Quyển
Hạ
Phẩm
Thứ Mười Một
ĐỊA
THẦN HỘ PHÁP
Vị
địa thần (thần đất) được đề cập đến trong phẩm
này có tên là Kiên Lao Ðịa Thần. "Kiên lao" có nghĩa là vừa
kiên cố, vừa bền vững. Cái gì kiên cố? Ðất kiên cố.
Cái gì bền vững? Cũng là đất—đất rất vững chắc. Chúng
ta hiện nay ở trên mặt đất ví như những con kiến trên
chiếc thuyền lớn—cả đàn kiến mấy ngàn vạn con cũng
chẳng thể làm cho thuyền bị chòng chành, chao đảo được,
bởi vì chúng không đủ sức để làm chuyện đó. Ðịa cầu
nằm chơi vơi giữa không gian, nhưng nhờ có tầng đại khí
quyển cùng không khí giữ hút, cho nên không bị rớt bể,
mà như chiếc thuyền lớn trôi nổi giữa biển khơi vậy.
Có
rất nhiều vị thần đất. Khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết
Kinh A Hàm, Thần Ðất Kiên Lao hiện thân đến nghe Pháp, nhưng
vị thần đất này rất kiêu căng ngạo mạn. Kiêu căng ngạo
mạn như thế nào? Thần đất nói: "Khắp cả vũ trụ này
chỉ có một mình thần đất ta đây mà thôi; ngoài ta ra, chẳng
có vị thần nào khác nữa!"
Thế
nhưng, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni bảo: "Chẳng phải chỉ có
một mình thần đất ông thôi đâu, mà còn có thần nước,
thần lửa, thần gió nữa!"
Vị
thần đất nghe vậy liền sanh lòng "đại ngã mạn," vô cùng
kiêu ngạo nói rằng: "Làm sao có thể có thần nào khác nữa
được? Tất cả mọi sự trên thế gian này đều là do thần
đất tôi đây gánh vác cả, bọn họ đều không phải là
thần linh!"
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni phải giảng giải cặn kẽ—thần nước
thì ra sao, thần lửa thì như thế nào, thần gió ra làm sao—rồi
lại dùng nhiều phương pháp nữa mới thuyết phục được
thần đất. Về sau, vị thần đất này quy y Tam Bảo, từ
bỏ thói kiêu căng ngã mạn.
Trong
hư không, có các vị thần tứ đại là thần đất, thần
nước, thần lửa và thần gió. Con người là do "tứ đại
giả hợp" mà thành—tức là do bốn vị thần này phân chia,
san sẻ cho mỗi người một chút nước, một chút lửa, một
chút gió, một chút đất, rồi gộp lại mà hình thành một
thân thể.
Ở
đây, "đất" bao hàm hai ý nghĩa. Ý thứ nhất của chữ "đất,"
thì về mặt sự, đất có thể trưởng dưỡng vạn vật,
muôn loài đều nương nhờ nơi đất mà sinh tồn; còn xét
theo mặt lý, thì đất cũng có tứ đức—thường, lạc, tịnh,
ngã.
1)
Thường. Thế nào gọi là "thường"? " đất vĩnh viễn chẳng
biến thiên” (Ðịa dĩ chế độ vi môn)—, mãi mãi không
dời đổi, do đó gọi là "thường." Vậy, thần đất có đức
"thường."
2)
Lạc. " Đất có thể gánh vác vạn vật” (Ðịa năng phụ
hà vạn vật)—, muôn loài đều nhờ vào sức mạnh của đất
mà được tồn tại; cho nên đây là đức "lạc," đất vô
cùng vui sướng.
3)
Tịnh. "Ðất sanh trưởng vạn vật” (Địa năng sanh trưởng
vạn vật)—muôn vật đều do đất sanh ra và lúc sanh ra thì
tất cả đều thanh tịnh, không ô nhiễm; đây là đức "tịnh."
4)
Ngã. "Cái Nghĩa của đất thì vô cùng tự tại” (Ðịa nghĩa
phi thường tự tại) —, sự tự tại này thuộc về đức
"ngã."
Vậy,
thường, lạc, tịnh, ngã là bốn đức tánh của thần đất.
Ý
nghĩa thứ hai của chữ "đất" là nói về phương diện "pháp."
Lúc Ðức Phật thuyết Kinh Ðịa Tạng phẩm thứ mười một
này, thì thần đất phát nguyện sẽ ủng hộ tất cả những
người trì niệm danh hiệu của Ðịa Tạng Bồ Tát cũng như
những người trì tụng Kinh Ðịa Tạng và hết thảy chúng
sanh có thiện căn; cho nên đây gọi là "Phẩm Ðịa Thần Hộ
Pháp," phẩm thứ mười một.
Hôm
nay là một ngày đặc biệt, cũng là ngày mãn khóa của khóa
tu học mùa hè này (1969). Thời giờ trôi nhanh vô cùng. Sáu
tuần lễ qua mau như chớp mắt, muốn níu kéo sáu tuần lễ
này hoặc lặp lại sáu tuần lễ như vậy một lần nữa,
là chuyện hoàn toàn không thể được. Phải đợi đến sang
năm, quý vị mới lại có dịp nghỉ hè. Tuy rằng thời điểm
có giống nhau, song số năm phân chia (niên phần) thì lại bất
đồng. Cứ một năm trôi qua, có thể nói rằng sanh mạng của
mỗi người dài thêm được một tuổi, song đồng thời, thời
gian còn cách sự chết thì lại ngắn bớt đi một năm.
Hồi
tưởng như vậy phải chăng là chẳng có ý nghĩa gì cả? Thế
nhưng, năm nay, trong quãng thời gian vừa qua quý vị đã sống
vô cùng có ý nghĩa, vô cùng có giá trị. Tại sao vậy? Bởi
quý vị đã gieo được "hạt giống" Phật Pháp vào đầu óc
và ươm mầm trong "thửa ruộng" Bát Thức của chính mình—hạt
giống Bồ Ðề này một khi đã gieo trồng rồi thì sẽ đâm
chồi nẩy lộc, sinh sôi nảy nở, và trong tương lai sẽ đơm
hoa kết trái, kết thành quả Bồ Ðề, và quý vị sẽ được
thành Phật.
Nay
tôi muốn nói với quý vị về một vấn đề rất kỳ lạ—trong
nhiều gia đình, mặc dù con cái có khuynh hướng học đòi,
bắt chước những điều không tốt, nhưng các bậc làm cha
mẹ lại chẳng hề lo âu ngăn cản; họ cho rằng: "Không sao!
Ðể chúng được tự do, tùy ý chúng!"
Thoạt
nhìn thì thấy các bậc cha mẹ ấy chẳng có gì gọi là khắt
khe cả, đối đãi với con cái dường như rất cảm thông,
dễ dãi. Ðợi đến khi con cái họ muốn học điều tốt,
vừa muốn học Phật Pháp, thì họ lại đùng đùng nổi giận,
la mắng con cái rằng thế này là không đúng, thế kia là không
phải... Trước kia, lúc con cái họ dùng ma-túy, uống rượu
(rượu mê hồn), hút cần sa, con người lúc nào cũng lừ đừ
dã dượi, yếu ớt bạc nhược, thì họ đều có thể "nhìn
mà không thấy," cứ nghĩ rằng để từ từ chờ cơ hội,
từ từ rồi con cái mình sẽ biết theo điều tốt. Song le,
đến khi con cái của họ biết tu tỉnh, biết theo điều hay
lẽ phải rồi, thì họ lại nổi nóng, trách mắng: "Các cô
các cậu muốn học làm điều tốt chứ gì? Vậy thì phải
biết ăn ở hiếu thảo với cha mẹ, biết vâng lời cha mẹ.
Bây giờ tao phải mắng chúng mày, đánh chúng mày một trận
nên thân mới được!"
Quý
vị nói xem, phen này có phải là sẽ có chuyện phiền phức
xảy ra không? Ðó chẳng qua là để thử thách quý vị—những
kẻ làm con—khảo nghiệm quý vị, xem rốt ráo quý vị có
phải là chân thật muốn học điều tốt hay không mà thôi!
Nếu quý vị chân thật muốn học làm người tốt thì càng
bị mắng quý vị càng phải vui mừng, càng bị đòn quý vị
càng phải hoan hỷ, và nhớ đừng khóc lóc than van. Các bậc
cha mẹ ấy thấy quý vị tươi cười hoan hỷ, thì bao nhiêu
hờn giận phiền muộn trong lòng đều tiêu tan cả; còn nếu
quý vị không làm được như vậy, thì phiền não của quý
vị sẽ càng gia tăng mà thôi.
Quý
vị cần phải thấy được rằng hết thảy mọi việc đều
là thử thách, đều là để khảo nghiệm bản thân mình, xem
mình rốt cuộc có áp dụng được những kiến thức Phật
Pháp đã học hay không—có thực hành hạnh nhẫn nhục, có
trì giới, có bố thí, có tinh tấn, có thiền định, có trí
huệ Bát Nhã hay không. Tất cả đều là thử thách—nếu
đạt yêu cầu, vượt qua được thử thách, thì sẽ được
lợi ích vô cùng; nếu không vượt qua được, thì lại phải
cần cù học thêm nữa.
Cho
nên, sáu tuần lễ này chính là sáu tuần lễ vàng ngọc, vô
cùng quý giá. Quý vị bắt được vàng ròng thì phải biết
cất giữ kỹ lưỡng, chớ nên đánh mất lần nữa! Trong tương
lai, khi ra hoằng Pháp, quý vị đều phải không giống với
người khác; không giống như thế nào ư? Không phải là tôi
muốn quý vị kiêu căng ngạo mạn, tự cho mình là Phật, bảo
người khác phải dập đầu quỳ lạy mình đâu! Quý vị chớ
nên làm bộ làm tịch như thế; mà hãy luôn luôn từ bi nhẫn
nhục, đối với bất cứ người nào cũng một mực giữ lòng
từ bi, nhẫn nhục. Người ta đối xử với quý vị không
tốt, quý vị càng phải đối xử với họ tốt hơn nữa.
Phải có cái nhìn "phản diện," nhìn mặt trái của vấn đề
để tìm ưu điểm. Ai không tử tế với quý vị, thì quý
vị càng phải tử tế với người ấy hơn một chút. Chẳng
cần biết người ta đối xử với quý vị tốt hay không tốt,
quý vị chỉ việc kiểm soát, kiềm thúc chính mình—chính
mình nhất định phải làm đúng như thế, người khác có
như thế hay không thì mình chẳng cần biết tới. Phải nhớ
rằng:
"Ma
Ha Tát, chẳng biết người khác,
Di
Ðà Phật, thân ai nấy lo!"
(Ma
Ha Tát bất quản tha,
Di
Ðà Phật các cố các!)
Vậy,
quý vị hãy tự kiểm soát chính mình, OK?
Như
vậy, khóa tu học mùa hè này kéo dài trong sáu tuần lễ, và
đến hôm nay nữa là hoàn tất. Tuy nhiên, việc giảng kinh
vẫn chưa xong—lúc nào sẽ giảng xong thì tôi cũng không biết
được! Hễ lúc nào không còn hơi thở, thì lúc đó sẽ không
còn giảng nữa. Cho nên nói:
"Những
ngày còn hơi thở
là
những năm còn hoằng Pháp."
(Hữu
khí chi nhật
tức
thị hoằng Pháp chi niên.)
Hiện
tại, công việc hoằng Pháp vẫn là giảng kinh vào mỗi buổi
tối, tức là trở lại với nếp sinh hoạt như trước. Nếp
sinh hoạt cũ là như thế nào? Ðó là mỗi Thứ Bảy thì mười
hai giờ rưỡi trưa đến Hội Cư Sĩ Lâm giảng Kinh Ðịa Tạng.
Chủ Nhật thì buổi trưa từ mười hai giờ rưỡi đến hai
giờ rưỡi là giảng Kinh Ðại Bi Tâm Ðà La Ni; còn buổi tối
thì giảng Kinh Ðịa Tạng. Tối nay cũng giảng Kinh Ðịa Tạng.
Trước
kia thì mỗi tối Thứ Hai, Thứ Ba và Thứ Tư là giảng Kinh
Pháp Hoa, song bây giờ thì đều giảng Kinh Ðịa Tạng cả.
Tính luôn cả phẩm thứ mười một này, thì Kinh Ðịa Tạng
vẫn còn ba phẩm chưa giảng xong. Tôi hy vọng sẽ hoàn tất
việc giảng Kinh Ðịa Tạng trước khi năm người Sa Di và
Sa Di Ni lên đường sang Ðài Loan cầu Giới. Nếu vẫn giảng
Kinh Pháp Hoa thì e rằng không kịp; cho nên bây giờ tôi chuyên
chú giảng Kinh Ðịa Tạng cho xong trước, rồi sau đó mới
giảng tiếp Kinh Pháp Hoa. Còn Kinh Hoa Nghiêm thì vẫn chưa đến
lúc, cần phải chờ xem.
Lúc
trước, mỗi tối Thứ Năm là do các đệ tử luân phiên phụ
trách giảng thuyết. Nói tóm lại, các tối Thứ Năm, Thứ
Sáu và Thứ Bảy thì quý vị chia nhau đảm nhiệm một số
công việc; như thế, một mặt là quý vị có cơ hội thực
tập giảng giải kinh điển, mặt khác là để chia xẻ gánh
vác bớt công việc giùm tôi. Ðừng bắt tôi cán đáng nhiều
việc như thế, đừng làm cho tôi mệt nhọc quá sức, để
tóc tôi lại bạc trắng cả. Tóc tôi vừa đen lại chưa được
bao lâu, tôi không muốn thấy tóc mình bạc trắng trở lại
nữa! Vậy, chúng ta vẫn giảng kinh mỗi buổi tối như thường
lệ.
Kinh
văn:
Lúc
đó Kiên Lao Ðịa Thần bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch
Ðức Thế Tôn! Từ trước đến nay, con từng chiêm ngưỡng
đảnh lễ vô lượng Bồ Tát Ma Ha Tát, đều là những bậc
đại thần thông trí huệ không thể nghĩ bàn, quảng độ
chúng sanh. Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đây so với chư Bồ
Tát, thì thệ nguyện thâm trọng.
Bạch
Ðức Thế Tôn! Bồ Tát Ðịa Tạng đây có đại nhân duyên
với cõi Diêm Phù Ðề. Như các ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Quán
Âm, Di Lặc cũng hóa hiện trăm ngàn thân hình để độ Lục
Ðạo, nhưng nguyện của các ngài còn có lúc hoàn mãn; còn
Bồ Tát Ðịa Tạng đây phát thệ nguyện giáo hóa tất cả
chúng sanh trong Lục Ðạo, trải đến kiếp số như số cát
của trăm ngàn ức sông Hằng."
Lược
giảng:
Lúc
đó Kiên Lao Ðịa Thần, tức là vị Hộ Pháp Kiên Lao Ðịa
Thần đã từng phát nguyện hộ trì Chánh Pháp, bạch cùng
Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Từ trước đến nay,
trải qua vô lượng kiếp về trước cho đến hiện nay, con
từng chiêm ngưỡng đảnh lễ vô lượng Bồ Tát Ma Ha Tát."
"Chiêm ngưỡng" có nghĩa là chăm chú ngắm nhìn, không rời
mắt. "Ðảnh lễ" tức là cúi rạp đầu sát đất mà lạy.
Hộ
Pháp Kiên Lao Ðịa Thần đã từng được gặp rất nhiều
Bồ Tát, đã từng cúi đầu lễ lạy rất nhiều Bồ Tát,
mà các vị Bồ Tát đó đều là những bậc Ðại Bồ Tát,
và "đều là những bậc đại thần thông trí huệ không thể
nghĩ bàn." Những bậc Ðại Bồ Tát này đều có trí huệ
rộng lớn, vĩ đại. Phải có đại trí huệ thì mới có thể
hành trì Pháp Ðại Thừa; vậy Pháp Ðại Thừa là gì? Ðó
là thứ cảnh giới không thể nghĩ bàn! Thần thông và trí
huệ của chư Ðại Bồ Tát này đều là vô lượng vô biên,
cao thâm khó lường!
"Quảng
độ chúng sanh." Các bậc Ðại Bồ Tát thảy đều rộng độ
tất cả chúng sanh.
"Ðịa
Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát đây so với chư Bồ Tát thì thệ nguyện
thâm trọng." Những vị Ðại Bồ Tát này tuy là rộng độ
khắp mọi loài chúng sanh, song trong các bậc Ðại Bồ Tát
thì thệ nguyện của Bồ Tát Ðịa Tạng vốn thâm sâu, rộng
lớn hơn cả. Ngài đã lập nguyện rằng:
"Ðịa
ngục chưa trống không, tôi thề chưa thành Phật,
Chúng
sanh độ hết rồi, tôi mới chứng Bồ Ðề."
Sức
nguyện lớn lao này đặc biệt sâu rộng, không có sự cùng
tận.
Hộ
Pháp Kiên Lao Ðịa Thần lại bạch tiếp: "Bạch Ðức Thế
Tôn! Bồ Tát Ðịa Tạng đây có đại nhân duyên với cõi
Diêm Phù Ðề. Như các ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di
Lặc cũng hóa hiện trăm ngàn thân hình để độ Lục Ðạo—trời,
người, a-tu-la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh—nhưng nguyện
của các ngài còn có lúc hoàn mãn."
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát có nhân duyên lớn với tất cả chúng
sanh ở cõi Nam Diêm Phù Ðề. Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ
Hiền, Bồ Tát Quán Âm, và Bồ Tát Di Lặc cũng hóa hiện ra
cả trăm ngàn thân hình, và các ngài cũng phát nguyện độ
thoát hết thảy chúng sanh trong sáu đường được thành Phật
Ðạo. Thế nhưng, nguyện lực của các vị Bồ Tát đó tuy
quảng đại song cũng còn có ngày hoàn mãn rốt ráo, các ngài
cũng có lúc được mãn nguyện.
"Còn
Bồ Tát Ðịa Tạng đây phát thệ nguyện giáo hóa tất cả
chúng sanh trong Lục Ðạo, trải đến kiếp số như số cát
của trăm ngàn ức sông Hằng." Trong khi đó, Ðịa Tạng Bồ
Tát Ma Ha Tát phát tâm giáo hóa hết thảy chúng sanh trong sáu
đường, mà những thệ nguyện Ngài đã lập và kiếp số
đã trải qua thì nhiều như số cát trong cả trăm ngàn ức
sông Hằng vậy.
Kinh
văn:
"Bạch
Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh đời hiện tại và vị
lai, nơi chỗ sạch sẽ ở phương Nam trong cuộc đất mình
trú ngụ, mà dùng đất, đá, tre, gỗ dựng cất cái khám hoặc
cái thất; ở trong đó có thể tô vẽ cho đến dùng vàng,
bạc, đồng, sắt làm hình tượng Ðịa Tạng Bồ Tát, đốt
hương cúng dường, chiêm lễ, ngợi khen, thì ngay chỗ những
người đó ở sẽ được mười điều lợi ích. Những gì
là mười?
Một
là đất đai mầu mỡ;
Hai
là nhà cửa yên ổn mãi mãi;
Ba
là người đã mất được sanh thiên;
Bốn
là người hiện còn được tăng tuổi thọ;
Năm
là mọi mong cầu đều được toại ý;
Sáu
là không có tai họa về nước và lửa;
Bảy
là trừ sạch việc hư hao;
Tám
là dứt hẳn ác mộng;
Chín
là ra vào đều có thần theo hộ vệ;
Mười
là thường gặp nhân Thánh."
Lược
giảng:
Kiên
Lao Ðịa Thần lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức
Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh đời hiện tại và vị lai,
nơi chỗ sạch sẽ ở phương Nam trong cuộc đất mình trú
ngụ, mà dùng đất, đá, tre, gỗ dựng cất cái khám hoặc
cái thất—để thờ Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, ở trong đó
có thể tô vẽ cho đến dùng vàng, bạc, đồng, sắt làm hình
tượng Ðịa Tạng Bồ Tát ..."
Trong
đời này và đời sau, có những chúng sanh cất cái khám thờ
Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, bằng đất, bằng đá, bằng gỗ,
hay bằng tre... ngay trên một khoảnh đất sạch sẽ, thanh tịnh
về phía Nam của nơi mình cư ngụ. Rồi họ ở trong cái khám
đó mà tô vẽ hình của Bồ Tát Ðịa Tạng, hoặc là dùng
vàng, dùng đồng, dùng bạc, thậm chí có thể dùng cả thứ
vật liệu rất rẻ tiền như sắt, để đúc thành tượng
Bồ Tát Ðịa Tạng; và họ lại ở trước hình tượng của
Bồ Tát mà chí thành "đốt hương cúng dường, chiêm lễ—nhìn
ngắm, luyến mộ, ngợi khen, thì ngay chỗ những người đó
ở sẽ được mười điều lợi ích."
Tôi
lấy một ví dụ—chẳng hạn khi một người nam thích một
người nữ thì cậu ta cứ hết nhìn lại ngắm, hết ngắm
lại nhìn cô ta; hoặc như lúc một người nữ thích một người
nam cũng vậy, cô ta cứ hết ngó lại nhìn, hết nhìn lại
ngó cậu ta. Song le, cái "nhìn" đó có tính cách không thanh
tịnh—một cái "nhìn" chứa chan dục niệm. Quý vị cần phải
chuyển dục niệm thành trí huệ, phải dùng cái niệm thanh
tịnh của trí huệ để chiêm ngưỡng và đảnh lễ Bồ Tát
Ðịa Tạng. Chúng ta phải nhìn ngài Ðịa Tạng với sức thanh
tịnh tự nhiên như thế, chứ chẳng phải như cách nhìn đắm
đuối của một đôi nam nữ yêu nhau; cho nên ở đây nói là
"chiêm lễ khen ngợi."
Quý
vị có thể chiêm ngưỡng, đảnh lễ, và ca ngợi như vầy:
"Nguyện lực của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát thật vô cùng
to lớn! Mọi người chúng ta đều nên tin tưởng vào Bồ Tát
Ðịa Tạng! Chúng ta hãy cùng nhau tụng Kinh Ðịa Tạng, đảnh
lễ Bồ Tát Ðịa Tạng."
Cho
nên, nay tôi tặng quý vị hình tượng Bồ Tát Ðịa Tạng,
quý vị mang về nhà có thể suốt ngày nhìn ngắm, chiêm ngưỡng
hoài mãi cho đến lúc quý vị thành Phật, giống như Bồ Tát
Ðịa Tạng vậy!
Thế
thì, ở ngay nơi những người này cư ngụ sẽ được mười
điều lợi ích; "những gì là mười? Một là đất đai mầu
mỡ." Ðất cát nơi những người ấy sinh sống đều rất
tốt, rất phì nhiêu; trồng bất cứ loại cây gì cũng đều
tươi tốt, lớn mạnh. Như ở tiểu bang Alaska chẳng hạn,
đất đai phì nhiêu, ruộng vườn trù phú, người ta trồng
được giống bí đỏ trái rất lớn.
"Hai
là nhà cửa yên ổn mãi mãi." Ngoài việc đất đai được
trù phú ra, nơi cư ngụ còn cần phải được yên vui; bởi
nơi ăn chốn ở mà không được an ổn vui vẻ, thì đất đai
có mầu mỡ cũng chẳng trồng trọt gì được! Cho nên nhà
cửa được xây cất trên những sở đất như thế này thì
không phải lo nạn động đất! Nhà cửa luôn an ổn tức là
nơi ăn chốn ở mãi mãi được bình yên.
"Ba
là người đã mất được sanh thiên." Ðiều lợi ích thứ
ba là cha mẹ đã qua đời hoặc là cha mẹ trong bảy đời
của những người ấy đều được sanh lên cõi trời. Vì
sao họ được sanh lên cõi trời? Chính là nhờ con cái của
họ chiêm ngưỡng Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, đảnh lễ Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát, tín ngưỡng Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.
"Bốn
là người hiện còn được tăng tuổi thọ." Ðây là điều
lợi ích thứ tư.
Có
người hoài nghi rằng: "Về việc người đã chết được
sanh lên cõi trời, tôi vẫn còn có chỗ hoài nghi, không thấy
là chắc chắn lắm. Có sanh thiên hay không—điều này vẫn
còn rất đáng ngờ. Ðây chẳng qua là Thầy giảng như vậy
mà thôi, chứ còn chuyện sanh thiên hoặc không sanh thiên thì
tôi cũng chưa hề thấy!"
Quý
vị muốn thấy ư? Thế thì hãy dụng công tu tập, khi nào
đắc Thiên Nhãn Thông thì quý vị sẽ nhìn thấy được ngay!
Những việc mà quý vị không thấy được thì hãy khoan nói
tới; bây giờ tôi sẽ nói tới điều mà quý vị có thể
nhìn thấy được. Lấy thí dụ, cha mẹ của quý vị rõ ràng
là mạng số chỉ tới năm mươi tuổi mà bây giờ sống được
tám mươi tuổi, hoặc rõ ràng mạng số là tám mươi tuổi
mà nay sống tới một trăm tuổi—như vậy là thọ mạng được
gia tăng!
Ðể
tôi kể cho quý vị nghe một sự việc có thật. Ðó là chuyện
của thân sinh ông cư sĩ họ Ðàm. Năm ông cụ được bảy
mươi chín tuổi thì bói toán nói rằng nội trong năm đó cụ
nhất định sẽ tạ thế. Thế là ông cụ sợ hãi, bèn chạy
đến xin quy y với tôi. Lúc quy y, cụ còn ra điều kiện với
tôi—vì sao cụ chịu quy y ư? Ông cụ muốn tôi bảo đảm
là cụ sẽ được sống thêm mười năm nữa!
Tôi
nói: "Ðược, mười năm! Chuyện nhỏ thôi!" Và, thế là tôi
nhận lời. Sau khi tôi hứa nhận, ông ta sống tới bao nhiêu
tuổi? Chín mươi mốt tuổi, tức là sống thêm được mười
hai năm!
Lúc
nhận lời cho ông cụ sống thêm mười hai năm, tôi có nói:
"Ðược thôi! Chỉ cần ông nghe lời tôi, y giáo phụng hành,
thì tôi có thể bảo đảm là ông sẽ sống thêm mười hai
năm nữa!" Tôi tuyên bố như thế, cũng không biết là thật
hay giả, nhưng quả nhiên ông cụ không chết vào năm bảy
mươi chín tuổi, mà còn thọ thêm được mười hai năm nữa—ông
cụ qua đời ở tuổi chín mươi mốt! Sau đó, vợ ông ta cùng
hai người con gái đều tin theo đạo Phật.
"Năm
là mọi mong cầu đều được toại ý." Quý vị nói rằng
từ nãy đến giờ chỉ thấy nói đến những điều lợi ích
cho tha nhân, chứ chưa thấy đề cập đến bản thân mình
gì cả ư? Thế thì bây giờ điều này là lợi ích cho bản
thân quý vị đây—quý vị muốn gì được nấy, mọi điều
mong cầu đều được toại nguyện.
Hãy
nói về một vấn đề thường tình nhất đối với người
đời như chuyện hôn nhân chẳng hạn—một người con gái
mơ gặp được một người chồng tốt, một người con trai
mong cưới được một người vợ tốt—nhất định đều
được toại nguyện. Ðó là nói về người tại gia. Còn đối
với người xuất gia thì sao? Nếu người ấy cầu mong được
trở thành một vị Sư giỏi hoặc một Ni Sư tốt, thì chắc
chắn cũng sẽ được toại tâm mãn nguyện.
"Sáu
là không có tai họa về nước và lửa." Ðiều lợi ích thứ
sáu là không bị nước lụt cuốn trôi, cũng không bị hỏa
hoạn thiêu đốt.
Vừa
rồi tôi có đề cập đến bốn vị thần tứ đại trong hư
không, song tôi chưa nói về hình dạng của họ; bây giờ nhân
nhắc đến thần lửa, chúng ta hãy tìm hiểu đôi chút về
vị thần này. Thần lửa có hình dáng như thế nào? Thần
lửa trông giống như loài chim sẻ, toàn thân đều màu đỏ
và chỉ có một chân.
Thần
lửa tuy có tên, nhưng khi quý vị gọi đến tên ấy thì thần
sẽ bỏ chạy mất dạng; không như chúng ta, hễ gọi tên ai
thì người đó liền đến! Thần lửa tên là gì? Thần có
tên là Phương Miễn—họ Phương, tên Miễn. Hễ nghe quý vị
gọi "Phương Miễn" thì thần lửa sẽ bỏ đi nơi khác, không
ở đây nữa; còn nếu quý vị không gọi đến tên của thần,
thì thần cứ ở lại đây, bảo thế nào cũng không đi. Vị
thần lửa này thật lạ đời như thế!
Lại
nói về thần đất, thần đất có hình dáng như thế nào?
Thần đất trông giống như một cậu bé có cặp mắt màu
đỏ, tai dài thậm thượt chấm đất; quý vị đã từng trông
thấy đứa bé nào giống như thế chưa? Ðó là thần đất
đấy!
Thần
đất cũng có tên, là gì ư? Thần đất tên là Võng Tượng.
Rất khó mà gặp mặt vị thần đất này; nhưng khi gặp được
thần, nếu quý vị có thể bắt giữ thần lại mà đem nấu
chín rồi ăn thịt của thần, thì quý vị sẽ biến thành
vị thần đất kế tiếp. Ðây là việc có thật chứ chẳng
phải chuyện đùa đâu!
"Bảy
là trừ sạch việc hư hao." Ðiều lợi ích thứ bảy là không
có các thứ hư hao. "Hư hao" tức là "hư kinh quái dị," các
thứ tai nạn, các sự việc kinh khủng mà quý vị không tưởng
tượng ra được, không ngờ tới được. Ðiều lợi ích thứ
bảy là những việc hư hao này đều tiêu trừ, không còn nữa.
"Tám
là dứt hẳn ác mộng." Có nhiều người lúc ngủ thường
mơ thấy những việc dữ—mộng thấy có người đánh mình,
giết mình, hoặc có con cọp muốn ăn thịt mình, hoặc là
quỷ "vô thường" muốn bắt mình đến gặp Diêm La Vương...
Có người thì mộng thấy quỷ yểm mỵ—Cưu-bàn-trà—đè
trên mình, ú ớ nói không ra tiếng, toàn thân cứng đơ, không
nhúc nhích được. Song le, nếu quý vị cúng dường Bồ Tát
Ðịa Tạng, trì niệm danh hiệu của Ngài, thì những việc
như thế sẽ không còn xảy ra nữa.
"Dứt
hẳn ác mộng" tức là cắt đứt hẳn, dứt tuyệt, hoàn toàn
không còn chiêm bao thấy ác mộng nữa.
"Chín
là ra vào đều có thần theo hộ vệ." Ví dụ quý vị đi trên
đường phố, rõ ràng bị xe đụng hất văng ra xa cả mấy
thước; thế mà, quý vị không hề hấn gì cả, đứng dậy
đi tiếp như không có chuyện gì xảy ra! Lẽ thường hễ bị
xe đụng văng ra xa như thế thì nhất định sẽ bị gãy xương
đứt gân, thế mà quý vị lại không việc gì cả, vẫn có
thể đứng dậy phủi phủi áo quần rồi đi tiếp như thường,
không cần phải đến bệnh viện; đó là vì sao? Chính là
nhờ có thần linh che chở, phù hộ. "Ra vào đều có thần
theo hộ vệ" có nghĩa là khi quý vị ra đường hoặc lúc ở
nhà, khi ra lúc vào đều có thần linh âm thầm đi theo bảo
hộ.
"Mười
là thường gặp nhân Thánh." "Nhân Thánh" là gì? Là cái mầm
mống để trở thành bậc Thánh, cái nhân hạnh dẫn đến
Thánh quả.
Như
khóa tu học hè của chúng ta ở đây chẳng hạn—đây chính
là "nhân Thánh" vậy. Cho nên, trong sáu tuần lễ này chúng
ta chuyên chú giảng kinh thuyết pháp, chăm chỉ cần cù dụng
công tu hành—có thể nói quý vị tìm khắp cả thế giới
cũng không thể nào tìm ra được một khóa tu học hè cam go
như thế này. Nếu quý vị nói rằng mình không muốn bản
thân phải phấn đấu cực khổ vất vả đến thế, thì quý
vị sẽ không thể nào gặp được "nhân Thánh"! Quý vị hiện
nay tuy có vất vả, có chịu khổ chịu cực, song đây chính
là cơ hội để gieo trồng "nhân Thánh." Và, đây là lợi ích
thứ mười vậy.
Kinh
văn:
"Bạch
Ðức Thế Tôn! Chúng sanh trong đời vị lai cùng hiện tại,
nếu có thể ở nơi mình trú ngụ mà làm ra sự cúng dường
như thế, thì sẽ được sự lợi ích như vậy."
Lại
bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Trong đời
vị lai, như có người thiện nam kẻ thiện nữ nào, ở nơi
mình cư ngụ mà có kinh điển này cùng hình tượng của Bồ
Tát, người đó lại có thể đọc tụng kinh điển này và
cúng dường hình tượng của Bồ Tát, thì con thường ngày
đêm dùng thần lực của mình hộ vệ người đó, cho đến
tất cả ác sự, các nạn nước, lửa, trộm cướp, và các
tai họa bất trắc lớn nhỏ thảy đều tiêu sạch."
Lược
giảng:
Kiên
Lao Ðịa Thần lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức
Thế Tôn! Chúng sanh trong đời vị lai cùng hiện tại, nếu
có thể ở nơi mình trú ngụ mà làm ra sự cúng dường như
thế— tức là chọn nơi sạch sẽ thanh tịnh trong nhà mình
về hướng Nam mà trần thiết hình tượng Bồ Tát Ðịa Tạng
rồi cúng dường—thì sẽ được sự lợi ích như vậy. Các
chúng sanh ấy sẽ được mười điều lợi ích kể trên."
Kiên
Lao Ðịa Thần lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức
Thế Tôn! Trong đời vị lai, như có người thiện nam kẻ thiện
nữ nào, ở nơi mình cư ngụ mà có kinh điển này—Kinh Ðịa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện—cùng hình tượng của Bồ Tát—Ðại
Nguyện Ðịa Tạng Vương Bồ Tát—người đó lại có thể
đọc tụng kinh điển này và cúng dường hình tượng của
Bồ Tát ..."
Nếu
người đó không những có được bộ Kinh Ðịa Tạng và tượng
của Bồ Tát Ðịa Tạng, mà còn có thể đọc tụng bộ kinh
này đồng thời đảnh lễ và cúng dường Bồ Tát Ðịa Tạng
nữa, "thì con thường ngày đêm dùng thần lực—sức thần
thông—của mình hộ vệ người đó, cho đến tất cả ác
sự, các nạn nước, lửa, trộm cướp, và các tai họa bất
trắc lớn nhỏ thảy đều tiêu sạch." Như thí dụ bị xe
đụng tôi vừa nêu ra, có người bị xe đụng thì mất mạng,
đó gọi là tai họa lớn (đại hoạnh); có người thì chỉ
bị thương nhẹ, trầy sướt sơ sài, đó gọi là tai họa
nhỏ (tiểu hoạnh).
Thời
đại hiện nay không được tốt đẹp lắm, đến đâu cũng
có những chuyện phiền phức xảy ra, không cướp giật thì
cũng trộm cắp ngang nhiên giữa ban ngày ban mặt. Cho nên, quý
vị cần phải cẩn thận, đề phòng bọn ăn cướp này. Người
Trung Hoa có câu:
"Chậm
giấu của cuốn lôi kẻ trộm
Chuốt
dung nhan lôi cuốn dâm ô.
(Mạn
tàng hối đạo,
Dã
dung hối dâm.)
(Chậm
cất giấu tiền của thì cuốn hút người khác vào đường
trộm cắp; trau chuốt lẳng lơ thì lôi cuốn người ta vào
đường dâm ô.)
"Mạn
tàng" có nghĩa là cất giấu không cẩn thận, thiếu kín đáo.
Như quý vị có báu vật thì phải mau mau cất giấu cho kỹ
lưỡng, kẻo chậm trễ, bọn cướp trông thấy sẽ sanh lòng
tham và đến cướp đi mất. Tại sao quý vị bị cướp? Bởi
vì quý vị cất giấu quá chậm, cho nên mới dẫn đường
cho bọn cướp đến đánh cắp.
Ðó
là nói về tài sản vật chất bên ngoài. Ðối với tài sản
bên trong của chúng ta—tức là tự tánh của chính mình—chúng
ta cũng cần phải cất giấu. Nếu chúng ta cất giấu chậm
thì cũng bị bọn yêu ma quỷ quái đến cướp mất vậy. Chúng
cướp mất cái gì của quý vị? Cướp đi "trân bảo vô thượng"
của quý vị. Nói như thế thì chúng ta phải cất giấu món
"trân bảo" tự tánh của mình như thế nào? Cách cất giấu
này thì không giống như cách cất giấu những tài sản có
hình có tướng—như đem chôn ở một nơi bí mật, hoặc cất
giữ trong két bảo hiểm—không phải như thế!
Thế
thì phải cất giấu "tài sản quý báu" tự tánh như thế nào?
Phải chính mình không sanh vô minh! Quý vị phải biết rằng
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý đều thuộc loại "đại tặc,"
là những tên giặc rất lợi hại. Ðừng tưởng rằng con
mắt giúp đỡ chúng ta—sở dĩ hiện nay quý vị chưa thể
thành Phật cũng chính là vì bị con mắt này tác oai tác quái.
Không những mắt là giặc, mà tai cũng là giặc, mũi cũng là
giặc, lưỡi cũng là giặc, thân thể cũng là giặc, ý cũng
là giặc. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chính là sáu tên giặc;
chỉ có linh tánh của quý vị là "pháp bảo," là bảo bối
vô cùng trân quý.
Nếu
mắt mà phân tán đi một chút thì quý vị bị thiếu mất
một chút, tai mà phân tán đi một chút thì thiếu mất một
chút, mũi mà phân tán đi một chút thì thiếu mất một chút,
lưỡi mà phân tán đi một chút thì thiếu mất một chút,
thân mà chia bớt đi một bộ phận thì lại thiếu mất một
chút, ý mà chia bớt đi một phần thì quý vị lại thiếu
mất một chút.
Ðối
với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, nếu quý vị không thâu
nhiếp chúng trở về được, tức là quý vị "thả lỏng"
chúng đấy! Mỗi tên chạy rông mỗi nơi lo những chuyện không
liên can. Mắt trông thấy vật gì đều muốn thấy cho tận
tường thêm nữa, đó gọi là lo chuyện tào lao. Tai nghe thấy
việc gì dù chẳng liên quan tới mình cũng tò mò muốn nghe
lần nữa cho thỏa thích; như thế cũng gọi là bị cảnh giới
lay chuyển, đều do "bọn giặc" gây ra! Thế nên, quý vị đừng
để cho sáu tên giặc này thừa cơ cướp đoạt mất "bảo
bối" tự tánh của mình! Nếu hằng ngày quý vị cứ tùy theo
sáu căn này mà hành sự, thì chúng đích thị là những tên
giặc chực cướp đi tự tánh của quý vị.
Bây
giờ tôi giảng đạo lý này thì có thể quý vị chưa hoàn
toàn am hiểu, hoặc chưa thể lãnh hội thấu đáo được.
Song, nếu quý vị chịu khó dụng công, thì sau một thời gian
quý vị sẽ vỡ lẽ: "À! Thì ra cái này thật là xấu xa, tệ
hại!" Bấy giờ, biết được mắt tác hại như thế nào,
tai chẳng vâng lời ra sao, thì quý vị sẽ thấy rằng hóa
ra bọn chúng đều là "giặc" cả!
"Dã
dung hối dâm" có nghĩa là chải chuốt hình dáng là khiến
kẻ khác sanh lòng dâm. Ví dụ như người con gái bôi phấn
thoa son, trang điểm thật lộng lẫy, đây chính là khêu gợi,
khiến người khác trông thấy liền sanh lòng tà vạy. Thế
nên người nữ tốt nhất là để dung mạo tự nhiên, không
cần phải tô son điểm phấn. Nếu bôi son trét phấn vào môi
vào má hồng hồng đỏ đỏ, cho rằng làm như vậy rất có
ý nghĩa, song thật ra thì chẳng có ý nghĩa gì cả, mà chỉ
là thể hiện sự điên đảo của chúng sanh—sự điên đảo
của chúng sanh chính là ở điểm này vậy!
Sở
dĩ nói sáu căn là bọn giặc chẳng qua là vì chúng ta không
biết cách vận dụng chúng (nên chúng mới biến thành "giặc")
mà thôi. Nếu quý vị biết vận dụng, thì không những chúng
không biến thành "giặc" mà còn trở thành "hộ pháp" nữa
là đằng khác! Do vậy, trong Kinh Lăng Nghiêm có chép rằng:
Chúng sanh bị luân hồi khổ sở trong sáu nẻo là vì sáu căn
này; nhưng nếu chúng sanh có thể "hồi quang phản chiếu,"
thanh tịnh tự tâm, thì thành Phật được cũng là nhờ ở
sáu căn này chứ chẳng phải đâu xa lạ. Quý vị biết vận
dụng chúng thì chúng chính là "hộ pháp"; còn không biết vận
dụng chúng thì chúng chính là "giặc" vậy. Thí dụ, quý vị
trông thấy đồ vật mà trong lòng sanh khởi chánh niệm thì
đây chính là hộ pháp, còn nếu như sanh tà niệm thì đó
là ma quỷ vậy. Lục Tổ Ðại Sư đã từng dạy:
"Lúc
tà mê là ma choán chỗ,
Khi
chánh niệm là Phật tại nhà."
(Tà
niệm chi thời, ma tại xá,
Chánh
niệm chi thời, Phật tại đường.)
Do
đó, nếu bất cứ lúc nào quý vị cũng có thể đề khởi
chánh niệm, thì sáu căn sẽ biến thành hộ pháp của quý
vị—chúng trợ giúp quý vị rất đắc lực. Khi mắt nhìn
thấy hình sắc thì liền chạy theo sắc trần; tai vừa nghe
lọt âm thanh thì liền chạy theo thanh trần; mũi vừa ngửi
thấy mùi liền chạy theo hương trần; lưỡi vừa nếm biết
vị liền chạy theo vị trần; thân cảm nhận có sự tiếp
xúc, đụng chạm liền chạy theo xúc trần—thì bấy giờ
sáu căn là những tên giặc ghê gớm, lợi hại. Vì sao nói
là "chạy theo"? Chính là vì quý vị cảm thấy thích thú, ưa
muốn; tự trong lòng nảy sanh sự ham thích, thì đó chính là
"chạy theo" vậy. Bởi chưa có định lực cho nên ý nghĩ của
quý vị sau khi tiếp xúc với pháp thì liền chạy theo pháp
trần, đuổi theo ngoại cảnh. Lại cũng vì ý nghĩ còn tà
vạy, không được chân chánh, nên mới bị cảnh giới lay
chuyển; nếu ý nghĩ chân chánh thì sẽ xoay chuyển được
cảnh giới.
Kinh
văn:
Ðức
Phật bảo Kiên Lao Ðịa Thần rằng: "Thần lực rộng lớn
của ông, các thần khác ít ai bằng. Vì cớ sao? Vì đất đai
trong cõi Diêm Phù đều nhờ ông hộ trợ; cho đến cỏ, cây,
cát, đá, lúa, mè, tre, lau, gạo thóc, của báu ... từ đất
mà có, đều nhờ nơi sức của ông cả.
Ông
lại luôn khen ngợi những sự lợi ích của Bồ Tát Ðịa
Tạng, thì công đức và thần thông của ông sẽ trăm ngàn
phần trội hơn của các địa thần bình thường.
Trong
đời sau, như có kẻ thiện nam người thiện nữ nào cúng
dường Bồ Tát cùng đọc tụng kinh điển này, dù chỉ y theo
một việc trong Kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện mà tu hành, thì
ông nên dùng thần lực của mình mà ủng hộ, chớ để mọi
tai hại cùng sự không vừa ý lọt vào tai người đó, huống
nữa là để cho phải chịu đựng.
Chẳng
phải chỉ riêng mình ông hộ trì người đó, mà cũng có hàng
quyến thuộc của Phạm Vương, Ðế Thích, và quyến thuộc
của chư thiên ủng hộ người đó nữa!
Tại
sao người đó lại được chư hiền thánh ủng hộ như thế?
Ấy đều do chiêm lễ hình tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng
cùng đọc tụng Kinh Bổn Nguyện này, nên tự nhiên được
rốt ráo xa lìa biển khổ, chứng được Niết Bàn yên vui,
vì thế mà được sự ủng hộ lớn lao."
Lược
giảng:
Ðức
Phật bảo Kiên Lao Ðịa Thần: "Thần lực rộng lớn của
ông, các thần khác ít ai bằng, hiếm có vị thần nào có
được sức thần thông đặc biệt lớn lao như ông. Vì cớ
sao? Vì đất đai trong cõi Diêm Phù đều nhờ ông hộ trợ;
cho đến cỏ, cây, cát, đá, lúa, mè, tre, lau, gạo thóc, của
báu ... từ đất mà có, đều nhờ nơi sức của ông cả."
Toàn
bộ đất đai trong cõi Nam Diêm Phù Ðề đều được Kiên
Lao Ðịa Thần che chở, bảo hộ. Những ngọn cỏ nhỏ bé
nhất, cây con non yếu mảnh mai nhất, hoặc một hạt cát,
một viên sỏi, cùng những thứ thu hoạch được từ đất
như lúa, mè, tre, lau, gạo thóc, và những bảo vật ...—tất
cả những thứ quý báu này đều từ nơi đất mà có, thảy
đều nương nhờ vào sức lực của thần đất mà sinh trưởng.
"Ông
lại luôn khen ngợi những sự lợi ích của Bồ Tát Ðịa
Tạng, thì công đức và thần thông của ông sẽ trăm ngàn
phần trội hơn của các địa thần bình thường." Kiên Lao
Ðịa Thần thường luôn trầm trồ tán thán những sự lợi
ích mà Bồ Tát Ðịa Tạng mang lại cho tất cả chúng sanh;
cho nên, công đức và sức thần thông trí huệ của Kiên Lao
Ðịa Thần rộng lớn gấp trăm ngàn vạn lần so với các
địa thần bình thường khác.
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: "Bây giờ Ta muốn căn dặn
ông, Kiên Lao Ðịa Thần, rằng: Trong đời sau, như có kẻ
thiện nam người thiện nữ nào cúng dường Bồ Tát—Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát—cùng đọc tụng kinh điển này, dù chỉ
y theo một việc trong Kinh Ðịa Tạng Bổn Nguyện mà tu hành,
thì ông nên dùng thần lực của mình mà ủng hộ, chớ để
mọi tai hại cùng sự không vừa ý lọt vào tai người đó,
huống nữa là để cho phải chịu đựng."
"Chớ
để mọi tai hại cùng sự không vừa ý lọt vào tai" có nghĩa
là đừng để cho những thiện nam cùng thiện nữ đó nghe
thấy những việc tai hại cũng như những việc không như ý
họ muốn. Chẳng những các thứ âm thanh không như ý đều
không được vẳng tới tai họ, mà luôn cả những việc tổn
hại cũng không được xảy đến cho thân họ nữa! Họ không
phải lãnh chịu bất cứ một tai họa nào cả.
Ðối
với những thiện nam tín nữ trì Ngũ Giới và hành Thập Thiện
mà biết cúng dường Bồ Tát Ðịa Tạng, đọc tụng Kinh Ðịa
Tạng, và lại có thể y chiếu theo một việc trong Kinh Ðịa
Tạng đã dạy mà tu hành, thì Kiên Lao Ðịa Thần sẽ dùng
sức mạnh thần thông vốn có của mình để ủng hộ những
người đó, không để cho các sự tai hại và những việc
không như ý thấu đến tai họ.
"Chẳng
phải chỉ riêng mình ông hộ trì người đó, mà cũng có hàng
quyến thuộc của Phạm Vương, Ðế Thích, và quyến thuộc
của chư thiên ủng hộ người đó nữa! Ta lại bảo cho ông
biết rằng chẳng phải chỉ mỗi một mình ông là Kiên Lao
Ðịa Thần đơn độc bảo hộ những người như thế mà thôi
đâu. Vì sao vậy? Vì còn có quyến thuộc của Thích Ðề Hoàn
Nhân và Ðại Phạm Thiên Vương, cho đến thiên long bát bộ
trên cõi trời và quyến thuộc của chư thiên ..., tất cả
cũng đều đến để ủng hộ, bảo vệ những người đó."
Ðức
Phật lại dạy: "Tại sao người đó lại được chư hiền
thánh ủng hộ như thế? Vì sao những người đó lại được
đông đảo chư vị thánh hiền, thiên long bát bộ, Ðại Phạm
Thiên Vương, Thích Ðề Hoàn Nhân... từ cõi trời đến bảo
hộ như vậy?"
"Ấy
đều do chiêm lễ hình tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng cùng
đọc tụng Kinh Bổn Nguyện này, nên tự nhiên được rốt
ráo xa lìa biển khổ, chứng được Niết Bàn yên vui, vì thế
mà được sự ủng hộ lớn lao." Chính là nhờ nhân duyên
chiêm ngưỡng, đảnh lễ hình tượng của Ðịa Tạng Vương
Bồ Tát, và nhân duyên đọc tụng Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát
Bổn Nguyện, mà trong tương lai, những người đó chắc chắn
sẽ tự nhiên được xa lìa mọi khổ não, chứng được sự
an vui của Niết Bàn. Do duyên cớ này nên họ mới nhận được
sự ủng hộ lớn lao như thế—được hết thảy các bậc
thánh hiền đến ủng hộ, che chở!