Quyển
Hạ
Phẩm
Thứ Mười Hai
THẤY,
NGHE ĐỀU ĐƯỢC LỢI ÍCH
“Thấy”
là mắt trông thấy, “nghe” là tai nghe thấy. Trông thấy
và nghe thấy đều được lợi ích. Trông thấy cái gì mà
được lợi ích? Nghe thấy cái gì mà được lợi ích? Trông
thấy hình tượng của Địa Tạng Vương Bồ Tát, trông thấy
quyển Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, thì đều được
lợi ích. Cho dù chúng ta không trông thấy mà chỉ nghe đến
danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng và nghe đến Kinh Địa Tạng
Bồ Tát Bổn Nguyện thì cũng đều được lợi ích. Vậy,
đây là phẩm thứ mười hai, “Thấy, Nghe Đều Được Lợi
Ích.”
Kinh
văn:
Lúc
đó, từ trên đảnh môn Đức Thế Tôn phóng ra cả trăm ngàn
vạn ức tướng tia sáng lớn.
Lược
giảng:
Lúc
đó—lúc Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói chuyện với Kiên Lao
Địa Thần và căn dặn Địa Thần hãy ủng hộ các chúng
sanh trong đời vị lai xong—từ trên đảnh môn Đức Thế
Tôn phóng ra cả trăm ngàn vạn ức tướng tia sáng lớn.
“Đảnh
môn” (cửa đỉnh đầu) nằm ở đâu? Ở ngay trên đỉnh
đầu. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có tướng “vô kiến đảnh”
(tướng đỉnh đầu không thấy được) chính là ở “đảnh
môn” này vậy.
Chúng
ta mỗi người đều có “đảnh môn.” Nếu quý vị tinh tấn
dụng công, chân chánh có công phu tu hành, thì khi chết, Phật
tánh của quý vị sẽ từ “đảnh môn” ở trên đỉnh đầu
mà đi ra, và sau đó quý vị có thể đến bất cứ nơi nào
mình muốn. Tuy nhiên, quý vị cần phải chăm chỉ tu hành,
nỗ lực dụng công cho thật tốt mới được; chứ dụng công
hời hợt thì không thể nào có được cảnh giới đó.
Vậy,
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ trên đỉnh đầu của mình phóng
ra hàng trăm ngàn vạn ức tia sáng lớn—trăm ngàn vạn ức
tia sáng này đều hỗ tương soi chiếu, chẳng hề ngăn ngại
nhau. Ánh sáng này không phải là từ một đạo hào quang mà
là từ cả trăm ngàn vạn ức đạo hào quang tỏa ra; và ánh
sáng này cũng không phải chỉ có một màu mà có tới hàng
trăm ngàn vạn ức màu sắc khác nhau. Đức Phật phóng ra tướng
hào quang rộng lớn, và hào quang này soi chiếu đến hết thảy
chúng sanh trong chín Pháp Giới (tuy rằng Phật cũng là chúng
sanh song không nằm trong chín Pháp Giới). Những đạo hào quang
rộng lớn này không chỉ soi sáng một thế giới, mà còn chiếu
dọi đến hàng trăm ngàn vạn ức thế giới và khắp các
cõi nước của chư Phật trong mười phương. Đức Phật Thích
Ca Mâu Ni dùng hào quang của mình soi sáng, chiếu dọi khắp
tất cả các quốc độ của chư Phật.
Đức
Phật thị hiện tướng hào quang rộng lớn này cũng là để
cho chúng sanh chúng ta biết rằng Kinh Địa Tạng là đặc biệt
quan trọng, mọi người đều phải dốc lòng dốc sức mà
giảng giải, biên chép, ấn hành để phổ biến. Chúng ta cần
phải giảng giải Kinh Địa Tạng, in chép Kinh Địa Tạng,
phổ biến Kinh Địa Tạng. Chúng ta phải làm sao cho đồng
loại, thân thích, bạn bè của chúng ta đều hiểu rõ Kinh
Địa Tạng. Chúng ta không được xao lãng việc phổ biến
kinh điển. Nếu quý vị có thể góp phần in kinh điển, truyền
bá kinh điển rộng rãi, thì trí huệ của quý vị sẽ được
khai mở và tăng trưởng.
Hôm
nay tôi có nói chuyện với hai đệ tử của tôi và bảo họ
rằng chúng ta sẽ cố gắng hoàn tất việc duyệt sửa và
nhuận sắc bản thảo chú giải Kinh Địa Tạng và Lục Tổ
Đàn Kinh, để khi sang Đài Loan thọ Giới họ có thể mang
theo rồi đặt in cùng xuất bản ở bên đó. Ở phương Tây
này thì kinh sách có chú giải bằng tiếng Anh quá hiếm hoi.
Ví như mùa màng bị hạn hán đang khát khao mong đợi trận
mưa rào tưới mát, chúng ta hãy mau mau ấn loát kinh sách và
phát hành rộng rãi để cho mọi người đều được thông
hiểu, thấm nhuần Phật Pháp. Đây là một phần của công
cuộc hoằng dương Phật Pháp, và cũng là một công trình hết
sức thiết yếu trong việc chuyển Đại Pháp Luân.
Vì
sao tôi hy vọng có thể đem bộ Kinh Địa Tạng và Lục Tổ
Đàn Kinh phiên dịch sang tiếng Anh rồi ấn hành tại Đài
Loan? Bởi vì chi phí ấn loát ở Đài Loan rất rẻ! Chuyến
đi lần này (1969) của quý vị là để thọ Giới, đồng thời
cũng là làm việc công đức. Đây là cơ hội để hoằng dương
Phật Pháp, cho nên, ai nấy đều tuyệt đối không được
lơ đễnh!
Kinh
văn:
Như
là: Tia sáng tướng màu trắng, tia sáng tướng màu trắng lớn;
tia sáng tướng tốt lành, tia sáng tướng tốt lành lớn; tia
sáng tướng ngọc, tia sáng tướng ngọc lớn; tia sáng tướng
màu tía, tia sáng tướng màu tía lớn; tia sáng tướng màu
xanh, tia sáng tướng màu xanh lớn; tia sáng tướng màu xanh
biếc, tia sáng tướng màu xanh biếc lớn; tia sáng tướng màu
đỏ, tia sáng tướng màu đỏ lớn; tia sáng tướng màu lục,
tia sáng tướng màu lục lớn; tia sáng tướng màu vàng y, tia
sáng tướng màu vàng y lớn; tia sáng tướng mây lành, tia sáng
tướng mây lành lớn; tia sáng ngàn vòng tròn, tia sáng ngàn
vòng tròn lớn; tia sáng vòng tròn báu, tia sáng vòng tròn báu
lớn; tia sáng vầng mặt trời, tia sáng vầng mặt trời lớn;
tia sáng vầng mặt trăng, tia sáng vầng mặt trăng lớn; tia
sáng cung điện, tia sáng cung điện lớn; tia sáng mây biển,
tia sáng mây biển lớn.
Từ
trên đảnh môn phóng ra những tướng tia sáng như thế xong,
lại nói ra tiếng vi diệu mà bảo đại chúng, Thiên Long Bát
Bộ, nhân cùng phi nhân v.v... rằng: “Hãy lắng nghe hôm nay
Ta, tại cung trời Đao Lợi, tuyên bày ngợi khen Bồ Tát Địa
Tạng về những sự lợi ích trong hàng trời, người, những
sự không thể nghĩ bàn, những sự siêu vượt nhân Thánh,
những sự chứng quả Thập Địa, những sự rốt ráo không
thối chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.”
Lược
giảng:
Vậy,
lúc bấy giờ từ trên đỉnh đầu của Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni phóng ra những tia sáng như là: 1) tia sáng tướng màu
trắng, tia sáng tướng màu trắng lớn.
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni phóng hào quang màu trắng soi sáng tất
cả những nơi tối tăm; ngụ ý rằng Bồ Tát Địa Tạng và
Kinh Địa Tạng có thể chiếu dọi, xua tan mọi hắc ám tăm
tối của thế gian.
2)
Tia sáng tướng tốt lành, tia sáng tướng tốt lành lớn.
3)
Tia sáng tướng ngọc, tia sáng tướng ngọc lớn. Có loại
hào quang trông giống như ngọc thạch vậy.
4)
Tia sáng tướng màu tía, tia sáng tướng màu tía lớn.
5)
Tia sáng tướng màu xanh, tia sáng tướng màu xanh lớn. Lại
có những đạo hào quang màu xanh, và nhiều hào quang lớn cũng
có màu xanh như thế nữa.
6)
Tia sáng tướng màu xanh biếc, tia sáng tướng màu xanh biếc
lớn.
7)
Tia sáng tướng màu đỏ, tia sáng tướng màu đỏ lớn.
8)
Tia sáng tướng màu lục, tia sáng tướng màu lục lớn.
9)
Tia sáng tướng màu vàng y, tia sáng tướng màu vàng y lớn.
Lại có tia sáng có màu vàng như vàng ròng vậy.
10)
Tia sáng tướng mây lành, tia sáng tướng mây lành lớn.
11)
Tia sáng ngàn vòng tròn, tia sáng ngàn vòng tròn lớn. Bàn chân
của Đức Phật có tướng “thiên bức luân” (chỉ dưới
bàn chân có ngàn cái xoay tròn); và đạo hào quang này trông
giống như cả ngàn cái vòng xoáy tròn ở trong vậy.
12)
Tia sáng vòng tròn báu, tia sáng vòng tròn báu lớn. Lại có
hào quang hình tròn và sáng lấp lánh như châu báu tạo thành.
13)
Tia sáng vầng mặt trời, tia sáng vầng mặt trời lớn. Lại
có những đạo hào quang rực rỡ như ánh sáng của cả trăm
ngàn vầng mặt trời.
14)
Tia sáng vầng mặt trăng, tia sáng vầng mặt trăng lớn. Lại
có đạo hào quang tỏa ra ánh sáng như của mặt trăng.
15)
Tia sáng cung điện, tia sáng cung điện lớn. Trong đạo hào
quang này hiện ra nhiều cung điện làm bằng bảy thứ báu
rất trang nghiêm.
16)
Tia sáng mây biển, tia sáng mây biển lớn. Lại có những đạo
hào quang trông giống như đám mây vọt lên từ mặt biển.
Hôm
qua có người hỏi rằng: “Hào tướng là gì?” “Hào tướng”
cũng chính là “quang tướng,” tức là tướng ánh sáng, là
tia sáng tỏa ra từ trong thân của Đức Phật. Vậy, “hào”
là hào quang; “hào tướng quang” là tướng của tia sáng—tia
sáng biến hóa ở trong tia sáng.
Bấy
giờ, sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ trên đảnh môn
phóng ra những tướng tia sáng như thế xong, lại nói ra tiếng
vi diệu. Đức Phật có Tứ Biện, Bát Âm. “Tứ Biện” là
gì? Đó là Tứ Vô Ngại Biện, tức là bốn khả năng biện
luận lưu loát, không hề gặp trở ngại; và gồm có: Biện
luận Nghĩa không trở ngại Biện luận Pháp không trở ngại,
Biện luận Từ không trở ngại, và Biện luận Vui Thuyết
không trở ngại (Nghĩa vô ngại biện, Pháp vô ngại biện,
Từ vô ngại biện, và Nhạo thuyết vô ngại biện).
1)
Biện luận Nghĩa không trở ngại (Nghĩa Vô Ngại Biện –
giải bày nghĩa lý một cách trôi chảy, không trở ngại).
“Nghĩa” là nghĩa lý, ý tứ. Ví như xưa nay chưa có nghĩa
lý, nhưng khi Đức Phật vừa thuyết pháp thì nghĩa lý, ý
tứ tuôn trào vô cùng vô tận.
2)
Biện luận Pháp không trở ngại (Pháp Vô Ngại Biện – giảng
nói pháp lý một cách trôi chảy, không trở ngại). Xưa nay
chỉ có một thứ giáo pháp, nhưng Đức Phật từ trong một
giáo pháp làm nảy sanh ra vô lượng vô biên pháp, và từ vô
lượng vô biên pháp lại quy nạp về thành một pháp. Cho nên
nói:
Một
gốc chia làm muôn thứ,
Muôn
thứ vẫn về cùng một gốc.
(Nhất
bổn tán vi vạn thù,
Vạn
thù nhưng quy nhất bổn.)
Từ
một gốc mà biến thành muôn dạng, từ muôn dạng mà gom về
thành một pháp; cho nên cũng nói là:
Một
là vô lượng, vô lượng là một.
(Nhất
vi vô lượng, vô lượng vi nhất.)
3)
Biện luận Từ không trở ngại (Từ Vô Ngại Biện - giảng
nói lưu loát, không trở ngại về ngôn từ). “Từ” tức
là ngôn từ. Có nhiều người muốn nói về một vấn đề
gì đó nhưng chỉ mới nói có mấy câu thì đã cạn lời hết
ý, không đủ ngôn từ để diễn đạt. Đức Phật khi giảng
đạo lý thì có thể nói thao thao bất tuyệt, miên man bất
tận, như nước sông nước biển tuôn chảy không ngừng.
4)
Biện luận Vui Thuyết không trở ngại (Nhạo Thuyết Vô Ngại
Biện - hoan hỷ thuyết pháp, không trở ngại). “Nhạo thuyết”
là vui thích việc giảng kinh thuyết pháp, rất hoan hỷ nói
pháp để giáo hóa chúng sanh, mỗi khi nói pháp là trong lòng
thấy hân hoan, vui vẻ.
Đó
là nói về Tứ Biện; còn Bát Âm (tám thứ tiếng) là gì?
Trước đây tôi cũng đã nhiều lần giảng về Tứ Vô Ngại
Biện, nhưng chưa hề nói tới Bát Âm. Mặc dù chưa giảng
tới nhưng những người chịu khó dụng công có lẽ đều
biết cả rồi. Đức Phật có tám thứ âm thanh dùng để thuyết
pháp:
1)
Tiếng tối hảo (tiếng tốt nhất). Loại âm thanh thứ nhất
của Phật là như thế nào? Đó là loại âm thanh hay nhất,
tốt nhất, tốt đến cực điểm, và cũng gọi là “cực
hảo âm.” Giọng nói của Phật thì càng nghe càng thấy thích
thú, càng muốn lắng nghe; chứ chẳng phải như nhiều người
nói nghe rền rĩ như tiếng kéo cưa vậy. Giọng nói của Phật
thì trong trẻo, thánh thót.
2)
Tiếng nhu nhuyễn (tiếng êm dịu). Giọng nói của Phật âm
vang êm tai như tiếng nước chảy dịu dàng, uyển chuyển.
3)
Tiếng hòa thích (tiếng thích hợp). “Thích” là thích hợp,
vừa đúng. Thứ âm thanh này rất ôn nhu, mềm mỏng, hài hòa;
người nào đã được nghe rồi thì chẳng còn ao ước nghe
tiếng gì khác nữa.
4)
Tiếng tôn huệ (tiếng tôn kính, trí huệ). Âm thanh của Phật
rất tôn quý. Đừng nói là nghe rõ từng lời từng chữ, chỉ
cần nghe được âm vang tiếng nói của Phật thì chúng ta cũng
có được vô lượng trí huệ rồi.
5)
Tiếng bất âm (tiếng chẳng có âm tính). Có nhiều người
giọng nói mang đầy âm tính, tức là giọng nói như phái nữ,
thường là the thé hoặc uốn éo, nũng nịu. Giọng của Phật
thì không phải là giọng âm.
6)
Tiếng bất ngu (tiếng chẳng đùa giỡn). Cho dù là khi nói
chuyện vui, giọng nói của Phật khiến người nghe cảm thấy
vô cùng chánh đáng, đúng đắn, không đượm vẻ giỡn hớt
đùa cợt.
7)
Tiếng thâm viễn (tiếng vang sâu và xa). Âm vang tiếng nói
của Đức Phật vọng đi rất xa, đến nỗi không thể biết
rõ là sâu lắng bao nhiêu và truyền đi bao xa. Có một lần
nọ, Tôn Giả Mục Kiền Liên dùng thần thông đi về hướng
vô lượng ức cõi Phật ở phương Đông. Ngài cứ dõi theo
tiếng nói của Đức Phật mà đi, đi, đi mãi, để xem thử
đến bao xa thì không còn nghe thấy nữa. Song, Ngài vượt qua
vô lượng cõi Phật mà tiếng nói của Đức Phật vẫn cứ
sang sảng bên tai. Thần thông quảng đại như Tôn Giả Mục
Kiền Liên mà cũng không thể tìm thấu nơi dứt bặt âm thanh
của Đức Phật!
8)
Tiếng bất kiệt. “Bất kiệt” tức là không bao giờ hết,
chẳng hề cùng kiệt. Âm thanh tiếng nói của Đức Phật thì
liên tiếp miên mật, không bao giờ bị gián đoạn hoặc ngưng
bặt.
Vậy,
Đức Phật dùng tám loại âm thanh này để thuyết pháp. Tám
loại âm thanh này, có lúc thì một người có thể nghe được
một loại, hoặc hai, ba, bốn, năm loại; song cũng có lúc một
người chỉ nghe được một loại—người này nghe được
tiếng thâm viễn, người kia nghe được tiếng nhu hòa ...—đó
là bởi căn tánh của mỗi người vốn bất đồng nên cái
nghe cũng khác nhau. Tám loại âm thanh này đều được gọi
là “vi diệu âm.” Quý vị hãy học và ghi nhớ tám loại
âm thanh này để về sau có thể thuyết giảng lại cho người
khác.
Vậy,
lúc bấy giờ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ trên đảnh môn
phóng ra những luồng hào quang rực rỡ chiếu sáng như thế
xong, lại thốt ra thứ tiếng rất vi diệu mà bảo đại chúng,
Thiên Long Bát Bộ, nhân cùng phi nhân v.v... hiện đang có mặt
tại Đao Lợi thiên cung rằng: “Hãy lắng nghe hôm nay Ta, tại
cung trời Đao Lợi, tuyên bày ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng
về những sự lợi ích trong hàng trời, người, những sự
không thể nghĩ bàn, những sự siêu vượt nhân Thánh, những
sự chứng quả Thập Địa, những sự rốt ráo không thối
chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.”
“Bát
bộ” tức là tám bộ chúng quỷ thần—trời, rồng, Dạ-xoa,
Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Ca-lâu-la.
“Siêu
vượt” tức là vượt quá, vượt lên trên. “Nhân Thánh,”
thì như lúc trước đã giảng, quý vị đến đây để nghe
giảng kinh, ngồi Thiền, học Phật Pháp—như thế đều là
trồng nhân Thánh. “Siêu vượt” tức là “sự bán công
bội,” có nghĩa là bỏ công sức rất ít mà lại thành được
việc lớn. Ví dụ, quý vị ngồi Thiền lẽ ra thì phải mất
một năm mới được tỏ ngộ, song kết quả lại chỉ nội
trong hai ngày là được khai ngộ rồi, hết sức mau chóng—đó
gọi là “những việc siêu vượt nhân Thánh.”
“Chứng
quả Thập Địa”—“chứng” là chứng đắc; “Thập Địa”
là quả vị của hàng Bồ Tát. Thập Trụ, Thập Hạnh và Thập
Hồi Hướng được gọi chung là “Tam Hiền Vị,” tức là
quả vị của Tam Hiền. Quả vị của Bồ Tát Thập Địa gồm
có:
1)
Hoan Hỷ Địa. “Hoan hỷ” là vô cùng vui vẻ, lúc nào cũng
vui tươi hớn hở, không bao giờ khóc lóc rầu rĩ. Những bậc
Bồ Tát đạt đến cảnh giới này rồi thì không khóc nữa,
dù có bị mắng chửi, đánh đập hoặc đối xử thế nào
họ cũng đều hoan hỷ. Quý vị nói họ không tốt họ cũng
hoan hỷ; mắng chửi họ, họ cũng hoan hỷ; ngược đãi họ
như thế nào thì họ cũng đều hoan hỷ cả. Vậy, đây gọi
là “sơ địa,” tức là địa thứ nhất.
2)
Ly Cấu Địa. “Ly” là xa lìa, tách rời; “cấu” là nhiễm
ô, dơ bẩn. Vậy, “ly cấu” tức là xa lìa pháp nhiễm ô,
đạt được sự thanh tịnh.
3)
Phát Quang Địa. Nhờ “hoan hỷ” nên được “ly cấu”
(xa lìa mọi nhiễm ô); mà “ly cấu” rồi thì sẽ “phát
quang,” tỏa ánh sáng. Có nhiễm ô thì không thể phát hào
quang, phải xa lìa nhiễm ô thì mới có hào quang. Thế nào
gọi là “nhiễm ô”? Đó chính là những tư tưởng, những
tâm niệm không trong sạch; lòng còn tham hưởng thụ, muốn
sự sung sướng cho bản thân—nói chung là dục vọng tràn
trề. Nếu lòng đầy dục vọng, đặc biệt là sắc dục,
thì đó gọi là có nhiễm ô và không thể nào đạt tới cảnh
giới của “ly cấu địa”; hễ không “ly cấu” thì không
thể phát hào quang được. Vậy, bậc Bồ Tát ở địa vị
này nhờ đã “ly cấu” rồi cho nên được “phát quang.”
4)
Diễm Huệ Địa. Đây là cảnh giới sanh xuất trí huệ, thứ
trí huệ tương tự như ngọn lửa bùng cháy phừng phực, vô
cùng lớn mạnh. Bậc Bồ Tát nhờ đã “phát quang” nên mới
có được trí huệ như thế. Vậy, quả vị thứ tư là Diễm
Huệ Địa.
5)
Nan Thắng Địa. Không ai có thể hơn được những bậc Bồ
Tát ở địa vị này về bất cứ điều gì. Nhờ trí huệ
của họ hiện tiền, bất luận người nào biện luận với
họ, mọi thứ thần thông biến hóa, thảy đều không thắng
được họ.
6)
Hiện Tiền Địa. Cái gì “hiện tiền”? Tất cả trí huệ
quang minh đều hiện tiền.
7)
Viễn Hành Địa. “Viễn hành” là đi xa, rất xa.
8)
Bất Động Địa. Có câu: “Bất động đạo tràng nhi hóa
thập phương chúng sanh” (đạo tràng không chuyển dịch mà
hóa độ khắp chúng sanh trong mười phương). Bậc Bồ Tát
tuy hóa độ mười phương chúng sanh, song các ngài vẫn “bất
động”; tuy rằng “bất động” song bậc Bồ Tát vẫn có
thể giáo hóa hết thảy chúng sanh.
9)
Thiện Huệ Địa. “Thiện huệ” tức là trí huệ thiện
lành.
10)
Pháp Vân Địa. Giáo pháp này tương tự như áng mây.
Trên
đây là y cứ theo từ ngữ mà giảng sơ lược về ý nghĩa
của Thập Địa. Nếu quý vị muốn biết tường tận về
“Tam Hiền Thập Thánh” (“Thập Địa” cũng gọi là “Thập
Thánh”), thì nên nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm bởi trong đó
có giảng về Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng và
Thập Địa rất cặn kẽ.
Vậy,
ở đây nói “những sự chứng quả Thập Địa” tức là
việc Bồ Tát Địa Tạng chứng đắc quả vị Thập Địa.
“Những
sự rốt ráo không thối chuyển” có nghĩa là dứt khoát không
chịu chùn bước, rút lui. Có bao nhiêu loại “không thối
chuyển” (bất thối)? Có ba loại; đó là:
1)
Quả vị không thối chuyển (Vị bất thối). Không lùi sụt
xuống quả vị của hàng Nhị Thừa.
2 Hạnh
tu không thối chuyển (Hạnh bất thối). Không lùi sụt xuống
hạnh của hàng phàm phu.
3)
Tâm niệm không thối chuyển (Niệm bất thối). Tâm nguyện
Bồ Tát không lùi sụt, luôn luôn hành trì giáo pháp Đại
Thừa.
Ba
điều không thối chuyển - Quả vị không thối chuyển,
hạnh tu không thối chuyển, tâm niệm không thối chuyển về
—là ba điều không thối chuyển nơi cái gì? Đó chính là
những sự “không thối chuyển nơi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam
Bồ Đề.”
“A-nậu-đa-la
Tam-miệu Tam-bồ-đề” là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là “Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.” Sự giác ngộ của hàng
Nhị Thừa thì khác với hạng phàm phu; tuy nhiên, mặc dù hàng
Nhị Thừa được giác ngộ rồi song họ vẫn chưa đạt được
sự “chánh đẳng.” “Chánh đẳng” là thế nào? “Chánh
đẳng” chính là Bồ Tát; Bồ Tát là “chánh đẳng” đối
với Phật. Tuy rằng “chánh đẳng” đối với Phật và không
đồng với hàng Nhị Thừa, nhưng bậc Bồ Tát vẫn chưa đạt
đến địa vị “vô thượng”—duy chỉ có Phật mới được
tôn xưng là “Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”!
“Vô
thượng” với Bồ Tát cũng không đồng; cho nên gọi “Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác” chính là quả vị của Phật.
Địa Tạng Vương Bồ Tát hiện tại tuy chưa thành Phật, song
quả vị của Ngài cũng giống như Phật vậy; do đó mà ở
đây Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói rằng muốn tuyên thuyết
về nhân duyên Bồ Tát Địa Tạng đắc được quả vị Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Kinh
văn:
Nói
lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát
hiệu là Quán Thế Âm từ chỗ ngồi đứng dậy, quỳ gối
chắp tay mà bạch cùng Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế
Tôn! Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đây đầy đủ đức đại
từ bi, thương xót chúng sanh mắc tội khổ. Bồ Tát ở trong
ngàn vạn ức thế giới hóa hiện ra ngàn vạn ức thân, tất
cả công đức cùng sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn.
Con
được nghe Đức Thế Tôn cùng vô lượng chư Phật trong mười
phương, khác miệng đồng lời ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng
rằng dầu cho chư Phật trong thuở quá khứ, hiện tại và
vị lai đều tuyên nói về công đức đó, vẫn chẳng thể
nói hết được.
Vừa
rồi lại được Đức Thế Tôn bảo khắp đại chúng rằng
muốn tuyên nói các sự lợi ích của Bồ Tát Địa Tạng.
Cúi mong Đức Thế Tôn, vì tất cả chúng sanh ở hiện tại
và vị lai, mà tuyên nói những sự chẳng thể nghĩ bàn của
Bồ Tát Địa Tạng, khiến cho Thiên Long Bát Bộ chiêm lễ
được phước.”
Lược
giảng:
Lúc
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nói lời ấy xong, trong Pháp Hội
có một vị Bồ Tát Ma Ha Tát hiệu là Quán Thế Âm...
Đây
không phải là một vị Bồ Tát tầm thường mà là một vị
Đại Bồ Tát và tên của Ngài là Quán Thế Âm—Đại Bồ
Tát Quán Thế Âm. “Quán” là “trí năng quán,” cái trí
huệ có khả năng quán xét; “thế âm” là “cảnh sở quán,”
tức là cảnh giới được quán xét. Quán Thế Âm Bồ Tát
dùng trí huệ từ bi của Ngài để dõi tìm những tiếng kêu
gào của hết thảy chúng sanh đang chịu thống khổ trong khắp
mười phương thế giới—Ngài luôn bận rộn “tầm thanh
cứu khổ.”
Vậy,
lúc bấy giờ, Đại Bồ Tát Quán Thế Âm từ chỗ ngồi đứng
dậy, quỳ gối—gối phải chạm đất—chắp tay mà bạch
cùng Đức Phật rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Địa Tạng
Bồ Tát Ma Ha Tát đây đầy đủ đức đại từ bi, thương
xót chúng sanh mắc tội khổ. Bồ Tát ở trong ngàn vạn ức
thế giới hóa hiện ra ngàn vạn ức thân, tất cả công đức
cùng sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn.”
Quán
Thế Âm Bố Tát bạch tiếp: “Bạch Đức Thế Tôn! Con được
nghe Đức Thế Tôn cùng vô lượng chư Phật trong mười phương,
khác miệng đồng lời ngợi khen Bồ Tát Địa Tạng rằng
...”
Tuy
rằng khác miệng song lời nói thì tương đồng, ai nấy đều
nói cùng một lời như nhau—chư Phật trong mười phương đều
cùng một lời khen ngợi Bồ Tát Địa Tạng. Ở đây còn một
hàm ý nữa là vào thuở quá khứ, Bồ Tát Quán Thế Âm đã
từng được nghe vô lượng chư Phật trong mười phương khen
ngợi Bồ Tát Địa Tạng; tuy rằng các ngài không phải nói
cùng một lúc song đều nói một lời giống nhau—chư Phật
đều nói rằng Bồ Tát Địa Tạng có trí huệ thần thông
chẳng thể nghĩ bàn!
“Dầu
cho chư Phật trong thuở quá khứ, hiện tại và vị lai đều
tuyên nói về công đức đó, vẫn chẳng thể nói hết được.”
Giả sử tất cả chư Phật—chư Phật đời quá khứ, chư
Phật đời hiện tại, chư Phật đời vị lai—hết thảy
chư Phật trong mười phương ba đời đều nói về công đức
của Bồ Tát Địa Tạng, thì vẫn không thể nào nói cho hết
được.
Quán
Thế Âm Bồ Tát bạch tiếp: “Vừa rồi lại được Đức
Thế Tôn bảo khắp đại chúng rằng muốn tuyên nói các sự
lợi ích của Bồ Tát Địa Tạng. Cúi mong Đức Thế Tôn vì
tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai, mà tuyên nói những
sự chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng.”
Quán
Thế Âm Bồ Tát thỉnh cầu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên
nói về công đức trí huệ bất khả tư nghì của Bồ Tát
Địa Tạng nhằm “khiến cho Thiên Long Bát Bộ chiêm lễ được
phước.” Công đức chiêm ngưỡng cùng đảnh lễ chư Phật
và Bồ Tát vốn vô lượng vô biên, nếu giảng cặn kẽ thì
khó mà giảng cho hết được. Bây giờ chỉ nói sơ lược
về năm loại công đức tiêu biểu từ sự lễ bái chư Phật
và Bồ Tát:
1)
Tướng mạo đoan chánh, viên mãn; ai gặp cũng sanh lòng ái
kính và có thiện cảm.
2)
Giọng nói vi diệu, trong trẻo, âm vang như tiếng chuông đồng.
3)
Giàu có, sở hữu nhiều của cải, châu báu.
4)
Sanh trưởng trong những gia đình cao sang quyền quý, có địa
vị, có đức hạnh.
5)
Được sanh lên các cõi trời.
Trên
đây là năm loại công đức có được nhờ chiêm ngưỡng
và lễ bái chư Phật cùng chư Bồ Tát.
Kinh
văn:
Đức
Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Ông có đại nhân duyên
với thế giới Ta Bà. Nếu hàng trời hoặc rồng, hoặc kẻ
nam người nữ, hoặc thần hoặc quỷ, cho đến các chúng sanh
tội khổ trong Lục Đạo nghe danh hiệu của ông, thấy hình
tượng của ông, mến tưởng đến ông, khen ngợi ông, thì
những chúng sanh ấy đều ở nơi Đạo Vô Thượng quyết chẳng
còn thối chuyển, thường được sanh vào cõi người, cõi
trời, hưởng đủ sự vui vi diệu; khi nhân quả sắp thành
thục liền được gặp Phật thọ ký cho.
Nay
ông sẵn lòng đại từ bi, thương xót các chúng sanh cùng Thiên
Long Bát Bộ, mà muốn nghe Ta tuyên nói những sự lợi ích
chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa Tạng. Ông hãy lắng
nghe, nay Ta sẽ nói rõ.”
Ngài
Quán Thế Âm bạch rằng: “Vâng, bạch Đức Thế Tôn! Con
xin ưa muốn nghe.”
Lược
giảng:
Đức
Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Ông có đại nhân duyên
với thế giới Ta Bà. Đối với cõi khổ kham nhẫn ở Nam
Diêm Phù Đề này, ông có nhân duyên đặc biệt sâu dày. Nếu
hàng trời hoặc rồng, hoặc kẻ nam người nữ, hoặc thần
hoặc quỷ, cho đến các chúng sanh tội khổ trong Lục Đạo—trời,
người, A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—nghe danh hiệu
của ông—Quán Thế Âm Bồ Tát—thấy hình tượng của ông—bao
gồm tất cả mọi hình tượng bằng đất, vàng, gỗ, đá,
cho đến tranh vẽ ...—mến tưởng đến ông, khen ngợi ông,
thì những chúng sanh ấy đều ở nơi Đạo Vô Thượng quyết
chẳng còn thối chuyển, thường được sanh vào cõi người,
cõi trời, hưởng đủ sự vui vi diệu; khi nhân quả sắp thành
thục, liền được gặp Phật thọ ký cho. Đến lúc cái nhân
mà họ đã gieo được kết thành quả, chín muồi, thì họ
đều sẽ được gặp Phật và được Phật thọ ký, tương
lai họ đều có thể thành Phật.”
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Nay ông sẵn lòng đại từ
bi, thương xót các chúng sanh cùng Thiên Long Bát Bộ, mà muốn
nghe Ta tuyên nói những sự lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của
Bồ Tát Địa Tạng. Bây giờ ông lại phát lòng từ bi hết
sức vĩ đại, từ bi thương xót tất cả chúng sanh cùng trời,
rồng và tám bộ quỷ thần. Vậy, nay ông hãy lắng nghe Ta
nói về cảnh giới không thể nghĩ bàn của Bồ Tát Địa
Tạng, những việc lợi ích cho nhân, thiên, cùng chúng sanh
trong Lục Đạo. Ông hãy lắng nghe! Ông nên đặc biệt chăm
chú lắng nghe, nay Ta sẽ nói rõ.”
Bấy
giờ, Ngài Quán Thế Âm bạch rằng: “Vâng, bạch Đức Thế
Tôn! Con xin ưa muốn nghe". Con thỉnh cầu Đức Thế Tôn vì
chúng con mà giảng nói. Toàn thể đại chúng chúng con trong
Pháp Hội này đều khao khát được nghe về cảnh giới bất
khả tư nghì của Bồ Tát Địa Tạng.”
Kinh
văn:
Đức
Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm: “Trong các thế giới về
thuở hiện tại và vị lai, có vị thiên nhân nào phước trời
thọ hưởng đã hết, có Ngũ Suy Tướng hiện ra, hoặc có
vị phải đọa lạc nơi chốn ác đạo; các vị thiên nhân
đó, hoặc nam hoặc nữ, đương lúc tướng suy hiện ra, mà
hoặc thấy được hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng hoặc
nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, rồi một lần
chiêm ngưỡng một lần đảnh lễ, thì các vị thiên nhân
đó được phước trời thêm lớn, hưởng nhiều sự vui sướng,
vĩnh viễn không phải đọa lạc vào ba ác đạo nữa; huống
chi là được thấy tượng, được nghe tên của Bồ Tát, rồi
đem các thức hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, vật
báu, chuỗi anh lạc... mà bố thí cúng dường, thì công đức
phước lợi có được sẽ vô lượng vô biên.”
Lược
giảng:
Đức
Phật bảo Bồ Tát Quán Thế Âm và tất cả đại chúng: “Trong
các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, có vị thiên
nhân nào phước trời thọ hưởng đã hết, có Ngũ Suy Tướng
hiện ra ...”
Các
thiên nhân ở cõi trời được hưởng phước báo vui sướng
vô cùng; so với cõi nhân gian thì ở cõi trời quá vui vẻ
sung sướng. Thế nhưng, thiên nhân lại có Ngũ Suy Tướng,
tức là sự xuất hiện của năm tướng suy hao nơi thân thể
khi họ sắp hưởng hết thiên phước của mình.
Năm
Tướng Suy Hao là gồm những gì? Đó là:
1)
Mũ hoa héo rũ (Hoa quan ủy tạ): Các thiên nhân đều đội
mũ kết bằng hoa tươi, không bao giờ khô héo; song đến lúc
năm tướng suy hao hiện ra thì những mũ hoa này sẽ héo úa,
tàn rụng.
2)
Y phục dính bụi (Y trước trần ai). Áo quần của thiên nhân
thường thì không phải giặt giũ mà vẫn luôn luôn sạch sẽ,
nhưng đến lúc quần áo của họ bắt đầu bị bụi bám thì
họ biết là mình sắp chết.
3)
Hai nách tiết mồ hôi (Lưỡng dịch hãn xuất). Thân thể của
thiên nhân không ra mồ hôi, song đến lúc phước trời của
họ đã hết thì dưới hai nách có mồ hôi tiết ra.
4)
Thân thể hôi hám (Thân thể xú uế). Thân thể của thiên
nhân thường tỏa hương thơm, đến lúc thiên phước của
họ đã cạn hết thì “xú khí nhập thể,” thân mình tiết
ra mùi hôi hám.
5)
Không thích chỗ ngồi của mình (Bất lạc bổn tòa). Thiên
nhân thường hay ngồi, có tướng Thiền Định; song đến lúc
hết thiên phước thì họ không còn tướng Thiền Định nữa—bấy
giờ họ đứng ngồi không yên, bồn chồn bứt rứt, hết
đứng lại ngồi, hết ngồi lại đứng. Đây chính là lúc
thiên nhân phải đọa lạc—có thể chuyển làm thân ngạ
quỷ, súc sanh, xuống địa ngục, hoặc sanh làm người... tất
cả đều không nhất định.
Trên
đây là năm tướng suy hao lớn (đại Ngũ Suy Tướng). Ngoài
ra, thiên nhân còn có sự xuất hiện của năm tướng suy hao
nhỏ (tiểu Ngũ Suy Tướng) nữa. Năm tướng suy nhỏ là những
gì? Đó là:
1)Tiếng
không còn trong thanh và vui vẻ nữa (Lạc thanh bất khởi ).
Giọng nói của thiên nhân vốn vô cùng thanh tao, vi diệu; song
đến lúc năm tướng suy hiện ra thì tiếng nói trở nên thô
nặng, khàn đục, không còn réo rắt, thánh thót nữa.
2)
Ánh sáng trên thân bị mờ tối (Thân quang vi ám ). Toàn thân
của thiên nhân thường đều có tỏa hào quang, song đến lúc
năm tướng suy hao nhỏ hiện ra thì hào quang nơi thân trở
nên lu mờ ảm đạm, không còn sáng chói nữa.
3)
Nước tắm đọng dính trên thân (Dục thủy trước thân ).
Thân thể của thiên nhân vốn không bị dính nước, tương
tự như mặt pha-lê vậy—nước chảy tuột đi chứ không
đọng lại; nhưng khi năm tướng suy nhỏ hiện ra, thì khi tắm,
nước sẽ dính lại trên thân họ.
4)
Chấp trước vào cảnh giới, không buông xả (Trước cảnh
bất xả) . Lúc năm tướng suy nhỏ hiện ra, thiên nhân gặp
cảnh giới gì thì bám chấp lấy cảnh giới đó, không thể
buông bỏ được.
5)
Thân suy yếu, mắt láo liên (Thân hư nhãn thuấn). Lúc năm
tướng suy nhỏ hiện ra thì thân thể của thiên nhân trở
nên vô cùng suy nhược, không còn cường tráng, không còn sức
lực nữa. Thiên nhân vốn rất ít khi mở trừng mắt, con ngươi
không thường chuyển động; nhưng khi năm tướng suy nhỏ hiện
ra, thì tròng mắt của họ luôn chuyển động qua lại.
Trên
đây là năm tướng suy hao nhỏ. Ngoài ra, thiên nhân còn có
bảy tướng suy hao, trong đó bao gồm năm tướng suy hao lớn:
1)
Ánh sáng bị mất (Quang diệt ). Hào quang của thiên nhân không
còn nữa.
2)
Hoa héo úa (Hoa ủy ). Mũ hoa trên đầu bị héo tàn.
3)
Sắc tướng biến đổi (Biến sắc ). Tướng mạo của thiên
nhân vốn rất viên mãn, nhưng khi năm tướng suy hiện ra thì
liền bị biến đổi ngay—trước kia vốn rất tốt đẹp,
bây giờ thì không còn đẹp nữa.
4)
Y phục dính bụi dơ (Y trước trần ai).
5)
Hai nách ra mồ hôi (Lưỡng dịch xuất hãn). Hai bên nách của
thiên nhân, chỗ dưới hai cánh tay, có mồ hôi tiết ra.
6)
Thân thể gầy ốm (Thân sấu). Thiên nhân vốn không cần ăn
uống tẩm bổ gì cả mà thân thể cũng không gầy ốm; nhưng
lúc tướng suy hiện ra thì thân thể hao gầy hẳn đi.
7)
Không thích chỗ ngồi của mình (Bất lạc bổn tòa). Lúc tướng
suy hiện ra, thiên nhân tự lánh xa chỗ ngồi của mình.
Vậy,
năm tướng suy nhỏ (tiểu Ngũ Suy), năm tướng suy lớn (đại
Ngũ Suy), và bảy tướng suy (Thất Suy), đều là các tướng
trạng hiện ra nơi thân của thiên nhân lúc phước trời của
họ đã hết.
Lúc
bấy giờ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo rằng: “Trong đời
này và đời sau, nếu có thiên nhân nào nơi thân đã hiện
năm dấu hiệu suy hao, hoặc có vị phải đọa lạc nơi chốn
ác đạo; các vị thiên nhân đó, hoặc nam hoặc nữ, đương
lúc tướng suy hiện ra, mà hoặc thấy được hình tượng
của Bồ Tát Địa Tạng hoặc nghe được danh hiệu của Bồ
Tát Địa Tạng, rồi một lần chiêm ngưỡng một lần đảnh
lễ, thì các vị thiên nhân đó được phước trời thêm lớn,
hưởng nhiều sự vui sướng, vĩnh viễn không phải đọa lạc
vào ba ác đạo nữa; huống chi là được thấy tượng, được
nghe tên của Bồ Tát, rồi đem các thức hương hoa, y phục,
đồ ăn thức uống, vật báu, chuỗi anh lạc... mà bố thí
cúng dường, thì công đức phước lợi có được sẽ vô
lượng vô biên.”
Những
chúng sanh nào được thấy hình tượng hoặc được nghe đến
danh hiệu của Địa Tạng Vương Bồ Tát, lại còn đem đủ
loại hương, đủ loại hoa, các thứ y phục, các thức ăn
uống, cùng các món trang sức quý báu như chuỗi anh lạc ra
cúng dường Ngài, thì sẽ được vô lượng vô biên công đức
và phước lợi, chẳng thể nào kể xiết.
Kinh
văn:
“Lại
nữa, này Quán Thế Âm! Trong các thế giới về thuở hiện
tại và vị lai, nếu những chúng sanh trong Lục Đạo lúc sắp
mạng chung mà được nghe một tiếng danh hiệu của Bồ Tát
Địa Tạng thoáng qua lỗ tai, thì các chúng sanh đó vĩnh viễn
không còn phải trải qua nỗi khổ nơi Tam Ác Đạo nữa.
Huống
chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng quyến thuộc đem
nhà cửa, tài vật, của báu, y phục v. v... của người sắp
chết đó mà đắp, vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng,
hoặc làm cho người bệnh lúc chưa chết, được mắt thấy
tai nghe, biết rằng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, vật báu
v. v... vì mình mà đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa
Tạng; người đó nếu do nghiệp báo phải chịu bệnh nặng,
thì nhờ công đức này liền được khỏi bệnh, tuổi thọ
thêm lâu dài.
Còn
nếu người đó nghiệp báo sanh mạng đã hết, đáng phải
chịu tất cả tội chướng, nghiệp chướng, và đọa vào
đường ác, song nhờ công đức này nên sau khi mạng chung liền
được sanh vào cõi trời, cõi người, hưởng sự vui thù thắng
vi diệu, tất cả tội chướng đều được tiêu trừ.”
Lược
giảng:
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni lại gọi: “Lại nữa, này Quán Thế
Âm! Trong các thế giới về thuở hiện tại và vị lai, nếu
những chúng sanh trong Lục Đạo lúc sắp mạng chung mà được
nghe một tiếng danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng thoáng qua
lỗ tai—chỉ vỏn vẹn một tiếng mà thôi—thì các chúng
sanh đó vĩnh viễn không còn phải trải qua nỗi khổ nơi Tam
Ác Đạo nữa.
Huống
chi là lúc sắp mạng chung, cha mẹ cùng hàng quyến thuộc đem
nhà cửa, tài vật, của báu, y phục v. v... của người sắp
chết đó mà đắp, vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng,
hoặc làm cho người bệnh lúc chưa chết—mắt vẫn còn nhìn
thấy, tai vẫn còn nghe hiểu—được mắt thấy tai nghe, biết
rằng hàng quyến thuộc đem nhà cửa, vật báu v. v... vì mình
mà đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, vì mình
mà làm việc công đức; người đó nếu do nghiệp báo phải
chịu bệnh nặng, thì nhờ công đức này liền được khỏi
bệnh, tuổi thọ thêm lâu dài.” Nếu người đang hấp hối
đó do trót tạo nghiệp chướng mà phải chịu quả báo mắc
bệnh nặng, đáng bị “con ma bệnh” hành hạ, bị nghiệp
chướng trói buộc bủa vây, thì nhờ vào công đức tạc vẽ
tô đắp hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng, chẳng bao lâu
người đó sẽ lành mạnh và được sống lâu hơn.
Còn
nếu người đó nghiệp báo sanh mạng đã hết, đáng phải
chịu tất cả tội chướng, nghiệp chướng, và đọa vào
đường ác ...” Giả sử người bệnh đang hấp hối đó
có nghiệp báo đáng lẽ phải chết, cứ theo những tội chướng,
nghiệp chướng mà người đó phải gánh chịu tất phải đọa
lạc trong bốn đường ác, “song nhờ công đức này nên sau
khi mạng chung liền được sanh vào cõi trời, cõi người,
hưởng sự vui thù thắng vi diệu, tất cả tội chướng đều
được tiêu trừ.”
Kinh
văn:
“Lại
nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có
kẻ nam người nữ nào, hoặc lúc còn bú mớm, hoặc lúc lên
ba tuổi, năm tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất cha
mẹ, cho đến chết mất anh em chị em, người đó khi khôn
lớn thường nhớ tưởng đến cha mẹ cùng hàng quyến thuộc,
song không rõ họ lạc vào chốn nào, sanh về thế giới nào,
hoặc sanh trong cõi trời nào.
Người
đó như có thể đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng,
thậm chí nghe danh hiệu, một lần chiêm ngưỡng một lần
đảnh lễ, trong từ một ngày cho đến bảy ngày đừng thối
thất tâm nguyện ban đầu mà nghe danh hiệu, ngắm hình tượng,
chiêm lễ, cúng dường; thì quyến thuộc của người đó nếu
do ác nghiệp mà bị đọa vào đường ác lẽ ra phải chịu
đến nhiều số kiếp, nay nhờ công đức đắp vẽ hình tượng
Bồ Tát Địa Tạng và chiêm lễ của con cái, anh em chị em,
nên liền được giải thoát, sanh trong cõi trời cõi người,
hưởng sự vui thù thắng vi diệu.
Còn
như quyến thuộc của người đó có phước lực, đã được
sanh vào cõi trời, cõi người và hưởng thọ sự vui thù thắng
vi diệu rồi, thì sẽ nhờ công đức này mà nhân Thánh tăng
trưởng, hưởng vô lượng sự vui.”
Lược
giảng:
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Lại nữa, này Bồ Tát Quán
Thế Âm! Ta lại nói cho các ông nghe về một cảnh giới không
thể nghĩ bàn nữa. Vào đời vị lai, nếu có kẻ nam người
nữ nào, hoặc lúc còn bú mớm, hoặc lúc lên ba tuổi, năm
tuổi, mười tuổi trở xuống mà chết mất cha mẹ—cha mẹ
đã qua đời hoặc bị mất tích, cho đến chết mất anh em
chị em—có anh em trai hay chị em gái bị chết hoặc thất
lạc, người đó khi khôn lớn thường nhớ tưởng đến cha
mẹ cùng hàng quyến thuộc, song không rõ họ lạc vào chốn
nào, sanh về thế giới nào, hoặc sanh trong cõi trời nào.”
Đến tuổi trưởng thành, người đó thường nhớ nghĩ và
thắc mắc không biết cha mẹ, anh em, chị em cùng các thân
quyến của mình đang trôi nổi lưu lạc ở nơi nào trong sáu
nẻo đường—chẳng rõ họ được sanh thiên, được làm
người, hoặc bị chuyển làm thân A-tu-la, ngạ quỷ, súc sanh,
hay đọa địa ngục.
“Người
đó như có thể đắp vẽ hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng,
thậm chí nghe danh hiệu, một lần chiêm ngưỡng một lần
đảnh lễ, trong từ một ngày cho đến bảy ngày đừng thối
thất tâm nguyện ban đầu mà nghe danh hiệu, ngắm hình tượng,
chiêm lễ, cúng dường ... ” Giả sử người bị mồ côi
hoặc thất lạc thân nhân đó có thể dùng đất sét, gỗ,
vàng, bạc, đồng, sắt ... để làm tượng Bồ Tát Địa Tạng,
hoặc tô vẽ hình Ngài trên giấy; thậm chí người đó không
hề đắp vẽ hình tượng Ngài, mà chỉ nghe được danh hiệu,
chỉ thấy hình tượng hoặc đảnh lễ hình tượng của Ngài
mới một lần, mà trong từ một ngày cho đến bảy ngày tâm
nguyện lúc ban sơ của người đó không hề thối thất—lòng
khẩn thiết muốn đảnh lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng
không bị lay chuyển; “thì quyến thuộc của người đó nếu
do ác nghiệp mà bị đọa vào đường ác lẽ ra phải chịu
đến nhiều số kiếp, nay nhờ công đức đắp vẽ hình tượng
Bồ Tát Địa Tạng và chiêm lễ của con cái, anh em chị em,
nên liền được giải thoát, sanh trong cõi trời cõi người,
hưởng sự vui thù thắng vi diệu.”
Bất
luận là nghe được danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng hay
trông thấy hình tượng của Ngài, người đó đều thiết
tha chiêm lễ cúng dường, thì quyến thuộc của người đó,
giả dụ vì nhân duyên nghiệp chướng và căn cứ theo tội
chướng mà họ đã tạo ra thì họ phải bị đọa lạc trong
bốn đường ác—A-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—phải
trải qua đến không biết bao nhiêu đại kiếp mới được
giải thoát, thì giờ đây, nhờ vào công đức đắp vẽ và
chiêm lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng của người đó,
họ sẽ được thoát khỏi mọi nghiệp tội, được sanh trong
cõi người hoặc cõi trời, hưởng thọ sự vui sướng thù
thắng nhất, vi diệu nhất.
“Còn
như quyến thuộc của người đó có phước lực, đã được
sanh vào cõi trời, cõi người và hưởng thọ sự vui thù thắng
vi diệu rồi ...” Trong trường hợp cha mẹ, anh em, chị em
... của người đó nhờ phước lực đã tạo khi trước mà
được sanh vào cõi người hoặc sanh lên cõi trời hưởng
sự an vui rồi, “thì sẽ nhờ công đức này mà nhân Thánh
tăng trưởng, hưởng vô lượng sự vui.” Nhờ công đức
đắp vẽ hình tượng cùng chiêm lễ Bồ Tát Địa Tạng của
người này nên công đức phước lực của hàng quyến thuộc
càng gia tăng—lúc trước đã hưởng thọ sự vui sướng thắng
diệu, bây giờ lại càng được an vui hơn nữa.
Kinh
văn:
“Như
người đó lại có thể trong hai mươi mốt ngày nhất tâm
chiêm lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và niệm danh hiệu
của Ngài đủ một vạn biến, thì sẽ được Bồ Tát hiện
thân vô biên, mách bảo người đó cõi giới mà hàng quyến
thuộc đã sanh về; hoặc trong giấc mộng, Bồ Tát hiện đại
thần lực, đích thân dắt người đó đến các thế giới
để thấy hàng quyến thuộc của mình.
Nếu
người đó lại có thể mỗi ngày đều niệm danh hiệu Bồ
Tát một ngàn biến, luôn đến một ngàn ngày, thì người
đó sẽ được Bồ Tát sai các quỷ thần và thổ địa sở
tại hộ vệ trọn đời, hiện đời y phục thức ăn dư dật,
không có các thứ bệnh khổ, cho đến các hoạnh sự còn không
hề vào đến cửa, huống nữa là đến nơi thân! Người đó
rốt ráo sẽ được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.”
Lược
giảng:
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni dạy tiếp: “Như người đó—người
đắp vẽ và chiêm ngưỡng lễ bái hình tượng Bồ Tát Địa
Tạng nói trên—lại có thể trong hai mươi mốt ngày nhất
tâm chiêm lễ hình tượng Bồ Tát Địa Tạng và niệm danh
hiệu của Ngài đủ một vạn biến ...”
Phần
trước thì nói là chiêm lễ trong một tuần (bảy ngày), bây
giờ thì trong ba tuần (hai mươi mốt ngày). Vậy, trong suốt
ba tuần lễ, nếu người đó có thể chuyên chú, một lòng
một dạ chiêm ngưỡng lễ bái hình tượng Bồ Tát Địa Tạng,
và trì niệm danh hiệu của Ngài—“Nam mô Đại Nguyện Địa
Tạng Vương Bồ Tát”—cho đến khi đủ số mười ngàn biến,
“thì sẽ được Bồ Tát hiện thân vô biên, mách bảo người
đó cõi giới mà hàng quyến thuộc đã sanh về.”
Thân
“vô biên” là cái thân không có “biên tế,” vô cùng vô
tận, bất cứ nơi nào cũng có thể thị hiện đến được
cả. Thân “vô biên” cũng có thể gọi là thân “vô loại
bất hiện,” bởi Bồ Tát Địa Tạng có thể tùy theo mọi
chủng loại của chúng sanh mà thị hiện thân thích ứng để
giáo hóa. Tuy nhiên, đoạn kinh văn này ngụ ý rằng Bồ Tát
Địa Tạng sẽ hiện thân đến trước mặt người đã thành
tâm chiêm ngưỡng lễ bái hình tượng Ngài trong suốt ba tuần
lễ, và báo cho người đó biết đầy đủ về nơi mà cha
mẹ, anh em, chị em, hoặc các quyến thuộc của người đó
đã thác sanh về.
“Hoặc
trong giấc mộng, Bồ Tát hiện đại thần lực, đích thân
dắt người đó đến các thế giới để thấy hàng quyến
thuộc của mình.”
Chúng
ta là những người tin Phật song vẫn còn quá mê muội, cho
nên bậc Bồ Tát không thể tiếp xúc hoặc nói chuyện trực
tiếp với chúng ta giữa ban ngày ban mặt, lúc chúng ta đang
tỉnh thức được. Cho nên, đợi khi người đó ngủ say, trong
giấc mộng, Bồ Tát Địa Tạng sẽ thị hiện sức oai thần
rộng lớn, đích thân dẫn người đó đến các cõi giới,
thấy được tất cả hàng quyến thuộc.
“Nếu
người đó lại có thể mỗi ngày đều niệm danh hiệu Bồ
Tát—Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát—một
ngàn biến, luôn đến một ngàn ngày—tức ba năm—thì người
đó sẽ được Bồ Tát sai các quỷ thần và thổ địa sở
tại hộ vệ trọn đời.” Bất luận người đó sống ở
nơi nào, Bồ Tát Địa Tạng đều sai bảo các quỷ thần và
thần thổ địa ở nơi ấy bảo hộ cho người đó đến trọn
đời.
Ngoài
ra, người đó còn được “hiện đời y phục thức ăn dư
dật, không có các thứ bệnh khổ.” Trong đời hiện tại,
lúc người đó còn sống, thì áo quần, đồ ăn thức uống
đều rất dồi dào, không hề thiếu ăn, cũng chẳng hề thiếu
mặc, và cũng chẳng mắc phải bệnh tật đau đớn gì cảù.
Lại
nữa, “cho đến các hoạnh sự còn không hề vào đến cửa,
huống nữa là đến nơi thân!” “Hoạnh sự” tức là những
việc rủi ro, không như ý mình mong muốn. Các tai họa, dù
lớn dù nhỏ, thảy đều không vào đến cửa, không bao giờ
xảy ra cho gia đình, huống chi là cho bản thân của người
đó!
“Người
đó rốt ráo sẽ được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho, và
bảo rằng: ‘Này Thiện nam tử! Ông đã phát tâm Bồ Đề
rộng lớn, tương lai ắt sẽ kết thành quả Bồ Đề đấy!’”
Kinh
văn:
“Lại
nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có
kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn phát lòng từ rộng
lớn để cứu độ tất cả chúng sanh, muốn tu Đạo Bồ Đề
Vô Thượng, muốn ra khỏi Tam Giới; những người đó thấy
hình tượng Bồ Tát Địa Tạng cùng nghe danh hiệu, rồi chí
tâm quy y, hoặc đem hương hoa, y phục, vật báu, đồ ăn thức
uống để cúng dường chiêm lễ, thì điều nguyện cầu của
các thiện nam thiện nữ đó sẽ chóng được thành tựu, vĩnh
viễn không bị chướng ngại.”
Lược
giảng:
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Lại nữa, này Bồ Tát Quán
Thế Âm! Bây giờ Ta sẽ giảng tỉ mỉ hơn cho ông rõ. Vào
đời vị lai, nếu có kẻ thiện nam người thiện nữ nào
muốn phát lòng từ rộng lớn ...” Phát tâm từ bi là đã
quý hóa lắm rồi, thế mà nếu có thể phát được thứ tâm
từ bi bao la quảng đại thì lại càng tuyệt diệu hơn nữa.
Thế
thì, trong đời vị lai, những người nam và người nữ chăm
tu Ngũ Giới, hành trì Thập Thiện, muốn phát thứ tâm từ
bi quảng đại ấy để làm gì? Chính là “để cứu độ
tất cả chúng sanh.”
Ngoài
ra, có những thiện nam tín nữ thì lại “muốn tu Đạo Bồ
Đề Vô Thượng, muốn ra khỏi Tam Giới, xa lìa ngôi nhà lửa
trong ba cõi--Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới.”
“Những
người đó—không phải chỉ có một hoặc hai người mà là
rất nhiều người đều mong muốn như thế, nhiều đến nỗi
chẳng thể biết được là bao nhiêu, cho nên nói là “những
người đó”—thấy hình tượng Bồ Tát Địa Tạng cùng
nghe danh hiệu, rồi chí tâm quy y, hoặc đem hương hoa, y phục,
vật báu, đồ ăn thức uống để cúng dường chiêm lễ ...”
Giả
sử hết thảy những thiện nam tín nữ đó sau khi được trông
thấy hình tượng và được nghe đến danh hiệu của Bồ Tát
Địa Tạng, liền sanh lòng chí thành khẩn thiết đến quy
y Bồ Tát Địa Tạng, hoặc đem các loại hương, các loại
hoa, vô số y phục, vô số bảo vật, cùng vô số đồ ăn
thức uống đến cúng dường Bồ Tát Địa Tạng, chiêm ngưỡng
đảnh lễ Bồ Tát Địa Tạng, “thì điều nguyện cầu của
các thiện nam thiện nữ đó sẽ chóng được thành tựu, vĩnh
viễn không bị chướng ngại.”
Kinh
văn:
“Lại
nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có
kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn cầu trăm ngàn vạn
ức điều nguyện, trăm ngàn vạn ức sự việc về hiện tại
cùng vị lai, thì nên chỉ quy y, chiêm lễ, cúng dường, ngợi
khen hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; thì các điều sở
nguyện sở cầu như thế tất đều thành tựu cả.
Nếu
lại cầu mong Bồ Tát Địa Tạng, đấng đầy đủ lòng đại
từ bi, mãi mãi ủng hộ cho mình, thì người đó trong giấc
chiêm bao liền được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.”
Lược
giảng:
“Lại
nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có
kẻ thiện nam người thiện nữ nào muốn cầu trăm ngàn vạn
ức điều nguyện, trăm ngàn vạn ức sự việc—chứ chẳng
phải vỏn vẹn một điều hay một việc mà thôi đâu—về
hiện tại cùng vị lai, thì nên chỉ quy y, chiêm lễ, cúng
dường, ngợi khen hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng; thì
các điều sở nguyện sở cầu như thế tất đều thành tựu
cả.”
“Điều
nguyện” tức là điều mà quý vị ao ước, mong muốn đạt
được. Quý vị mong ước cái gì, muốn xin việc gì, đều
có thể được toại nguyện cả, song quý vị phải làm một
việc; đó là việc gì? Đó là quý vị phải quy y Bồ Tát
Địa Tạng, chiêm ngưỡng đảnh lễ Bồ Tát Địa Tạng, cúng
dường Bồ Tát Địa Tạng và khen ngợi hình tượng của Bồ
Tát Địa Tạng. Nếu quý vị làm được như thế thì mọi
nguyện vọng, mọi mong cầu của quý vị đều được tùy
tâm mãn nguyện, đều được thành tựu.
“Nếu
lại cầu mong Bồ Tát Địa Tạng, đấng đầy đủ lòng đại
từ bi, mãi mãi ủng hộ cho mình, thì người đó trong giấc
chiêm bao liền được Bồ Tát xoa đảnh thọ ký cho.” Nếu
quý vị muốn cầu xin Bồ Tát Địa Tạng rũ lòng từ bi bao
la mà phù hộ cho quý vị mãi mãi, thì khi quý vị đang say
ngủ, Ngài sẽ thị hiện trong giấc mộng mà xoa đảnh thọ
ký cho quý vị.
Kinh
văn:
“Lại
nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có
người thiện nam kẻ thiện nữ nào đối với kinh điển Đại
Thừa sanh lòng trân trọng thâm sâu, phát tâm không nghĩ bàn
muốn đọc, muốn tụng, dầu gặp được bậc minh sư dạy
bảo cho thành thục, song đọc rồi lại quên, trải đến cả
tháng, cả năm vẫn không đọc tụng được; những kẻ thiện
nam này vì có nghiệp chướng đời trước chưa trừ sạch,
cho nên đối với kinh điển Đại Thừa không có tánh đọc
tụng.”
Lược
giảng:
“Lại
nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có
người thiện nam kẻ thiện nữ nào đối với kinh điển Đại
Thừa—các sách kinh Phật và điển chương—sanh lòng trân
trọng thâm sâu, phát tâm không nghĩ bàn muốn đọc, muốn
tụng ...” “Đọc” tức là nhìn vào sách mà đọc; còn
“tụng” là đọc mà không cần nhìn vào sách bởi đã thuộc
nằm lòng.
Những
người đó vừa nhìn thấy các kinh điển Đại Thừa thì nâng
niu, trân quý hơn bất kỳ báu vật nào khác, và liền phát
tâm Đại Thừa không thể nghĩ bàn mà lập nguyện rằng: “Tôi
nhất quyết phải đọc tụng bộ kinh này. Bất luận thế
nào tôi cũng phải học thuộc bộ kinh này!” Thế nhưng, “dầu
gặp được bậc minh sư dạy bảo cho thành thục, song đọc
rồi lại quên, trải đến cả tháng, cả năm vẫn không đọc
tụng được.” Những người đó phát tâm bất khả tư nghì,
có chí nguyện muốn đọc tụng các kinh điển Đại Thừa,
và còn gặp được bậc minh sư tận tâm dạy cho cách đọc
kinh, xem kinh nữa. Tuy nhiên, họ cứ học thuộc rồi lại quên.
Mặc dù họ chăm chỉ cần cù học tập trong suốt một thời
gian dài—có thể là trong vài tháng mà cũng có thể là trong
một năm hoặc nhiều năm—họ vẫn không thể nào đọc cho
trôi chảy, tụng cho nhuần nhuyễn được! Vì sao họ cứ học
rồi lại quên, phải học đi học lại mãi như thế?
“Những
kẻ thiện nam này vì có nghiệp chướng đời trước chưa
trừ sạch ...” Đó là do bị nghiệp chướng từ đời trước
ngăn che, khiến họ không thể nào thuộc được kinh điển.
Vì nghiệp chướng, mà họ cảm thấy lười biếng, không muốn
tụng kinh. Vì nghiệp chướng, mà lúc họ học kinh thì cơn
buồn ngủ ập đến. Vì nghiệp chướng, mà lúc họ muốn
đọc tụng thì đầu óc lại hôn trầm. Tuy nhiên, cũng thật
là kỳ lạ, khi không tụng kinh thì họ thấy đầu óc rất
tỉnh táo, nhưng hễ tụng kinh thì họ lại cảm thấy buồn
ngủ—cứ đặt quyển kinh xuống, không tụng nữa, thì con
ma ngủ bỏ đi; mà hễ cầm quyển kinh lên để tụng thì con
ma ngủ lại kéo tới!
Tôi
tin rằng vài người trong quý vị đã có kinh nghiệm về việc
này. Quý vị muốn nghe kinh ư? Ngay tức khắc cơn buồn ngủ
xâm chiếm quý vị! Ngược lại, nếu quý vị nói chuyện thị
phi, nói những chuyện vô ích, thì càng nói càng hăng say, càng
nói càng hào hứng, nói đến nỗi nước miếng văng tới tấp
như mưa vậy mà cũng chẳng thấy mệt mỏi hoặc buồn ngủ
chút nào!
“Cho
nên đối với kinh điển Đại Thừa không có tánh đọc tụng.”
Do vì nghiệp chướng chưa được tiêu trừ nên họ không có
khả năng đọc tụng, không có được sức nhớ dai, không
thể học thuộc kinh điển Đại Thừa.
Kinh
văn:
“Những
hạng người này, khi nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát
cùng thấy hình tượng của Địa Tạng Bồ Tát, thì nên đem
hết bổn tâm mà cung kính bày tỏ; rồi dùng hương hoa, y phục,
đồ ăn thức uống, cùng tất cả đồ chơi cúng dường Bồ
Tát. Lại đem một chén nước trong đặt trước Bồ Tát một
ngày một đêm, sau đó chắp tay thỉnh để uống, mặt day
về hướng Nam; khi nước sắp vào miệng phải chí tâm trịnh
trọng. Uống nước xong, phải kiêng cữ ngũ tân, rượu, thịt,
tà dâm, vọng ngữ và các việc giết hại trong bảy ngày hoặc
hai mươi mốt ngày. Những người thiện nam thiện nữ này,
trong giấc chiêm bao sẽ thấy Bồ Tát Địa Tạng hiện thân
vô biên đến chỗ họ ở mà rưới nước quán đảnh cho.
Những người này thức dậy liền được thông minh, các kinh
điển một phen lọt vào nhĩ căn thì liền nhớ mãi, không
còn quên một câu kinh hay một bài kệ nữa!”
Lược
giảng:
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Những hạng người này,
khi nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát cùng thấy hình tượng
của Địa Tạng Bồ Tát, thì nên đem hết bổn tâm mà cung
kính bày tỏ ...” “Bày tỏ” tức là trình bày, nói rõ
ý kiến của mình. Bày tỏ ý kiến gì?
Những
người đó chớ nên buồn bã ưu sầu vì sự kém nhớ dễ
quên, học đâu quên đó của mình, chỉ cần khi họ nghe được
danh hiệu của Bồ Tát Địa Tạng, trông thấy hình tượng
của Bồ Tát Địa Tạng, họ nên dốc trọn vẹn bổn tâm—tức
là “diệu minh chân tâm,” cái tâm chân thật, vi diệu, sáng
suốt của chính mình chứ không phải cái tâm gian dối xảo
trá— mà cung kính thưa trình với Địa Tạng Vương Bồ Tát,
khấn nguyện rằng: “Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương
Bồ Tát! Xin Ngài từ bi giúp con dẹp trừ con ma ngủ, xua tan
mọi ma chướng đang ngăn che trí nhớ của con, để cho đầu
óc con được sáng suốt minh mẫn, có khả năng ghi nhớ thật
tốt!”
“Rồi
dùng hương hoa, y phục, đồ ăn thức uống, cùng tất cả
đồ chơi cúng dường Bồ Tát.” “Thức uống” ở đây
không phải là rượu, mà là nước lọc, nước đã đun sôi
để uống. Quý vị chớ lầm “thức uống” này là rượu;
không phải vậy đâu! Nếu quý vị uống rượu thì trí nhớ
của quý vị sẽ càng tệ hại hơn nữa đấy!
Quý
vị đem các món đồ chơi cúng dường Bồ Tát để làm gì?
Bồ Tát cũng cần đồ chơi sao? Bồ Tát cũng thích đồ chơi
sao? Thật ra, ngay cả các đồ chơi, như trái banh của trẻ
con, đều có thể đem cúng dường cho Bồ Tát Địa Tạng được
cả. Địa Tạng Vương Bồ Tát không nhất thiết là sẽ chơi
đá banh, nhưng nếu quý vị đem những đồ vật mà mình yêu
thích đến cúng dường Ngài, thì Ngài rất hoan hỷ.
“Lại
đem một chén nước trong—phải là thứ nước thật tinh khiết,
không được dùng nước dơ—đặt trước Bồ Tát một ngày
một đêm. Những người đó nên lấy một chén nước trong
đặt trước mặt Địa Tạng Vương Bồ Tát để cúng dường
suốt một ngày và một đêm. Sau đó chắp tay thỉnh để uống,
mặt day về hướng Nam; khi nước sắp vào miệng phải chí
tâm trịnh trọng.” Lúc uống chén nước này, họ phải ngoảnh
mặt về hướng Nam và phải hết sức cung kính, trân trọng,
phải đem lòng chí thành khẩn thiết mà quán tưởng rằng
Địa Tạng Vương Bồ Tát đã gia trì chén nước này—tôi
nhận thấy rằng điều này vô cùng quan trọng.
“Uống
nước xong, phải cữ ngũ tân, rượu, thịt, tà dâm, vọng
ngữ cùng các việc giết hại trong bảy ngày hoặc hai mươi
mốt ngày.” Sau khi uống chén nước đó rồi, thì đừng ăn
năm thứ có mùi vị hăng nồng gọi là “ngũ tân”—tỏi,
hành, hẹ, kiệu, nén (hưng cừ). Năm thứ này đều làm gia
tăng sự hôn trầm, khiến con người trở nên ngu si thêm và
tâm dâm dục càng lớn mạnh hơn, cho nên chúng ta cần phải
kiêng cữ. “Cữ” tức là kiêng cữ, không nên dùng—những
người đó phải cẩn thận tránh dùng năm món hăng nồng này,
đừng dùng rượu thịt, đừng có hành vi sắc dục, đừng
nói dối, và đừng làm những việc giết hại.
Sau
khi kiêng cữ, ngăn ngừa như thế trong một tuần lễ hoặc
ba tuần lễ, “những người thiện nam thiện nữ này, trong
giấc chiêm bao sẽ thấy Bồ Tát Địa Tạng hiện thân vô
biên—Pháp thân vô biên—đến chỗ họ ở mà rưới nước
quán đảnh cho.” “Rưới nước quán đảnh cho” tức là
Bồ Tát Địa Tạng rưới nước cam lồ trên đỉnh đầu của
các thiện nam tín nữ đó.
Trong
Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn có một ấn pháp gọi là “Tay Cam
Lồ” (Cam Lồ Thủ)—đây chính là ấn pháp Bồ Tát dùng
để quán đảnh cho quý vị. Tay Cam Lồ này hễ duỗi ra thì
quý vị sẽ cảm thấy như được tắm mát, có nước xối
xuống đầu mình gột rửa mọi cấu trược, trừ sạch hết
thảy nghiệp chướng. Nếu quý vị tu tập ấn pháp Tay Cam
Lồ đến chỗ thành tựu, thì trong tương lai quý vị cũng
có thể quán đảnh cho người khác. Người tu tập theo pháp
môn này quyết không được lười biếng—một ngày cũng không
được gián đoạn, một ngày cũng không được trễ nãi việc
tu tập; nếu bỏ sót một ngày không tu, thì phải lập lại
lần nữa.
“Những
người này thức dậy liền được thông minh.” Quý vị thấy
có kỳ lạ không? Họ ngủ một giấc, nằm mộng thấy mình
được quán đảnh, và khi thức dậy thì trở nên thông minh
mẫn tiệp; quý vị nói có tuyệt diệu hay không chứ? Quý
vị có muốn mình cũng được như thế không? Nếu muốn được
như thế thì quý vị hãy làm thử xem sao!
“Các
kinh điển một phen lọt vào nhĩ căn thì liền nhớ mãi, không
còn quên một câu kinh hay một bài kệ nữa!” Trước kia thì
họ hay quên, song bây giờ thì không còn quên nữa; cho dù họ
muốn quên cũng chẳng thể nào quên được! Những người
này ngay cả một câu kinh, một bài kệ tụng cũng không hề
quên. Quý vị xem đấy, thật là mầu nhiệm không thể nói
được!
Cũng
như có người tìm cách để đừng đến Phật Giáo Giảng
Đường nữa, song không nghĩ ra cách nào cả, nên vẫn cứ
đến đều đặn—kỳ lạ như thế đấy!
Kinh
văn:
“Lại
nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có
những người nào ăn mặc không đủ, cầu gì cũng trái nguyện,
hoặc nhiều bệnh tật, hoặc nhiều sự hung suy, nhà cửa không
yên ổn, quyến thuộc bị phân tán, hoặc các hoạnh sự cứ
xảy đến làm thiệt thân, khi ngủ thường mộng thấy điều
kinh sợ; những người như thế, khi nghe danh hiệu của Bồ
Tát Địa Tạng, thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng,
mà chí tâm cung kính niệm đủ một vạn biến, thì những
sự không như ý sẽ tiêu sạch lần lần, liền được an vui,
đồ ăn mặc dư dật, cho đến trong giấc mộng thảy đều
an vui.”
Lược
giảng:
“Lại
nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có
những người nào ăn mặc không đủ ...” Có nhiều người
thích mặc áo quần mới nhưng không có tiền để mua sắm.
Cũng có ngườiụ chịu mặc đồ cũ song tất cả lại đều
rách rưới, muốn tìm một bộ đồ cũ không vá mà chẳng
thể nào tìm ra được. Đã vậy, họ ăn bữa nay lo bữa mai,
không biết bao nhiêu ngày mới được một bữa no—thường
xuyên bị thiếu ăn thiếu mặc.
Lại
có những người “cầu gì cũng trái nguyện.” “Trái nguyện”
tức là trái ngược với nguyện vọng. Họ cầu xin bất cứ
điều gì cũng không được toại nguyện. Ngay cả áo quần,
các thức ăn uống đều không có, thì quý vị nghĩ xem, những
việc khác càng không thể nào toại ý được!
“Hoặc
nhiều bệnh tật.” Có nhiều người thì cứ bị ốm đau
bệnh hoạn liên miên. Họ đi làm công, buôn bán, hoặc bằng
cách nào đó đã kiếm được một ít tiền, tính ra thì cũng
đủ sống trong vài tháng; nhưng không may lại bị ngã bệnh
bất ngờ. Thế là phải tốn tiền đi khám bác sĩ, rồi tiền
mua thuốc, và cả tiền nằm bệnh viện nữa. Vì không có
tiền để mua bảo hiểm, cho nên họ không có bảo hiểm về
sức khỏe; do đó, hễ có bệnh thì bao nhiêu tiền bạc dành
dụm được đều phải đem ra để trang trải. May mắn lắm
thì vừa hết tiền thì bệnh cũng vừa khỏi; khỏi bệnh rồi
thì lại phải tìm cách kiếm tiền. Kiếm được tiền rồi
thì lại ngã bệnh nữa; đó gọi là “nhiều bệnh tật.”
Vì sao lại như thế ư? Đó chính là nghiệp chướng!
“Hoặc
nhiều sự hung suy.” “Hung” là hung tướng, không tốt lành;
“suy” cũng là không tốt lành. “Hung suy” tức là việc
dữ, không tốt đẹp gì cả.
“Nhà
cửa không yên ổn.” Trong nhà cũng không được êm ấm. Không
phải là ngôi nhà không an ổn, mà là những người sống trong
nhà không được an ổn.
“Quyến
thuộc bị phân tán.” Bà con ruột thịt trong gia đình bị
chia lìa, không thể thường xuyên gặp gỡ.
“Hoặc
các hoạnh sự cứ xảy đến làm thiệt thân.” Có nhiều
người thường gặp phải những chuyện rủi ro bất ngờ,
không tốt cho thân thể. Nhiều việc trái nghịch xảy đến
nơi thân thể, không thuận cho thân thể; thí dụ như quý vị
muốn không bị bệnh, thì cơ thể lại cứ ốm đau quặt quẹo.
“Khi
ngủ thường mộng thấy điều kinh sợ.” Có người trong
lúc ngủ thường mộng mị thấy những việc đáng sợ—chẳng
hạn nằm mơ thấy có người đến giết mình, có người cầm
súng bắn mình; hoặc thấy mình đang đi dưới chân một ngọn
núi thì bỗng dưng có những tảng đá lớn, nặng đến cả
mấy ngàn tấn từ trên đỉnh núi ào ào lăn xuống, tưởng
chừng như sắp đè chết mình; hoặc thấy mình đang đứng
dưới một bức tường, bỗng dưng tường đổ sụp xuống,
suýt bị đè chết. Bấy giờ, trong giấc mộng, người ấy
sợ hãi, khiếp đảm đến nỗi toàn thân đều toát mồ hôi.
“Những
người như thế—những người thiếu ăn thiếu mặc, cầu
gì cũng không được toại nguyện, lại thường đau ốm, gặp
nhiều sự không may, gia đình không êm ấm thuận hòa, thân
thuộc bị chia cách, luôn bị ác mộng—khi nghe danh hiệu của
Bồ Tát Địa Tạng, thấy hình tượng của Bồ Tát Địa Tạng,
mà chí tâm cung kính niệm đủ một vạn biến, thiết tha thành
khẩn trì niệm danh hiệu của Địa Tạng Vương Bồ Tát cho
được một vạn lần, thì những sự không như ý sẽ tiêu
sạch lần lần, liền được an vui.” Trước kia thì họ không
được an vui, bây giờ niệm danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng
đủ một vạn lần, trong lòng cảm thấy an vui, thư thái.
“Đồ
ăn mặc dư dật.” Lúc trước thì không đủ cơm ăn áo mặc,
không có áo quần cũng không có gì để ăn, song nay thì cái
ăn cái mặc đều sung túc, dư dả, cái gì cũng có cả, nên
họ cảm thấy rất an vui, “cho đến trong giấc mộng thảy
đều an vui.”
Kinh
văn:
“Lại
nữa, này Bồ Tát Quán Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có
người thiện nam thiện nữ nào, hoặc vì việc làm ăn sinh
sống, hoặc vì việc công chuyện tư, hoặc vì sự sanh sự
tử, hoặc vì việc khẩn cấp, mà phải vào rừng lên núi,
qua sông vượt biển, cho đến gặp nước lớn hoặc đi ngang
hiểm đạo; người đó trước tiên nên niệm danh hiệu của
Địa Tạng Bồ Tát một vạn biến, thì đi qua nơi nào cũng
có các vị quỷ thần hộ vệ, đi đứng nằm ngồi mãi mãi
được an lạc, cho đến dẫu gặp cọp, sói, sư tử... cùng
tất cả mọi thứ độc hại, cũng đều không thể làm thương
tổn đến được.”
Lược
giảng:
Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: “Lại nữa, này Bồ Tát Quán
Thế Âm! Vào đời vị lai, nếu có người thiện nam thiện
nữ nào, hoặc vì việc làm ăn sinh sống, hoặc vì việc công
chuyện tư, hoặc vì sự sanh sự tử—như có kẻ gặp phải
vấn đề sống chết, cần phải báo tin cho một ai đó—hoặc
vì việc khẩn cấp, mà phải vào rừng lên núi, qua sông vượt
biển, cho đến gặp nước lớn hoặc đi ngang hiểm đạo ...”
“Hiểm đạo” tức là nơi vô cùng nguy hiểm, thường có
các thú dữ như chó sói, cọp, beo... rình rập, hoặc bọn
thổ phỉ chực sẵn để cướp bóc.
“Người
đó trước tiên nên niệm danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát
một vạn biến.” Những người vì công việc phải dấn thân
vào những chốn hiểm nguy như thế, thì trước khi lên đường,
họ nên thành tâm trì niệm danh hiệu của Địa Tạng Vương
Bồ Tát đủ số mười ngàn lần; vì sao? Bởi nếu họ làm
được như thế “thì đi qua nơi nào cũng có các vị quỷ
thần hộ vệ, đi đứng nằm ngồi mãi mãi được an lạc.”
“Cho
đến dẫu gặp cọp, sói, sư tử..., các mãnh thú có thể
ăn thịt người, cùng tất cả mọi thứ độc hại, cũng đều
không thể làm thương tổn đến được.” Ngay cả những
mãnh thú hay ăn thịt người cũng