PHẬT
THÍCH CA NÓI KINH A DI ÐÀ
NGÀI
VÂN THÊ LÀM LỜI SỚ SAO
---o0o---
QUYỂN
THỨ HAI
(tiếp
theo)
B.
Liệt Chúng Chứng (phân ra làm ba phần)
1. Thanh Văn chúng: các thánh Thanh văn.
2.
Bồ Tát chúng: các thánh Bồ tát.
3.
Nhơn Thiên chúng: các hạng người trời.
1.
Thanh Văn Chúng (phân ra làm ba phần)
A.
Minh loại số nói: ngành và số
B.
Biểu vị đức: nêu ngôi và đức
C.
Xuất danh hiệu: nói danh hiệu ra.
A.
Minh Loại Số
Cùng
bực Ðại Tỳ Kheo Tăng một ngàn hai trăm năm mươi người
cu hội.
Sớ:
Từ câu này sắp xuống đến câu: "Chư Thiên đại chúng cu"
là chúng thành tựu.
Chữ
"Dữ" cũng như nghĩa chữ "Cộng".
Chữ
"Ðại" là lựa khác với chữ "Tiểu", có đủ ba nghĩa: Ðại,
Ða, Thắng vì khác với Tỳ Kheo kia. Luận Phật địa cũng
có đủ ba nghĩa.
Chữ
Tỳ Kheo là tiếng Phạn, đây giải thích có ba nghĩa: 1. Khất
Sĩ. 2. Bố Ma. 3. Phá ác.
Chữ
"Tăng" nói đủ theo tiếng Phạn là (Samgha) Tăng-già, không
nói "Già" là bớt văn. Tàu dịch Tăng Già là “chúng hòa hiệp”.
“Một
ngàn hai trăm năm mươi người” là ba ông Ca Diếp, thêm ông
Mục Kiền Liên, ông Xá Lợi Phất là năm ông, tất cả đệ
tử của năm ông này cộng chung lại thành ra số đó (1250).
Trước thì nói bực thuộc hàng Thanh Văn, sau thì nói số có
bao nhiêu.
Chữ
"Cu" là hiệp với nghĩa chữ "Cộng" ở văn trên.
Sao:
Chữ "cộng" nghĩa là: Ngài Thiên Thai giải nghĩa chữ "cộng",
bằng bảy chữ "nhứt" gọi rằng: “Xứ nhứt, thời nhứt,
tâm nhứt, giới nhứt, đạo nhứt, kiến nhứt và giải thoát
nhứt” (dù bảy chữ cũng một).
Phật
và đại chúng cùng ở nơi Kỳ Viên là ý chánh của kinh này
rộng nói như trên.
“Lựa
khác với chữ Tiểu” là: Chẳng phải nói hàng sơ tâm tỳ
kheo tức văn sau chỗ gọi là bực trưởng lão v.v...
Ðại,
Ða, Thắng là: Trời, Vua và bực Ðại nhơn cả đồng kính
ngưỡng, chẳng phải đức nhỏ, nên gọi là Ðại.
Nội
điển, ngoại điển không bộ nào mà chẳng suốt thông, chẳng
phải ít hiều đâu, nên mới gọi là Ða.
Vượt
khỏi trên 96 phái ngoại đạo, chẳng phải căn cơ kém hèn
nên gọi là Thắng. Ðây đều là bực cao tột trong hàng Tiểu
thừa.
“Luật
Phật Ðịa có ba nghĩa” là: 1. Bực tối cực lợi căn chủng
tánh ba la mật nên gọi là Ðại. 2. Ðều đặng quả vị Vô
Học(14) nên gọi là Ðại. 3. Trước đặng quả nhỏ, nay đã
lên quả vị Ðại Bồ Ðề nên gọi là Ðại. Ðây đều là
nói chung cả bực Ðại thừa.
Tỳ
kheo có ba nghĩa là:
1.
Khất sĩ: nghĩa là khất thực và khất pháp. Khất thực là
xin ăn, thời tránh xa bốn việc tà mạng, hiệp với bốn việc
chánh mạng. Không kinh dinh sự nghiệp, chẳng cần chứa để,
vạn duyên dứt sạch, nhứt chí chuyên tu. Nhà Tăng phải sống
theo đây để nuôi giới thân huệ mạng, cho nên nói khất
thực để nuôi thân.
Khất
pháp: là xin Pháp, tức là cầu thầy hỏi bạn, cần khổ hết
lòng thành, học tìm diệu pháp, trông thành quả thánh, cho
nên nói khất pháp để nuôi tâm.
2.
Bố ma là như người phát tâm xuất gia, bọn ma vương nghe
sanh lòng sợ sệt; bởi vì lũ nó ưa đắm nhiễm đường sanh
tử mà người xuất gia là người ly dục, quyết tới quả
vô sanh, bọn ma sợ mất bà con của nó nên sanh tâm sợ sệt.
3.
Phá ác là: Vì hay phá tâm phiền não luôn 98 sử thảy đều
đoạn tuyệt.
Hoặc
thêm hai nghĩa tịnh giới, tịnh mạng thời thành ra năm nghĩa
của Tỳ kheo. Nay nói ba nghĩa là vì nghĩa khất thực đã gồm
nghĩa tịnh mạng, do vì nghĩa phá ác thì đã gồm nghĩa tịnh
giới.
“Chúng
hòa hiệp” là: Từ bốn người sắp lên, nhiều đến vô
lượng đều đồng một pháp Yết Ma, không tranh cãi với nhau,
như sữa với nước nên gọi là hòa hiệp chúng.
Ba
ông Ca Diếp là: 1. Ưu Lầu Tần Loa Ca Diếp. Ông này tu ở
trong hang Hỏa Long có 500 người đệ tử. 2. Già Gia Ca Diếp:
ông này tu ở trên núi Tượng Ðầu có 300 người đệ tử.
3. Na Ðề Ca Diếp. Ông này tu ở bên sông Hy Liên có 200 người
đệ tử.
Sau
tất cả thầy trò đều quy y theo Phật, cho nên có số 1.000
chúng. Lại ông Mục Kiền Liên và ông Xá Lợi
Phất, hai ông có 250 người đệ tử cũng quy y với Phật,
thành ra số 1.250 người.
Một
thuyết khác nói: Phật độ ông Da Xá, thầy trò cả 50 người
và năm anh em ông Kiều Trần Như, cộng lại thành số đấy.
Sớ:
Tại sao chỉ nói có 1.250 người? Là vì số chúng này thường
thường tùy tùng, ở chung với Phật.
Sao:
“Thường tùy” là: đức Phật xuất hiện trong thế gian,
độ các vị Tỳ kheo chứng quả A La Hán rất nhiều đến
vô lượng, mà sao riêng nói có mấy ông đây? Bởi vì 1.250
ông đây quy y với Phật trước hết, lại thường không lìa
Phật, mãi đến lúc Phật diệt độ, cho nên đặc biệt nói
1.250 người. Còn bao nhiêu vị khác đi hoằng pháp rải rác
ở bốn phương, tuy là "thiên lý diện đàm", nhưng cứ theo
sự tích viết thành văn, phép thường phải như vậy?
Kìa như môn đồ của đức Trọng Ni: Những trang hiền đạt
kể có 3.000 người, mà tại sao riêng kể có 72 ông? Là cũng
bởi vì mấy ông đây thường ở mãi với ngài nơi mé sông
Tứ, rồi cùng với ngài đi qua nước Trần, nước Thái. Ðây
cũng là chúng thường tùy vậy.
B.Biểu
Vị Ðức
Ðều là
bực đại A La Hán, chúng sở tri thức (chúng đều quen biết)
Sớ:
Câu trên nêu vị; câu dưới nêu đức.
Chữ
Ðại là: Lựa khác với hàng tiểu quả Thanh Văn. Tiếng Phạn
(arhàn) A La Hán, đây dịch có ba nghĩa: 1. Ứng cúng. 2. Sát
tặc. 3. Vô sanh. Tức là ba quả của Khất Sĩ, Bố Ma
và Phá Ác như văn trước.
Chữ
“tri thức” là: Nghe danh trọng đức là "Tri", thấy hình
kính phụng là "Thức".
Một
thuyết khác nói: Thấy hình là "Tri", thấy tâm là "Thức".
Một thuyết nữa nói: "Tri" tức là "Thức" vì cũng có thể
có thể làm tri thức trong chúng mà cũng là bực dìu dắt chúng.
Sao:
“Lựa khác” là: Quả thánh ban đầu đến quả thánh thứ
tư đều là quả vị của hàng Thanh Văn. Nay nói đại A La
Hán là nêu quả thứ tư của hàng Thanh Văn.
“Ứng
cúng” là: Kẻ phàm phu không giới đức, ba quả thánh trước
có giới đức, nhưng còn nhỏ, chưa đáng kêu là 'ứng cúng'.
Nay hạnh tốt đã thành, vượt ngoài ba cõi, đáng hưởng sự
cúng dường ở cõi nhơn thiên; cho nên luận Cu Xá nói: “Cúng
dường cho vị A La Hán, đặng phước báo hiện tại”. Vị
này làm ruộng tốt cho cõi nhơn thiên trồng quả phước, hưởng
của cúng dường không hổ, nên gọi là “ứng cúng”.
Nhắc
lại trước khi bưng bình bát đã hẹn làm cho chúng sanh được
phước; nay đã chứng đạo, lý phải thọ của cúng nên gọi
là quả khất sĩ.
Song
Phật cũng gọi là Ứng Cúng. Nhưng vị A La Hán chỉ thuộc
về ứng cúng cõi nhơn thiên. Còn Phật thời chẳng những
ứng cúng ở cõi nhơn thiên mà còn ứng cúng ở cõi Thanh Văn,
Duyên Giác và Bồ Tát cúng dường nữa.
“Sát
tặc” là: Giặc phiền não cướp giựt của công đức và
hại mạng trí huệ.
Ba
quả thánh trước tuy đoạn Kiến hoặc (hiểu biết sai) nhưng
Tư hoặc (nghĩ lầm) vẫn còn. Nay quả thứ tư này chẳng những
đoạn Tư hoặc mà bảy mươi hai phẩm cũng đều đoạn hết,
thân tâm được yên tĩnh. Như dẹp hết giặc rồi thì thiên
hạ được thái bình nên gọi là Sát Tặc.
Nhắc
lại, trước kia do ác làm giặc, bây giờ ác diệt được
rồi, nên gọi là quả Phá Ác.
“Vô
sanh” là: Kẻ phàm phu không biết bao lần sanh tử. Bực sơ
quả (Tu Ðà Hoàn) còn bảy lần sanh tử. Bực nhị quả (Tư
Ðà Hàm) còn một lần sanh lại cõi Dục giới. Bực tam quả
(A Na Hàm) không sanh lại cõi Dục giới, nhưng mà còn sanh ở
cõi Sắc giới. Nay quả thứ tu (A La Hán) này, duyên sanh đã
hết, chẳng thọ thân hậu hữu nên gọi là "vô sanh".
Nhắc
lại, trước kia nguyện ra khỏi sanh tử khiến ma khởi tâm
sợ. Nay chứng quả Vô Sanh nên gọi là quả Bố Ma.
“Nghe
danh thấy hình” là thân, sơ một đối đãi. Chữ "tri" là
đối với bực La Hán, người ta tai nghe thời tâm mến muốn
thấy. Chữ "thức" là người ta mặt thấy thời phụng sự
chẳng trái nghịch.
“Thấy
hình thấy tâm” là cao, thấp một đối đãi. Chữ “tri”
đấy thời mặt đối trước hình dung. Chữ thức là thầm
hiểu lẫn trong ý (tha tâm thông). Như hai ông thầy đến
ra mắt Phật, một ông chết giữa đường. Phật nói ông chết
đó là thấy ngài trước; ấy là nghĩa thấy tâm vậy.
“Tri
tức là thức” đó cũng như nói: “Tương tri, tương thức”
(hiểu nhau, biết nhau). Giới đức cao, danh vọng trọng, tiếng
tăm lừng lẫy trong thiên hạ, người người đều nghe biết,
ai ai cũng đều hay, nên nói: “Chúng sở tri thức”.
Một thuyết khác nói: Ở trong cả chúng, bực nầy được
nhiều người hay, nhiều người biết, đáng làm tai mắt cho
cõi người, cõi trời, gọi là bực dìu dắt trong chúng. Nay
người ta gọi thiện tri thức cũng có nghĩa: 1. Ðối với
ác mà nói, do vì chỗ ta hiểu biết có thiện, có ác. Mà nay
đây chỉ là ông tri thức thiện. 2. Ông nầy có cái biết
rõ ràng cái hay đặc biệt, người khác chẳng bì kịp nên
gọi ông là bực rất thiện giữa tri thức.
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh không nhiễm là nghĩa A La Hán; tự
tánh không mê là nghĩa tri thức.
Sao:
Nguồn tâm vốn vắng lặng thời các nhiễm toàn không; tâm
thể vẫn sáng tỏ; thời các mê đâu có. Kinh Pháp Hoa bảo
đó là chơn A La Hán. Luận Khởi Tín gọi là ông “chơn
thật thức tri”.
Những
hạng người (Tiểu thừa) đắm nơi không làm vắng lặng,
móng niệm mới biết, gọi là “danh tự A La Hán” và “hư
vọng tri thức”. Thế cho nên tà kiến cùng chánh kiến đồng
một thể; thiện, ác đồng một môn. Dứt tâm vọng mới thấu
nguồn chơn, họa may mới làm sa môn được.
C.
Xuất Danh Hiệu (phân ra làm hai phần)
1.
Chúng danh: Tên riêng của chúng.
2.
Tổng kết: Lời chung kết.
1. Chúng
Danh
Bực
trưởng lão là: Ông Xá Lợi Phất, ông Ma Ha Mục Kiền Liên,
ông Ma Ha Ca Diếp, ông Ma Ha Ca Chiên Diên, ông Ma Ha Câu Si La,
ông Ly Bà Ða, ông Châu Lợi Bàn Ðà Dà, ông A Nan Ðà, ông
La Hầu La, ông Kiều Phạm Ba Ðề, ông Tân Ðầu Lô Phả La
Ðọa, ông Ca Lưu Ðà Di, ông Ma Ha Kiếp Tân Na, ông Bạc Câu
La, ông A Nâu Lâu Ðà.
Sớ:
Trưởng lão là: Ðức người hạnh lớn, giới lạp cao. Lại
đức với lạp, chỉ đủ có một cũng chung gọi là trưởng
lão; luôn sau 16 vị tôn túc...
Sao:
Lạp là thọ giới Cụ Túc, một năm gọi là một lạp; vì
giáp một năm chỉ đặng một lạp, cũng nói là một hạ,
chính đồng một ý nghĩa đây. “Chung gọi” là trên nói
đức và lạp đều trọng nên được tôn xưng “trưởng lão”
đã đành. Ðây nói một đức trùm chúng, hay một lạp trước
người, cũng được kêu là Trưởng Lão.
Như
trong luận Tỳ Bà Sa phân về loại: Thượng tọa pháp tánh
(tuổi đạo), thượng tọa sanh niên (tuổi đời). Lại bản
kinh nhà Ðường dịch Cụ Thọ là đủ cả đức và lạp.
Bản kinh nhà Ngụy dịch Huệ Mạng là chuyên nói về đức.
Dầu
rằng chỉ có đức hay chỉ có lạp cũng có thể được xưng
Trưởng Lão; mà ắt hơn lấy đức mà không lạp, chớ chưa
có ai chỉ có lạp mà không đức bao giờ!
“Luôn
sau này” là nói bực trưởng lão, chẳng những một mình
ông Xá Lợi Phất mà cả đến ông A Nâu Lâu Ðà cũng đều
gọi là bực Trưởng Lão, đều là bực thượng thủ giữa
đệ tử của Phật.
Sớ:
Ông Xá Lợi Phất (Sariputra) là tiếng Phạn nói (Sàri) Xá Lợi,
tiếng Tàu dịch là Thu Lộ. Tiếng Phạn nói “putra”, ta đọc
Phất, Tàu dịch là Tử. Cho nên nói “Thu Tử”, cũng
nói “Thân Tử”, cũng nói là “Châu tử”... Trong các đệ
tử Phật, ông này trí huệ đệ nhứt. Xưng đệ nhứt là
chỉ bày một đức mà thôi. Sách Luận Ngữ nói: “Người
quân tử chẳng phải như một món đồ”, huống hồ là bực
La Hán (có nhiều biệt tài vì 6 thần thông biến hóa).
Sao:
“Thu Tử”: Mẹ ông là người thân hình đoan chánh, mắt
trong như mắt chim Thu; vì đặt tên theo mẹ nên nói ông là
con của bà Thu Lộ hay là con của bà Xá Lợi...
“Thân
tử” là ý nói ông là người có cái thân đoan chánh.
“Châu
tử” là ý nói ông là người mắt trong sáng. Còn bao nhiêu
hiệu nữa nay đây chẳng gấp nên không dẫn nhiều. Mấy ông
sau cũng đều lệ theo (là mỗi ông đều có nhiều danh đức
riêng, đây dẫn một vài ông thôi).
“Trí
huệ”: Khi ông ở trong thai mẹ là đã giúp cho bà mẹ biện
tài giỏi hơn người cậu. Lúc được tám tuổi, ông lên tòa
cãi lẽ, 16 đại quốc nghị luận không hơn. Ông học Phật
pháp trong bảy ngày đã thông suốt, cho nên nói ông là “trí
huệ đệ nhứt”.
“Chỉ
bày một đức” là: Nói chẳng phải ngoài ông Thân Tử ra
mà trí huệ các vị A La Hán kia đều kém đâu. Chẳng riêng
một mình ông Thân tử đủ trí huệ mà các vị kia không đủ!?
Bởi
vì mỗi một vị chỉ nói một đức để nêu pháp môn của
Phật là vô lượng. Lại cũng chỉ dẫn những cái tài đặc
biệt của mấy ông ấy.
Như
kinh nói ông Xá Lợi Phất ngồi thiền yên lặng, ngài Mục
Liên muốn phá phép định của ông, đứng dậy ráng hết thần
lực mà chẳng lay động được một cái chéo áo của ông.
Xưa
nay ai cũng thường tán thán ngài Mục Kiền Liên là thần thông
đệ nhứt, ai dè ông Xá Lợi Phất thần thông đến thế này!
“Người
quân tử chẳng phải như món đồ” là: Ðức Khổng Tử nói:
“Như chiếc ghe không thể đi trên bờ, cái xe không thể chạy
dưới nước; đấy là món đồ vậy. Người quân tử có đủ
tài năng, chẳng tệ như một món đồ. Ðâu đặng nói: Thầy
Nhan Hồi, thầy Mẫn Tử Khiên không văn chương, thầy Tử
Du thầy Tử Hạ là người thiếu đức hạnh”. Người quân
tử còn thế, huống bực đã siêu phàm nhập thánh, pháp "Tam
Minh"(15) tỏ rạng, pháp "Lục Thông" (16) rỗng suốt, gọi là
bực Lậu Tận A La Hán ư? Nên chi nói: “Chỉ tỏ bày một
đức”.
Sớ:
Bắt đầu nói ông Xá Lợi Phất, bởi vì kinh này duy có bực
trí mới hiểu và tin nổi.
Sao:
Trong kinh nói: “Phật vì chúng sanh thuyết pháp khó tin đây”.
Khó tin thời duy có bực trí huệ sâu xa mới tin, không nghi,
cho nên trước nhứt nói ông.
Hoặc
người hỏi nạn: Trong "Bát Nhã Tâm kinh", Phật bảo một mình
ông Thân Tử thời biết cái trí của ông ấy rõ lại lý Không,
chớ không tại pháp Tịnh Ðộ? Ôi! Sắc, tức là không, không
tức là sắc, đâu chẳng nói cõi Tịnh Ðộ tức là không,
không tức là Tịnh Ðộ hay sao? Nếu bác cõi Tịnh Ðộ thời
chẳng phải là chơn không; chẳng rõ lý chơn không thời chẳng
phải là người chánh trí. Huống chi trí ông Thân tử quyết
chẳng như thế.
Sớ:
Ông Ma Ha Mục Kiền Liên là: Chữ "Ma Ha" đây dịch là Ðại.
"Mục Kiền Liên" dịch là Thái Thúc Thị. Một thuyết nữa
nói: Lai Bặc, ông này có thần thông đệ nhứt.
Sao:
Mục
Kiền Liên là họ, Câu Luật Ðà là tên. Câu Luật Ðà là
tên của một thứ cây. Theo tục lệ, cầu vị Thần ở nơi
cây này mà được kết quả sanh ra ông, nhơn đó, lấy tên
cây đặt tên ông là Câu Luật Ðà. Lại họ nầy trùng họ
nhiều lắm nên thêm chữ Ðại để cho riêng biệt.
“Thần
thông” là như Phật lên cõi Trời Ðao Lợi thuyết pháp, bị
con độc long phà hơi độc để ngăn Phật. Các vị Tỳ kheo
kia xin dẹp con độc long, Phật không cho. Ông Mục Kiền
Liên hóa thân lớn, nhỏ... Con độc long kia sợ hoảng, bèn
chịu thua (17). Lại như bọn ngoại đạo luyện phép để dời
núi, ông kiềm chế không cho núi lay động (18). Cả dòng họ
Thích đầy trong một thành, ông thâu vào trong bình bát, đem
để trên cõi trời Phạm Thiên (19) và việc nắm xe ông Kỳ
Bà, cùng đốt nhà trời Ðế Thích (20) v.v... các việc đều
dùng phép thần thông cả, cho nên nói ông là thần thông đệ
nhứt.
Sớ:
Ông Ma Ha Ca Diếp, đây (Tàu) dịch: Ðại Qui Thị. Một thuyết
khác nói là Ẩm Quang. Ông nầy tu hạnh Ðầu Ðà đệ nhứt.
Sao:
Ðại Qui Thị là đời trước ông đi học đạo gặp con Linh
Qui đội bản đồ ra sông, nhơn lấy đó đặt họ. Tên Tất
Bát La, cũng là tên cây, vì cầu tự nơi cây ấy. Nói thêm
chữ Ðại cho khác với mấy ông trùng tên như ba ông Ca Diếp
kia v.v...
Ẩm
Quang là do đời trước ông là người thợ làm đồ vàng,
bạc cùng với một người nữ thanh tịnh đồng phát tâm lấy
vàng quang phết tượng Phật, bèn cảm được quả báo đời
đời thân ông như sắc vàng. Sắc vàng chói ngời loáng
phủ các sắc khác, cho nên tên ông là Ẩm Quang (ánh sáng nuốt
các ánh sáng kia).
Tiếng
Phạn “Ðầu Ðà”, Tàu dịch Ðẩu Tẩu, hoặc nói Ðào Thải,
Ðầu Ðà, có 12 hạnh: 1. A lan nhã: Ở nơi vắng vẻ. 2. Thường
đi khất thực, cho đến hạnh thứ 12 chỉ có ba y. Do khổ
hạnh đây, quét hết việc trần lụy, lóng sạnh thân tâm.
Ca
Diếp tuổi già mà không bỏ hạnh Ðầu Ðà, Phật thương
ông yếu đuối, khuyên ông nghỉ, thế mà ông cũng vẫn giữ
hạnh Ðầu Ðà mãi như cũ. Ðức Phật ngài rất khen:
"Có hạnh Ðầu Ðà, pháp ta mới còn lâu", cho nên nói ông
là Ðầu Ðà đệ nhứt.
Sớ:
Ông Ma Ha Ca Chiên Diên là họ, Tàu dịch là Văn Sức. Một
thuyết nữa nói là Bất Ðịnh; một thuyết nữa nói là Phiến
Thằng và một thuyết nữa nói là Ly Hữu Vô v.v... là người
ở nước Nam Thiên Trúc, họ Bà La Môn. Ông này nghị luận
đệ nhứt.
Sao:
Văn Sức là lời lẽ có vẻ văn chương trôi chảy. Phàm người
nghị luận, tâm tuy hiểu lý đó, song cứ nói tầm thường
chẳng có văn chương, hay câu lối rời rạc không chải chuốt
thời lời không đạt được ý. Như vậy không phải là người
nghị luận giỏi!
Bất
Ðịnh là ý lanh lẹ của người giỏi nghị luận, dầu nói
xuôi nghe cũng được hay luận ngược lời lẽ cũng nghe xuôi,
khéo cả.
Phiến
Thằng là vì mẹ muốn đi cải giá, bị con còn bé (là ông)
buộc ràng, tỷ như cây quạt có dây đai máng níu lại khỏi
bị gió bay. Lại chữ Phiến Thằng có nghĩa là: Phá những
cái nóng nực; kéo ngay những cái cong vạy. Cũng là ý
nói không mắc về bên Ðoạn (chấp không) và không lạc về
bên Thường (chấp có), mở bày lý trung đạo vì để
thoát ly hai bệnh chấp có và chấp không.
Như
bọn ngoại đạo hỏi: Xét vì người chết đi rồi không thấy
trở về, nên cho rằng không có đời khác. Nghĩa là người
chết chịu khổ, lẽ phải trở về cho hay! Cái này đành ở
đó chịu, không trở về, cho nên quyết chắc là không có
đời khác.
Ông
đáp: Kìa như người tội bị giam trong lao ngục, vậy có về
được không!
Lại
hỏi: Còn người sanh lên cõi trời sao cũng không về?
Ðáp:
Giả sử người rớt dưới cầu xí, bấy giờ đã lên được
rồi vậy thử hỏi, người kia có chịu trở xuống chỗ dơ
đó nữa không?!
Như
vậy, món món tất cả nghĩa mầu đều nói được hết. Trong
kinh Tăng Nhứt A Hàm, Phật khen ông là người khéo phân biệt
các nghĩa để diễn bày đạo giáo, cho nên nói ông là bực
nghị luận đệ nhứt.
Sớ:
Ông Ma Ha Câu Si La, Tàu dịch Ðại Tất, là cậu ông Xá Lợi
Phất.
Ông
nầy đáp, vấn đệ nhứt.
Sao:
Ðại Tất là theo hình trạng đặt tên. Người cậu ai?
Là em ruột của mẹ ông Thân Tử; ngày trước nghị luận
giỏi hơn chị. Lúc chị mang thai ông Thân Tử thì cơ biện
luận lanh chóng, ông không thể bì kịp. Ông (Ðại Tất) nổi
giận đi học đến nỗi không rảnh để cắt móng tay. Ðọc
thuộc 18 món kinh sử...
Ðáp
vấn là do vì ông quá siêng năng nên được bốn pháp biện
tài. Hễ gặp ai hỏi thời đáp được liền, cho nên nói ông
là bực đáp vấn đệ nhứt.
Sớ:
Ông Ly Bà Ða, Tàu dịch Tinh Tú. Một thuyết nữa nói là Thất
Tú. Ông này "vô đảo loạn" đệ nhất.
Sao:
Tinh Tú là: Theo tục cầu con nơi ngôi sao này mà được sanh,
nhơn lấy đấy đặt tên ông. Thất Tú là: Trong hai mươi tám
ngôi sao, ngôi sao "Thất" nầy thuộc về ngôi sao thứ 13. Hoặc
vì lễ cầu nơi ngôi sao nầy. "Vô đảo loạn" là vì tâm chánh
nên không điên đảo, tâm định nên không tán loạn, cho nên
nói: "Vô đảo loạn đệ nhứt".
Sớ:
Ông Châu Lợi Bàn Ðà Dà, Tàu dịch Kế Ðạo. Một thuyết
khác nói là Tiểu Lộ Biên. Ông này chỉ thuộc có nửa bài
kệ mà được tỏ ngộ chứng quả La Hán.
Sao:
Kế Ðạo là: Khi mẹ ông mang thai ông, theo phong tục Ấn Ðộ
phải về nhà cha mẹ ruột để sanh đẻ, đi nửa đường
sanh ông, vì lẵng nhẵng trong khoảng giữa đường nên đặt
tên ông là Kế Ðạo.
Tiểu
Lộ Biên là: Mẹ ông sanh hai người con mà người nào cũng
sanh ở giữa đường cả nên nói ông là Tiểu Lộ Biên, cho
khác với khác với anh ông là Ðại Lộ Biên.
“Nửa
bài kệ” là: Ông xuất gia mà căn tánh ngu ám, ở chùa quá
lâu, nhưng không biết chi hết. Người anh vào đạo trước,
quở ông là vô tri, đuổi ông huờn tục. Ông dựa cửa chùa
khóc than rơi lụy. Ðức Phật thấy vậy thương, thâu dùng
lại cho học hai chữ: Tảo Chửu (21). Mỗi ngày ông đọc hai
chữ, nhưng nhớ một chữ này, lại quên một chữ kia. Ðọc
mãi lâu rồi thoạt ngộ, cấu sạch, hoặc trừ, ông chứng
được quả A La Hán.
Sớ:
Nan Ðà, Tàu dịch là Thiện Hoan Hỷ, là ông Phóng Ngưu Nan
Ðà.
Sao:
Phóng Ngưu (22) Nan Ðà là: Có đến 3 ông Nan Ðà: 1. A Nan Ðà.
2. Tôn Ðà La Nan Ðà và ông này nữa là 3 ông. Do dùng chữ
Phóng Ngưu để cho khác với hai ông kia.
Sớ:
A Nan Ðà, Tàu dịch Khánh Hỉ, lại dịch Vô Nhiễm. Ông này
là em con nhà chú của Phật. Ông có tài đa văn đệ nhứt.
Chính
kinh này thời ông A Nan cùng trong đại chúng đồng nghe giáo
pháp môn Tịnh Ðộ, nhưng chỉ một mình ông đủ sức tổng
trì, nhớ dai không quên, ông kiết tập thành tạng Kinh.
Sao:
Khánh Hỉ là ngày sanh ông nhằm ngày Phật thành đạo. Vua,
bá quan và nhân dân một mặt nghe thái tử Sĩ Ðạt Ta con là
nhà bác thành Phật, một mặt lại nghe trong cung, nhà chú sanh
ra hoàng tử, cả hai đều tốt, cả hai điều khó được mà
nay đồng thời đều được, cả nước vui mừng nên đặt
tên ông là Khánh Hỉ.
Lại
người thấy tướng ông, người nghe tiếng nói của ông, người
trông oai nghi của ông, không một ai là chẳng hoan hỉ.
“Vô
Nhiễm” là ông theo Phật lên cung Trời, xuống cung rồng,
tâm không vui đắm, cũng là một việc đặc sắc.
“Em
con nhà chú của Phật”: Phật là con vua Tịnh Phạn, ông A
Nan là con vua Bạch Phạn; vì hai vua là anh em ruột.
Ða
văn: Là ông A Nan làm "thị giả" cho Phật ba mươi năm, với
những pháp Phật nói, ông chẳng quên một chữ. Kinh Niết
Bàn khen ông là bực Ða Văn đệ nhứt. Lại ngài Ca Diếp khen
rằng: “Pháp của Phật như nước biển cả mà đều chảy
dồn về trong tâm ông A Nan!”
“Ðồng
nghe riêng nhớ”: Chính nêu ông là người "cường ký" (nhớ
dai) hơn các bực kia, cho nên nói ông là bực Ða Văn đệ nhứt.
Sớ:
Ông La Hầu La, Tàu dịch Phú Chướng, cũng dịch Chấp Nhựt.
Ông này "mật hạnh đệ nhứt".
Sao:
Phú Chướng là tên thần A Tu La. Vì khi sanh ông nhằm lúc thần
A Tu La đang lấy tay che ánh sáng mặt nhựt, mặt nguyệt nên
đặt tên ông là Phú Chướng và cũng tên là Chấp Nhựt. Song,
Chướng có 2 nghĩa: 1. Phật bị ông làm chướng, không xuất
gia được sớm, do vì thái tử (Phật) chưa có con (là ông)
nên xin đi tu, đức phụ vương chẳng cho. Thái tử phải chỉ
vào bụng vợ để giới thiệu, vua mới biết đã có thai,
mới toại bổn chí; thế thì đức Phật bị ông làm chướng.
2. Do đời trước ông lấp hang chuột sáu ngày nên nay mắc
quả báo, phải ở trong thai mẹ 6 năm. Thế là ông tự làm
chướng lấy ông.
“Mật
hạnh” là trong kinh nói: “Mật hạnh của ông La Hầu La duy
có ta (Phật) biết được thôi”. Duy có Phật biết được
thì đủ rõ các hàng Thinh Văn, bực Bồ tát còn không thể
biết, huống chi chúng phàm phu làm gì biết được. Bởi
nhiều hạnh tốt mà người chẳng biết nên chỉ nói ông là
bực mật hạnh đệ nhứt.
Sớ:
Ông Kiều Phạm Ba Ðề, Tàu dịch Ngưu Thi (trâu nhơi). Ông
này thọ của chư thiên cúng dường đệ nhứt.
Sao:
Ngưu Thi là: Trong đời quá khứ ông khinh nhái một thầy sa
môn già móm nhai mấp mấp, nay mắc quả báo cái miệng
ông nhai mấp mấp như mồm trâu nhơi. Lại vì mắc quả báo
làm trâu năm trăm đời. Loại trâu ăn rồi; sau lại thường
nhơi. Cái dư báo đó ông chưa hết, cho nên đặt tên là Ngưu
Thi (trâu nhơi).
“Chư
Thiên cúng dường” là thời kỳ Phật và chúng tăng chịu
quả báo ăn lúa ngựa (23), chỉ một mình ông riêng ở trên
cõi trời, nơi vườn Thi Lợi Sa hưởng thọ của trời cúng.
Lại kẻ phàm phu không biết xem kính đức hạnh, chỉ thấy
tướng nhơi của ông, phần nhiều khinh dễ, sợ họ chê cười
mắc tội, Phật dậy ông thường ở trên cõi trời, chư thiên
kính phụng nên chỉ nói ông là người thọ hưởng của chư
thiên cúng dường đệ nhứt.
Sớ:
Ông Tân Ðầu Lô Phả La Ðọa, ba chữ trước Tàu dịch Bất
Ðộng (là tên); ba chữ sau, dịch Lợi Căn (là họ).
Sao:
Tên trước họ sau là vì họ kia tới 18 phái, nên ông này
kêu tên trước họ sau, là để khác với mấy ông trong các
phái kia. Luật Nại Da nói: “Ông Trưởng giả tên Thọ
Ðề lấy cái bát bằng gỗ chiên đàn để trên đầu cây
cột phướn, rồi giao hứa với Tăng chúng rằng: ‘Vị nào
có thể dùng thần lực lấy được, tôi xin hiến cái bát
ấy’. Tôn giả hiện thần thông bay lên lấy bát. Phật
nghe quở trách, rồi bắt buộc không cho ông nhập diệt, để
kéo dài thân sống lâu mãi ở qua đời mạt pháp, đặng chứng
làm ruộng phước lớn cho trai chủ, chúng sanh cúng dường
gọi là gieo giống lành vậy”.
Sớ:
Ông Ca Lưu Ðà Di, Tàu dịch là Hắc Quang (da đen láng ngời).
Sao:
Hắc Quang là vì nhan sắc ông xấu và đen. Lại sắc đen chói
bóng, khác với đen thường thành thử ông đi khất thực ban
đêm, người thấy kinh hãi! Do đó Phật mới chế giới cấm
không cho đi đêm.
Sớ:
Ông Ma Ha Kiếp Tân Na, Tàu dịch là Phòng Tú (ông này biết
việc tinh tú đệ nhứt).
Sao:
Phòng Tú là ngôi sao thứ tư trong 28 ngôi sao. Cha mẹ cầu khấn
nơi ngôi sao này mà được kết quả sanh ra ông. Một thuyết
khác nói: Khi ông mới đi xuất gia, muốn đến ra mắt Phật,
nhưng đi nửa đường lại bị mưa, ghé ăn và ngủ nhờ trong
nhà anh thợ đồ gốm, tình cờ có một thầy tỳ kheo cũng
đến ngủ chung trong nhà ấy (Tỳ kheo kia là Phật hóa hiện).
Ðêm ấy ông nghe ngài thuyết pháp, ông liền đắc đạo. Thế
thời chữ Phòng Tú cũng là một nghĩa ngủ đậu trong nhà
người thợ làm đồ gốm.
“Tri
tinh tú” là không cần mượn cái "triền cơ ngọc hoành" mà
thông hiểu "thiên văn tinh tượng", cho nên nói tri tinh tú đệ
nhứt.
Sớ:
Bạc Câu La, Tàu dịch là Thiện Dung, (ông này thọ mạng đệ
nhứt).
Sao:
Thiện Dung là vì nhan mạo ông đoan chánh. “Thọ mạng”:
Vì ông đến 160 tuổi, cho nên nói ông là thọ mạng đệ nhứt.
Do đời trước ông giữ giới bất sát, được sống lâu,
không chết yểu, 91 kiếp đều thọ như thế. Lại đời trước
ông từng cúng trái A Lê Lặc cho một ông tăng có bệnh, do
đó cảm được năm món bất tử.
Khi
mới sanh, ông hiện những tướng lạ. Bà mẹ tưởng là yêu
quái, đem để trên cái bàn ram nướng cho chết mà ông
cũng không chết. Lại để trong cái chõ nấu cho chết mà ông
cũng không chết. Lại đem ông thả giữa sông cá lớn nuốt,
rồi cá bị người đánh lưới bắt, thợ chài lấy dao mổ
cá, bày ông ra mà không tồn hại chi hết. Nói lại: 1. Lửa
không thể nướng. 2. Nước sôi không thể nấu. 3. Nước sông
không thể chìm. 4. Cá nuốt không chết. 5. Dao cắt không hại
nên gọi là năm món bất tử.
Lại
ông ưa chỗ vắng vẻ, lòng ít ham muốn, thâu nhiếp sáu căn
nên sau khi ông diệt độ, cái tháp của ông còn không chịu
thọ tiền của vua cúng (24). Do lúc bình thường ông ưa
chỗ vắng vẻ, không chịu ở trong chỗ đông người, vì sợ
nhiễm những tiếng thị phi, đây cũng xưng là đệ nhứt.
Sớ:
Ông A Nâu Lâu Ðà, một tên nữa A Na Luật Ðà, Tàu dịch Vô
Bần, cũng dịch Vô Diệt; cũng dịch Như Ý. Ông này có phép
thiên nhãn thông đệ nhứt.
Sao:
Vô Bần là thuở trước nhằm thời có nạn đói khát, ông
đem cơm lúa tắc cúng cho một vị Bích Chi Phật nên được
hưởng phước 91 kiếp, của cải nhẫy đầy, hưởng dụng
đến nay không hết, cầu điều chi đều được như ý, cho
nên có nghĩa Vô Bần, Vô Diệt, Như Ý; cả ba nghĩa đã dịch.
Phép
"thiên nhãn thông" đệ nhứt là ông đã xuất gia mà tánh hay
ưa ngủ, mỗi thời Phật thuyết pháp, ai nấy chăm nghe còn
ông thì vẫn cứ gật gù ngủ, không biết là gì hết. Phật
quở trách ông và tỷ dụ như loài ốc, sò. Ông tự giận
lấy mình, liền phát chí tinh tấn trong bảy ngày đêm, mắt
không nhắm mí, bị mù hai con mắt. Phật bèn dạy ông tu tập
phép "Nhạo Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam Muội", ông liền chứng
pháp thiên nhãn thông, thấy suốt cõi Ðại Thiên thế giới
cũng như thấy trái để trong lòng bàn tay, cho nên nói ông
là: “Thiên nhãn thông đệ nhứt”.
2. Tổng
Kết
Như
thị đẳng chư đại đệ tử (như thế hết thảy các đệ
tử của Phật)
Sớ:
“Như thị” là kết văn trước. Chữ “Ðẳng” là chỉ
các ông kia. Chữ Ðại là gồm nghĩa chữ Ðại văn trước.
Chữ “đệ tử” là học sau thầy là Ðệ, sự hiểu biết
do thầy sanh ra là “tử”. Cái thắng hội như đây nên gọi
“Nan đệ, nan huynh, khéo làm khéo thuật”.
Sao:
“Kết văn trên” là kể các ông khác. Ðây trước kết
16 vị Tôn giả; sau kể một nghìn hai trăm năm mươi người.
“Gồm
nghĩa chữ đại văn trước” là chữ “đại đệ tử”
văn đây, tức là văn trước chữ “đại Tỳ kheo, chữ đại
A La Hán”; lấy một chữ Ðại văn đây gồm luôn nghĩa hai
chữ Ðại trong văn trước vậy.
“Học
sau thầy” là vì thầy biết trước, trò biết sau, như anh
trước em sau vậy. “Sự hiểu do thầy sanh ra” là vì nhờ
thầy mở bày, nuôi dưỡng mới thành pháp khí; chỗ gọi rằng:
“Từ miệng Phật sanh ra, sẽ nối thạnh giống Phật”. Như
cha mẹ sanh con, con sẽ thờ nối Tổ Tiên.
“Nan
huynh, nan đệ” là: Xưa nói ông Nguyên Phương khó làm anh,
ông Quí Phương khó làm em. Nghĩa là anh em đồng có tài trí
hơn người, không ai hơn, thua. Nhưng ở đây không lấy ý đó,
chỉ lược dụ Phật là anh, các vị A La Hán là em, vì cả
hai trong đời đều khó đặng mà nay đều đặng.
“Khéo
làm, khéo thuật” là: Xưa nói ông vua Văn Vương, ông Vương
Quới làm cha, cha làm ra trước; ông Võ Vương làm con mà con
nối theo sau. Nhưng nay cũng chẳng dùng ý đó, chỉ lược dụ
Phật là cha, các vị A La Hán là con vì thầy trò đạo hiệp.
Sớ:
Xứng lý thì tự tánh, tâm vương, tâm số, dung thông, là nghĩa
Phật cùng đệ tử cu hội.
Sao:
Ngài Thiên Thai nói: “Tâm vương là Như Lai, tâm số là đệ
tử”. Nay giải nghĩa: Tâm vương là tám thức tâm vương.
Tám thức tâm vương đây, thiện ác luân chuyển do nó làm
chủ tể, ví như ông vua cai trị dân chúng, ông thầy dạy
dỗ học trò.
Tâm
số là 51 món tâm sở. Năm mươi mốt tâm sở đây có
3 nghĩa: 1. Thường y nơi tâm
vương để phát khởi.
2.
Tương ưng với tâm vương.
3.
Hệ thuộc với tâm vương. Vì nó đối với tám thức tâm
vương kia, cũng như tôi chầu vua, đệ tử hầu thầy.
Lại
Ngài Trí Giác nói: “Mười vị đại Thanh Văn đều là số
mười pháp thiện của tâm mình” (10 vị: Từ 1 Ða văn đệ
nhứt đến 10: thiên nhãn đệ nhứt).
Luận
Tỳ Ðàm lời kệ nói: 1. Tâm dục. 2. Tâm tưởng. 3. Tâm cánh
nhạo. 4. Tâm huệ. 5. Tâm niệm. 6. Tâm tư. 7. Tâm giải thoát.
8. Tâm tác ý cùng cảnh giới (xúc). 9. Tâm Tam ma đề (định).
10. Tâm thống. Nên biết ông Ðại Ca Diếp là "tâm số dục"
do vì chỉ còn giữ cái phép xuất ly, phát tâm thiện dục
xuất thế gian, bỏ tâm ác dục của thế gian.
Ông
Phú Lâu Na là "tâm số tướng": Do vì tướng thời mới phân
biệt biện tài, không ngăn ngại.
Ông
Ca Chiên Diên là "tâm cánh nhạo": Do vì vấn đáp lời lẽ
qua lại nhiều lý do đắp đổi lẹ làng, luận nghị không
cùng. Nhẫn đến "tâm huệ" là ông Xá Lợi Phất, "tâm niệm"
là ông Ưu Ba Ly, "tâm tư" là ông La Hầu La, "tâm giải thoát"
là ông Thiện Kiết, tức là ông Tu Bồ Ðề, "tâm tác ý" là
ông A Na Luật, "tâm tam ma" là ông Mục Kiền Liên, "tâm thống"
là ông A Nan v.v...
Chữ
Thống là thọ, có ý nghĩa lãnh nạp.
“Phàm
tâm vương phải đủ tâm số”: Tâm số quyết phải qui tùng
tâm
vương. Cả hai giúp đỡ lẫn nhau mới được khai ngộ. Song
dầu tâm vương, dầu tâm số, cũng chẳng ra ngoài một cái
tâm mình, miễn mình đặng nhứt tâm thời gồm cả tâm vương
và tâm số.
2.
Bồ Tát Chúng (phân ra làm ba phần)
A.
Minh loại: Nói về loại.
B.
Liệt danh: Nói về tên.
C.
Tổng kết: Chung kết.
A.
Minh Loại
Tinh
chư Bồ Tát Ma Ha Tát (Và các vị Bồ Tát lớn trong hàng Bồ
tát)
Sớ:
Chữ “Tinh”: Nương theo văn trước, nói Phật thuyết kinh
này, chẳng những hàng Thinh Văn dự hội, mà cả đến bực
Ðại Sĩ cũng đồng nghe pháp "trì danh niệm Phật" này.
Chữ
Bồ Tát là tiếng Phạm, nói đủ là Bồ Ðề Tát Ðỏa (nay
nói có hai chữ Bồ Tát là bớt văn). Tàu dịch là Giác Hữu
Tình. Chữ Giác Hữu Tình lại còn có 3 nghĩa, lại cũng có
nghĩa là Dõng Mãnh mà cầu. Chữ Ma Ha Tát, Tàu dịch "Ðạo
đại tâm chúng sanh"; do vì đủ bốn nghĩa Ðại. Lại kinh
Pháp Hoa có 6 nghĩa Ðại, Luận Phật Ðịa ba nghĩa đại, cũng
không ngoài bốn nghĩa. Chữ Bồ tát Ma Ha Tát, cũng như nói:
Bực Ðại Bồ Tát trong hàng Bồ tát vậy. Vì lựa khác với
bực Tiểu Bồ tát.
Sao:
“Chẳng những hàng Thanh Văn” nghĩa là bực Ðại thừa,
Tiểu thừa, tất cả hiền thánh đồng nghe kinh này, chớ lầm
tưởng rằng cõi Tịnh Ðộ là chỗ các bực Bồ tát chẳng
màng đâu!
Chữ
“Giác hữu tình” là đồng chứng chỗ Phật chứng, đó
gọi là Giác. Nhưng vô minh chưa hết gọi là “tình”.
Lại
có ba nghĩa là: 1. Nghĩa “bi, trí sở duyên”; gọi rằng chữ
Giác là chỗ tu đạo Phật. Chữ Tình là chỗ độ các chúng
sanh. Nghĩa là trên dùng trí mà cầu quả Phật, dưới dùng
lòng bi cứu độ chúng sanh.
2.
Nghĩa “năng, sở hiệp nhứt”, gọi rằng chữ Giác là cái
quả sở cầu (bị cầu). Chữ “hữu tình” là những người
năng cầu. Nghĩa là lấy tâm của mình mà cầu ngộ lý Phật.
3.
Nghĩa “lợi sanh là gấp”, gọi rằng rộng Giác ngộ cho
tất cả loài hữu tình. Nên có câu: “Chưa hay độ mình,
trước lo độ người” là nghĩa đây vậy. “Dõng mãnh cầu”
là: Hàng Thinh Văn cầu về nơi vắng lặng để an hưởng riêng
phần mình, đức Phật gọi là anh chàng giải đãi. Còn bực
Ðại Sĩ (Bồ Tát) quyết chí chứng được quả Bồ Ðề,
nên nói ông là tướng đại cường tinh tấn và dõng mãnh.
“Chữ
Ðại có 4 nghĩa”: Lời sớ của ngài Thanh Lương nói:
1.
Nguyện đại, vì cầu cho được quả Bồ đề.
2.
Hạnh đại, vì thành tựu được hai lợi (tự lợi và lợi
tha).
3.
Thời đại, vì trải qua 3 vô số kiếp, cũng cố gắng tu cho
thành.
4.
Ðức Ðại, vì đầy đủ các công đức bực nhứt thừa.
Kinh
Pháp Hoa nói sáu nghĩa đại là:
1.
Tín đại pháp (tin pháp Ðại thừa)
2.
Giải đại nghĩa (hiểu nghĩa đại thừa)
3.
Phát đại tâm (Phát tâm đại thừa)
4.
Xu đại quả (tới quả đại thừa)
5.
Tu đại hạnh (tu hạnh đại thừa)
6.
Chứng đại đạo (chứng đạo đại thừa).
Nhưng
mà Tín, Giải và Phát, ba đại đây gồm trong 1 nghĩa Nguyện
Ðại thứ nhứt. Xu gồm trong nghĩa Thời đại thứ ba. Tu gồm
trong nghĩa Hạnh đại thứ hai. Chứng gồm trong nghĩa Ðức
đại thứ tư.
Trong
luận Phật địa có ba nghĩa đại là: 1. Số đại. 2. Ðức
đại. 3. Nghiệp đại. Song Ðức đại thời dễ
biết, còn Số đại, tức là ý nghĩa Nguyện đại; Nghiệp
đại tức là ý nghĩa Hạnh đại, cho nên nói không ngoài 4
ý là vậy. “Lựa ra chẳng phải bực Tiểu” là
như đức Văn Thù, đức Di Lặc v.v... đều bực Ðại thừa
Bồ tát ở trong địa vị Thập Ðịa Bồ Tát, Ðẳng Giác
Bồ Tát, chớ chẳng phải Bồ Tát sơ tâm ở 5 phẩm là
Tín, Trụ, Hạnh, Hướng Bồ tát.
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh chơn vọng dung thông là nghĩa Bồ tát.
Sao:
Chơn tánh thời chẳng biến mà tùy duyên tám thức, là nghĩa
giác ngộ cho loài hữu tình. Vọng thức thời làm thành các
việc mà bản thể vẫn không dích mắc là nghĩa loài hữu
tình có tánh giác. Chơn và vọng chẳng lập riêng, chỉ là
nhứt tâm. Thành cái tâm đại đạo đây, gọi là Ma Ha Tát.
B.Liệt
Danh
Ngài
Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, ngài A Dật Ða Bồ Tát, ngài
Càn Ðà Ha Ðề Bồ Tát, ngài Thường Tinh Tấn Bồ Tát.
Sớ:
Văn Thù Sư Lợi, Tàu dịch Diệu Thủ, cũng dịch Diệu Cát
Tường, cũng dịch Diệu Ðức.
Pháp
Vương tử là Phật là ngôi Pháp Vương, Bồ tát vào ngôi chánh
của Pháp, gọi là Pháp vương tử.
Lại
hàng Bồ Tát bắt đầu nói ngài Văn Thù là so nghĩa như văn
trước: Với hàng Thinh Văn, Phật kêu là ông Xá Lợi
Phất.
Sao:
Văn Thù Sư Lợi, cũng dịch Mạn Thù Thất Lợi, hay là Diệu
Thủ v.v... Chuẩn theo tông Hoa Nghiêm, nêu ba pháp môn: Tín,
Hạnh và Trí. Diệu Thủ là pháp môn Tín vì Tín là đầu
muôn hạnh, muôn đức. Diệu Cát Tường là pháp môn Hạnh
vậy.
Luận
Phật Ðịa nói: “Ðược tất cả thế gian thân cận cúng
dường và tán thán nên kêu Ngài là Diệu Cát Tường”.
Lại
đức Chơn Ðế nói: “Ðối giữa kẻ oán, người thân, ngài
luôn luôn làm việc lợi ích, không làm việc tổn não, cho
nên gọi ngài là Diệu Cát Tường”. Lại khi sanh ngài có
mười điềm tốt: Từ món thứ nhất là hào quang sáng đầy
nhà cho đến thứ 10 là voi mọc sáu ngà (25) nên kêu ngài là
Diệu Cát Tường. Ðó là tức "Giải" mà "Hạnh".
“Diệu
đức pháp môn” là Trí vậy. Kinh nói: “Trí là mẹ chư Phật”,
là thầy đức Thích Ca đâu chẳng phải Diệu Ðức (đức
mầu nhiệm), đó là tức "Hạnh" mà "Giải".
“Vào
ngôi chánh của pháp” là đức Như Lai nương theo lý trung
đạo nghĩa đệ nhứt, mà những Bồ tát vào được địa
vị đấy, gọi là nối thạnh dòng Phật, được kế vị làm
Phật, cũng như đấng Ðại Quân thể theo đức nguơn ở ngôi
chánh, đã sanh thái tử, nay ở Ðông cung rồi sẽ nối ngôi
chánh (lên làm quốc chủ) nên gọi: Pháp vương tử, lại gọi
là Phật tử, ý đây cũng thế.
Phàm
Bồ Tát đều là Pháp Vương Tử, sao gọi riêng một mình ông
Văn Thù? Tổ Kinh Khê nói: “Ðối trong hàng vương tử, về
đức thời nhường cho ngài Văn Thù”.
Lại
các kinh cũng nói: “Vì ngài Văn Thù thường làm bậc thượng
thủ cho tất cả hàng Bồ Tát”.
Lệ
như ngài Xá Lợi Phất là ông Thân Tử trí huệ đệ nhứt,
ngài Văn Thù bực đại trí độc tôn (như văn trước đã
rõ). Vì kinh này duy có bực trí mới tin lãnh nổi. Lại phân
biệt mà luận thời ông Thân Tử là bực quyền trí, ngài
Văn Thù là bực thật trí.
Quyền
Trí nói về sự có sanh Tịnh Ðộ; Thật trí nói về lý không
sanh Tịnh Ðộ. Kẻ độn căn từ "quyền" vào "thật". Người
lợi căn thì "quyền" "thật" đều đồng thời dung thông.
Nếu
suy cho tột gốc để mà luận, kinh Bất Tư Nghì Cảnh Giới
nói: “Lại có trăm nghìn vạn ức Bồ Tát thị hiện làm
thân Thinh Văn cũng đến ở trong pháp hội, tên các vị kia
là Xá Lợi Phất” v.v... Thế thời ngài Văn Thù, ông Thân
Tử, đồng một bực trí huệ thậm thâm. Càng biết kinh này
chẳng phải người thiển trí mà có thể tin nổi.
Sớ:
A Dật Da, Tàu dịch Vô Năng Thắng (tức là ngài Di Lặc Bồ
Tát).
Sao:
Di Lặc, Tàu dịch Từ Thị (là họ), A Dật Ða (là tên). Nói
cho đủ thời phải nói Từ Vô Năng Thắng. Do vì khi ngài ở
trong thai mẹ, đã có từ tâm cho nên lấy đó mà đặt là
họ Từ. Lại về đời quá khứ, ngài gặp đức Ðại Từ
Như Lai, ngài nguyện đồng hiệu đó, liền được pháp Từ
Tâm tam muội. Lại đời trước ngài làm thầy bà la môn, hiệu
Nhứt Thế Trí, tu tập hạnh Từ trong tám nghìn năm. Lại thời
kỳ Phật Phất Sa, ngài với đức Thích Ca Như Lai đồng phát
tâm Bồ Ðề, thường tu tập pháp Từ định. Lại kinh Tư
Ích nói: “Chúng sanh thấy ngài liền được pháp Từ Tâm
tam muội”.
Lại
kinh Bi Hoa nói: “Ngài phát nguyện ủng hộ chúng sanh trong
kiếp đao binh”. Thế là lòng từ chan chứa đương đời,
lòng bi tràn ngập đến đời sau. Vì lòng từ tột bực vượt
khỏi kẻ phàm phu và Tiểu thừa nên gọi Ngài là Vô Năng
Thắng (không ai hơn).
Sớ:
Lại ngài Di Lặc đã nghe kinh này, chắc hội Long Hoa (26), ngài
sẽ nói kinh này nên biết kinh này lưu thông vô tận.
Sao:
Hỏi: Sao biết chắc như thế? Ðáp: Kinh Pháp Hoa nói: “Cổ
Phật đã phóng quang ấy là vì nói kinh đây”. Nay lại Phật
cũng phóng quang ấy nên biết chắc cũng nói kinh đây thời
mỗi đức Phật nào cũng nói kinh Pháp Hoa vậy. Mà kinh này
đây (kinh Di Ðà) là pháp độ sanh cần kíp, chư Phật đồng
tán thán. Chư Phật đã đồng tán thán, chắc là chư Phật
cũng đồng tuyên nói kinh này, cho nên biết kinh nầy, hội
Long Hoa chắc chắn sẽ nói, có nghi chi đâu?!
Sớ:
Càn Ðà Ha Ðề, Tàu dịch là Bất Hưu Tức.
Sao:
Bất Hưu Tức nghĩa là: Tu các hạnh tốt nhiều kiếp như số
cát sông Hằng, vậy sau mới được thọ ký. Vì trải nhiều
kiếp như thế mà không hề thôi, nghỉ.
Sớ:
Thường Tinh Tấn: Có hai nghĩa: 1. Ngài Thiên Thai nói: “Vì
thấy pháp tánh thường trú (còn hoài) nên tu pháp Vô Tác và
Chánh Cần”. 2. Kinh Bảo Tích nói: “Vị Bồ Tát này vì một
chúng sanh khó độ, trải vô lượng kiếp, theo dõi chẳng thôi,
chúng sanh ấy cang cường không chịu nghe lời giáo hóa, thế
mà ngài chẳng có một tâm niệm buông bỏ”; thật là tinh
tấn rất tột bực.
Sao:
Hai nghĩa là:
1.
Tự lợi: Mình chưa sanh tâm thiện, làm sao cho thêm lớn tâm
thiện, đã sanh thiện phải khéo giữ gìn. Chưa sanh tâm ác,
ngăn ngừa đừng sanh, đã sanh tâm ác lỡ rồi, mau mau trừ
diệt, gọi là tứ chánh cần (4 việc siêng năng). Mà
nói thấy tánh là Vô Tác thời rõ biết pháp tánh vốn không
phải thiện, không phải ác. Tuy nói rằng “tu thiện”, nhưng
không tu mà tu. Tuy nói rằng: “bỏ ác” nhưng không bỏ mà
bỏ. Nghĩa là: Vì một vọng niệm không sanh, tức là chơn
tinh tấn.
2.
Lợi tha: Vì độ nhiều chúng sanh cũng chưa lấy làm khó; nay
nói chỉ vì một chúng sanh, mới thiệt là khó. Trong giây phút
vì một chúng sanh cũng chưa lấy gì làm khó, nay nói tới vô
lượng kiếp mới thiệt là khó. Nhiều kiếp mà nhằm người
dễ hóa độ cũng chưa lấy làm khó, nay nói còn một người
không chịu sự hóa độ mà không buông bỏ mới thiệt là
khó. Không buông bỏ, cũng chưa lấy gì làm khó; nay nói rằng:
Không một tâm niệm buông bỏ mới thiệt là khó. Tinh tấn
như thế mãi, không mảy may nào lui sụt, cho nên nói là “thường”.
Lại
ngài Bất Hưu Tức tức là ngài Thường Tinh Tấn; ngài Thường
Tinh Tấn tức là ngài Bất Hưu Tức. Hai vị Bồ tát đây,
tuy rằng cái tên khác nhau, nhưng vẫn đồng một đức tánh.
C.Tổng
Kết
Dữ như thị
đẳng chư đại Bồ Tát (Cùng các vị đại Bồ Tát như thế
nữa)
Sớ:
Kết văn trên chiếu lệ bao nhiêu nữa cũng đồng như trước.
Vì chánh ngay kinh này thì tiêu biểu ba môn: Tín, Hạnh và Nguyện,
làm thành cái nhơn cõi Tịnh Ðộ.
Sao:
“Ðồng như trước” là: Kết văn trên: đức Văn Thù, đức
Di Lặc v.v... “chiếu lệ bao nhiêu nữa” thời như đức
Phổ Hiền, đức Quan Âm, tất cả các hàng Bồ Tát nữa cũng
như vậy.
Tín,
Hạnh và Nguyện: Ngài Diệu Thủ (Văn Thù) là tiêu biểu pháp
môn: Tín. Bởi cầu sanh Tịnh Ðộ do tâm Tín làm đầu tiên.
Kinh nói: "Nhược hữu tín giả, thị dã" (phải có lòng tin
mới được).
Ngài
Tinh Tấn là tiêu biểu pháp môn Nguyện và Hạnh. Tinh là bất
tạp. Tấn là bất thối. Bất tạp là: Kinh nói: “Nhứt tâm
bất loạn”. Bất thối là kinh nói: “Bất thối chuyển
Bồ đề”. Ngài Bất Hưu Tức tức là nghĩa Bất Thối.
Lại
ngài Di Lặc là Từ Hạnh, ngài Càn Ðà là Phạm Hạnh. Trong
Quán kinh nói: “Từ tâm bất sát, đủ các giới hạnh”.
Vì thành cái nhơn cõi Tịnh độ, thời kể bày các vị Bồ
tát, không có một vị nào mà chẳng trồng nhơn Tín, Hạnh,
Nguyện.
Sớ:
Xứng lý thời tự tánh không chỗ nào chẳng chiếu, ấy là
nghĩa Văn Thù đại trí. Tự tánh không chỗ nào chẳng dung
tha là nghĩa Di Lặc đại trí. Tự tánh vô cùng vô tận là
nghĩa ngài Bất Hưu Tức, là Thường Tinh Tấn. Còn bao nhiêu
nữa so theo đây nên biết.
Sao:
“So theo đây nên biết” là: Tự tánh quảng đại là nghĩa
Phổ Hiền, tự tánh viên thông là nghĩa Quan Âm v.v... Như văn
trên, tùy nói một môn, để nêu danh hiệu các ngài. Nếu mỗi
ngài đều đủ hết, tức là danh tự lẫn thông, cho nên nói
“tâm tức là danh tự” vậy (tâm chỉ có danh tự, không
có hình tướng). Hiểu như thế, tức là ở trong một tâm
chánh quán, thấy đủ tất các vị Bồ Tát. Nay chúng ta thấy
phàm phu, không thấy các vị Bồ Tát là do vì mất tâm chánh
quán. Cho nên nói: “Bồ Tát như trăng mát, thường dạo khắp
hư không. Chúng sanh lòng trần sạch, bóng Bồ Ðề hiện ở
trong”.
1.Nhơn
Thiên Chúng
Cập
Thích Ðề Hoàn Nhơn, Ðẳng Vô Lượng Chư Thiên Ðại Chúng
Cu (Và các trời Thích Ðề hoàn nhơn, Thiên thần nhiều đến
vô lượng đến cu hội giữa đại chúng).
Sớ:
Chữ Cập là nối văn trước nói: Pháp môn Tịnh độ này
chẳng những các bực thánh dự hội mà tất cả chúng phàm
phu cũng đồng nghe nữa. Chữ Thích Ðề Hoàn Nhơn Tàu dịch
Năng Thiên Chủ. Nói chữ Ðẳng lại cũng nói “vô lượng”
là vì nói chung hết tất cả các hàng chư Thiên vậy. Nói
chữ “đại chúng” là vì gồm hết tất cả các chúng sanh
vậy. Chữ “cu” là chung kết luôn các vị Bồ Tát cho
đến các văn sau.
Sao:
Văn trên nói chữ “tịnh chư Bồ Tát” là một đối đãi
với nhau giữa Tiểu thừa và Ðại thừa. Văn đây nói chữ
“cập chư thiên đại chúng” là một đối đãi với nhau
giữa Thánh và Phàm, nghĩa là: Thánh, Phàm đồng nghe kinh này,
chớ lầm rằng: Cõi Tịnh độ là chỗ kẻ phàm phu chẳng
được nghe hay về ở!
Thích Ðề Hoàn Nhơn là: Nếu nói cho đủ thì phải nói “Thích
Ca Ðề Bà Nhơn Ðề”, Tàu dịch Thiên Chủ, rõ có 5 tên,
sợ nhiều không nói.
Nhắc lại: Thời kỳ Phật Ca Diếp nhập diệt, có một người
nữ phát tâm làm tháp, lại có 32 người phụ giúp, nay người
nữ đó được làm vua trên cõi Trời Ðao Lợi, thống nhiếp
cả 4 phương 32 cõi trời. Lại trong kinh A Hàm nói: Người
nữ đó khi còn làm người thật hành việc đốn thí (bố
thí triệt để), nay làm đặng ông chủ, cho nên nói là Thiên
Chủ.
Chữ Ðẳng là: Luôn 32 trời bạn, nhẫn đến còn nhiều trời
dân nữa vậy. Chữ “vô lượng” là: Nói thêm cho hết, thời
gồm cả cõi trời Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới,
hết thảy các cõi trời.
Song, chữ Thiên là trời, mà tiếng “trời" có nhiều nghĩa:
Trời là ngày vì ngày rất dài; Trời không buồn rầu vì thường
hưởng sự vui; Trời là đèn sáng vì chẳng có tối tăm.
Chữ “đại chúng” là: Trên chư thiên, sắp xuống thì là
người và thần A Tu La, chung hết tất cả chúng sanh trong 6
đường vậy. Một thuyết nữa nói: Gồm văn trước, các hàng
Bồ tát và Thinh Văn, đồng kêu là ‘đại chúng’.
“Chung kết” là: Văn trước nói: “Cùng các chúng đại
Tỳ Kheo cu hội”. Văn đây chữ “Cu” là cũng nói cùng với
các vị Bồ tát, chư thiên, và đại chúng đồng “cu hội”
vậy.
Hoặc có người gạn hỏi: Chúng ở cõi trời Vô Sắc thời
không tai, không thân, còn loài ngạ quỉ, địa ngục thời
rất tối, rất khổ, đâu cho dự hội mà nghe kinh này? Song
chúng sanh ở cõi trời Vô Sắc là không sắc thân thô, chớ
không phải là không sắc thân tế. Cho nên khi đức Phật,
ngài nhập Niết Bàn, các người ở cõi trời Vô Sắc rơi
nước mắt như mưa. Thời có thân đến, có tai nghe cũng là
vô ngại. Ðến như các nơi địa ngục, ngạ quỉ trừ những
người nghiệp nặng, hoặc ngăn cách chẳng thông, còn như
những kẻ nghiệp nhẹ chưa chắc là mất phần.
Huống lại hào quang đức Phật soi vào đâu, dù là địa ngục
hoặc thiên tử tức Diêm La Vương cũng chứng đặng pháp Ðốn
và Viên. Thế thì Phật thuyết kinh này, hào quang chiếu khắp
10 phương, đâu biết loài ngạ quỉ và địa ngục chẳng được
nghe ư?!
Sớ: Xứng lý thời tự tánh thấu trên, suốt dưới là nghĩa
La Hán, Bồ Tát, chư thiên, đại chúng đồng cu hội.
Sao: Pháp này là pháp bình đẳng, không có phân biệt cao
thấp. Trên thời suốt đến chư Thánh, trên cũng được dự
hội. Dưới thời suốt đến lục phàm, dưới cũng được
dự hội. Bởi cả pháp Tứ Ðế, pháp Thập Nhị Nhơn Duyên,
pháp Tứ Ðẳng, pháp Lục Ðộ, pháp Ngũ Giới, pháp Thập
Thiện và Vạn Hạnh, nhẫn đến tám vạn bốn nghìn, các cửa
trần lao lăng xăng, duy có một cái tâm này, vì ở trong tánh
chơn thật không sai không khác. Mặc dầu long, xà (rồng, rắn)
hỗn tạp (lộn lạo), Phàm, Thánh giao tham (đua chen), nhưng
ở trong đó, Phật pháp vẫn trụ trì (như như) xưa sao nay
vậy (bình đẳng).