải
qua nhiều kiếp đem của bố thí cho các thánh nhơn như Thinh
Văn, Duyên Giác, chư thiên, nhơn dân, nhẫn đến các loài bò
bay máy cựa ở đầy trong một châu, trong bốn châu thiên hạ,
cũng chẳng bì kịp câu hỏi của đệ tử!
Sở dĩ vì sao? Bởi chư thiên, nhơn dân, cho đến loài bò bay
máy cựa đều nhờ câu hỏi của đệ tử mà được độ
thoát”.
Ðây là do vì lấy dung nhan vui vẻ của Như Lai làm nhơn duyên
phát khởi kinh Ðại Bổn.
Nay có người hỏi nạn rằng: Các kinh có người phát khởi,
thôi xin gác lại khoan luận. Chỉ như hai kinh này bổn giáo
Tịnh Ðộ (gốc dạy tu Tịnh Ðộ) đều có người phát khởi.
Kinh đây (Di Ðà) cũng chẳng khác gì hai kinh kia, vì lẽ gì
lại riêng không nói? Cho nên lập lời đây để giải rõ:
Nghĩa là Phật thuyết hai kinh tuy cũng là một tâm đại bi
thiết yếu, riêng dạy pháp vãng sanh. Song mà pháp quán tinh
vi, môn nguyện rộng lớn, như đã nói trong bài tự văn trước,
chưa bằng kinh này, chỉ chuyên sự trì danh, liền sanh nước
kia, rất là cần yếu mà lại cần yếu, cho nên ý Phật đối
với đây cũng đã thiết yếu mà lại càng thiết yếu, vì
các chúng sanh làm bạn bất thỉnh vậy.
“Không phát mà phát” là: Vì chúng sanh hiện tiền ưa đắm
sanh tử không cầu ra khỏi; tự hay phát khởi lòng đại bi
của Phật nên ngài mới thuyết kinh này không đợi ai thỉnh.
SỚ: Phật chỉ kêu một mình ông Xá Lợi Phất để bảo
là: Lệ như văn trước nói duy người có trí mới tin nổi
kinh này. Lại bảo một mình ông tức là bảo tất cả chúng.
Ngài Tịnh Giác nói: “Vì pháp hiệp bốn mốn Tất Ðàn vậy”.
SAO: “Lệ như văn trước” là: Tức là ý nghĩa bắt đầu
nói ông Thân Tử do vì ông có trí huệ thậm thâm. Xét thấu
các cơ tịnh và uế, dung thông tột ngành sự và lý, mới
hay tin thọ không nghi. Như trên hội Bát Nhã, bắt đầu nói
ông Tu Bồ Ðề, do kinh Bát Nhã luận lý Chơn Không mà ông
Tu Bồ Ðề là người hiểu lý Chơn Không đệ nhứt trong chúng.
“Bảo tất cả” là: Phật bảo một mình ông Thân Tử, tức
là bảo tất cả hàng Thanh Văn, Bồ Tát, nhơn, thiên, đại
chúng hiện tiền và bảo tất cả các chúng sanh đời vị
lai nữa...
“Bốn món Tất Ðàn” là: 1. Ông Thân Tử là đệ tử hầu
bên tả, các kinh phần nhiều để ông ở trước hết là phép
như thế. Ðây là phép Tất Ðàn Thế Giới. 2. Ông Thân Tử
là bực trí huệ đệ nhứt, trong chúng đều tôn ngưỡng,
nếu ông tin Tịnh Ðộ thời chúng cũng tin theo. Ðây là phép
Tất Ðàn Vị Nhơn. 3. Vì người không tin cõi Tịnh Ðộ, tự
hổ mình không bằng ông, liền đổi bỏ tà chấp. Ðây là
phép Tất Ðàn Ðối Trị. 4. Vì khiến kẻ quen tập pháp Tiểu
thừa, bắt chước hướng tới Ðại thừa cầu sanh Tịnh Ðộ,
cứu cánh thành Phật. Ðây là phép Tất Ðàn Ðệ Nhứt Nghĩa.
SỚ: Lại chẳng những Trí là năng tín, mà được thành
tựu quả Phật cũng đều do Trí.
SAO: Kinh Hoa Nghiêm, quyển thứ 22 nói: “Tất cả các đức
Phật trang nghiêm thanh tịnh, đâu chẳng phải tất cả đều
do Trí”. Thế thì biết đức Phật A Di Ðà cũng do Trí này,
thành tựu công đức Tịnh Ðộ, mà các chúng sanh tu phép Tịnh
độ ấy do Trí mà sanh Tín, thời Tín mới là chánh Tín, do
Trí mà phát Nguyện, thời Nguyện mới được rộng lớn, do
Trí mà khởi Hạnh, thời Hạnh mới mầu nhiệm, cho đến thành
Phật, thường phải do đấy.
Bởi Trí nó là cái lý mầu để suốt nhơn thấu quả, thành
thỉ thành chung nữa, chứ chẳng những chỉ làm môn tín giải
mà thôi.
SỚ: Xứng lý thời tự tánh nó có trí tự nhiên là nghĩa
Phật tự kêu ông Xá Lợi Phất để bảo pháp trì danh.
SAO: Không nhơn mà chiếu, không nghĩ mà biết, tánh mầu
sẵn sàng chẳng tự đâu mà đặng. Thế cho nên tiếng kiền
chùy chưa động, không ai thưa thỉnh mà Phật thoạt nhiên
tự nói, nói mãi không gián đoạn.
2.- THỊ
PHÁP (phân ra làm hai phần)
a.TỔNG
TIÊU (nêu chung)
b.BIỆT
THÍCH (giải riêng)
A.TỔNG
TIÊU (phân ra làm hai phần)
1.Tiêu
độ hiển y (nêu cõi để rõ y báo)
2.Tiêu
chủ hiển chánh (nêu chủ để rõ chánh báo)
1.- NÊU
ÐỘ HIỂN Y
Từ đây qua phương Tây mười muôn ức cõi Phật, có một
thế giới tên là Cực Lạc.
SỚ: Ðộ là cảnh sở y, gọi là y báo. Phật là người
năng y, gọi là chánh báo. Bây giờ trước nói cảnh sở y
(cảnh nương tựa).
Chữ Thị là đây, là chỉ cõi này mà nói; nghĩa là: Từ thế
giới Ta Bà đây cứ nhắm hướng Tây đi tới, gọi là “qua”.
Cõi Phật là: Một thế giới đại Thiên gọi là một cõi
Phật, qua cõi Phật như vậy tới mười muôn ức; nghĩa là:
Cách phương này xa lại càng xa, chẳng phải như cái cõi cách
mười muôn tám nghìn dặm (10.800) nói trong kinh Pháp Bửu
Ðàn vậy.
Nếu cứ sự cứ lý, cũng chưa lấy làm xa. Chữ Thế là Ðời,
chữ Giới là Xứ, Cực Lạc tiếng Phạm (Sumati) Tu Ma Ðề,
Tàu dịch: An Lạc, cũng dịch An Dưỡng, cũng dịch: Thanh Thái,
cũng dịch: Diệu Ý; tên tuy có khác một chút, chớ cũng là
một nghĩa Cực Lạc.
Song cõi có nhiều nghĩa: Với trong 4 cõi, ở đây có nói Cực
Lạc là cõi Ðồng Cư mà cũng kể luôn ba cõi trước. Lại
với cõi Thọ Dụng, cõi Pháp Tánh và cõi Biến Hóa, cả ba
cõi đồng ý đây.
Lại: “Mười cõi” cũng đồng ý đây. Lại Phật dù không
cõi, nhưng vì hóa độ chúng sanh tại đâu nói cõi cũng chẳng
ngại gì.
SAO: “Y báo” là: Thân nương cõi để ở, cho nên kêu
cảnh giới là sở y, tùy theo nghiệp mình gây tạo cảnh sở
y (cảnh ở) có tốt và xấu cho nên là báo. Câu: “Từ cõi
ta đây” là: Cõi Ta Bà và Cực Lạc cũng ở trong cõi Hoa Tạng,
hai cõi trông nhau như ngang hàng.
Nay nói chữ “Quá” là: Qua, là từ cõi đây nhằm hướng
Tây mà đi ngang suốt qua. “Một cõi đại thiên”: Cõi tam
thiên đại thiên thế giới vậy, trong bài lục phương sau
có nói.
“Mười muôn ức” là: Con đường từ đây qua Tây phương
lấy số ức tính đó sẽ có 10 muôn, nghĩa là: Qua một cõi
Phật, mười cõi Phật, nhẫn đến một ức cõi Phật.
Lại từ một ức cõi Phật, mười ức cõi Phật, nhẫn đến
mười muôn ức cõi Phật, cho nên nói “xa đó lại càng xa”
vậy. Song, số ức có 4 thứ: mười muôn, trăm muôn, nghìn
muôn, và muôn muôn, cũng đều đặng kêu là số ức, nay chưa
được biết chỉ về số ức nào vậy.
Trong Ðàn Kinh nói: “Mười muôn tám nghìn dặm” là lầm
chỉ cõi Tây Vực là Ấn Ðộ đây vậy, cũng trong bài lục
phương sau có giải rõ.
Câu nói “xa cũng chưa lấy làm xa” đủ có hai nghĩa: 1.-
Cứ theo sự, kinh Pháp Hoa nói: “Thế giới phương Ðông rất
nhiều, lấy đất nghiền thành bụi, mỗi hột bụi, kể một
thế giới thời mười muôn ức cõi”, cũng chỉ là phần
rất ít vậy thôi.
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Một thứ thế giới”, vậy là ngoài
cõi Ta Bà còn có 13 số sát trần thế giới để vây giáp
vòng. Nay cõi Cực Lạc chỉ qua mười muôn ức cõi đâu đủ
làm xa.
2.- Cứ theo lý thời câu nói “mười muôn ức” ấy, đối
với tâm lượng sanh tử của phàm phu mà nói vậy thôi. Nếu
Tịnh nghiệp thành, khi lâm chung, tâm ở trong định, tức cái
tâm ấy thọ sanh cõi Tịnh Ðộ như câu: “Phân minh tại mục
tiền” (Tịnh Ðộ rõ ràng ở trước mắt) là vậy, cũng
nào từng xa?
Chữ “Thời” là: Ðời quá khứ, hiện tại, và vị lai.
Chữ Xứ là: Bốn góc và trên dưới... Riêng một mình chữ
“thời”, riêng một mình chữ “xứ”, thời nghĩa thế
giới chẳng thành, thời và xứ hiệp mới kêu là “thế giới”.
Chữ Cực Lạc dịch có nhiều tên, mà nói chữ Cực là nói
rõ cái nghĩa vui tột bực, chẳng phải tất cả những cái
vui cõi nhơn thiên bì kịp; cho nên riêng nêu chữ Cực vậy.
Bốn cõi là: 1.- Cõi Thường Tịch Quang. Kinh nói: “Phật Tỳ
Lô Giá Na, Pháp thân Ngài khắp tất cả xứ. Chỗ ở của
Ngài, gọi là cõi Thường Tịch Quang”. Ðây là chỗ người
chứng quả tột bực ở.
2.- Cõi Thiệt Báo Trang Nghiêm. Vì do tu pháp chơn thật, cảm
đặng phước báo tốt đẹp, bảy báu trang nghiêm, đủ năm
món trần tịnh diệu, cũng nói là cảnh vô chướng ngại;
do tâm tức cảnh (sắc), cảnh tức tâm, vì tâm cảnh không
hai, nên lỗ chơn lông và cõi Phật dung chứa lẫn. Ðây là
cõi của bực Pháp thân đại sĩ ở.
3.- Cõi Phương Tiện Hữu Dư mới dứt 4 cái trụ hoặc thuộc
về đường phương tiện, chưa hết vô minh, nên gọi là “hữu
dư”. Ðây là cõi của bực thánh nhơn tam thừa ở.
4.- Cõi Phàm Thánh Ðồng Cư: Ðây là cõi chung của tứ thánh,
và lục phàm ở lẫn lộn nhau mà phàm không thấy thánh!
Bốn cõi tuy hơn thua chẳng đồng, nhưng cũng có phân riêng
cõi tịnh và cõi uế. Nay nước Cực Lạc đã nói rằng có
Bồ Tát, Thinh Văn, Chư Thiên và nhơn dân thì cùng với Ta Bà
đều gọi là cõi Ðồng Cư.
Nhưng mà ở cõi này thì đất đá gai chông, bốn thú lăng
xăng, nước kia thời bát đức, thất trân, chúng nhơn thiên
rỡ rỡ, đây cũng là cõi Ðồng Cư mà thanh tịnh vậy.
“Cũng luôn ba cõi trước” là: Tùy theo căn cơ mỗi người
có khác nên chỗ cảm thấy cũng lạ nhau. Như: Có người ở
cõi Ðồng Cư mà thấy cõi Thiệt Báo, có người ở cõi Ðồng
Cư mà thấy cõi Tịch Quang, có người ở cõi Ðồng Cư mà
thấy cõi Phương Tiện, có người ở cõi Ðồng Cư mà chỉ
thấy cõi của mình (Ðồng Cư).
Như kinh Pháp Hoa, đức Phật nói: “Ta vẫn an ổn ở cõi này
(Ðồng Cư) chúng nhơn thiên thường đông đủ”. Kinh Tượng
Pháp Quyết Nghi, Phật dạy: “Trong pháp hội bữa nay, số
chúng đông không xiết kể. Hoặc người thấy cõi này bằng
núi, rừng, đất, cát, sỏi, sạn; hoặc có người thấy bằng
cõi thất bảo, hoặc có người thấy bằng Phật đi kinh hành;
hoặc có người thấy bằng cảnh giới bất tư nghì của chư
Phật. Ðấy là đều theo căn cơ cao thấp của mỗi người
mà cảm thấy có khác vậy thôi” (gọi bằng kẻ có nhơn
thấy ra nhơn, người có trí thấy ra trí...) (dụ như xem sách,
mắt tỏ thấy chữ to, mắt lờ thấy chữ nhỏ).
“Ba cõi đồng như trước” là: 1.- Cõi Pháp tánh; tức là
cõi Thường Tịch Quang; 2.- Cõi Thọ dụng; tức đồng cõi
Thiệt báo, nhưng có phân: Tự Thọ Dụng và Tha Thọ Dụng;
3.- Cõi Biến Hóa; đồng với cõi thứ ba thứ tư trước, tức
cõi Phương Tiện và cõi Ðồng Cư.
Thế thời cõi Cực Lạc đây tuy đang ở cõi Biến Hóa nhưng
cững có thể ở vào cõi Thọ Dụng và cõi Pháp Tánh được
vậy.
“Mười cõi” là: Ngài Táo Bá phân mười thứ Quyền và
Thiệt. Tuy thiệt cõi Cực Lạc là quyền chớ chẳng Phật
thiệt. Song đấy là cứ quyền đối đãi phân biệt mà nói
vậy thôi.
Nếu luận theo lối tùy cơ thời quyền thiệt không nhứt định,
sở dĩ vì sao? Ngài Táo Bá đã nói: “Cõi Phật Di Ðà vì
một phần kẻ phàm phu chấp tướng, chưa tin nổi lý thật
tướng của pháp chơn không; do đấy chuyên tâm nhớ niệm,
được phần tịnh kia, thời được sanh về cõi Tịnh Ðộ.
Ấy là quyền chớ chẳng phải thiệt”.
Thế thì biết, đây là tại người chấp tướng mà nói, chớ
chẳng phải tại người đã nhập lý nhứt tâm. Nếu đặng
lý nhứt tâm thời tức quyền tức thiệt nên nói không nhứt
định.
Lại với bốn cõi nói trên cũng đã lẽ dĩ nhiên có đủ,
chớ chẳng chỉ nên chấp cõi Thường Tịch Quang; vì nếu
chứng được cõi Tịch Quang thời đối với ba cõi dưới
cũng phải tùy tâm nương gá, chớ chẳng nên bác bỏ mà cho
rằng không.
Người mà chưa chứng đặng cõi Tịch Quang, vội bác bỏ mà
cho rằng không có ba cõi dưới thời không còn cõi để ở
(cảnh nương ở) là lầm lắm vậy. Cho nên kinh Lăng Nghiêm
Phật rất quở kẻ không tin phương kia (Tây phương) có thế
giới kim sắc (nếu ai chưa phá được cái tướng ngũ ấm).
“Phật không có cõi” là: trong bộ Thập Tứ Khoa Tịnh Ðộ,
lời Sao nói: “Bực Bát đại Bồ tát sắp lên mới là khỏi
hẳn cái khổ lụy của sắc trần, chiếu bản thể độc lập,
phép mầu khôn cùng, còn dùng cõi làm chi nữa. Huống hồ chư
Phật!” Phật thiệt không cõi, nhưng mà nói có cũng được,
là vì do chúng sanh chỗ hiểu thì ít mà chỗ lầm thì nhiều,
cho nên lấy cõi phước lạc để dẫn dắt nó khiến cho làm
lành. Số là vị Thánh nhân cững dùng tích gần đặng tiếp
vật đấy thôi. Cho nên nói có cũng không ngại gì.
SỚ: Riêng chỉ Tây phương, là vị định cảnh xu hướng.
Tây phương riêng chỉ nước Cực Lạc là như bài “Vô khổ
hữu lạc” sau và trong kinh Vãng Sanh có nói.
SAO: E có người nạn hỏi: Thế giới trong mười phương
đều có cõi Tịnh Ðộ, cớ sao cứ riêng có cảnh Tây phương
bảo người cầu sanh về nước kia? Bởi cũng như đường
lớn có nhiều ngã tẻ nên mất dê; bắn do chuyên chú mới
trúng chim hộc (27). Không dụng hai tâm, công làm chẳng bề
bộn. Bộ Thượng Ðô Nghi nói: “Qui mạng về ngôi Tam Bảo,
cốt phải chỉ phương lập tướng, trụ tâm lấy một cảnh,
chúng phàm phu phải buộc tâm như thế còn e chưa được, huống
nữa bỏ tướng mà được hay sao?”
Nếu luận đi cúng dường chư Phật khắp trong 10 phương, rồi
trở về nước còn trong bữa ăn sớm thì việc đó là việc
sau khi sanh về Tây phương Tịnh độ rồi. Chỗ gọi rằng:
Mới thấy trứng mà muốn được con gà liền, tính chi sớm
thế?
Lại hỏi: Thế thì kinh Hoa Nghiêm sao lại dạy phải phổ lễ
nhiều đức Như Lai mới được? Ðáp: Kinh Hoa Nghiêm nói: “Một
tức là nhiều, nhiều tức là một”. Nếu biết nghĩa đây,
hoặc phổ lễ (nhiều đức Như Lai) hoặc thiên lễ (lạy một
đức Như Lai) vẫn khác, vẫn đồng, không đủ nghi vậy.
“Vô khổ hữu lạc”: Rõ thấy trong văn sau. Lại kinh Tùy
Nguyện Vãng Sanh nói biết bao cõi nước Phật, thế sao cứ
riêng cầu về nước Cực lạc? Ðáp: 1.- Do nhơn tốt vì mười
niệm làm nhơn tức đặng vãng sanh vậy. 2.- Do duyên tốt vì
48 lời nguyện phổ độ chúng sanh vậy.
SỚ: Hỏi: Quán Kinh nói: “Nước Cực Lạc cách đây chẳng
xa”. Kinh Di Ðà đây nói: “Mười muôn ức cõi”. Thế thì
hai kinh nói chỗ gần xa vì sao chẳng đồng vậy?
Ðáp: Bởi vì là: Gần mà tức xa, xa mà tức gần. Nếu y theo
luận Phật Ðịa thời cõi Tịnh Ðộ xa hay gần gì cũng đều
bất khả tư nghì.
SAO: “Cách đây chẳng xa” là trong Quán Kinh nói: “Bấy
giờ đức Phật Thích Ca, bảo bà Vi Ðề Hy rằng: “Hoàng
hậu nay có biết chăng? Nước Phật A Di Ðà cách đây chẳng
xa”. Kinh đây nói tức xa, tức gần. Bởi do cách đây chẳng
xa là nói đối với nước Cực lạc, chỉ qua 10 muôn ức cõi
nên cách đây chẳng xa vậy.
Qua mười muôn ức là nói đối với nước Cực lạc cách
đây chẳng xa vì chỉ qua mười muôn ức cõi. Tâm bao trùm
cả pháp giới thì cái gần nào mà chẳng phải là xa? Mười
phương pháp giới chỉ trong một tâm duy nhứt thì cái xa nào
mà chẳng phải là gần, lẫn nhau để nói, vốn không ngại
gì.
Câu “bất khả tư nghì” là Luận Phật Ðịa nêu câu hỏi:
“Cõi Tịnh Ðộ vượt qua chỗ đi của Tam giới như thế
là nó cũng đồng một xứ sở với tam giới, hay là tam gới
với nó đều riêng khác ư?”
Ðáp: Có thuyết nói: Ở cõi trời Tịnh Cư. Có thuyết nói:
Ở cõi Tây phương v.v... Song giáp vòng tròn của nó cũng không
biết bao cùng tột. Vì khắp cả mười phương pháp giới,
không thể nói rằng: Ở ngoài ba cõi hay ở trong ba cõi, cứ
tùy theo chỗ hợp của ông Bồ Tát mà hiện (Tịnh Ðộ) hoặc
hiện ở cõi Tịnh Cư, hoặc ở Tây phương v.v...
Thời biết nước Cực Lạc Tịnh Ðộ vượt khỏi thường
tình; không phương sở nào chẳng phải là phương sở, không
ở đâu mà không đâu chẳng ở, không nên chấp cho như cõi
Ðồng Cư mà làm chỗ luận nhứt định.
SỚ: Xứng lý thời tự tánh kiên cố thanh tịnh là nghĩa
Tây phương. Tự tánh không chướng, hết lỗi là nghĩa qua
mười muôn; tự tánh ngang trùm dọc suốt là nghĩa thế giới.
SAO: “Kiên cố” là vì phương Tây thể thuộc kim,
có nghĩa kiên cố, tức tự tánh chơn thường bất dịch (chẳng
đổi) vì muôn đời như vậy. “Thanh tịnh” là: Lại có
hai nghĩa: Vì phương Tây đương không khí nghiêm tịnh, có
nghĩa “trừng thanh” (lóng trong), tức tự tánh các vọng
vốn không, vì thể nó lộ ra gió Tây, vì phương Tây đương
sắc bạch, có nghĩa trong sạch, tức tự tánh các nhiễm không
sanh, xưa nay một sắc.
“Không chướng hết lỗi”là: Tự tánh vốn không phiền
não, như thập khổ, thập ác, thập triền và thập sử v.v...
đều vượt khỏi cả nên có cái nghĩa quá xa; thế thì biết
kiên cố thanh tịnh là phương Tây mới là tột hết phương
Tây, không phải cứ nêu chỗ mặt trời lặn xa ngút mới gọi
là “qua”, còn đâu đâu chẳng phải là không qua vậy, ai
có thể tính kế số đường dặm? Vì là ngang suốt 10 phương,
dọc tột ba đời, chẳng phải gần chẳng phải xa, chẳng
phải giữa, chẳng phải bìa!
Thế thời, từ đây qua cõi Phật số vi trần, bất khả thuyết,
bất khả thuyết, không thế giới nào mà chẳng phải cõi
Cực Lạc, đâu lại chỉ có một thế giới mới gọi là Cực
Lạc ru?
2.- TIÊU
CHỦ HIỂN CHÁNH
Bỉ độ hữu Phật hiệu A Di Ðà kim hiện tại thuyết
pháp (Cõi kia có Phật hiệu A Di Ðà hiện nay đang thuyết pháp.
SỚ: Nghĩa chữ “kỳ” (kia) là chỉ văn trên: Có cõi ắt
có người, chỉ Phật là người năng y. Phật ắt có hiệu
để chỉ ra hiệu (tên) của đức Phật đó là A Di Ðà. Ba
đời đều có Phật, lựa khác ông Phật quá khứ và vị lai
nên nói là ông Phật hiện tại. Mỗi vị Phật nào cũng đều
độ sanh; chỉ phép độ sanh là thuyết pháp. “Hiện tại
thuyết pháp”: Như kinh Ðại Bổn và trong kinh Ðại Vân đã
nói.
SAO:
Kinh
Ðại Bổn nói: “Ông Phật kia, chẳng phải ông Phật quá
khứ, chẳng phải ông Phật hiện tại và cũng chẳng phải
ông Phật vị lai. Bởi do ngài đáp lại cái chí nguyện của
ngài nên hiện ở Tây phương thôi, thế giới Ngài tên là
Cực Lạc, hiệu ngài là A Di Ðà”.
Chữ
Ðại Vân là kinh Ðại Phương Ðẳng. Ðại Vân nói: “Bấy
giờ đức Thế Tôn Thích Ca hớn hở mỉm cười, từ trên
gương mặt của Ngài, phóng vô lượng hào quang. Ngài Ðại
Vân Mật Tạng Bồ tát hỏi duyên cớ.
Phật
dạy: ‘Thế giới bên Tây phương, có nước tên là An Lạc,
ông Phật hiệu là Vô Lượng Thọ, hiện tại đang thuyết
pháp và bảo một vị Bồ tát rằng: Bên thế giới Ta Bà có
Phật Thích Ca Mâu Ni, hiện nay đang thuyết pháp về kinh Ðại
Vân, ngươi nên qua đó mà nghe. Nay vị Bồ tát đó sắp qua
đến đây”.
Thế
thì chính đương khi bên nầy đức Thích Ca thuyết pháp thì
bên kia Phật A Di Ðà cũng đương thuyết pháp, cho nên biết
chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai mà là hiện tại
thuyết pháp.
SỚ:
Phàm nói hiện tại, cũng có hai nghĩa như: Ðức Thích Ca, đức
Di Ðà đều gọi là hiện tại, nhưng có một chút chẳng đồng.
SAO:
“Một chút chẳng đồng” là: Ðức Thích Ca là vị Phật
thứ tư trong Hiền kiếp (kiếp hiện tại) nên kêu là ông
Phật hiện tại, nhưng đã thị tịch nơi chốn Song Lâm khó
thấy tướng hảo, chỉ nghe danh tốt và còn để lại ba tạng
kinh giáo và ảnh tượng ngài mà thôi!
Còn
đức Phật A Di Ðà thời trong ngày này, giờ này, chính ở
nước kia hiện đang thuyết pháp. Thế thì đức Thích Ca hiện
tại mà đã quá khứ. Di Ðà hiện tại vẫn hiện tại vậy.
Người
xưa nói: “Khi Phật còn tại thế, ta bị trầm luân, nay được
thân người, Phật đã diệt độ mất rồi”. Ôi, buồn cho
tấm thân nhiều nghiệp chướng không thấy được kim thân
của đức Như Lai, cảm mộ thương than đến nỗi thế nầy!
Nay
đức Thích Ca tuy diệt độ, nhưng đức Di Ðà đang còn; miễn
sao vãng sanh liền đặng gần gũi, thế mà không tin, không
nguyện, luống uổng thương than cũng là vô ích, thật là rất
lầm.
SỚ:
Lại với hiện tại đây là cứ theo đương thời đức Thích
Ca còn ở đời mà nói, chứ thiệt ra thời suốt đến đời
trước, đời sau, cũng còn đời sau và đời sau vô tận đều
kêu đời hiện tại.
SAO:
“Ðời trước đời sau” là: Ðức Thích Ca trước khi
chưa ra đời, đức Di Ðà cũng hiện tại đang thuyết pháp,
đức Thích Ca đã diệt độ mất rồi, đức Di Ðà cũng hiện
tại thuyết pháp, nhẫn đến ngày nay cũng vẫn còn hiện tại.
“Ðời
sau, đời sau vô tận” là: do đức Phật Thích Ca thuyết pháp,
chỉ ở trong 49 năm từ đức Ca Diếp sắp về trước, đến
Phật Di Lặc về sau dầu số năm nhiều đi nữa, cũng có hạn
lượng, chưa bằng đức Di Ðà thuyết pháp rất là lâu xa,
chư Phật chẳng bằng. Thế cho nên chẳng những trong thì giờ
này, còn gọi hiện tại, mà đời sau đời sau đến vô tận
đời sau cũng vẫn còn kêu là hiện tại thuyết pháp.
Hỏi:
Sau khi đức Di Ðà, kế bổ xứ Quán Âm, đâu đặng nói đức
Di Ðà vô tận? Ðáp: Ðức Di Ðà trụ thế mấy kiếp mới
bổ đức Quán Âm, có từng biết số chăng? Kia, đức Quán
Âm còn nói: trụ vô ương số kiếp vô ương số kiếp, bất
khả phục kế kiếp mới trao lại cho đức Thế Chí (28) thời
với đức Di Ðà ở lâu đời khá biết; đâu chẳng phải
cũng hữu tận bằng vô tận đó ư? Huống đức Thế Chí mà
bổ cho đức Quán Âm hằng không thời kỳ bát nê hoàn (vào
Niết Bàn). Tuy nói rằng đức Thế Chí nhưng thiệt ra thì
cũng như đức Di Ðà thuyết pháp không khác vậy. Ðây gọi
là đời sau và đời sau vô tận; thế nào mà chẳng được?
SỚ:
Lại, hiện tại ở đây là cứ nơi đức Thích Ca đối với
đức Di Ðà mà nói, chớ thiệt thời hiện tại của đức
Di Ðà tức là hiện tại của đức Thích Ca.
SAO:
Ngài
Trí Giác nói: “Trong kinh giáo Tổng Trì nói: 37 vị Phật đều
là một bản thân Phật Tỳ Lô Giá Na hiện ra”, nghĩa là:
trong tâm đức Phật Giá Na chứng cõi Tự Thọ Dụng, thành
ra năm trí. Trước dùng trí Pháp Giới Thanh Tịnh tự ở giữa
trung ương, kế dùng bốn trí tủa ra bốn phương thành bốn
đức Như Lai, và trí Diệu Quán Sát kia tủa ra phương Tây
thành ông Phật Vô Lượng Thọ ở thế giới Cực Lạc”,
thời một vị Phật mà hiện ra hai cõi. Cho nên Ngài Thanh Lương
nói: “tức đức Bổn Sư vậy”.
SỚ:
Song chư Phật thuyết pháp nhiều cách chẳng đồng. Nay đây
y báo chánh báo đều thuyết rõ như kinh này và kinh Ðại Bổn
cùng trong Quán kinh đã nói.
SAO:
“Nhiều cách chẳng đồng” là như thuyết pháp bằng
tiếng nói, bằng mắt xem, nhẫn đến bằng cơm thơm v.v...
cho nên thế giới Cực Lạc chẳng những thuyết pháp bằng
lời nói của Phật, mà y, chánh cũng đều thuyết pháp như
kinh Ðại bổn nói: đức Phật A Di Ðà vì các hàng Bồ tát,
Thanh văn, chư thiên, thế nhơn rộng nói Ðại giáo (đại thừa)diễn
đủ pháp mầu, ai nghe cũng mừng rõ vui thích, tâm được tỏ
ngộ, mỗi người đều có chỗ sở đắc.
Lại
nói phương Ðông có hằng hà sa số chư Phật đều khiến
vô lượng Bồ Tát, ThanhVăn đi đến chỗ đức Phật A Di Ðà
nghe thuyết diệu pháp. Bốn góc trên dưới, chư Phật cũng
sai Bồ Tát đi nghe thuyết diệu pháp. Như thế đây là: Chánh
báo thuyết pháp.
Kinh
đây chép nước, chim, cây, rừng diễn ra diệu pháp, cùng kinh
Ðại Bổn và Quán kinh như trong bài văn sau dẫn rõ; đây là:
Y báo thuyết pháp.
Lại
kinh Ðại Bổn nói: “Hoa sen nước kia, phóng ra vô lượng
hào quang, trong hào quang phóng ra vô lượng đức Phật, mỗi
mỗi chư Phật, đến thuyết diệu pháp”. Ðây là Y, Chánh
đồng thời thuyết vậy.
SỚ:
Có chỗ nói thuyết pháp là ứng thân và báo thân. Lại có
chỗ khác nói: Ba thân đồng thuyết, tùy cơ mỗi người thấy
chẳng đồng.
SAO:
“Ứng thân Phật thuyết” là: Có chỗ nói Pháp thân Phật
một mực không thuyết. Báo thân Phật đủ thuyết mà không
thuyết, còn ứng thân Phật nhứt định thuyết; thế thời
sự thuyết pháp của đức Phật kia chính là ứng thân. Song
cũng gồm báo thân nữa; như kinh Ðại bổn nói: “Thân Phật
cao hơn tất cả thân của người thế gian”. Quán kinh nói:
“Thân Phật cao sáu mươi vạn ức na do hằng hà sa do tuần”.
Thế thời đâu phải nhứt định là thân một trượng sáu
thước!
Song
trong kinh nói: Báo thân và Hóa thân đều chẳng phải là Phật
hiện thật, cũng chẳng có thuyết pháp thì đâu đặng nhứt
định rằng Pháp thân không thuyết. Ðó là tùy cơ mỗi người
ngó thấy, chỗ thấy chẳng đồng thôi (chớ kỳ thật ba thân
đồng thuyết).
SỚ:
Rất đáng tiếc thay muôn dặm, trăm thành, vì cầu ông tri
thức trèo non vượt bể, mới nói rằng lễ chốn Ðạo Tràng;
há nên với Phật vạn đức Như Lai hiện tại thuyết pháp,
làm ngơ chẳng đoái hoài, đành đọa chốn Ðông Thành! Thế
thời gọi là đáng thương xót lắm!
SAO:
“Vạn lý” (muôn dặm) là: Ông thầy hỏi ngài Ðại Tùy:
“Chừng kiếp hỏa tai nổi dậy, đốt cháy chưa biết cái
ấy (thức tâm) hoại hay là không hoại?” Ðại Tùy đáp:
“Hoại”.
Ông
thầy hỏi: “Như thế thì nó đi theo kiếp hoại hay sao?”
Ðáp: “Ði theo”. Ông thầy hồ nghi mãi, không giải quyết,
phải qua lại muôn dặm, khắp cầu ông tri thức cắt nghĩa
mới đặng đại ngộ.
“Trăm
thành” là: ngài Thiện Tài trải qua các phương một trăm
mốt cái thành tham cầu 53 ông thiện tri thức.
Dẫn
lời đây, để so sánh đức Phật A Di Ðà là ông tri thức
tối cao vậy. “Trèo non vượt bể” là: Non Nga Mi và non Phổ
Ðà v.v...
Dẫn
lời đây, để so sánh thế giới Cực Lạc Tây phương là
chốn Ðạo Tràng tối thắng. Song người xưa lặn suối, trèo
non; ấy là vì muốn gần gũi bậc hiền thánh. Ngày nay giong
ruổi Ðông, Tây chỉ là xa xem ảnh tượng mà lại trải đủ
con đường hiểm trở gian truân, chẳng nài sự lao khổ! Ðâu
đặng với đức Từ Tôn hiện tại, bỏ qua không đến, khác
nào bà lão mẫu ở Ðông thành đồng sanh một ngày giờ với
đức Phật, mà không thấy chơn dung của ngài. Há chẳng phải
đồng bạn đó chớ chi? Với ông Phật quá khứ và vị lai
thế tất khó gặp, còn ông Phật hiện tại cũng bỏ qua, cho
nên nói đáng thương xót.
SỚ:
Xứng lý thời tự tánh thể vẫn linh tri, là nghĩa “cõi kia
có Phật”. Tự tánh chính nay vẫn hiển hiện là nghĩa “hiện
tại thuyết pháp”.
SAO:
Mãn
buổi hầu bên Phật mà chẳng thấy kim dung Ngài, trọn ngày
ngồi trong pháp hội mà chẳng nghe được đạo mầu, thành
thử để Ma vương lộn vào cõi Phật; tà pháp chen với lý
chơn tôn! Nếy hay quày rõ nguồn tâm Phật Pháp đồng thời
đều đủ!
B. BIỆT
THÍCH (phân ra làm hai phần)
1.
Y BÁO (cõi y báo)
2.
CHÁNH BÁO (thân chánh báo)
Y BÁO (phân
ra làm hai phần)
1.
Tổng danh Cực Lạc (chung gọi nước Cực Lạc)
2.
Biệt thị trang nghiêm (riêng chỉ vật tốt đẹp)
TỔNG DANH
CỰC LẠC
Này
Xá Lợi Phất! Vì sao nước kia gọi là Cực Lạc? Bởi chúng
sanh nước kia chỉ hưởng những điều vui, không có các việc
khổ, nên gọi là Cực Lạc.
SỚ:
Trước giải y báo là vì thuận theo văn trên, cũng vì khiến
cho chúng sanh, sanh tâm ưa vui.
Khổ:
Là nghĩa ép ngặt, khốn hại. Khổ là một món đầu trong
bốn món Tứ Ðế. Các khổ là: Trong các kinh, luận phân ra
có: 3 khổ, 8 khổ, 10 khổ, 110 khổ.
Lại
so giữa hai món sanh tử: Phân Ðoạn và Biến Dịch, thì Biến
Dịch sanh tử cũng lo khổ rồi; huống chi các cái khổ khác
nữa. Do sự khổ chẳng phải một nên nói các khổ vậy.
Các
vui là như trong kinh kể hai món thanh tịnh trang nghiêm cũng
do sự vui chẳng phải một, cho nên nói rằng các vui vậy.
Nước
Cực Lạc là do các nước khổ vui có bốn món: Có nước khổ
nhiều vui ít, có nước vui khổ bằng nhau, có nước khổ ít
vui nhiều, có nước không khổ toàn vui. Nay nước Cực Lạc
nhằm nước thứ tư (không khổ toàn vui).
SAO:
Tứ
Ðế là: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo, mà Khổ thì ở trước hết.
Vì biết khổ mới đoạn Tập và tu Ðạo mới chứng Diệt
(tịch diệt Niết Bàn). Ba khổ là:
1.-
Khổ khổ: Nghĩa là mang cái thân hữu lậu này đã là khổ
rồi, mà lại chịu các khổ ép bức của hoàn cảnh nữa,
cho nên nói khổ mà lại thêm khổ vậy. Ðây là cái khổ cõi
Dục giới.
2.-
Hoại khổ: Nghĩa là đang khi vui đã hoại rồi, thời không
xiết bao sự lo buồn vậy. Ðây là cái khổ của cõi Sắc
giới.
3.-
Hành khổ: Cái khổ này nó ở giữa chừng, tức là bất khổ
bất lạc, vì mỗi niệm mỗi dời đổi trong hành vi. Ðấy
là cái khổ cõi Vô Sắc giới.
Lại
cõi Dục giới đủ cả ba món khổ ấy, cõi Sắc giới gồm
hai món khổ sau. Còn cõi Vô Sắc giới chỉ có món Hành khổ,
là ba khổ vậy. Mà người ở nước Cực Lạc kia là người
đã ly dục, được thanh tịnh thời không có cái khổ khổ;
y báo, chánh báo vẫn thường còn và vui thời không có cái
hoại khổ. Vượt khỏi ngoài ba cõi, thời không có cái Hành
khổ.
Tám
khổ là: Khi sanh thời ở trong ngục thai của mẹ. Khi già bị
cái điều lóng cóng; khi bệnh chịu các sự đớn đau; khi
chết lại thảm buồn phân tẻ; khi thương muốn hội hiệp
mà hoàn cảnh bắt phải chia lìa; khi oán ghét ý muốn tránh
xa mà bắt phải gặp gỡ; khi cầu một vật gì ưa thích muốn
cho được mà lại phải thất bại; cho đến cái thân này
cả ngũ ấm nó lẫy lừng gồm hiệp với bảy khổ trên thành
ra 8 khổ vậy.
Nhưng
nước Cực Lạc kia, khi sanh là bằng liên hoa hóa sanh thời
không có cái khổ bằng thai sanh như cõi này; khí hậu không
mưa lạnh lắm, không nắng nực lắm thời không có cái khổ
già nua lóng cóng. Thân là không phải cái thân bằng phân đoạn
sanh tử thời không có cái khổ bịnh đau đớn; mạng sống
lâu bằng số vô lượng thời không có cái khổ về chết
mất. Không cha, mẹ, vợ, con thời không có cái khổ về tình
thương yêu mà bị phân cách. Các nguời bực Thượng Thiện
đồng hội hợp đoàn kết một xứ thời không có cái khổ
bằng oán ghét lại gặp nhau. Tâm muốn vật chi, vật ấy tùy
tâm hiện đến thời không có cái khổ mưu cầu mà không được
như cõi này. Quán chiếu thân tứ đại vốn không vắng lặng,
thời không có cái khổ bằng thân ngũ ấm xí thạnh (lẫy
lừng).
Mười
khổ là: Trong Bồ Tát Kinh Tạng nói: 1.- Khi sanh khổ; 2.- Khi
già khổ; cho đến thứ 10 là cái khổ trôi lăn trong đường
sanh tử.
Một
trăm mười khổ là: Luận Du Già nói: 1.- Không có khổ bằng
sai biệt đổi thay; 2.- Không có khổ về tham dục và si mê,
cho đến cái khổ thứ 55. Kế có chín món khổ; ở trong chín
món ấy, lại thứ lớp chập chồng chia ra thành 55 nữa, hiệp
cộng 110 cái khổ. Nay nước Cực Lạc kia đồng không có một
khổ nào cả (cho nên gọi là Cực Lạc: toàn vui).
Song
ước lược mà nói: Chẳng ngoài 3 khổ, với 8 khổ, nó đã
gồm thâu các món khổ. Vậy hai món sanh tử là: phân đoạn
sanh tử và biến dịch sanh tử.
Phân
đoạn là do bốn đại thành thân nên thân có ngằn chừng
từng phần, từng đoạn, như trong bài văn Tám Khổ (trên đã
nói).
Biến
dịch là cõi đây dầu bực Nhị Thừa Bồ Tát, tuy đã lìa
cái thân phần đoạn nhưng mà chưa khỏi tướng (sanh, trụ,
dị, diệt) đổi dời, nhơn dời quả đổi, cũng gọi là khổ.
Còn nước kia ở trong hoa sen hóa sanh ra; một phen sanh về không
hề lui sụt nào phải lo hai món khổ vậy.
Kinh
Ðại Bổn nói: “Nước kia không nghe tên cái khổ, huống
chi có khổ thiệt”; cho nên nói không có cái khổ.
Hai
món thanh tịnh là trong Luận nói: 1.- Khí thế gian cõi vô tình
thanh tịnh; 2.- Chúng sanh thế gian cõi hữu tình thanh tịnh.
Tức y báo và chánh báo, hai báo đều là công đức trang nghiêm
như trong bài văn sau và kinh Ðại Bổn cùng Quán kinh đã biện
rành.
Hỏi:
Kinh Tịnh Danh nói: “Tất cả chúng sanh tức tướng tịch
diệt không cần diệt gì nữa”, thời tất cả cõi nước
tức là tướng Cực Lạc, lại còn có Cực Lạc gì nữa? Mà
kinh này phân ra có khổ có vui, tuồng như trái với kinh kia?
Ðáp:
Ngài Hiền Thủ Ðại Sư giải thích kinh kia, ý Ngài nói: Chỉ
do vì chúng sanh mê lầm điên đảo, quấy thấy có sanh tử,
gọi là ở “bờ bên này”. Bực Ðại Thánh đã ngộ sanh
tử vốn không, bản lai viên tịch, tức gọi là “đã qua
bờ bên kia”. Nay kinh này cũng nói: Vì chúng sanh mê đảo,
vọng chấp cõi đời ngũ trược này, cho là thật tế là đại
đồng, gọi là ở nước Ta Bà. Nực tỏ ngộ cõi ngũ trược
này vốn không, bản lai thanh tịnh, tức gọi là đã về nước
Cực Lạc. Nói tóm lại, cõi nước thường tịch, tại chúng
sanh tự mê, mê nhiều ngộ ít, cho nên đức Phật Ngài mới
chỉ cho cõi khổ và bày cõi lạc, không nỡ thôi được!
SỚ:
Song khổ, vui đối nhau, chính dùng kia đây hai cõi để so lường
thắng và liệt khiến cho sanh tâm ưa và nhàm, như mười món
khó dễ v.v...
SAO:
“Tương đối” là: Lấy cái hết sức khổ ở cõi này
đối với cái rất vui tột bực ở nước kia; một thắng,
một liệt sánh xa như trời với đất để tự sanh tâm ưa
vui, chán khổ, lấy bỏ tự quyết.
“Mười
món” là: Ngài Từ Vân Sám chủ chia cõi này cõi kia khó và
dễ có mười món, nay đối với khổ vui mà nói:
1.
Cõi này có cái khổ chẳng thường gặp Phật; cõi kia không
điều đó, mà chỉ có cái vui hoa nở thấy Phật và thường
gần gũi Ngài.
2.
Cõi này có cái khổ không được thường nghe thuyết pháp,
cõi kia không có điều đó mà chỉ có cái vui: Nước, chim,
cây, rừng đều rao pháp mầu.
3.
Cõi kia không có cái khổ bị ác hữu ràng buộc kéo lôi, mà
chỉ có cái vui cùng các người bực Thượng Thiện đồng
cu hội một xứ.
4.
Cõi kia không có cái khổ bị quần ma não loạn mà chỉ có
cái vui chư Phật hộ niệm, xa lìa việc ma chướng.
5.
Cõi kia không có cái khổ luân hồi chẳng dứt mà chỉ có
cái vui bặt hẳn đường sanh tử, hằng khỏi nẻo luân hồi.
6. Cõi kia không có cái khổ khó khỏi tam đồ mà chỉ có cái
vui xa lìa ác đạo và chẳng nghe tên ác.
7. Cõi kia không có cái khổ bận vì việc làm ăn, trở ngại
việc hành đạo, mà chỉ có cái vui vật thọ dụng sẵn sàng,
chẳng đợi kinh dinh (sắm sửa).
8. Cõi kia không có cái khổ mạng ngắn chết non mà chỉ có
cái vui sống lâu bằng Phật không có hạn lượng.
9. Cõi kia không có cái khổ tu hành thối thất mà chỉ có
cái vui vào ngôi chánh định hẳn không thối chuyển.
10. Cõi kia không có cái khổ nhiều kiếp khó thành mà chỉ
có cái vui một đời tu chứng, chỗ làm đặng xong.
Chữ “Ðẳng” v.v... là như lời Sao của ngài An Quốc phân
làm 24 việc vui và trong Luận Quần Nghi chia rộng ra làm 30
việc lợi ích, đều nói cõi vui để cho rõ cõi khổ; nói
việc ích để cho rõ việc hại, đại ý đồng như văn trước,
đây không chép nhiều.
Sớ: Với bốn cõi khổ vui, lược như trong giáo pháp Ngài
Thiên Thai nói:
Sao:
Nghĩa là: Lầm về sự thấy, lầm về sự nghĩ, nhẹ hay nặng,
đó là khổ lạc của cõi Ðồng Cư. Thể không và tích không,
khéo hay vụng đó là khổ lạc của Phương Tiện. Thứ lớp
nhứt tâm đó là khổ lạc của cõi Thiệt Báo. Phần
chứng hay cứu cánh chứng, đó là khổ lạc của cõi Tịch
Quang, v.v... Văn nhiều đây không kể.
Sớ: Hỏi: Ông Bồ Tát hy sinh bỏ ngũ dục lạc. Dầu ngôi
vua Luân Vương cũng chẳng lấy làm vui, thương tưởng chúng
sanh vẫn ở dưới địa ngục, thay thế cái khổ kia! Nào đặng
bỏ chúng sanh đương thời mà tìm lấy cõi Tịnh Ðộ để
an hưởng cái vui một mình?
Ðáp: Trong bộ Thập Nghi Luận của Ngài Trí Giả đã tường
thuật và cũng có nhiều thuyết thủ xả chẳng khá chẳng
biện.
Sao:
Trong Luận nói: “Ông Bồ Tát chưa đặng quả Vô Sanh Pháp
Nhẫn, không đủ sức độ sanh, dụ như đem ghe bể vớt người
đắm nước, mình và người đều bị chết chìm luôn. Cầu
sanh về Tịnh Ðộ, chứng đặng Vô Sanh Nhẫn rồi, trở lại
cõi nầy, cứu khổ cho chúng sanh mới là có phần giúp ích
được; cũng như cứu cái dốt của người trước mình cần
phải biết chữ”. Cho nên ông Bồ tát mới phát tâm cũng
thế, trước phải bỏ cõi khổ này, chính là muốn cứu khổ
cho chúng sanh; thủ lấy cõi vui, chính là muốn sẽ đem lại
cái vui cho chúng sanh vậy. Tự lợi lợi tha, là bổn phận
của ông Bồ tát, há bực nhị thừa độc thiện mà khá sánh
được sao?
“Lại có nhiều thuyết” là: Tổ Khuê Phong giải thích bộ
kinh Viên Giác nói: “Các món thủ xả đều là bị luân hồi
cả”. Như nói: Xả cõi Ta Bà nầy. Thủ cõi Tịnh Ðộ
kia. Mà ngài Ðại Mai cũng nói: “Xả cấu thủ tịnh là nghiệp
sanh tử”. Cho nên nay biện rằng: Những lời nói đây chẳng
phải là chẳng trúng đích. Nhưng mà đặng ý chỉ thì gọi
là vị Ðề Hồ, mà thất ý chỉ trở lại thành thuốc độc.
Cốt muốn mỗi người đều tu Tịnh nghiệp để cho nhơn loại
đều đặng thanh tịnh, chứ nào chỉ bỏ cái cấu của Ta
Bà, riêng lấy cái tịnh của Cực Lạc, mới là thủ xả?
Dầu nói: Cõi của Ta Bà duy tâm, cũng còn ở trong vòng thủ
với xả vậy. Dù rằng ta không thủ xả mà xả cái thủ xả
đây để thủ lấy cái không thủ xả kia, cũng là còn thủ
xả, cũng là nghiệp sanh tử luân hồi vậy.
Ðâu có biết rằng: Lý thì nó không phần hạn, còn sự thì
nó có sai khác. Hễ Lý mà tùy Sự để biện đổi ra
thời chỗ không thủ xả, nó thủ xả rõ ràng; còn Sự đặng
Lý để lẫn thông, thời chính khi thủ xả đó toàn là không
thủ xả. Cho nên ông Bồ Tát tuy biết tất cả các pháp
bình đẳng không hai, mà chỉ cảnh khổ, vui, khai môn thủ
xả, quyền thiệt đều làm, lý sự vô ngại.
Lời luận đây xin gác lại. Bây giờ các ông tự xét lại
mình coi: Hẳn có thể đối với vị hẩm hút, hôi thiu, vữa
vã dùng làm đồ ăn uống không khác như ăn vật cao lương
mỹ vị chăng? Với chỗ cầu xí, hầm hố lấy làm giường,
chõng chẳng khác như nhà lầu tốt đẹp chăng? Vỏ cây, lá
cỏ dùng làm y phục chẳng khác lụa là, gấm, nhiễu chăng?
Hổ, tây, hùm, gấu lấy làm bầu bạn, chẳng khác cha, mẹ,
anh, em chăng? Mùa đông ngồi trong giá tuyết chẳng khác ngồi
trong nệm bông chăng? Mùa hạ bữa nắng gắt chẳng khác gì
gió mát chăng? Nhẫn đến trong địa ngục bằm, thiêu, đâm,
xay chẳng khác nào vào cõi Thiền thứ ba chăng? Ði trong dị
loại, chẳng khác nào như đi dạo chơi chăng?
Bằng chưa được như vậy (vì còn phân biệt) rõ ràng là
phàm phu, đâu đặng lấy cảnh giới quá lượng của vị đại
thánh nhơn mà làm cảnh giới sở hữu của mình, thủ lấy
cái nói cho khoái khẩu một thời, để cái hại nhiều đời
vô tận. Nên nghe lời đây, sanh tâm đại hối hận, khởi
tâm đại giác ngộ, rơi lụy thương khóc với cái nghiệp
mình mà cầu sanh về Tịnh Ðộ mới là phải. Cho nên ông
Thiền Thủy phê bình lời Sớ ngài Khuê Phong rằng: “Phân
ưa, nhàm, thủ, xả. Tuy rằng: Mê chơn khởi vọng, nhưng
cũng có thể thuận theo lời dạy mà thành công. Phải biết:
toàn tu tức tánh, thời tâm ưa nhàm vốn không”. Huống một
pháp môn (niệm Phật) An Dưỡng (Tịnh Ðộ), chư Phật đồng
khâm khen, qua lại trong pháp giới, càng rõ lý duy tâm; mượn
duyên lành kia, mau lên cõi Bửu Giác. Thật là đường chánh
của người đời về nương, chánh là phép huyền diệu của
Thánh Nhơn để dắt chúng.
Sớ: Xứng lý thời tự tánh không nhiễm là nghĩa không
có các khổ. Tự tánh thường tịch là nghĩa chỉ hưởng
các sự vui.
Sao:
“Nhiễm” là nghĩa khổ. “Tịnh” là nghĩa vui. Tự tánh
không nhiễm thường tịnh, là nghĩa không khổ thường vui
vậy. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Bực Lục Ðịa quán xét vô
minh; do từ vô minh cho đến thứ 6 là lục nhập, ấy là Hành
Khổ. Xúc, Thọ, ấy là Khổ khổ, còn các cái kia là Hoại
khổ”.
Nay nói tâm ta đây, từ không cái vô minh cho đến không cái
Lão, Tử, là nghĩa không Khổ khổ. Không 12 món đây, tức
là bực chơn giải thoát, là nghĩa hưởng sự vui. Kinh nói:
“Quả Vô Thượng Bồ Ðề là cái vui giác pháp, cõi Vô Thượng
Niết bàn là cái vui Tịch Tịnh”. Thế đều là nghĩa vui
vậy. Do trên, vả thuận theo kinh văn, khổ vui đối đãi. Như
thật mà luận: Nhiễm đã không lập (không có), tịnh lại
đâu còn. Tịnh uế đều vong, khổ vui bình đẳng. Cái
vui như thế mới đúng với cái nghĩa Cực Lạc. Bằng chấp
là thánh giải (chấp mình chừng bực thánh) trở thành cảnh
giới của ma chấp Phật kiến (chấp chỗ thấy mình bằng
Phật) liền đọa ngục Thiết Vi. Thế cho nên ta quán xét nước
Cực Lạc, thiệt không đáng vui. Vì nếu chấp có đáng vui
thì khác gì với đáng khổ, bởi vì còn tương đối.
BIỆT THỊ
TRANG NGHIÊM (phân làm bốn phần)
1. LAN VÕNG HÀNG THỌ (lan can, lưới cây)
2. TRÌ CÁC LIÊN HOA (ao, lầu, hoa sen)
3. THIÊN NHẠC VŨ HOA (nhạc trời, rải bông)
4. HÓA CẦM PHONG THỌ (hóa chim gió cây)
LAN VÕNG
HÀNG THỌ (phân ra làm hai phần)
1. Tường trần (rõ bày)
2. Tổng kết (chung kết)
TƯỜNG
TRẦN
Lại nữa, nầy Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có bảy
lớp lan can, bảy lớp lưới giăng; bảy lớp hàng cây đều
làm bằng bốn món báu, đoanh vây giáp vòng.
Sớ: Văn đây chính nói rõ ra các sự vật rất vui, lan can
quanh ở ngoài hàng cây, lưới giăng phủ ở trên cây, xen lẫn
với nhau, đều có 7 lớp. Bốn món báu là bốn món trước
trong 7 món báu vậy. “Châu tráp” là giáp vòng khắp đủ.
“Ðoanh vây” là đoanh quanh bao bọc, nghĩa là: Mỗi lớp
đều là bằng bốn món báu trang sức.
Sao:
“Lan can”: bề ngang là Lan, bề đứng là Can (song can). Phương
đây, với những vườn hoa cây kiểng cũng có làm lan can: 1.
Ngăn rào trâu, dê làm hư hại. 2. Ðể coi cho tốt. Cõi kia
tuy khỏi giữ trâu, dê, và không cố ý để xem cho tốt mà
là do vạn hạnh công đức trang nghiêm, tự nhiên nó đều
thật hiện thành tựu. Nghĩa lưới giăng cũng đồng như đây.
“Hàng cây” là thứ lớp thành hàng, không lộn lạo. Thế
nào là bảy lớp: Một lớp lan can, một lớp lưới, vây
phủ một lớp hàng cây; cho nên nói rằng: “Lớp lớp
xen nhau”. Với ba việc nầy mặc dầu cõi ta đây cũng có,
nhưng mà chất nó chỉ bằng cây với đá. Cõi kia thì ròng
là dùng các thứ ngọc báu làm thành.
“Bốn món báu trước trong 7 món báu” là: Kim, Ngân, Lưu
Ly, Pha Lê vậy. “Giáp vòng đoanh vây” là như kinh Thoại
Tướng nói: “Vô lượng lưới báu đều dùng chỉ vàng, châu
ngọc, trăm nghìn món tạp bảo trau dồi rực rỡ. Giáp vòng
bốn phía, treo những cái bảo linh, hào quang màu sắc chóa
lòa, phủ trùm trên rừng cây”. Kinh Ðại Bổn nói: “Lưới
kia mềm dịu như bông Ðâu La Miên (bông vải) chẳng phải
như món báu trong thế giới nầy, phải đợi chạm trổ uốn
nắn mới là nghiêm sức”. Lan can bằng ngọc trang sức, cũng
lệ theo đây nên biết.
Kinh Ðại Bổn nói: “Trên bờ đường bằng các món báu,
có vô số cây chiên đàn hương, cây kiết tường quả, mỗi
hàng mỗi hàng ngang nhau, mỗi gốc mỗi gốc đối nhau, mỗi
cành mỗi cành nương nhau, mỗi lá mỗi lá ngay nhau, mỗi hoa
mỗi hoa chìu nhau, mỗi trái mỗi xứng nhau”. Như vậy hàng
ngũ, mấy trăm nghìn lớp nên gọi là “hàng”. Kinh lại nói:
“Các cây bằng thất bảo, đầy nhẫy trong thế giới”,
chỗ gọi rằng: Gốc vàng, cây vàng nhánh lá hoa trái cũng
đều bằng vàng, thời gọi là một món báu.
Gốc vàng, cây bạc, nhánh lá hoa trái, cũng phân ra vàng và
bạc, thời gọi là hai món báu. Như vậy ba món báu, bốn món
báu kia xen lộn, lẫn lựa thêm nhiều, nhẫn đến 7 món báu.
Lại nói: “Cõi Tịnh Ðộ chư Phật xinh tốt trang nghiêm,
ở trong cây báu thảy đều hiện ra cũng như gương sáng”.
Quán Kinh nói: “Bảy hàng cây báu, mỗi mỗi cây, cao 8 nghìn
do tuần, mỗi mỗi hoa lá, ửng ra màu sắc báu lạ, trong sắc
lưu ly phóng ra hào quang sắc vàng; trong sắc pha lê chiếu ra
tia sáng sắc hồng” v.v...
Lại nói: “Lưới bằng ngọc chơn châu tốt giăng phủ trên
cây báu, mỗi mỗi cây có bảy lớp lưới ngọc. Mỗi lớp
lưới, có năm trăm ức cung điện tốt đẹp như cung điện
trời Phạm vương, chư thiên, đồng tử tự nhiên ở trong
đó”. Lại nói: “Mỗi mỗi cây lá, dài rộng vừa chừng
25 do tuần; lá kia ngàn sắc, có các hoa đẹp như sắc vàng
cây Diêm phù Ðàn, như vòng lửa quây, lăng xăng trong lá, sanh
ra các trái như cái bình của trời Ðế Thích, có hào quang
lớn, hóa thành tràng phan, vô lượng bảo cái. Trong bảo cái
ấy, ánh hiện cõi tam thiên, đại thiên thế giới, tất cả
Phật sự cũng hiện ở trong đó”. Lại kinh Ðại Bổn nói:
“Nhà giảng đường của Phật, nhà cửa các vị A La Hán,
mỗi mỗi trong có ao thất bảo, ngoài có cây thất bảo, mấy
nghìn trăm lớp”. Căn cứ theo đây, thời ba kinh: Kinh
thì nói nhiều, kinh lại nói ít, có khác, như kinh này chỉ
nói có 7 lớp; mà kinh kia lại nói tới trăm nghìn lớp. Kinh
này chỉ nói lưới giăng, kinh kia lại nói trong lưới giăng
hiện ra cung điện chư thiên. Kinh nầy chỉ nói hàng cây,
kinh kia nói trong hàng cây hiện ra thế giới đại thiên, và
kinh nầy nói bốn món báu, kinh kia lại nói 7 món báu. Số
là kinh nầy nói lược, ít, kinh kia nói rộng, nhiều. Lấy
ít gồm nhiều, vì dùng văn bớt cho gọn. Văn tuy chẳng đủ,
nhưng nghĩa thiệt không thiếu.
Như ngài Linh Chi nói: “Bảy lớp lan can. Phàm chỗ ở của
Phật và Bồ Tát đều như vậy cả, chứ chẳng phải cả
một nước mà chỉ có 7 lớp vậy đâu” thời biết nhiều
đến mấy trăm nghìn lớp, vì nhiều thứ 7 lớp, chất chứa
mà thành. Cứ 7 lớp nầy, kế 7 lớp khác, lớp lớp vô cùng.
Còn nữa, so đây nên thấy.
Sớ: Lại đều nói số 7 là nêu 7 giác chi, 7 thánh tài v.v...
Sao: Với Giác chi, sẽ thấy văn sau. Còn 7 Thánh tài là: 1.
Tín; 2. Giới; 3. Văn; 4. Xả; 5. Huệ; 6. Tàm; 7. Quí. Năm
món trước như của báu, hai món sau như người biết cách
giữ của báu.
Sớ: Lại Kinh Ðại Bổn nói: “Cây Bồ Ðề nơi Ðạo Tràng
của Phật A Di Ðà cao 16 ức do tuần. Bốn phía cành lá 8 ức
do tuần, gốc cây cao lên 5 nghìn do tuần, tất cả các báu
tự nhiên hiệp thành, lại rủ các ngọc báu dùng làm chuỗi
Anh Lạc; lại có lưới báu, giăng phủ trên cây”. Căn cứ
theo đây thời ngoài hàng cây, riêng có cây Ðạo Tràng của
Phật mà văn nầy bớt gọn, tức là gồm trong hàng cây.
Lại trong luận nói: “Cỏ công đức cũng nhiếp trong hàng
cây”. Kinh Ðại Bổn nói: “Cây kia có mùi hương”
cũng nhiếp trong món báu.
Sao:
Cây Ðạo Tràng tức là cây Bồ Ðề, như Phật Thích Ca cũng
ngồi dưới gốc cây nầy mà thành ngôi chánh giác, phải vậy.
“Mười sáu ức do tuần” là kinh Ðại Bổn ngài Vương Thị
nói: “Một nghìn sáu trăm do tuần”. Vả hàng cây còn
được 8 nghìn thay, huống cây của Phật đâu lại kém ư?
Lời Sớ đây gốc dẫn trong kinh Bảo Tích vậy. “Tức nhiếp
trong hàng cây” là: Do cây Ðạo Tràng cũng là: gốc, chồi,
cành, lá, bông, trái, mỗi hàng mỗi hàng kế nhau. Cho nên nói
hàng cây đủ dùng nhiếp hết.
Thế
nào là “cỏ công đức”? Trong Luận nói: “Cỏ Bảo Tánh
công đức, nhu nhuyễn quanh chìu theo hai bên. Hễ ai đụng nhằm
thì sanh tâm vui sướng hơn cái thích ý ôm chim Ca Chiên Lân
Ðà” (29). Văn đây không nói đến cỏ là do vì nói cây gồm
cỏ.
“Mùi
hương của cây ấy” là: Kinh Ðại Bổn, ngài Pháp Tạng nguyện
rằng: “Khi ta thành Phật, hoa cây trong nước đều dùng vô
lượng các món tạp bảo, trăm nghìn món hương mà cộng hiệp
thành. Hương kia phổ huân cả 10 phương thế giới; chúng sanh
nào có duyên được nghe đến, đều nhớ tu đạo Phật”.
Văn đây không nói đến là vì hễ nói các thứ báu lạ thì
lẽ cố nhiên ắt có mùi hương lạ. Do vì nói báu lạ nó
gồm hương lạ.
TỔNG KẾT
Thế
cho nên nước kia gọi là nước Cực Lạc.
Sớ:
Kết văn trước dể sánh văn sau.
Sao:
“Kết văn trước” là gì? Do lan can, lưới giăng, hàng cây
mỗi mỗi đều thanh tịnh trang nghiêm ấy. Sở dĩ cõi địa
cầu bằng vàng ròng, nó khác với địa cầu bùn cát, cây
ngọc báu khác với cây chông gai. Không tất cả sự khổ,
có tất cả sự vui nên gọi là nước Cực Lạc.
Ðể
“sánh văn sau” là gì? Văn sau dưới mỗi câu “công đức
trang nghiêm”, tuy không câu “danh vi Cực Lạc”, nhưng nghĩa
thời có đó. Trong văn đây, dưới câu “danh vi Cực Lạc”,
tuy không câu: “Công đức trang nghiêm nhưng nghĩa cũng có;
vì lối hành văn bằng cách bày thấy lẫn nhau.
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh đủ muôn đức dọc ngang là nghĩa
lan can. Tự tánh rỗng rang bao la pháp giới là nghĩa lưới
báu. Tự tánh nuôi lớn các căn lành là nghĩa hàng cây.
Sao:
“Dọc và ngang” là gì? Cả pháp lục độ vạn hạnh không
lìa tự tánh như: tự tánh vốn không xan tham, ấy gọi là
Bố Thí độ, lấy Bố thí làm bề dọc. Bố thí mà tâm không
nhiễm trước thời bề ngang thành pháp Giới Ðộ (trì giới).
Bố thí mà tâm không kiêu ngạo thời bề ngang thành pháp Nhẫn
Ðộ (nhẫn nhục). Bố thí mà tâm không nhàm mỏi thời bề
ngang thành pháp Tấn Ðộ (tinh tấn). Với pháp Thiền Ðịnh,
Trí Huệ, cũng lại như vậy. Năm độ kia, so như trên nên
biết. “Các món nhiệm mầu trọn đủ” tức là nghĩa xem
cho tốt. Các vọng không phạm (nhiễm) tức là nghĩa ngăn
trâu, dê làm hư hại.
“Bao
la” là gì? Tự tánh khắp đầy, thanh tịnh vì trùm bao cả
pháp giới. “Nuôi lớn các căn lành” là chi? Như kinh
Hoa Nghiêm phẩm Ly Thế Gian nói: “Cây diệu pháp của ông
Bồ Tát sanh nơi đất Trực Tâm, hột giống bằng đức Tín,
gốc bằng Từ Bi, Trí Huệ làm thân cây, Phương Tiện làm
nhành cội, năm độ làm rùm rà, lá bằng Ðịnh, hoa bằng
Thần Thông, Nhứt Thế Trí là trái hột”.
Lại
kinh Tịnh Danh phẩm Phật Ðạo nói: “Pháp vô lậu là rừng
cây, Giác Ý Tịnh Diệu là hoa giải thoát, Trí Huệ là trái,
đều là cội gốc ở nơi đất Trực Tâm mà phát sanh ra vô
tận ấy vậy”. Ngặt vì lan can đã hư mà lại va rìu búa
vào, lưới giăng đã lủng mà lại bóng che mát thưa! Còn khô
héo đến cả gốc nhánh là khác, huống mong gì nở nang hoa
trái?! Song mà rừng Giác (tánh giác) vẫn như xưa, hột giống
đạo (Phật tánh) chẳng xa, sao chẳng mau vun bồi, lại thêm
sửa soạn, liền thấy cây Bá ở trước sân, hoa Dược Lan
ngoài rào. Mỗi hàng, mỗi hàng đều là Bát Nhã Chơn Như,
mỗi phía mỗi phía toàn là Bồ Ðề Phật Tánh!
TRÌ CÁC
LIÊN HOA (phân ra làm bốn phần)
1.
TRÌ THỦY (ao nước)
2.
GIAI CÁC (Thềm lầu)
3.
LIÊN HOA (hoa sen)
4.
TỔNG KẾT (chung kết)
TRÌ THỦY
Lại
nữa, Xá Lợi Phất! Cõi nước Cực Lạc có ao bằng thất
bảo, 8 thứ nước công đức, dẫy đầy trong đó; dưới đáy
ao, dùng ròng thứ cát bằng vàng lót đất.
Sớ:
“Lại nữa” là: Noi theo văn trên, chẳng những trên đất
liền trang nghiêm có những lan can, lưới giăng, hàng cây như
thế, mà dưới ao nước cũng trang nghiêm, cũng lại thắng
diệu không chi kịp vậy. “Ao thất bảo” là gì? Do bảy
món ngọc báu làm thành; chất nước trong ao, cũng dùng 7 thứ
ngọc báu.
Sao:
“Bảy món ngọc báu làm thành” là: Vì lựa khác với phương
nầy, dùng đất đá làm thành. Kinh Ðại Bổn nói: “Trong
ngoài, đôi bên có những ao tắm, hoặc 10 do tuần, hoặc 20,
30, nhẫn đến trăm nghìn do tuần cũng như biển lớn. Hoặc
dùng một món báu, hai món báu, nhẫn đến 7 món báu, hiệp
cộng làm thành”.
Lại
nói: “Như cái ao của đức Phật kia, tư vuông bội hơn cái
ao bằng trăm ngàn do tuần ấy, toàn dùng 7 món báu làm nên”.
Nay kinh nầy (Di Ðà tiểu bổn) không nói ao của Phật là vì
gồm chung trong cái nghĩa ao rồi.
Nước
cũng dùng các món báu như kinh Thập Lục Quán nói: “Nước
trong mỗi ao do 7 món báu làm thành. Báu kia nhu nhuyến từ ngọc
Như Ý Châu Vương (thanh tịnh tâm) sanh ra, phân ra 14 dòng nước,
ngời ra màu tốt của 7 món báu. Vàng ròng làm bờ ao”.
Lại
nói: “Nước bằng chất ngọc Ma Ni (tâm chánh định) kia,
chảy rót trong hoa. Nước chảy chuyền theo cây lên, xuống”.
Nay kinh nầy chỉ nói ao báu, không nói nước cũng do ngọc
báu làm thành và chảy rót lên xuống, là vì chung gồm trong
nghĩa nước vậy.
Nước
bản tánh nó thì chảy xuống, mà trái lại từ dưới thấp
chảy lên trên cây cao. Vì phương ta đây không có (dù có cũng
mắc công bơm). Như kinh Hạ Sanh nói: “Cõi trời Ðẩu Suất
Ðà thiên của Phật Di Lặc ở, có thứ nước chảy đi trong
rường cột”, tức là đồng loại nước đây vậy.
Sớ:
Nước có tám thứ công đức là: Bản kinh dịch đời nhà
Ðường nói: 1. Lóng trong; 2. Mát mẻ; 3. Ngọt ngon; 4. Nhẹ
mềm; 5. Nhuần láng; 6. An hòa; 7. Trừ đói khát; 8. Nuôi lớn
các căn lành. Ðủ tám món công đức đây để lợi ích cho
chúng sanh vậy. Lời kinh Thập Lục Quán nói phân tích tám
món công đức, với kinh nầy có khác một chút.
“Dưới
đáy ao cát vàng” là do lấy cát vàng làm đáy ao, cho khỏi
bùn cặn vậy.
Sao:
Lóng trong là: 1. Lóng trong sạch sẽ không ô trược; 2. Mát
mẻ: Trong trẻo mát mẻ, không nóng nảy; 3. Ngọt ngon:
ngọt ngào ngon đẹp, đủ chất vị rất quí; 4. Nhẹ êm: nhẹ
nhàng, êm ái, chảy lên xuống đều vừa ý; 5. Nhuần
láng: được nhuần trơn láng, không khô rít; 6. An hòa: An tịnh
hòa huỡn, không gấp tràn; 7. Trừ đói khát: Nước này đã
đỡ khát mà nay lại thêm đỡ đói, có sức thù thắng; 8.
Nuôi lớn các căn lành: Nuôi dưỡng thêm lớn cho cả trong
tâm ngoài thân vậy.
Trong
Quán Kinh lời Sớ nói: “Tám món công đức là: 1. Nhẹ. 2.
Trong. 3. Mát. 4. Êm. 5. Ngon. 6. Không hôi. 7. Khi uống hòa đẹp.
8. Uống rồi không bệnh. Ðối với trên, chỗ đại khái thì
đồng, nhưng có khác một chút.
Vì
sao? Do kinh đây, nhẹ và êm hiệp một; còn kinh kia lại chia
làm hai. Kinh đây, không nói “không hôi”. Kinh kia lại thiếu
“nhuần láng” và “hòa an”. Song nghĩa lẫn nhau thấy đủ.
Vì hễ lóng trong mát mẻ thời ắt không hôi hám; đã nhẹ
lại dịu êm, đâu chẳng an hòa, lược bớt nghĩa nhuần láng;
cho nên nói: “Có khác một chút”.
Lại
kinh kia phối với nghĩa Lục Nhập, kinh đây thời lóng trong
là căn Sắc nhập. Ngọt ngon là căn Vị nhập, cho đến nói:
“Nuôi lớn các căn lành” là Nhĩ nhập, Tỷ nhập, Thân
nhập và Ý nhập đều thâu nhiếp cả.
Lại
kinh Ðại Bổn nói: “Dưới sông lớn, cát vàng lót đất,
có hương chư Thiên, hương đời không sánh được, theo nước
tan ra bát ngát, hòa với nước trôi thơm” đều là chứng
rõ có căn hương nhập vậy.
Văn
sau nói thuyết pháp ấy là chứng rõ: Căn Thinh nhập và căn
Pháp nhập. Hỏi: Với ngọt, ngon, nhẹ, êm, trừ đói, nuôi
lớn căn lành, phương đây không hẳn thiệt đúng như vậy,
nhưng mà phàm nước thì thảy đều mát mẻ, thảy đều nhuần
láng, nay vì sao nước cõi kia cũng có đủ hai tánh đó mà
lại riêng xưng là nước công đức?
Ðáp:
Nước ở phương ta mặc dầu cũng mát mẻ, nhưng gặp nắng
thì nóng, gặp lửa thì sôi, còn nước cõi kia dầu kiếp lửa
đến nó cũng mát mẻ tự như, trọn không nóng và sôi.
Nước
ở phương ta tuy cũng nhuần láng, nhưng nắng quá thời khô,
lửa đốt thời cạn. Còn nước cõi kia dầu kiếp lửa đốt
đó, nó cũng vẫn nhuần láng tự như, không khô và cạn.
“Kim
sa” (cát vàng), trong Quán Kinh nói: “Vàng ròng làm bờ ao.
Dưới bờ ao, có những thứ ngọc Kim Cang làm cát dưới đáy
ao”. Kinh Ðại Bổn nói: “Ao, ròng một món báu, cát dưới
đáy cũng ròng một món báu”.
“Ao
vàng ròng” là: Cát dưới đáy ao bằng chất bạc trắng,
như ao thủy tinh, cát dưới đáy bằng ngọc Lưu Ly. Hai món
báu làm ao thời cát dưới đáy, cũng hai món, cho đến 7 món
báu làm ao cũng lại như vậy.
Nay
kinh nầy chỉ nói một thứ cát vàng là vì bớt văn gọn lại.
Sớ:
Lại kinh Ðại Bổn nói ao nước, các món báu đã kể rồi,
nay lại phân ra ba món diệu dụng thù thắng: 1. Nước
hay tùy ý; 2. Nước hay thuyết pháp; 3. Tắm rồi tấn
tu đạo nghiệp.
Sao:
“Tùy ý” là gì? Kinh Ðại Bổn nói: “Các người bực Thượng
Thiện vào trong ao Thất Bảo tắm sạch thân thể, ý muốn
cho nước ngập chưn, nước liền ngập tới chưn; muốn cho
tới gối, nước liền ngập tới gối; muốn cho tới lưng,
tới nách, tới cổ và xối lên trên thân thể, đều được
như ý muốn. Muốn cho nó trở lại, nước liền trở lại,
điều hòa ấm, mát, không chút nào mà chẳng thuận thích.
“Nới thần sướng vóc, rửa sạch tình lự (30), trong ngần
lóng sạch, tịnh như vô hình. Nước ấy thiệt là vô tâm
mà hay tùy tâm ý người muốn vậy” (không như nước máy
cõi nầy, cần người ra sức bơm, vặn, nhận nút trong khi
tắm).
“Thuyết
pháp” là gì? Kinh Ðại Bổn nói: “Pháy dợn xoay vòng, chuyển
nhau rỏn rẻn, không chậm không mau, êm đềm rỉ rả. Sóng
xao vô lượng, tự nhiên kêu ra những tiếng nhiệm mầu. Hoặc
nghe tiếng Phật, hoặc nghe tiếng Pháp, hoặc nghe tiếng Tăng,
tiếng tịnh, tiếng không, tiếng vô ngã, tiếng đại từ bi,
tiếng ba la mật, tiếng thập lực, tiếng vô úy, tiếng bất
cộng pháp, tiếng chư thông huệ, tiếng vô sở tác, tiếng
bất khởi diệt, tiếng vô sanh nhẫn, cho đến tiếng cam lồ,
quán đảnh, tiếng chúng diệu pháp, xứng tâm sở dục (vừa
theo ý muốn). Không phút nào chẳng nghe, phát tâm thanh tịnh,
thành thục các căn, hằng không lui đạo vô thượng Bồ Ðề.
Thiệt là nước ấy vốn vô tình, nhưng có thể nói được
các diệu pháp vậy.
“Tắm
rồi tấn tu đạo nghiệp” là: Kinh Ðại Bổn nói: “Cùng
nhau tắm rồi, hoặc mỗi người ngồi trên hoa sen”. Lại
nói: “Có người ở dưới đất giảng kinh; người tụng
kinh; người tự thuyết kinh; người dạy kinh; người nghe kinh;
người niệm kinh; người nghĩ đạo; người tọa thiền nhứt
tâm; người đi kinh hành; có người ở giữa hư không giảng
kinh; nhẫn đến người tọa thiền rồi đi kinh hành; mỗi
người đều tùy theo tánh của mình muốn mà có đặng chỗ
sở đắc”.
Người
chưa chứng tứ quả nhơn tắm rồi đặng tứ quả; chưa đặng
bực Bất Thối Chuyển địa Bồ Tát thời đặng bực Bất
Thối Chuyển. Nước ấy chẳng những chỉ có cái công năng
dùng để tắm được mà lại sau khi tắm rồi, được nhiều
lợi ích quí lạ.
Sắp
về trước, ba món thù thắng đều nhiếp về trong nước bát
công đức, và ao thất bảo. Lại Hậu Xuất Kinh lời Kệ nói:
“Chỉ có nước sông chảy, tiếng vang như thuyết pháp”,
thật vậy.
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh sâu rộng đằm thắm là nghĩa ao báu.
Tự tánh đều đủ tất cả công đức là nghĩa nước bát
công đức.
Sao:
“Sâu rộng đằm thắm” là gì? Chữ Uông là dạng thẩm
sâu là vì tự tánh sâu mầu vô tận như đáy ao vậy. Chữ
Dương là dạng rộng khơi, là vì tự tánh rộng xa không tột
như lượng lớn của ao vậy. “Ðằm thắm” là dạng trung
hòa; vì tự tánh chẳng phải chơn, chẳng phải tục, thuần
túy chí thiện như ao thuần dùng ngọc báu làm thành.
“Ðủ
các món công đức” là tự tánh không nhiễm, tức đức lóng
sạch. Tự tánh không phiền não tức đức mát mẻ. Tự
tánh không hung ác, tức đức ngọt ngon. Tự tánh vô ngã, tức
là đức nhẹ êm. Tự tánh không dứt mất tức là đức nhuần
láng. Tự tánh không bạo tàn tức là đức an hòa. Tự tánh
không thiếu thốn, tức là đức trừ đói khát. Tự tánh sanh
ra tất cả muôn điều lành, tức là đức nuôi lớn.
Lại
tự tánh thuận muôn vật mà vô tình, đi lên thời vào bực
Thánh, nhưng bực Thánh cũng không tăng; đi xuống thời làm
bực phàm nhưng bực phàm cũng chẳng giảm. Bất biến mà tùy
duyên, khắp cùng cả pháp giới. Cho nên nói chảy rót
thấm trong các thứ hoa và chảy lên trên những cột rường
ấy vậy.
Ngài
Vĩnh Minh nói: “Vì nước có 10 đức đồng với chơn tánh”,
chính ý như đây. Nước định lặng, nhẫy đầy, người tắm
nước đây không nhơ cũng không sạch, ấy là nước bát công
đức.
GIAI CÁC
Ðường
đi bốn bên thềm ao thành bằng bốn chất báu là: kim, ngân,
lưu ly, pha lê. Trên có lầu các, cũng dùng kim, ngân, lưu ly,
pha lê, xà cừ, xích châu, mã não để kiến trúc, điểm tô
nhà lầu ấy.
Sớ:
“Bốn bên” là: Giữa là ao nước, giáp vòng bốn bên là
thềm đường vậy. Kim: tiếng Phạm (suvarna) Tô Phạt La. Ngân:
Tiếng Phạm (Rupya) A Lộ Ba. Lưu Ly đây dịch: Thanh Sắc Bảo
(viên ngọc màu xanh). Pha Lê đây dịch