Quyển
Trung
Phẩm
Thứ Chín
XƯNG
DANH HIỆU CHƯ PHẬT
"Xưng"
tức là xưng niệm, có nghĩa là đọc lên và tưởng nhớ đến;
"danh hiệu" có nghĩa là tên. Vậy, "Xưng Danh Hiệu Chư Phật"
tức là đọc tên của các đức Phật và nhớ tưởng tới
các ngài. Trước kia tôi đã từng giảng rồi, lúc tối sơ
mỗi một đức Phật đều có một vạn danh hiệu khác nhau.
Về sau, vì người ta không thể nào nhớ được nhiều như
thế, cho nên mới giảm bớt, chỉ còn một ngàn danh hiệu.
Song, một ngàn danh hiệu thì người bình thường cũng không
thể nhớ một cách mạch lạc được (như tôi chẳng hạn,
một kẻ không có năng lực nhớ dai cho lắm—bắt đầu niệm
từ danh hiệu thứ nhất trở đi, khi niệm đến danh hiệu
thứ một ngàn thì tôi quên mất danh hiệu thứ nhất!); do
đó, về sau giảm xuống còn một trăm danh hiệu. Tuy rằng
mỗi một đức Phật chỉ còn một trăm tên gọi nhưng người
ta cũng không thể nhớ hết được và cảm thấy như thế
vẫn còn quá nhiều, quá phức tạp; cho nên sau này lại giản
lược chỉ còn mười tên gọi—mỗi đức Phật chỉ còn
vỏn vẹn mười danh hiệu mà thôi.
Mười
danh hiệu của mỗi đức Phật là: 1) Như Lai, 2) Ứng Cúng,
3) Chánh Biến Tri, 4) Minh Hạnh Túc, 5) Thiện Thệ Thế Gian
Giải, 6) Vô Thượng Sĩ, 7) Ðiều Ngự Trượng Phu, 8) Thiên
Nhân Sư, 9) Phật, 10) Thế Tôn.
Vậy,
đây là phẩm thứ chín, "Xưng Danh Hiệu Chư Phật." Trong phẩm
này, Ðịa Tạng Vương Bồ Tát nói về công đức có được
do sự xưng niệm danh hiệu của chư Phật.
Kinh
văn:
Lúc
đó, Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch cùng Ðức Phật rằng:
"Bạch Ðức Thế Tôn! Nay con vì chúng sanh đời sau mà diễn
nói về sự lợi ích, làm cho họ trong lúc sanh cùng lúc tử
đều được những lợi ích lớn lao. Cúi xin Ðức Thế Tôn
lắng nghe điều con nói."
Ðức
Phật bảo Bồ Tát Ðịa Tạng rằng: "Nay ông muốn khởi lòng
từ bi, cứu vớt tất cả chúng sanh tội khổ trong Lục Ðạo
mà diễn nói sự chẳng thể nghĩ bàn. Bây giờ chính đã phải
lúc, ông nên nói ngay đi, Ta sắp sửa vào Niết Bàn rồi! Ông
hãy sớm hoàn tất lời nguyện đó, thì Ta cũng không còn phải
lo nghĩ gì đến tất cả chúng sanh ở hiện tại và vị lai
nữa."
Bồ
Tát Ðịa Tạng bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế
Tôn! Vô lượng a-tăng-kỳ kiếp về thuở quá khứ, có đức
Phật ra đời hiệu là Vô Biên Thân Như Lai. Như có người
nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật này
mà tạm thời sanh lòng cung kính, thì liền được vượt thoát
tội nặng sanh tử trong bốn mươi kiếp; huống là vẽ đắp
hình tượng, cúng dường, tán thán! Người này sẽ được
vô lượng vô biên phước báo."
Lược
giảng:
Lúc
đó, sau khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói dứt lời trong phẩm
thứ tám, Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch cùng Ðức Phật
rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Nay con vì chúng sanh đời sau mà
diễn nói về sự lợi ích, làm cho họ trong lúc sanh cùng lúc
tử đều được những lợi ích lớn lao. Cúi xin Ðức Thế
Tôn lắng nghe điều con nói. Con thỉnh cầu Ðức Thế Tôn,
xin Ngài hãy nghe con nói về nguyện lực của chính con."
"Chúng
sanh đời sau" tức là trong đó bao gồm cả quý vị và tôi
hiện nay. Quý vị chớ cho rằng mình không ở trong số đó—hiện
tại quý vị và tôi, chúng ta đều nằm trong số các "chúng
sanh đời sau" mà Ðịa Tạng Vương Bồ Tát đang nhắc tới
này!
Ðức
Phật bảo Bồ Tát Ðịa Tạng rằng: "Nay ông muốn khởi lòng
từ bi, cứu vớt tất cả chúng sanh tội khổ trong Lục Ðạo—độ
thoát những kẻ trót tạo nghiệp tội và phải chịu khổ
sở trong sáu đường là trời, người, A-tu-la, địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh—mà diễn nói sự chẳng thể nghĩ bàn,
trình bày những sự về thứ nguyện lực không thể nghĩ bàn.
Bây giờ chính đã phải lúc, ông nên nói ngay đi! Nay đúng
là thời điểm thích hợp để nói về việc đó, vậy ông
hãy mau mau nói ra đi; vả lại, Ta sắp sửa vào Niết Bàn rồi!
Ông hãy sớm hoàn tất lời nguyện đó, thì Ta cũng không còn
phải lo nghĩ gì đến tất cả chúng sanh ở hiện tại và
vị lai nữa. Ta nay sắp sửa nhập Niết Bàn, cho nên Ta muốn
ông sớm hoàn thành viên mãn hạnh nguyện đó. Ta bây giờ
cũng chẳng còn phải ưu tư lo lắng cho các chúng sanh trong
đời này và đời sau nữa!"
Trong
phần kinh văn này, Ðức Phật nói rằng Ngài "sắp sửa vào
Niết Bàn"; như thế có nghĩa là Phật thuyết Kinh Ðịa Tạng
sau khi nói xong Kinh Pháp Hoa, và trước khi nói Kinh Niết Bàn.
Bồ
Tát Ðịa Tạng bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức Thế
Tôn! Vô lượng a-tăng-kỳ kiếp về thuở quá khứ, có đức
Phật ra đời hiệu là Vô Biên Thân Như Lai." Thân tướng của
Ðức Phật này thì to lớn vô biên, choán đến tận cùng của
cõi hư không và trùm khắp cả Pháp Giới. "A-tăng-kỳ" là
tiếng Phạn; "a-tăng-kỳ kiếp" có nghĩa là số kiếp nhiều
đến vô lượng vô biên.
Ở
cõi Nam Diêm Phù Ðề, giả sử "như có người nam người nữ
nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật này—Ðức Vô Biên
Thân Như Lai—mà tạm thời sanh lòng cung kính, thì liền được
vượt thoát tội nặng sanh tử trong bốn mươi kiếp; huống
là vẽ đắp hình tượng, cúng dường, tán thán! Người này—kẻ
vẽ đắp hình tượng của Ðức Phật Vô Biên Thân để cúng
dường, lễ bái, khen ngợi—sẽ được vô lượng vô biên
phước báo, nhiều đến nỗi không thể nào tính đếm được!"
Bây
giờ tôi kể cho quý vị nghe một công án. Vào thời Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni còn trụ thế, có một cụ già nọ muốn
xuất gia tu hành. Hôm ấy, cụ đến Kỳ Hoàn Tinh Xá để xin
gặp Phật thì lại nhằm lúc Phật đi vắng. Bấy giờ, các
đệ tử của Phật thấy ông cụ già nua tuổi tác thì có
vẻ không thích lắm—tuổi đã cao, vừa già lại vừa nghèo,
đã vậy còn lôi thôi lếch thếch nữa, như thế mà còn muốn
xuất gia để làm gì chứ? Khi ấy, các vị đệ tử đã chứng
quả A La Hán nhập Ðịnh quán sát thì thấy cụ già này chẳng
có một chút căn lành nào cả, trong suốt tám vạn đại kiếp
cụ chưa hề trồng được một mảy may thiện căn; mà như
thế thì cụ không thể nào xuất gia, vì muốn xuất gia thì
nhất định phải có thiện căn mới được! Có câu:
Chớ
bảo xuất gia là chuyện dễ,
Ấy
do nhiều kiếp trồng Bồ Ðề!
(Mạc
đạo xuất gia dung dị đắc,
Giai
nhân lũy thế chủng Bồ Ðề.)
Quývị
thấy đó, xuất gia không phải là chuyện đơn giản! Phải
là người mà đời đời kiếp kiếp đều gieo trồng rất
nhiều thiện căn, thì mới có thể được xuất gia. Những
người không có thiện căn mà muốn xuất gia tu hành, thì cũng
khó thành công. Có người, niệm trước mới hăng hái muốn
xuất gia tu tập, thì niệm sau lại do dự phân vân: "Ði tu
sao thấy khó khăn, vất vả quá! Thôi, thôi, tôi không muốn
xuất gia tu hành nữa!" Rồi chính mình lại thuyết phục mình
bỏ cuộc: "Thôi, đừng! Ðừng đi tu nữa!"
Lại
nói về cụ già nọ, bởi các đệ tử A La Hán của Phật
đều thấy cụ không có thiện căn, cho nên không nhận cho
cụ xuất gia. Cụ già này vốn nghèo đến nỗi không đủ
cơm ăn áo mặc và đã ngoài chín mươi hoặc xấp xỉ một
trăm tuổi rồi, đi đứng cũng rất khó khăn, chậm chạp.
Bấy giờ, cụ bị khước từ, không được xuất gia, nên
buồn rầu than thở: "Tôi già nua tuổi tác như vầy rồi, chỉ
muốn xuất gia để được an lạc thanh thản đôi chút lúc
tuổi già sức yếu, nào ngờ đệ tử của Phật lại khăng
khăng chẳng chịu thâu nhận!" Rồi cụ bật khóc, vừa đi
vừa khóc lóc sụt sùi rất thảm thiết. Bất chợt, trong lòng
cụ nảy ra một ý định; ý định gì? Cụ thở dài tự nhủ:
"Thôi thì mình đi tự vẫn cho rồi! Chỉ việc nhảy xuống
sông Hằng là xong chuyện!" Và thế là cụ thất thểu lê gót
về phía sông Hằng.
Khi
cụ còn cách sông Hằng không bao xa, sắp sửa lao mình xuống
dòng nước xiết, thì Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đi đến và
hỏi rằng: "Ôi! Này ông lão, ông đang làm gì thế ? Ông định
nhảy xuống sông ư? Tuổi cao như thế mà vẫn còn muốn bơi
lội sao? Ôi! Tuổi tác của ông đã quá cao rồi, tay chân đều
vụng về chậm chạp, đâu còn nhanh nhẹn để có thể bơi
lội được nữa!"
Cụ
già đau khổ đáp: "Không phải như thế! Tôi chỉ muốn chết,
tôi muốn kết liễu đời mình cho rồi. Tôi không còn muốn
sống nữa. Sự sống bây giờ đối với tôi không có ý nghĩa
gì cả!"
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni ôn tồn gặng hỏi: "Tại sao ông lại
bảo rằng cuộc sống của ông không có ý nghĩa? Ông có thể
nói cho Ta rõ nguyên nhân được chăng?"
Cụ
già bèn kể lể: "Tôi vì cảm thấy cuộc đời này không có
ý nghĩa, cho nên muốn xuất gia, theo Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni tu hành. Hôm nay tôi đến Tinh Xá để xin được xuất gia
đi tu, nhưng các đệ tử của Phật nói rằng tôi không có
thiện căn, cho nên họ không thể thâu nhận tôi được. Tâm
trí tôi tha thiết muốn xuất gia, song lại xuất gia không được,
thế thì tôi còn sống làm gì nữa? Tôi thà chết đi còn hơn!
Do đó, tôi muốn nhảy xuống sông Hằng, uống no một bụng
nước mà chết, rồi kiếp sau đầu thai làm người trai trẻ
để xuất gia tu hành. Chứ bây giờ các đệ tử của Phật
đều không thích người già nua, lại thấy mặt mày tôi có
lẽ cũng xấu xí cằn cỗi, nên không ai thích tôi cả!"
Nghe
qua tự sự, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dịu dàng bảo: "Ồ!
Ông lão muốn xuất gia ư? Thế thì ông khỏi cần nhảy xuống
sông nữa! Ta sẽ thâu nhận ông làm đệ tử, vậy ông hãy
theo Ta trở về Tinh Xá!"
Cụ
già lấy làm ngạc nhiên vội hỏi: "Thật ư? Thế ... chẳng
hay Ngài là ai vậy?"
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni đáp: "Ta là Phật Thích Ca Mâu Ni đây!"
Cụ
già mừng rỡ hỏi lại: "Ôi! Ngài là Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni ư? Ngài bằng lòng thâu nhận con làm đệ tử sao?"
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni gật đầu: "Phải, Ta thấy ông than khóc
rất đáng thương, thôi thì Ta nhận ông làm ‘lão đệ tử’
vậy!"
Sau
đó, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni dẫn cụ già về Kỳ Hoàn Tinh
Xá và thuyết pháp cho nghe; vừa nghe Phật thuyết pháp cụ
lập tức chứng được quả vị A La Hán. (Lúc Phật còn trụ
thế, có rất nhiều người chứng được A La Hán quả. Bởi
Ðức Phật xem xét nhân duyên của họ mà thuyết pháp, cho
nên Phật vừa giảng là họ liền tỉnh ngộ và chứng đắc
quả vị.)
Bấy
giờ, có một số đệ tử của Phật thầm nghĩ rằng: "Thật
là kỳ lạ! Ông cụ này đã già như vậy, lại không có thiện
căn gì cả, thì làm thế nào lại chứng quả vị được?"
Do đó, họ sanh lòng hoài nghi đối với Phật Pháp, và tức
tốc đến thỉnh vấn Phật: "Bạch Ðức Thế Tôn! Ông lão
này lẽ ra không thể xuất gia được; nay ông ta được Ðức
Thế Tôn cho phép xuất gia, rồi lại chứng được quả vị
nữa. Thật là vô cùng kỳ lạ! Việc này khiến chúng con sanh
lòng hoài nghi đối với Phật Pháp."
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni giảng giải: "Hàng A La Hán các ông chỉ
biết được những việc nhân quả, thiện ác, nội trong tám
vạn đại kiếp trở lại mà thôi; còn nếu lâu xa hơn nữa,
tức là ở ngoài tám vạn đại kiếp, thì các ông không thể
thấy được. Cũng như các ông ở trong căn phòng này, thì
những việc xảy ra trong phòng các ông đều rõ biết, còn
việc ở ngoài phòng thì các ông không thể nào biết được.
Các ông phải biết, hơn tám vạn đại kiếp về trước, ông
lão này vốn là một tiều phu thường lên núi đốn củi.
Một hôm, ông tiều phu gặp phải một con cọp chực vồ lấy
ông để ăn thịt. Ngay chính lúc tánh mạng đang bị đe dọa
đó, ông tiều phu buột miệng niệm lên một tiếng ‘Nam mô
Phật.’ Một tiếng niệm ‘Nam mô Phật’ trong khoảnh khắc
đó cho đến hôm nay thì vừa chín muồi, do đó ông ấy được
xuất gia và có thể chứng được quả vị."
Vì
thế, những người hiện tại được xuất gia thì không phải
là việc ngẫu nhiên hay tình cờ, mà là nhờ trong quá khứ
họ đã từng niệm rất nhiều tiếng "Nam mô Phật"; bằng
không, tôi cũng chẳng thể thâu nhận họ làm đệ tử!
Kinh
văn:
"Lại
vô số kiếp nhiều như cát sông Hằng về thuở quá khứ,
có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Tánh Như Lai. Như có người
nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật này
và trong khoảnh khắc bằng khảy móng tay liền phát tâm quy
y, người đó sẽ vĩnh viễn không còn thối chuyển nơi Ðạo
Vô Thượng.
Lại
về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Ba Ðầu
Ma Thắng Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến
danh hiệu của Ðức Phật này thoáng qua lỗ tai, người đó
sẽ được một ngàn lần sanh trong Lục Dục Thiên, huống
chi là chí tâm xưng niệm!"
Lược
giảng:
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát bạch tiếp: "Lại vô số kiếp nhiều
như cát sông Hằng về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời
hiệu là Bảo Tánh Như Lai." "Bảo" là quý báu; "tánh" nghĩa
là tự tánh—"bảo tánh" ngụ ý là tự tánh rất quý báu.
"Như
có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức
Phật này—Ðức Bảo Tánh Như Lai—và trong khoảnh khắc bằng
khảy móng tay liền phát tâm quy y, nguyện quay về nương tựa
Ðức Bảo Tánh Như Lai, người đó sẽ vĩnh viễn không còn
thối chuyển nơi Ðạo Vô Thượng, mà sẽ mãi mãi an trụ
nơi Vô Thượng Bồ Ðề Giác Ðạo."
"Lại
về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Ba Ðầu
Ma Thắng Như Lai." Có ai biết "ba-đầu-ma thắng" nghĩa là gì
không? "Ba-đầu-ma" là "hồng liên hoa," tức là hoa sen màu đỏ;
"thắng" nghĩa là trội hơn, vượt bực. Vậy, hoa sen màu đỏ
thì nổi bật, hơn hẳn các hoa sen khác—trội hơn cả hoa
sen màu vàng, hoa sen màu trắng, hoa sen màu xanh. Màu đỏ là
màu "tối thắng," nổi bật nhất trong các màu sắc, cho nên
gọi là "ba-đầu-ma thắng."
"Như
có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức
Phật này—Ðức Ba Ðầu Ma Thắng Như Lai—thoáng qua lỗ tai,
người đó sẽ được một ngàn lần sanh trong Lục Dục Thiên,
huống chi là chí tâm xưng niệm!"
"Lục
Dục Thiên" là gì? Ðó là sáu tầng trời ở cõi Dục Giới—trời
Tứ Thiên Vương, trời Ðao Lợi, trời Dạ Ma, trời Ðâu Suất,
trời Hóa Lạc, và trời Tha Hóa Tự Tại. Thiên ma thì cư ngụ
ở cõi trời Tha Hóa Tự Tại.
Chỉ
nghe danh hiệu của Ðức Ba Ðầu Ma Thắng Như Lai "thoáng qua
lỗ tai" mà đã có được công đức lớn lao dường ấy, thì
huống chi là chính mình chí tâm xưng niệm danh hiệu của Ngài!
Công đức này hẳn càng to lớn hơn nữa! Hôm nay giảng đến
danh hiệu của Ðức Ba Ðầu Ma Thắng Như Lai, như vậy là
mọi người trong giảng đường này ai nấy đều được nghe
danh hiệu của Ngài "thoáng qua lỗ tai" cả rồi!
Thuở
xưa, có một người nọ đến chùa Ba La Ðề Mộc Xoa thấy
cây am-ma-la trổ hoa màu vàng kim rất đẹp, bèn hái một đóa
mang về. Khi đi ngang qua tượng của Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni, nhận thấy pho tượng Phật vô cùng vi diệu, viên mãn,
người ấy liền đem đóa hoa vừa hái đến cúng dường trước
tượng. Sau đó, người ấy đi hỏi một cụ già: "Thưa cụ,
tôi đem đóa hoa am-ma-la cúng dường cho Ðức Phật Thích Ca
Mâu Ni, thế thì tôi có được bao nhiêu công đức?"
Cụ
già trả lời: "Ồ! Ðiều này thì tôi không biết, ông nên
đi hỏi các người xuất gia thì hơn!"
Người
ấy bèn đi hỏi một thầy Tỳ Kheo rằng: "Bạch Thầy, con
đem đóa hoa am-ma-la đến cúng Phật, công đức ấy như thế
nào?"
Thầy
Tỳ Kheo nọ đáp: "Ồ! Ðiều này tôi không được rõ, ông
phải đi hỏi những vị tu Thiền Ðịnh mà đã chứng đắc
quả vị A La Hán, những vị ấy mới có thể trả lời cho
ông được."
Thế
là người ấy lại đi tìm gặp một vị đã chứng quả A
La Hán và hỏi rằng: "Bạch Ngài, con đem đóa hoa am-ma-la đến
cúng Phật, công đức ấy rộng lớn như thế nào? Ngài có
thể nói cho con rõ chăng?"
Vị
A La Hán đáp: "Hãy chờ Ta quán sát xem! Ờ, với công đức
này, suốt trong tám vạn đại kiếp ông sẽ được hưởng
vô tận phước báo, không thể nào tính đếm rõ ràng được.
Còn ngoài tám vạn đại kiếp như thế nào, tôi đây cũng
không thể rõ biết, ông phải thỉnh vấn Ðức Phật mới
được!"
Người
ấy bèn đi hỏi Phật, Phật bảo rằng: "Công đức này nhiều
đến vô cùng vô tận, có thể choán đầy cả hư không và
bao trùm khắp cả Pháp Giới."
Người
ấy đem một đóa hoa cúng dường cho Phật thì được hưởng
phước báo to lớn như thế; còn chúng ta được nghe danh hiệu
của Phật "thoáng qua lỗ tai" mà thôi, thì cũng có thể được
một ngàn lần sanh về sáu tầng trời cõi Dục—công đức
này thật không thể nghĩ bàn!
Kinh
văn:
"Lại
không thể nói hết, không thể nói hết a-tăng-kỳ kiếp về
thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Sư Tử Hống
Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu
của Ðức Phật này mà nhất niệm quy y, người ấy sẽ được
gặp vô lượng chư đức Phật xoa đảnh thọ ký cho.
Lại
về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Câu Lưu
Tôn Phật. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh
hiệu của Ðức Phật này mà chí tâm chiêm lễ hoặc lại
tán thán, người ấy nơi pháp hội của một ngàn đức Phật
trong thời Hiền Kiếp sẽ làm vị Ðại Phạm Vương, được
thọ thượng ký.
Lại
về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà
Thi Phật. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu
của Ðức Phật này, thì vĩnh viễn không đọa vào ác đạo,
thường được sanh vào chốn trời, người, hưởng sự vui
thù thắng vi diệu.
Lại
vô lượng vô số kiếp nhiều như cát sông Hằng về thuở
quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Thắng Như Lai.
Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của
Ðức Phật này, thì sẽ không bao giờ bị đọa vào ác đạo,
mà thường ở trên cõi trời, hưởng sự vui thù thắng vi
diệu.
Lại
về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Tướng
Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu
của Ðức Phật này bèn sanh lòng cung kính, thì người ấy
không bao lâu sẽ đắc quả A La Hán.
Lại
vô lượng vô số kiếp về thuở quá khứ, có đức Phật
ra đời hiệu là Ca Sa Tràng Như Lai. Như có người nam người
nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức Phật này, thì sẽ siêu
thoát tội sanh tử trong một trăm đại kiếp."
Lược
giảng:
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát bạch tiếp: "Lại không thể nói hết,
không thể nói hết a-tăng-kỳ kiếp về thuở quá khứ ..."
Các đức Phật được kể ra ở đây đều là những đức
Phật trong quá khứ. "A-tăng-kỳ kiếp" là số kiếp nhiều
đến vô lượng vô biên, không thể nào tính đếm được.
"Bất khả thuyết" tức là nói không xuể, kể không xiết
được.
Vô
số kiếp về trước, thời gian lâu xa đến nỗi không thể
nói được là bao lâu, "có đức Phật ra đời hiệu là Sư
Tử Hống Như Lai." Thuở ấy, có Ðức Phật Sư Tử Hống xuất
thế—khi Ðức Phật này thuyết pháp thì âm thanh giống như
tiếng rống của sư tử vậy.
"Như
có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức
Phật này—Ðức Sư Tử Hống Như Lai—mà nhất niệm quy y,
có thể trong một niệm mà dốc lòng quay về nương tựa, tín
thọ, người ấy sẽ được gặp vô lượng chư Phật xoa đảnh
thọ ký cho."
"Lại
về thuở quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Câu Lưu
Tôn Phật." "Câu-lưu-tôn" là Phạn ngữ; Trung Hoa dịch là "sở
ưng đoạn" (đáng đoạn dứt), lại cũng dịch là "trang tạng"
(hàm chứa sự trang nghiêm.
"Như
có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức
Phật này—Ðức Phật Câu Lưu Tôn—mà chí tâm chiêm lễ
hoặc lại tán thán, người ấy nơi pháp hội của một ngàn
đức Phật trong thời Hiền Kiếp sẽ làm vị Ðại Phạm Vương,
được thọ thượng ký." Giả sử có kẻ nam người nữ nào
nghe được danh hiệu của Ðức Phật Câu Lưu Tôn, liền toàn
tâm toàn ý, dốc lòng chiêm ngưỡng lễ bái hoặc dùng kệ
tụng để khen ngợi Ðức Phật này, thì người đó sẽ được
làm Ðại Phạm Thiên Vương trong pháp hội của một ngàn đức
Phật ở thời Hiền Kiếp (Thiên Phật Hội), và được thọ
ký ở trên hàng Ðại Phạm Thiên Vương.
"Lại
về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà
Thi Phật." Tôi biết quý vị ở đây cũng không có ai biết
"tỳ-bà thi" nghĩa là gì, bây giờ tôi sẽ nói cho quý vị
nghe, và sau đó quý vị phải ráng ghi nhớ vì từ ngữ này
rất khó tìm tòi tra cứu, ngay cả các từ điển Phật Học
cũng rất ít cuốn có ghi chép.
"Tỳ-bà,"
Trung Hoa dịch là thắng, "thi" dịch là quán; vậy "tỳ-bà-thi"
có nghĩa là "thắng quán" (sự quán tưởng thù thắng), và
cũng là "chủng chủng quán" (vô số quán tưởng).
"Như
có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức
Phật này—Ðức Phật Tỳ Bà Thi—thì vĩnh viễn không đọa
vào ác đạo, mãi mãi không còn phải đọa lạc trong các đường
địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, mà thường được sanh vào
chốn trời, người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu."
Hiện
nay chúng ta nghe giảng Kinh Ðịa Tạng, được nghe đến danh
hiệu của Ðức Phật Tỳ Bà Thi rồi, như vậy thì chúng ta
sẽ vĩnh viễn không còn bị đọa vào ác đạo. Tuy nhiên,
quý vị phải vĩnh viễn không bao giờ làm việc ác nữa mới
được; bằng không, nếu sau khi được nghe tới danh hiệu
của Ðức Phật này rồi mà vẫn cứ làm điều ác như trước,
thì quý vị vẫn bị đọa lạc như thường! Vì sao ư? Bởi
vì quý vị chẳng thể bỏ ác theo thiện, chẳng chịu sửa
đổi sai lầm!
Do
đó, quý vị chớ nên nghĩ rằng: "Tôi đã được nghe đến
danh hiệu của Ðức Phật Tỳ Bà Thi rồi, như thế tôi sẽ
không bao giờ bị đọa vào ba đường ác"; rồi bèn ung dung
đi đốt nhà cướp của, giết chóc hãm hại người khác,
phạm đủ thứ tội ác chẳng chút e dè! Quý vị không nên
suy nghĩ như vậy, bởi suy nghĩ như vậy là quá si mê, ngu xuẩn!
Phải biết rằng cho dù được nghe danh hiệu Phật, song nếu
vẫn còn làm điều ác thì quý vị vẫn phải đọa vào ba
ác đạo như thường. Vậy, nếu sau khi nghe được danh hiệu
Phật, quý vị phải không làm điều ác nữa, thì mới có
thể không bị đọa lạc vào ba đường ác, thường được
sanh trong cõi người, cõi trời, an hưởng sự vui thù thắng
vi diệu.
"Lại
vô lượng vô số kiếp nhiều như cát sông Hằng về thuở
quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Thắng Như Lai."
Theo tiếng Phạn, "bảo" là "la-đạt-nam"; và "thắng" là "tỳ-bà."
"Như
có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức
Phật này—Ðức Bảo Thắng Như Lai—thì sẽ không bao giờ
bị đọa vào ác đạo, mà thường ở trên cõi trời, hưởng
sự vui thù thắng vi diệu." Người ấy rốt ráo sẽ không
bị đọa lạc trong đường ác, thường được ở tại cõi
trời, thọ hưởng sự vui thù thắng vi diệu nhất.
"Lại
về thuở quá khứ, có đức Phật ra đời hiệu là Bảo Tướng
Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu
của Ðức Phật này—Ðức Bảo Tướng Như Lai—bèn sanh lòng
cung kính, thì người ấy không bao lâu sẽ đắc quả A La Hán."
"Lại
vô lượng a-tăng-kỳ kiếp về thuở quá khứ, có đức Phật
ra đời hiệu là Ca Sa Tràng Như Lai." "Ca sa tràng" tức là dùng
áo cà-sa để làm tràng phan, cờ hiệu.
"Như
có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của Ðức
Phật này thì sẽ siêu thoát tội sanh tử trong một trăm đại
kiếp." Nếu có người nào được nghe tới tên của Ðức
Ca Sa Tràng Như Lai, thì người ấy sẽ được thoát khỏi tội
nặng sanh tử suốt trong một trăm đại kiếp.
Kinh
văn:
"Lại
về thuở quá khứ có đức Phật ra đời hiệu là Ðại Thông
Sơn Vương Như Lai. Như có người nam người nữ nào nghe đến
danh hiệu của Ðức Phật này, thì người ấy sẽ được
gặp chư Phật nhiều như cát sông Hằng quảng thuyết giáo
pháp cho và tất thành Ðạo Bồ Ðề.
Lại
về thuở quá khứ có Ðức Tịnh Nguyệt Phật, Ðức Sơn Vương
Phật, Ðức Trí Thắng Phật, Ðức Tịnh Danh Vương Phật,
Ðức Trí Thành Tựu Phật, Ðức Vô Thượng Phật, Ðức Diệu
Thanh Phật, Ðức Mãn Nguyệt Phật, Ðức Nguyệt Diện Phật,
và các đức Phật như thế không thể nói hết đươc. .
Bạch
Ðức Thế Tôn! Tất cả chúng sanh trong thời hiện tại cùng
vị lai, hoặc trời hoặc người, hoặc nam hoặc nữ, chỉ
niệm được danh hiệu của một đức Phật thôi, thì sẽ
được vô lượng công đức, huống là niệm được nhiều
danh hiệu! Những chúng sanh đó lúc sanh lúc tử đều được
lợi ích lớn lao, cuối cùng không phải đọa vào ác đạo.
Như
có người nào sắp mạng chung, hàng quyến thuộc trong nhà
dù chỉ một người, vì người bệnh đó mà cất cao tiếng
niệm một danh hiệu Phật, thì người sắp chết đó, trừ
năm tội Vô Gián, còn các nghiệp báo khác đều được tiêu
tan.
Năm
tội Vô Gián kia dầu rất nặng nề, trải qua ức kiếp không
được ra khỏi, nhưng nhờ lúc lâm chung được người khác
vì mình mà xưng niệm danh hiệu của Phật, cho nên những tội
đó cũng lần lần tiêu sạch; huống hồ chúng sanh tự xưng
tự niệm, tất sẽ được vô lượng phước báo, trừ diệt
vô lượng nghiệp tội."
Lược
giảng:
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát bạch tiếp: "Lại về thuở quá khứ có
đức Phật ra đời hiệu là Ðại Thông Sơn Vương Như Lai.
Như có người nam người nữ nào nghe đến danh hiệu của
Ðức Phật này, thì người ấy sẽ được gặp chư Phật
nhiều như cát sông Hằng quảng thuyết giáo pháp cho và tất
thành Ðạo Bồ Ðề."
Giả
sử có người nam người nữ nào nghe được danh hiệu của
Ðức Ðại Thông Sơn Vương Như Lai, thì người ấy sẽ được
gặp rất nhiều đức Phật—nhiều như số cát sông Hằng—và
các ngài sẽ rộng vì người ấy mà giảng nói vô số Pháp
tướng, trong tương lai người ấy nhất định sẽ thành tựu
được quả vị giác ngộ Bồ Ðề vô thượng.
"Lại
về thuở quá khứ có Ðức Tịnh Nguyệt Phật, Ðức Sơn Vương
Phật, Ðức Trí Thắng Phật, Ðức Tịnh Danh Vương Phật,
Ðức Trí Thành Tựu Phật, Ðức Vô Thượng Phật, Ðức Diệu
Thanh Phật, Ðức Mãn Nguyệt Phật, Ðức Nguyệt Diện Phật,
và các đức Phật như thế không thể nói hết đươc."
Trên đây chỉ nêu ra danh hiệu của vài đức Phật mà thôi,
chứ kỳ thật thì có tới rất nhiều đức Phật đến nỗi
không thể kể xiết.
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát lại bạch cùng Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni: "Bạch Ðức Thế Tôn! Tất cả chúng sanh trong thời hiện
tại cùng vị lai, hoặc trời hoặc người, hoặc nam hoặc
nữ, chỉ niệm được danh hiệu của một đức Phật thôi,
thì sẽ được vô lượng công đức, huống là niệm được
nhiều danh hiệu!" Trong đời này hay đời sau, nếu có bất
cứ chúng sanh nào ở cõi trời hoặc cõi người, không cần
phải niệm toàn bộ danh hiệu của các đức Phật mà chỉ
cần niệm danh hiệu của một đức Phật mà thôi, thì công
đức tạo được đã là vô lượng vô biên rồi, huống chi
là chúng sanh đó còn niệm được danh hiệu của nhiều đức
Phật khác nữa!
"Những
chúng sanh đó lúc sanh lúc tử đều được lợi ích lớn lao,
cuối cùng không phải đọa vào ác đạo—không bị đọa
vào địa ngục, không bị đọa làm ngạ quỷ, và cũng không
bị đọa làm súc sanh."
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát bạch tiếp: "Như có người nào sắp mạng
chung, hàng quyến thuộc trong nhà dù chỉ một người, vì người
bệnh đó mà cất cao tiếng niệm một danh hiệu Phật, thì
người sắp chết đó, trừ năm tội Vô Gián, còn các nghiệp
báo khác đều được tiêu tan. Năm tội Vô Gián kia dầu rất
nặng nề, trải qua ức kiếp không được ra khỏi, nhưng nhờ
lúc lâm chung được người khác vì mình mà xưng niệm danh
hiệu của Phật, cho nên những tội đó cũng lần lần tiêu
sạch; huống hồ chúng sanh tự xưng tự niệm, tất sẽ được
vô lượng phước báo, trừ diệt vô lượng nghiệp tội."
Dù
trong gia quyến chỉ có một người thay cho người bệnh đang
hấp hối kia mà lớn tiếng niệm một danh hiệu Phật, thì
ngay cả năm tội Vô Gián mà kẻ sắp chết đó trót tạo lúc
sinh thời cũng đều được tiêu trừ.
"Năm
tội Vô Gián" là những tội nặng nhất, đáng phải đọa
vào địa ngục Vô Gián trong vô lượng kiếp, không ngừng
chịu thống khổ, không bao giờ được thoát ra. Tuy nhiên,
nhờ lúc người đó sắp mạng chung được người khác thay
mặt mà xưng niệm danh hiệu Phật và tụng kinh giúp cho, nên
tất cả những nghiệp tội của người đó đều dần dần
được tiêu diệt. Vì thế, những chúng sanh có thể tự mình
xưng niệm danh hiệu Phật, tự mình đọc tụng kinh điển,
thì nhất định sẽ được vô lượng vô biên phước báo,
và tiêu trừ được vô lượng vô biên nghiệp tội.
Hết
phẩm thứ chín
-Hết
quyển trung-