Quyển
Trung
Phẩm
Thứ Bảy
LỢI
ÍCH CHO CẢ KẺ CÒN NGƯỜI MẤT
"Lợi
ích" ở đây là lợi ích gì? Ðó là sự lợi ích mà cả "kẻ
còn" cùng "người mất" đều được thọ hưởng. "Kẻ còn"
tức là người còn sống, và "người mất" tức là người
đã chết. Phẩm này mang lại sự lợi ích cho cả người sống
lẫn người chết. Ðối với người còn sống thì có được
những lợi ích như thế nào ư? Tất cả đều được giảng
giải rõ ràng trong phẩm thứ bảy này.
Kinh
văn:
Lúc
đó, Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch cùng Ðức Phật rằng:
"Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh trong cõi Diêm Phù,
cử tâm động niệm không chi là chẳng phải tội. Họ từ
bỏ những thiện lợi có được và phần nhiều thối thất
tâm tốt ban đầu, nếu gặp ác duyên thì niệm niệm tăng
trưởng. Những hạng người này như kẻ đi trong bùn lầy
mà còn mang đá nặng, nên càng khốn đốn, nặng thêm dần,
chân càng lún xuống sâu.
Nếu
được gặp hàng Tri Thức thì sẽ được gánh vác giùm bớt,
hoặc gánh hết cho. Vì hàng Tri Thức đó có sức rất mạnh,
lại dìu đỡ, khuyến khích làm cho mạnh chân lên. Nếu đến
chỗ đất bằng phẳng rồi, thì phải xét nghĩ đến con đường
hiểm xấu ấy, không đi vào đó nữa."
Lược
giảng:
Lúc
đó, khi nói phẩm thứ bảy "Lợi Ích Cho Cả Kẻ Còn Người
Mất" này, Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát bạch cùng Ðức Phật
rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh trong cõi
Diêm Phù, cử tâm động niệm không chi là chẳng phải tội."
"Cử
tâm động niệm" tức là trong lòng dấy khởi vọng tưởng,
tâm trí dao động xôn xao. "Cử" có nghĩa là dấy lên, làm
nổi dậy. Chúng sanh ở cõi Nam Diêm Phù Ðề thường khởi
những tâm niệm gì? Họ thường khởi tà niệm, dục niệm,
tham niệm! "Ðộng niệm" tức là sanh lòng ích kỷ, đố kỵ,
ganh ghét, chướng ngại.
Có
nhiều người hễ thấy ai hơn mình thì sanh lòng ganh ghét,
còn gặp kẻ thua mình thì lại có tâm coi thường. Bởi họ
cho rằng người ta rất ngu xuẩn, không giỏi giang tài trí
bằng họ, nên đem lòng khinh rẻ người ta; rồi đến khi gặp
người nào thông minh tài giỏi hơn họ thì họ lại sanh lòng
tỵ hiềm, ghen ghét. Quý vị xem, như thế thì phải làm sao?
Ðối
với kẻ ngu si kém cỏi thì quý vị chớ nên cất nhắc đề
bạt; và đối với người thông minh trí tuệ thì quý vị
cũng đừng ganh ghét tỵ hiềm. Ðáng lý ra, đối với những
kẻ u mê ngu tối thì chúng ta cần phải phát tâm giáo hóa,
giúp họ mở mang trí tuệ, khiến họ trở nên thông minh sáng
suốt mới đúng; tuy nhiên, phần nhiều chúng ta lại không
chịu làm như thế!
Cho
nên, chúng ta "cử tâm động niệm, không chi là chẳng phải
tội," đó cũng là vì chúng ta chưa phát khởi tâm Bồ Tát
vậy. Tâm lượng Bồ Tát là nếu có người nào hơn mình thì
mình càng vui mừng và càng kính trọng người ấy thêm, chứ
chẳng mảy may hờn ghen ganh tỵ; còn nếu có người nào kém
thua mình thì mình càng cần phải tìm cách để làm cho người
ấy được bằng mình—như thế mới là phát tâm của bậc
Bồ Tát. Song le, chúng sanh chúng ta chưa phát tâm Bồ Tát, do
đó "cử tâm động niệm," tất cả đều là tội lỗi.
"Họ,
các chúng sanh ấy, từ bỏ những thiện lợi có được và
phần nhiều thối thất tâm tốt ban đầu." "Từ bỏ những
thiện lợi có được" tức là vất bỏ những lợi ích tốt
lành mà mình đang sở hữu. Thí dụ, quý vị muốn gieo trồng
thiện căn nên sốt sắng làm việc thiện, nhưng lại làm không
được lâu dài; hoặc là chăm chỉ học Phật Pháp nhưng học
được một năm hoặc hai năm rồi thôi, không hăng hái học
nữa; hoặc là gặp một hoàn cảnh nào đó làm quý vị thối
thất Ðạo tâm—như thế là quý vị đã "từ bỏ những thiện
lợi có được" vậy.
Giả
sử có người, tâm nguyện lúc ban sơ là muốn học Phật Pháp,
muốn xuất gia đi tu; thế nhưng, xuất gia được một năm,
hai năm, rồi ba năm, lại nghĩ rằng: "Ôi! Xuất gia cũng chẳng
là gì cả, tu tới tu lui ròng rã đã ba năm trời mà vẫn chưa
thấy khai ngộ, chưa chứng quả vị, có lẽ là hết hy vọng
rồi!"; và thế là thối tâm nản chí, bèn hoàn tục, không
làm người xuất gia nữa.
Ðó
là nói về người xuất gia; còn người tại gia học Phật
Pháp thì sao? Có người trong một năm đầu thì cảm thấy
Phật ở ngay trước mặt mình, rất gần gũi với mình; học
được hai năm thì cảm thấy Phật ở cách xa mình tới mười
vạn tám ngàn dặm; và học được ba năm thì thế nào? Thì
cảm thấy "Phật đáo Tây Thiên," thấy Phật ở xa tít tận
chốn trời tây! Ðó gọi là "thối thất sơ tâm." Có câu:
“Học
Đạo đừng mất tâm nguyện ban đầu, sẽ sớm thành Phật.”
(Học
Ðạo bất phụ sơ tâm, thành Phật hữu dư.)
Trong
việc tu hành, nếu quý vị có thể không đánh mất tâm nguyện
ban đầu của mình, như muốn học Phật Pháp hoặc muốn xuất
gia, thì sẽ sớm được thành Phật!
Người
xuất gia chúng ta phải thường xuyên tự hỏi chính mình: "Vì
sao mình muốn xuất gia?"; bởi người xuất gia thì phải khác
với người tại gia, khác như thế nào? Ví dụ, người tại
gia suốt ngày thích tỉ tê chuyện trò, nói chuyện phiếm;
người xuất gia thì trái lại, cần phải nói ít lại, bớt
nói chuyện—nếu là những lời có ích, hữu dụng thì nói
được; bằng không thì chớ nên nói nhiều. Có câu:
“Mở
miệng, tổn thần khí
Nói
nhiều, sanh thị phi.”
(Khẩu
khai, thần khí tán,
Thiệt
động, thị phi sanh.)
Chúng
ta hễ mở miệng là thần khí liền phân tán, thần hao khí
tổn; nói nhiều thì lại sanh thị phi, lôi thôi lắm chuyện,
không "thị" thì cũng "phi," chẳng "phải" thì cũng "quấy."
Một khi đã có "thị phi" thì sẽ không tương ưng với Ðạo;
mà thần khí bị phân tán thì đối với Ðạo cũng chẳng
thể tương ưng. Cho nên, chúng ta tu Ðạo thì phải luôn luôn
tự kiểm điểm chính mình. Ðừng soi mói chuyện của người
khác, chỉ cần tự mình tu tâm dưỡng tánh cho hoàn hảo—như
thế gọi là không "thối thất sơ tâm." Nói tóm lại, nếu
ban đầu thì phát lời thệ nguyện rất kiên cố, rất thành
khẩn, nhưng được một thời gian thì trở nên lơ là xao lãng,
rồi dần dần quên bẵng đi, thì đó chính là "thối thất
sơ tâm" vậy.
"Nếu
gặp ác duyên thì niệm niệm tăng trưởng." Nếu các chúng
sanh đang thối thất sơ tâm mà gặp phải nhân duyên xấu ác,
quý vị nói xem, thì sẽ thế nào? Thì họ chẳng những không
lùi bước trước ác duyên mà còn mỗi niệm mỗi gia tăng,
ác duyên càng lúc càng lấn lướt, lớn mạnh. Tôi gặp rất
nhiều người ban đầu tu hành hết sức thành tâm tinh tấn,
về sau gặp phải ma cảnh rồi bị "chuyển" theo ma quỷ; đây
là trường hợp gặp phải ác duyên vậy. Nói chung, những
việc không tương ưng với Ðạo, khiến cho quý vị không thể
tu tập, đều gọi là "ác duyên," hay duyên sự chẳng lành.
"Tăng
trưởng" chính là "tăng ích"—có nghĩa là càng ngày càng nhiều
hơn, mỗi lúc mỗi lớn mạnh hơn. Chúng ta tu hành thì cần
phải "tu tập" tâm Bồ Ðề lại, khiến cho tâm Bồ Ðề của
mình mỗi ngày mỗi gia tăng; đó gọi là "tăng ích." Nếu tâm
Bồ Ðề của quý vị cứ mỗi ngày mỗi sút giảm, ít dần
đi, thì gọi là "táng thất" (đánh mất). Thế nhưng tâm Bồ
Ðề của chúng ta thông thường không phải mỗi lúc một gia
tăng, trong khi đó, những ác duyên mà chúng ta gặp phải thì
càng ngày lại càng nhiều thêm.
"Những
hạng người này như kẻ đi trong bùn lầy mà còn mang đá
nặng." Ở đây, Ðịa Tạng Vương Bồ Tát đưa ra một tỷ
dụ. Thí dụ có một người đang đi trên đường thì gặp
phải vũng bùn lầy lội chắn mất lối đi. Lội qua vũng bùn
thì cũng chưa đến nỗi nào, nhưng người này còn phải vác
một tảng đá nặng trên lưng nữa.
"Ðá
nặng," chữ Hán là "trọng thạch"; chữ "thạch" này còn có
thể hiểu là thạch, một đơn vị đo lường dung tích của
người Trung Hoa (một thạch tương đương với một trăm lít,
hoặc mười đấu). Do đó, "trọng thạch" có thể hiểu là
"đá nặng," đồng thời cũng có thể hiểu là "vật rất nặng."
Vậy,
giả sử có người đã mang trên lưng những vật rất nặng
(chừng một trăm cân hoặc hai trăm pounds chẳng hạn), mà còn
phải lội qua bùn lầy nữa. Người ấy, hễ cứ nhấc được
chân này lên thì chân kia lại lún xuống, rút được chân
kia lên thì chân này bị lún xuống trở lại, cho nên tới
lui đều trở ngại, vô cùng khó khăn vất vả—đó gọi là
"sa lầy." Trong hoàn cảnh này, người ấy nếu không mang đồ
vật nặng nề thì còn có thể gắng gượng lội qua được
bãi lầy, nhưng nay còn phải vác thêm vật nặng trên người
nữa, "nên càng khốn đốn, nặng thêm dần, chân càng lún
xuống sâu."
"Vật
nặng" này là dụ cho cái gì? Chính là ác nghiệp của chúng
ta. Còn "bùn lầy" thì sao? "Bùn lầy" tiêu biểu cho ba đường
ác—địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Trong
chốn bùn sình lầy lội, mỗi bước là mỗi khó khăn gian
khổ, và gánh nặng trên lưng như càng lúc càng đè nặng thêm,
khiến chân càng lúc càng lún sâu hơn; quý vị nghĩ xem, làm
thế nào bây giờ?
"Nếu
được gặp hàng Tri Thức ..." Giả sử kẻ đang vác nặng
lội đi trong bùn ấy may mắn gặp được bậc Thiện Tri Thức
như chư Phật, chư Bồ Tát, hoặc người có đại trí huệ
chẳng hạn; thì sẽ như thế nào? "Thì sẽ được gánh vác
giùm bớt, hoặc gánh hết cho." Vì phải mang vác nặng nề
nên người ấy càng lúc càng bị sa lầy sâu hơn, không thể
tự mình lội ra được; chỉ có hàng Thiện Tri Thức mới
có năng lực gánh bớt giùm người ấy một phần hay một
nửa, hoặc nguyên cả gánh nặng đó.
"Vì
hàng Tri Thức đó có sức rất mạnh, lại dìu đỡ, khuyến
khích làm cho mạnh chân lên." Bậc Thiện Tri Thức có sức
lực mạnh mẽ, có thể nâng đỡ dìu dắt và chỉ bày cho
kẻ gánh nặng đang đi trong bùn đó cách thoát ra khỏi vũng
bùn. Chẳng những thế, các bậc Thiện Tri Thức còn khuyên
bảo, nhắc nhở: "Hãy cẩn thận, nhớ đi đứng phải cho vững
vàng một chút!"; khiến cho kẻ ấy mạnh chân vững lòng mà
đi tiếp.
"Nếu
đến chỗ đất bằng phẳng rồi, thì phải xét nghĩ đến
con đường hiểm xấu ấy, không đi vào đó nữa." Một khi
đã ra khỏi nơi bùn lầy và đến được chỗ đất bằng
phẳng rồi, thì quý vị phải giác ngộ, phải biết rằng
con đường mình vừa vượt qua ban nãy là một con đường
hiểm trở, đầy bất trắc. Biết được như thế rồi thì
từ nay chớ lội đi trong bùn sình, chớ dại dột mà dấn
thân vào hiểm lộ thêm lần nữa!
Kinh
văn:
"Bạch
Ðức Thế Tôn! Những chúng sanh tập khí xấu ác, bắt đầu
từ mảy mún rồi lần đến nhiều vô lượng.
Ðến
khi những chúng sanh có tập khí như thế sắp sửa mạng chung,
thì cha mẹ cùng quyến thuộc nên vì họ mà tạo phước đức,
để giúp cho lộ trình phía trước của họ. Hoặc treo phan
lọng và thắp đèn dầu, hoặc chuyển đọc tôn kinh, hoặc
cúng dường tượng Phật cùng tượng của chư Thánh, cho đến
niệm danh hiệu của Phật, Bồ Tát cùng Bích Chi Phật, làm
cho mỗi danh mỗi hiệu đều thấu vào nhĩ căn của người
sắp mạng chung, hoặc nơi bổn thức nghe biết.
Các
chúng sanh đó, cứ theo nghiệp ác đã gây tạo mà suy lường
quả báo chiêu cảm, tất phải đọa vào ác đạo; song nhờ
quyến thuộc vì kẻ lâm chung mà tu nhân Thánh này, các tội
đó thảy đều tiêu sạch.
Như
sau khi người ấy đã chết, nếu lại có thể trong bốn mươi
chín ngày vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành, thì
có thể làm cho người chết đó vĩnh viễn xa lìa chốn ác
đạo, được sanh vào cõi trời hoặc cõi người, hưởng sự
vui thù thắng vi diệu; quyến thuộc hiện tại cũng được
vô lượng lợi ích."
Lược
giảng:
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát lại bạch cùng Ðức Phật rằng: "Bạch
Ðức Thế Tôn! Những chúng sanh tập khí xấu ác, bắt đầu
từ mảy mún rồi lần đến nhiều vô lượng." Những chúng
sanh tập tành theo thói ác đều bắt đầu từ cái ác nhỏ
nhất, ít xấu ác nhất, rồi tích tụ lại dần mà thành ra
nhiều đến vô lượng vô biên.
"Ðến
khi những chúng sanh có tập khí như thế sắp sửa mạng chung,
thì cha mẹ cùng quyến thuộc nên vì họ mà tạo phước đức,
để giúp cho lộ trình phía trước của họ." Giả sử những
chúng sanh có thói quen xấu ác này hấp hối sắp chết, thì
cha mẹ hay những người thân thuộc của họ nên làm các việc
phước đức để trợ giúp cho họ trên "tiền lộ," tức là
con đường trước mắt mà họ sắp phải đi theo. Cho dù phải
đi theo con đường dẫn đến địa ngục hoặc thác sanh trở
lại làm người, thì họ cũng đều được hưởng sự lợi
ích từ các việc phước đức ấy. Ðó chính là "giúp cho
lộ trình phía trước" của kẻ lâm chung vậy.
"Hoặc
treo phan lọng và thắp đèn dầu, hoặc chuyển đọc tôn kinh,
hoặc cúng dường tượng Phật cùng tượng của chư Thánh,
cho đến niệm danh hiệu của Phật, Bồ Tát cùng Bích Chi Phật."
Thân nhân của người đang hấp hối có thể tạo phước đức
giúp người ấy bằng cách làm những việc như treo tràng phan
bảo cái, thắp đèn ở nơi thờ Phật; hoặc đọc tụng Kinh
Ðịa Tạng, Kinh Kim Cang hay những kinh điển Ðại Thừa khác;
hoặc sắm sửa phẩm vật cúng dường trước tượng Phật,
tượng Bồ Tát hoặc tượng của các vị A La Hán ... đều
được cả. Thêm vào đó, họ cũng có thể trì niệm danh hiệu
của chư Phật, danh hiệu của chư Bồ Tát, hoặc danh hiệu
của chư Bích Chi Phật (Bích Chi Phật tức là bậc Duyên Giác).
Khi
niệm, cần phải "làm cho mỗi danh mỗi hiệu đều thấu vào
nhĩ căn của người sắp mạng chung, hoặc nơi bổn thức nghe
biết." Lúc gia quyến hoặc bạn bè tụng niệm thì phải niệm
sao cho kẻ đang hấp hối nghe được rành rẽ từng danh hiệu
của Phật, Bồ Tát hay Bích Chi Phật; hoặc là trước khi người
ấy chết, lúc thần thức chưa phân tán hết, phải khiến
cho người ấy nghe hiểu được rõ ràng.
"Bổn
thức" hay "thần thức," là chỉ cho Thức Thứ Tám (đệ bát
thức). Thức Thứ Tám này thì "khứ hậu lai tiên," đến trước
nhưng lại đi sau; do đó có bài kệ nói rằng:
Tam
Tàng mênh mông không cùng tận,
Vực
sâu bảy sóng đùa trước gió,
Giữ
gìn chủng tử căn thân khí,
"Ðến
trước đi sau," làm "ông chủ"!
(Hạo
hạo Tam Tàng bất khả cùng,
Uyên
thâm thất lãng cảnh tiền phong,
Thọ
huân trì chủng căn thân khí,
Khứ
hậu lai tiên tác chủ ông.)
“Tam
Tàng mênh mông không cùng tận”,(Hạo hạo Tam Tàng bất khả
cùng.) "Hạo hạo" có nghĩa là rộng lớn, mênh mông. "Tam
Tàng" là chỉ cho Thức Thứ Tám—tức là A-lại-da thức, hay
còn gọi là "tàng thức" (thức chứa). Vì sao gọi là "Tam Tàng"?
"Tam Tàng" ngụ ý rằng các chủng tử của ba đời —quá khứ,
hiện tại và vị lai—đều được tàng trữ, giữ lại trong
Thức Thứ Tám này. Các chủng tử ấy—niệm tâm của chúng
ta—ví như những đợt sóng trên biển cả vậy, vô cùng vô
tận, nên nói là "bất khả cùng."
“Vực
sâu bảy sóng đùa trước gió " (Uyên thâm thất lãng cảnh
tiền phong) " bảy sóng” (thất lãng) là chỉ cho Thức
Thứ Bảy. Thức Thứ Bảy còn được gọi là "truyền tống
thức," vì thức này có chức năng chuyển đạt ý tứ của
sáu thức trước tới cho Thức Thứ Tám. "cảnh trước gió”
(cảnh tiền phong)—tức là giống như ngọn gió từ phía trước
thổi tới.
“Giữ
gìn chủng tử căn thân khí " (Thọ huân trì chủng căn thân
khí") Do vì Thức Thứ Tám nhận sự "truyền tống," chuyển
giao ý tứ từ Thức Thứ Bảy, nên gọi là "giữ “ (thọ
huân.) "gìn chủng tử” (trì chủng) có nghĩa là gìn giữ
các chủng tử ở bên trong. "Căn thân khí" tức là "căn thân
khí giới" đều ở trong các chủng tử đó. Thức Thứ Tám
có công năng duy trì chủng tử của tất cả các pháp, thân
căn, thế giới.
"Ðến
trước đi sau," làm "ông chủ"! (Khứ hậu lai tiên tác chủ
ông). Con người, khi sanh ra thì Thức Thứ Tám đến trước
nhất, và lúc chết thì Thức Thứ Tám là thức đi sau cùng.
Quý vị khởi vọng tưởng muốn làm điều gì thì đều do
Thức Thứ Tám làm chủ tể ủng hộ, trợ giúp; cho nên nói
thức này là "Ðến trước đi sau," làm "ông chủ"!
Trong
phần kinh văn này, "bổn thức" là chỉ cho Thức Thứ Tám.
Khi vừa mới chết, tuy các thức đã phân tán, đã rời khỏi
xác thân rồi—nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức,
thân thức, ý thức đều không còn—song Thức Thứ Tám thì
vẫn còn nán lại, chưa đi hẳn. Ngay lúc này, nếu quý vị
vì người chết mà tụng Kinh niệm Phật hoặc làm việc công
đức, thì phải lớn tiếng tụng niệm và kể ra để cho Thức
Thứ Tám của người ấy nghe biết—đó gọi là "nơi bổn
thức nghe biết" (văn tại bổn thức) vậy.
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát nói tiếp: "Các chúng sanh đó, cứ theo
nghiệp ác đã gây tạo mà suy lường quả báo chiêu cảm,
tất phải đọa vào ác đạo. Nếu căn cứ theo nghiệp ác
đã tạo tác lúc còn sống mà suy xét, thì những chúng sanh
đó đáng lẽ phải chịu quả báo đọa lạc trong ba đường
ác; song nhờ quyến thuộc vì kẻ lâm chung mà tu nhân Thánh
này, gieo trồng nhân duyên Thánh Ðạo, chăm làm các thiện
sự, cho nên các tội đó thảy đều tiêu sạch, chẳng còn
thừa sót."
"Như
sau khi người ấy đã chết, nếu lại có thể trong bốn mươi
chín ngày vì người ấy mà tu tạo nhiều phước lành ..."
Giả sử nội trong bốn mươi chín ngày sau khi chết, nếu thân
quyến lại có thể vì người mới qua đời mà làm nhiều
thiện sự, "thì có thể làm cho người chết đó vĩnh viễn
xa lìa chốn ác đạo, thoát khỏi cái khổ trong địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh, và được sanh vào cõi trời hoặc cõi
người, hưởng sự vui thù thắng vi diệu."
Trong
vòng bốn mươi chín ngày—bảy thất—sau khi chết, thì tại
địa ngục vẫn còn đang thẩm xét, chưa quyết định tội
trạng của người mới qua đời; cho nên trong suốt kỳ hạn
đó, nếu thân nhân có thể làm nhiều việc thiện để hồi
hướng cho, thì người ấy sẽ được rất nhiều lợi ích.
"Quyến
thuộc hiện tại cũng được vô lượng lợi ích." Nếu thân
nhân quyến thuộc có thể vì kẻ lâm chung mà niệm danh hiệu
Phật, danh hiệu Bồ Tát—Nam mô Ðịa Tạng Vương Bồ Tát—danh
hiệu của bậc A La Hán hoặc Bích Chi Phật, hoặc tụng đọc
các kinh điển, thì không những người ấy được hưởng
sự an vui đặc biệt vô cùng vi diệu, mà đồng thời, các
quyến thuộc còn sống cũng được vô lượng vô biên sự
lợi ích!
Kinh
văn:
"Vì
lẽ đó nên nay con đối trước Ðức Phật Thế Tôn, cùng
Thiên Long Bát Bộ, nhân và phi nhân v.v... mà khuyên bảo các
chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề: Vào ngày lâm chung, cần phải
cẩn thận, chớ giết hại và chớ gây tạo ác duyên, cũng
đừng bái tế quỷ thần, cầu xin vọng lượng.
Vì
sao thế? Vì việc sát hại cho đến tế bái đó không có mảy
may năng lực lợi ích cho người mất, mà chỉ kết thêm tội
duyên, làm cho thâm trọng hơn thôi.
Giả
sử người chết đó, trong đời vị lai hoặc hiện tại sanh,
đắc được phần Thánh Quả, sẽ sanh vào cõi trời, cõi người;
nhưng vì lúc lâm chung bị hàng quyến thuộc gây tạo ác nhân,
làm cho người chết cũng mắc lấy ương lụy, phải đối
biện, chậm sanh vào chốn tốt lành.
Huống
chi là người sắp chết lúc sống chưa từng có chút thiện
căn, phải y theo bổn nghiệp mà tự đọa ác đạo! Hàng quyến
thuộc nỡ nào làm tăng nghiệp tội của người ấy?!
Ví
như có người từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đã ba ngày,
lại vác theo đồ vật nặng hơn trăm cân, bỗng gặp kẻ lân
cận gởi ít món đồ nữa, vì thế mà càng khốn đốn, nặng
nề thêm."
Lược
giảng:
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát lại bạch tiếp: "Vì lẽ đó nên nay con
đối trước Ðức Phật Thế Tôn, cùng Thiên Long Bát Boä—
Trời, Rồng, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lầu La, Khẩn
Na La, Ma Hầu La Già—nhân và phi nhân v.v... mà khuyên bảo
các chúng sanh trong cõi Diêm Phù Ðề, vào ngày lâm chung, cần
phải cẩn thận, chớ giết hại và chớ gây tạo ác duyên,
đừng gây ra những nghiệp duyên chẳng lành, cũng đừng bái
tế quỷ thần, cầu xin vọng lượng, cũng không nên tế lễ
cầu xin nơi những quỷ thần, ngoại đạo, cùng tất cả sơn
yêu thủy quái." (Vọng lượng là thuộc loài sơn tinh thủy
quái.)
Giảng
đến đây, tôi nhớ có một bài kệ nói rằng:
Có
người mê muội chẳng an khang,
Hứa
giết heo dê tế quỷ thần,
Oan
nghiệp sát sanh bao đời trước,
Khác
nào trên tuyết phủ thêm sương?
Chớ
tưởng heo dê thú vật mãi,
Hình
dung biến đổi đã muôn lần,
Luân
hồi xoay chuyển vay rồi trả,
Ðất
trời lồng lộng trốn được đâu!
( Hữu
đẳng mê nhân bất an khang,
Ðối
thần kỳ hứa tái trư dương,
Sát
sanh oan nghiệp tiền sanh sự,
Như
hà tuyết thượng hựu gia sương?
Hưu
vật nhận định thị trư dương,
Cải
đầu hoán diện kỷ thiên trường,
Như
xa luân chuyển tương hoàn báo,
Vân
hải đằng không vô xứ tàng!)
“Có
người mê muội chẳng an khang,” (Hữu đẳng mê nhân bất
an khang). Ở đây, "chẳng an khang" tức là bất ổn, không ổn
thỏa, làm không được tốt.
“Hứa
giết heo dê tế quỷ thần,” (Ðối thần kỳ hứa tái trư
dương). Ở Trung Hoa có một phong tục sai lầm mà chúng ta không
hề thấy xảy ra ở các nước phương Tây. Người Trung Hoa
thường gọi việc tang ma cho người chết là "bạch sự" (việc
trắng), còn việc kết hôn là "hồng sự" (việc đỏ). "Bạch
sự" tức là "tang sự," là chuyện buồn; "hồng sự" thì là
"hỷ sự," là chuyện vui. Bất luận là trong nhà gặp phải
tang sự hay hỷ sự, người ta đều giết heo giết dê để
cúng tế quỷ thần; hoặc muốn cầu xin thần linh việc gì
đó, họ cũng đem gà đem vịt đến tế lễ. Quý vị chưa
thấy cảnh người ta đem gà đến các nơi như miếu Thành
Hoàng để cúng tế sao? Hạng người này chính là " mê muội
chẳng an khang "—do mê tín, chẳng hiểu quy củ phép tắc nên
không thấy "an khang," và vì thế mà làm việc gì cũng không
thỏa đáng, không hợp lý cả!
Vậy,
những kẻ ngu muội mê tín đó đến trước tượng của thần
linh mà vái van cầu khẩn: "Xin Ngài phù hộ cho cha (hoặc mẹ,
hoặc anh, hoặc em...) của con sau khi chết không bị đọa địa
ngục; được vậy thì vài hôm nữa con sẽ giết heo, giết
dê và đem đến cúng tế cho Ngài, để Ngài thọ dụng." Họ
đem heo đem dê tới để "đánh bạc" với quỷ thần!
"Oan
nghiệp sát sanh bao đời trước” (Sát sanh oan nghiệp tiền
sanh sự") . "Sát sanh" là một thứ nghiệp oán thù. Ðời trước,
quý vị đã có sát sanh, đã từng gây tạo oan nghiệp; nay
trong đời hiện tại nếu quý vị lại tiếp tục sát sanh
nữa, thì thế nào? Thì chẳng khác nào trên tuyết lại phủ
thêm một lớp sương nữa vậy!
“Khác
nào trên tuyết phủ thêm sương?” (Như hà tuyết thượng
hựu gia sương?") Có tuyết xuống thì trời đã rét lạnh rồi,
thế mà bây giờ lại thêm một lớp sương nữa, thì thời
tiết lại càng băng giá, rét lạnh thêm nhiều; tương tự
như thế, đời trước quý vị đã từng gây oan nghiệp rồi,
nay lại tiếp tục tạo tội thì oan nghiệp lại càng chồng
chất thêm vậy.
“Chớ
tưởng heo dê thú vật mãi,” (Hưu vật nhận định thị trư
dương) . Quý vị chớ nên cố chấp, khăng khăng cho rằng loài
vật muôn kiếp vẫn là loài vật, đừng tưởng rằng heo mãi
mãi là heo và dê mãi mãi vẫn là dê!
“Hình
dung biến đổi đã muôn lần,” (Cải đầu hoán diện kỷ
thiên trường) . Con người có thể đầu thai làm heo, và heo
cũng có thể thác sanh làm người.
Quý
vị có nhận thấy không? Dân tộc nào thích ăn thịt heo thì
dân tộc đó đều có vẻ hao hao giống heo; quốc gia nào thích
ăn thịt bò thì dân chúng trong quốc gia đó đều có cặp
mắt từa tựa như mắt bò. Có nơi thì dân chúng đều không
thích thịt heo hay thịt dê, mà chỉ thích ăn ếch nhái
nên toàn quốc ai nấy đều có cặp mắt tương tự như mắt
ếch vậy. Nói tóm lại, người dân của một nước mà thích
ăn thịt của loài động vật nào, thì dân chúng trong nước
đều có những nét đặc trưng giống loài động vật đó;
cho nên, mỗi quốc gia đều có một chủng loại riêng biệt!
“Luân
hồi xoay chuyển vay rồi trả,” (Như xa luân chuyển tương
hoàn báo). Chúng ta vẫn như cái bánh xe, cứ tiếp tục lăn
chuyển, tuần hoàn vay trả.
Trong
Kinh Lăng Nghiêm có chép rằng: "Dương phục vi nhân," có nghĩa
là "dê lại làm người." Dê có thể làm người, thế thì
heo không thể làm người sao? Chẳng những heo, dê có thể
làm người, mà bất cứ sinh vật nào cũng đều có thể làm
người được cả; đó chẳng qua chỉ là một sự "đổi xác"
mà thôi. Một khi đã thay đổi thể xác rồi, thì quý vị
sẽ không thể nhận ra được nữa. Linh tánh từ thân người
có thể "dọn" sang thân heo, và linh tánh từ thân heo cũng có
thể "dọn" sang thân người—người và vật đều có thể
hỗ tương "dọn nhà" như thế. Hiện tại chúng ta được làm
người, thì có thể ví như chúng ta đang ở nơi nhà cao cửa
rộng; và đến khi chúng ta chạy vào con đường làm heo làm
dê, thì chẳng khác nào đang từ nhà cao cửa rộng mà dọn
sang nhà tranh vách đất, hoặc một nơi tồi tàn lụp xụp
nhất để ở vậy; cho nên nói "như xa luân chuyển tương hoàn
báo."
“Ðất
trời lồng lộng trốn được đâu!” (Vân hải đằng
không vô xứ tàng) . Kẻ không hiểu rõ thì cho rằng chúng
sanh là mỗi loài mỗi khác; còn người đã đắc Túc Mạng
Thông thì biết rằng giữa con người và các loài chúng sanh
có một mối quan hệ liên đới. Trong âm thầm lặng lẽ, và
cho dù ở những nơi mà con người không nhìn thấy được,
như ngoài biển cả hoặc trong hư không, chẳng ai trốn thoát
được nhân quả, mà cũng chẳng có chỗ nào để ẩn thân
hầu trốn tránh nhân quả được cả! Luật Nhân Quả vĩnh
viễn tồn tại trong khắp cõi hư không, thái không. Bởi "gieo
nhân nào thì gặt quả nấy," cho nên nếu sát sanh thì phải
chịu sự báo ứng của sát sanh. Quý vị gây tạo bất cứ
nghiệp gì thì nghiệp đó đều tồn tại và chiêu cảm sự
báo ứng; vì vậy không nên cầu xin nơi loài vọng lượng
hoặc yêu tinh quỷ thần.
Bấy
giờ, Ðịa Tạng Vương Bồ Tát nói tiếp: "Vì sao thế? Vì
việc sát hại cho đến tế bái đó không có mảy may năng
lực lợi ích cho người mất." Việc hàng quyến thuộc của
người chết giết heo giết dê để cúng tế các ác quỷ tà
thần, chẳng mang lại chút năng lực nào có thể trợ giúp
hoặc làm lợi ích cho người ấy cả; "mà chỉ kết thêm tội
duyên, làm cho thâm trọng hơn thôi!" Việc sát sanh và tế lễ
đó chỉ khiến cho tội chướng của người chết càng sâu
nặng thêm mà thôi!
"Giả
sử người chết đó, trong đời vị lai hoặc hiện tại sanh,
đắc được phần Thánh Quả, sẽ sanh vào cõi trời, cõi người."
Người ấy đã từng làm những việc công đức nên được
phước báo, đáng được sanh vào cõi người hoặc cõi trời.
"Nhưng
vì lúc lâm chung bị hàng quyến thuộc gây tạo ác nhân, gieo
trồng ác nghiệp, làm cho người chết cũng mắc lấy ương
lụy, phải đối biện."
"Ương
lụy" tức là liên lụy, ảnh hưởng, làm cho kết quả trở
thành không tốt đẹp.
Ở
đây, "đối biện" tức là đối chất biện luận với Diêm
La Vương. Ví dụ, Diêm La Vương có thể phán bảo: "Hiện nay
người nhà của ông đã vì ông mà giết rất nhiều heo để
cúng tế quỷ thần rồi đấy!"
Bấy
giờ, người chết kia hẳn sẽ tự bào chữa: "Việc đó không
liên quan gì tới tôi cả. Tôi nào có bảo họ giết heo giết
bò gì đâu! Ðó là họ tự ý làm, tôi làm sao ngăn cản họ
được!" Ðáng tiếc là ở địa ngục không có luật sư biện
hộ, thành ra tự mình phải bào chữa cho mình vậy!
"Chậm
sanh vào chốn tốt lành." Lẽ ra, người ấy đáng được sanh
lên cõi trời sớm hơn, nhưng vì còn phải mất thì giờ để
biện luận, nên việc vãng sanh bị chậm trễ rất nhiều.
"Huống
chi là người sắp chết lúc sống chưa từng có chút thiện
căn, phải y theo bổn nghiệp mà tự đọa ác đạo! Hàng quyến
thuộc nỡ nào làm tăng nghiệp tội của người ấy?!" Trong
trường hợp kẻ lâm chung trước kia chưa từng tạo được
chút phước lành nào cả, thì căn cứ theo ác nghiệp đã gây
ra, kẻ ấy phải đọa vào đường ác; thế thì, những bà
con thân thích sao còn nhẫn tâm làm cho nghiệp tội của người
đó nặng nề thêm? Cho nên, quý vị đừng vì người chết
mà sát sanh, hoặc làm những việc tàn ác; mà hãy ăn chay,
niệm Phật, tụng Kinh hồi hướng cho họ.
Ở
đây có một tỷ dụ; tỷ dụ như thế nào? "Ví như có người
từ xứ xa đến, tuyệt lương thực đã ba ngày. Ðã ba hôm
rồi người ấy chưa được ăn uống gì cả, thế mà lại
vác theo đồ vật nặng hơn trăm cân. Ðã vậy, người đó
bỗng gặp kẻ lân cận gởi ít món đồ nữa, vì thế mà
càng khốn đốn, nặng nề thêm."
Tỷ
dụ này ngụ ý rằng người đó vốn đã có tội rồi, lẽ
ra hàng quyến thuộc nên vì người đó mà làm việc phước
thiện hầu giảm bớt nghiệp tội; thế nhưng họ chẳng những
không làm việc phước lành, mà còn nhân danh người đó để
giết hại chúng sanh nữa!
Trong
tỷ dụ trên, người từ xứ xa đến nọ vốn đã ba ngày
trời không ăn không uống, trên lưng lại phải vác đồ rất
nặng, cho nên đã kiệt sức, đi không muốn nổi rồi; thế
mà hàng xóm lân cận lại còn gởi thêm vài món đồ nữa,
vì vậy càng nặng và vất vả hơn trước nhiều. Ðiều này
biểu thị cho việc người đó vốn đáng tội phải đọa
địa ngục rồi, quý vị lại còn vì người đó mà sát sanh
hại vật, gây thêm tội lỗi nữa, cho nên thời gian người
đó phải ở trong địa ngục càng lâu dài hơn; vì thế mà
nói là "càng khốn đốn, nặng nề thêm."
Trong
tỷ dụ trên, "đồ vật nặng" là dụ cho Ngũ Uẩn; "nặng
hơn trăm cân" là dụ cho Thập Ác; "kẻ lân cận" là chỉ cho
gia quyến của người chết; "gởi ít món đồ nữa" là chỉ
cho việc quyến thuộc vì người chết mà giết hại heo dê,
làm cho nghiệp tội của người đó càng thâm trọng thêm.
Kinh
văn:
"Bạch
Ðức Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh cõi Diêm Phù Ðề, ở
trong giáo pháp của chư Phật, nếu có thể làm thiện sự
chừng bằng một sợi lông, một giọt nước, một hạt cát,
một mảy bụi, thì tất cả đều tự mình được sự lợi
ích."
Nói
lời như thế xong, trong Pháp Hội có một vị Trưởng Giả
tên là Ðại Biện, ông Trưởng Giả này từ lâu đã chứng
Vô Sanh, hiện thân Trưởng Giả để hóa độ thập phương,
...
Lược
giảng:
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát bạch với Ðức Phật rằng: "Bạch Ðức
Thế Tôn! Con xem xét chúng sanh cõi Diêm Phù Ðề, ở trong giáo
pháp của chư Phật, nếu có thể làm thiện sự chừng bằng
một sợi lông, một giọt nước, một hạt cát, một mảy
bụi, thì tất cả đều tự mình được sự lợi ích." Chỉ
cần họ có thể ở trong Phật Giáo thì việc thiện họ làm
được dù lớn dù nhỏ cũng đều tạo được công đức,
và hết thảy công đức đó đều là của họ, hoàn toàn thuộc
về họ.
Khi
Ðịa Tạng Vương Bồ Tát nói lời như thế xong, trong Pháp
Hội có một vị Trưởng Giả tên là Ðại Biện ... Vị Trưởng
Giả giàu có này có đầy đủ bốn loại vô ngại biện tài
(Tứ Vô Ngại Biện)—Nghĩa Vô Ngại Biện, Pháp Vô Ngại Biện,
Từ Vô Ngại Biện, Nhạo Thuyết Vô Ngại Biện.
Ông
Trưởng Giả này từ lâu đã chứng Vô Sanh. Từ thuở lâu
xa về trước, Trưởng Giả Ðại Biện đã chứng đắc Vô
Sanh Pháp Nhẫn và đạt đến quả vị Niết Bàn; nay ông hiện
thân Trưởng Giả để hóa độ thập phương. Vì muốn giáo
hóa, độ thoát tất cả chúng sanh trong khắp mười phương,
nên ông hiện thân làm một vị đại phú Trưởng Giả.
Kinh
văn:
...
chắp tay cung kính hỏi Ðịa Tạng Bồ Tát rằng: "Thưa Ðại
Sĩ! Trong cõi Nam Diêm Phù Ðề có chúng sanh nào sau khi mạng
chung mà hàng quyến thuộc kẻ lớn người nhỏ, đều vì người
chết đó mà tu công đức, cho đến thiết trai, tạo những
thiện nhân, thì người chết đó có được lợi ích lớn
và được giải thoát chăng?"
Ðịa
Tạng Bồ Tát đáp rằng: "Này ông Trưởng Giả! Nay tôi vì
tất cả chúng sanh trong hiện tại cùng vị lai, nương oai lực
của Ðức Phật mà lược nói về việc đó.
Này
ông Trưởng Giả! Những chúng sanh ở hiện tại hay vị lai,
lúc sắp mạng chung mà nghe được danh hiệu của một đức
Phật, danh hiệu của một vị Bồ Tát, danh hiệu của một
vị Bích Chi Phật, thì bất luận là có tội hay không tội,
thảy đều được giải thoát cả."
Lược
giảng:
Ông
Trưởng Giả Ðại Biện bấy giờ chắp tay cung kính hỏi Ðịa
Tạng Bồ Tát rằng: "Thưa Ðại Sĩ! Trong cõi Nam Diêm Phù Ðề
có chúng sanh nào sau khi mạng chung mà hàng quyến thuộc kẻ
lớn người nhỏ, đều vì người chết đó mà tu công đức,
cho đến thiết trai, làm cơm chay để cúng dường Tam Bảo,
tạo những thiện nhân, gieo trồng những chủng tử thiện
lành, thì người chết đó có được lợi ích lớn và được
giải thoát chăng? Chẳng hay người chết đó có thể đạt
được sự lợi ích to lớn, hoặc có thể thoát khỏi mọi
nghiệp tội hay không?"
Ðịa
Tạng Bồ Tát đáp rằng: "Này ông Trưởng Giả! Nay tôi vì
tất cả chúng sanh trong hiện tại cùng vị lai, nương oai lực
của Ðức Phật mà lược nói về việc đó. Tôi sẽ mượn
đại oai thần lực của Phật mà nói sơ lược đôi điều
về việc đó!"
Quý
vị xem! Bồ Tát Ðịa Tạng không nói là dùng sức oai thần
của chính mình, mà lại nói là nương vào đại oai thần lực
của Phật; đó là vì sao? Ðó là biểu thị lòng tôn kính
của Ngài đối với Ðức Phật, và cũng chính vì thế mà
lúc nào Ngài cũng nhắc đến Phật trước tiên.
Bồ
Tát Ðịa Tạng nói tiếp: "Này ông Trưởng Giả! Những chúng
sanh ở hiện tại hay vị lai, lúc sắp mạng chung mà nghe được
danh hiệu của một đức Phật, danh hiệu của một vị Bồ
Tát, danh hiệu của một vị Bích Chi Phật hoặc Duyên Giác,
thì bất luận là có tội hay không tội, thảy đều được
giải thoát cả."
Tại
sao lúc sắp mạng chung mà nghe được một danh hiệu của Phật,
Bồ Tát, hoặc Bích Chi Phật, thì bao nhiêu tội chướng đều
có thể tiêu trừ?
Lúc
sắp mạng chung tức là lúc mà mạng căn của con người sắp
sửa đoạn dứt. Mạng căn vốn do ba yếu tố là "noãn" (hơi
ấm), "tức" (hơi thở), và "thức" (sự hiểu biết) hợp lại
mà thành; con người chết, tức là mạng căn đứt đoạn.
Mạng căn khi đoạn thì đầu tiên là cơ thể mất dần hơi
ấm (noãn khí), kế đến là không còn hô hấp (tức), và sau
đó là đến lượt thần thức ra đi. Ba thứ "noãn, tức, thức"
đều đoạn hết, tức là mạng chung—mạng căn đã đứt,
không còn nữa. Có câu:
“Chim
sắp chết thì tiếng kêu bi thảm,
Người
sắp chết thì lời nói thiện lành.”
(Ðiểu
chi tương tử, kỳ điểu dã ai,
Nhân
chi tương vong, kỳ ngôn dã thiện.)
Con
người, khi sắp chết thì thiên lương trỗi dậy, lương tâm
có thể nhận ra được những gì mình đã làm trong suốt một
đời này, là đúng hoặc là không đúng. Ðó là một sự "phản
tỉnh." Lúc bấy giờ, kẻ lâm chung chân chánh nhìn nhận những
việc làm không đúng của mình; do đó mà sanh lòng ăn năn
sám hối. Một khi đã khởi tâm sám hối rồi, thì cho dù chỉ
nghe thấy danh hiệu của một đức Phật, một tôn Bồ Tát,
hoặc một tôn Bích Chi Phật, cũng đều có thể diệt được
vô lượng tội chướng, gieo trồng vô lượng thiện căn! Vì
thế, lúc sắp mạng chung là một thời điểm tối quan trọng;
đồng thời, đó cũng là thời điểm khó phát khởi thiện
tâm cầu sám hối nhất!
Vì
sao thường ngày chúng ta cần phải niệm Phật? Thường ngày
niệm "Nam Mô A Di Ðà Phật," là chuẩn bị cho lúc lâm chung
không bị quên mất. Nếu ngày ngày đều niệm Phật, thì đến
lúc sắp mạng chung chúng ta sẽ không thể nào quên câu niệm
Phật được. Nếu quý vị suy nghĩ một cách đơn giản, cho
rằng đợi đến lúc sắp mạng chung rồi hãy niệm Phật,
hãy sanh thiện tâm, thì e rằng tới lúc đó mới biết là
không dễ dàng chút nào, và cũng đã quá muộn màng! Tuy nhiên,
nếu lúc lâm chung mà sanh được thiện tâm thì vô cùng vi
diệu—chỉ cần một niệm sám hối là có thể tiêu trừ
hết thảy nghiệp tội!
Kinh
văn:
"Như
có người nam hoặc người nữ nào, lúc sống đã không tu
thiện nhân mà lại tạo nhiều nghiệp tội, sau khi mạng chung
lại được hàng quyến thuộc vì người chết mà tu tạo phước
lợi lớn nhỏ; thì tất cả Thánh sự, trong bảy phần công
đức, người chết được một phần, còn sáu phần thuộc
về người sống hiện lo tu tạo đó.
Vì
thế cho nên, các thiện nam thiện nữ ở hiện tại và vị
lai, nghe lời nói vừa rồi đó nên cố gắng tự tu hành, thì
được hưởng trọn phần công đức.
Ðại
quỷ Vô Thường không hẹn mà đến, thần hồn vơ vẩn mịt
mờ, chưa rõ là tội hay phước, trong bốn mươi chín ngày
như ngây như điếc, hoặc ở tại các ty sở để biện luận
về nghiệp quả, sau khi thẩm định xong thì cứ y theo nghiệp
mà thọ sanh.
Trong
lúc chưa biết ra sao đó thì đã ngàn muôn sầu khổ, huống
là phải bị đọa vào các ác đạo!
Người
chết đó khi chưa được thọ sanh, ở trong bốn mươi chín
ngày luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục quyến thuộc tu tạo
phước lực để cứu vớt cho. Quá ngày ấy rồi thì cứ theo
nghiệp mà thọ báo.
Nếu
là tội nhân thì phải trải qua trong trăm ngàn năm, không có
ngày được giải thoát; còn nếu là tội Ngũ Vô Gián thì
phải đọa vào đại địa ngục, chịu mãi những sự đau
khổ trong ngàn kiếp muôn kiếp."
Lược
giảng:
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát lại bảo ông Trưởng Giả Ðại Biện
rằng: "Như có người nam hoặc người nữ nào, lúc sống đã
không tu thiện nhân mà lại tạo nhiều nghiệp tội ..." Giả
sử có người nam hoặc người nữ nào đó khi còn sống đã
có tu Ngũ Giới và Thập Thiện; song, mặc dù đã thọ Ngũ
Giới và phát tâm tu Thập Thiện, người ấy lại không làm
thiện sự, chẳng trồng thiện nhân, lại còn tạo thêm biết
bao nghiệp tội nữa.
"Sau
khi mạng chung lại được hàng quyến thuộc vì người chết
mà tu tạo phước lợi lớn nhỏ." Nếu sau khi người nam hoặc
người nữ ấy qua đời, thân nhân có thể vì người chết
mà tu tạo một vài việc phước lợi nho nhỏ hoặc một vài
việc phước lợi lớn lao, "thì tất cả Thánh sự, trong bảy
phần công đức, người chết được một phần, còn sáu phần
thuộc về người sống hiện lo tu tạo đó." "Thánh sự" cũng
chính là thiện sự.
Như
vậy, trong bảy phần công đức thì người chết chỉ được
hưởng một phần mà thôi; sáu phần công đức còn lại là
thuộc về người sống, tức là hàng quyến thuộc đã lo tu
tạo phước lợi đó.
"Vì
thế cho nên, các thiện nam thiện nữ ở hiện tại và vị
lai, nghe lời nói vừa rồi đó nên cố gắng tự tu hành, thì
được hưởng trọn phần công đức." Bởi nhân duyên đó,
tất cả thiện nam thiện nữ trong đời này và đời sau hãy
nhân lúc mình đang được "mắt tinh tai thính," còn đang khỏe
mạnh, mà cố gắng tự mình tu tập thiện sự. Trong lúc còn
sống, nếu chính quý vị tự làm việc công đức, thì mỗi
một phần công đức tạo được đều là của riêng quý vị,
hoàn toàn thuộc về quý vị.
"Ðại
quỷ Vô Thường không hẹn mà đến." Vì sao gọi là "quỷ
Vô Thường"? Bởi vì khi nó tìm đến thì quý vị không còn
"thường" nữa, song quý vị lại không thể biết được khi
nào thì nó xuất hiện!
"Thần
hồn vơ vẩn mịt mờ." Câu này nguyên văn chữ Hán là "minh
minh du thần." "Minh minh" tức là rất hắc ám, tối tăm. "Du
thần" cũng là "du hồn," cũng chính là "hồn phách," và cũng
là "thân trung ấm," lại còn gọi là "thân trung hữu" của
con người.
Cái
"hữu" trong "thân trung hữu" chính là cái "hữu" của "Hữu
duyên Sanh" trong Thập Nhị Nhân Duyên—Vô Minh duyên Hành, Hành
duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục Nhập,
Lục Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên
Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh, Sanh duyên Lão Tử.
Lúc
năm ấm trước đã diệt, năm ấm sau chưa sanh, thì khi năm
ấm trước sau chưa sanh đó, gọi là "thân trung ấm." "Thân
trung ấm" nhìn đại địa thì chỉ thấy tối đen như mực,
thấy thế giới này như không có ánh sáng của mặt trời
mặt trăng; cho nên nói là "minh minh du thần" vậy.
"Chưa
rõ là tội hay phước." Người mới chết đó bấy giờ cũng
chưa biết rõ là mình đã gây tội hay tạo phước nữa!
"Trong
bốn mươi chín ngày như ngây như điếc." Tại nước Trung
Hoa, do ảnh hưởng của đạo Phật, nên nội trong bảy thất—bốn
mươi chín ngày—sau khi người thân chết, thì quyến thuộc
thường thỉnh Tăng sĩ, hoặc Ðạo sĩ tụng Kinh để siêu
độ vong linh. "Như ngây" tức là giống như một kẻ không
biết gì cả; "như điếc" tức là cũng không nghe thấy bất
kỳ âm thanh nào cả.
"Hoặc
ở tại các ty sở để biện luận về nghiệp quả." Ở địa
ngục không phải chỉ có một vị Diêm La Vương thôi, mà có
tới mười vị, gọi là Thập Ðiện Diêm Quân. Dưới quyền
của mỗi vị Diêm Quân lại phân ra rất nhiều bộ môn; do
đó mỗi vị Diêm La Vương có năm ty sở, đó là:
Tiên
Quan (cấm sát sanh),
Thủy
Quan (cấm trộm cắp),
Thiết
Quan (cấm tà dâm),
Thổ
Quan (cấm nói lưỡi đôi chiều),
Thiên
Quan (cấm rượu).
Dưới
quyền mỗi vị Diêm La Vương đều có năm vị quan giữ các
chức sự này, gọi là Ngũ Ty. Ngũ Ty là trông coi về nghiệp
tội gây tạo trong một đời của mọi người. Mỗi ty kiểm
soát một loại nghiệp tội, cho nên người chết lúc sống
phạm loại nghiệp tội nào thì tới ty sở tương ứng với
nghiệp tội đó để thẩm vấn, biện luận.
"Sau
khi thẩm định xong, thì cứ y theo nghiệp mà thọ sanh." Sau
khi biện luận nghiệp quả, người chết phải chờ sự thẩm
định, xem đã gây tạo tội lỗi gì thì sẽ phải chịu quả
báo gì. Một khi đã thẩm định xong, thì người ấy phải
y theo những nghiệp mình đã tạo mà thọ lấy quả báo.
"Trong
lúc chưa biết ra sao đó thì đã ngàn muôn sầu khổ, huống
là phải bị đọa vào các ác đạo!" Trong thời gian chờ đợi
kết quả thẩm định, người ấy rất lo âu buồn bã, không
biết tương lai mình sẽ đi đầu thai làm trâu làm ngựa, làm
heo làm dê, hoặc trở lại làm người. Bởi chính mình cũng
không biết được mình sẽ ra sao cho nên trong lòng cứ phập
phồng lo sợ, cảm thấy vô vàn thống khổ; thì huống chi
là lúc đã đọa lạc vào các đường ác—địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh—bấy giờ còn thống khổ đến chừng nào?
"Người
chết đó khi chưa được thọ sanh, ở trong bốn mươi chín
ngày luôn luôn trông ngóng hàng cốt nhục quyến thuộc tu tạo
phước lực để cứu vớt cho." Trong khi chờ đợi để được
đi thọ sanh, tức là trong vòng bốn mươi chín ngày sau khi
chết, người đó từng giây từng khắc, tâm tâm niệm niệm,
lúc nào cũng mong mỏi, trông chờ hàng thân thích ruột thịt
sẽ tụng Kinh Ðịa Tạng, lễ bái Ðịa Tạng Sám, hoặc lễ
lạy Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, cúng dường Tam Bảo, tạo
vô số phước lợi để cứu vớt cho mình.
"Quá
ngày ấy rồi thì cứ theo nghiệp mà thọ báo." Quá bốn mươi
chín ngày rồi thì người chết đó phải thọ lấy quả báo
tùy theo nghiệp tội mà mình đã gây tạo.
Người
chết đó, "nếu là tội nhân, là kẻ có tội, thì phải trải
qua trong trăm ngàn năm, không có ngày được giải thoát; còn
nếu là tội Ngũ Vô Gián thì phải đọa vào đại địa ngục,
chịu mãi những sự đau khổ trong ngàn kiếp muôn kiếp." Nếu
tội lỗi mà người chết đã phạm thuộc về năm tội ác
tày trời—giết cha, giết mẹ, giết bậc A La Hán, làm thân
Phật chảy máu, phá hòa hợp Tăng—thì người ấy sẽ bị
đọa địa ngục Vô Gián.
Ngũ
Vô Gián tức là năm thứ nghiệp cảm hành hạ liên tục, không
gián đoạn:
1)
Thời gian không gián đọan (Thời vô gián - thời gian thọ
khổ là liên tục, không gián đoạn). Kể từ lúc vào địa
ngục cho đến khi được thoát ra, trong suốt thời gian này,
tội nhân liên miên thọ khổ, không có một giây một khắc
nào được ngưng nghỉ; cho nên gọi là "thời vô gián."
2)
Thân hình không gián đọa n (Hình vô gián) . Một người ở
địa ngục thì thấy thân thể mình choán chật cả ngục;
mà rất nhiều người cùng ở trong ngục thì cũng thấy thân
hình của họ chật đầy cả ngục như thế; đó là "hình
vô gián" (hình không gián đoạn).
3)
Khổ không gián đọan (Khổ vô gián). Từ khi bước chân vào
địa ngục, tội nhân phải liên tục chịu đựng những khổ
hình bởi các tội khí như cái chĩa, gậy gộc, không hề gián
đoạn.
4)
Sanh mạng không gián đoạn (Mạng vô gián). Tội nhân ở địa
ngục này, một ngày một đêm là cả vạn lần chết đi, muôn
lần sống lại—sanh mạng cũng không gián đoạn.
5)
) Quả báo không gián đoạn (Quả báo vô gián). Quả báo mà
tội nhân thọ chịu cũng liên miên bất tận, không gián đoạn.
Vậy,
nếu phạm tội Ngũ Vô Gián thì phải đọa vào các địa ngục
lớn như tám địa ngục lạnh, tám địa ngục nóng ..., và
trải qua thời gian dài có đến hằng ngàn hằng vạn kiếp
vẫn phải ở mãi trong địa ngục mà thọ lãnh những sự
đau khổ.
Kinh
văn:
"Lại
nữa, này ông Trưởng Giả! Sau khi những chúng sanh gây nghiệp
tội như thế mạng chung, hàng cốt nhục quyến thuộc vì họ
mà làm chay cúng dường để trợ giúp nghiệp đạo, thì khi
thức ăn chưa làm xong cùng trong lúc đang làm, chớ có đem
nước gạo, lá rau đổ vung vãi nơi đất, cho đến các thứ
đồ ăn chưa dâng cúng cho Phật và chư Tăng thì chẳng được
ăn trước.
Nếu
ăn trái phép và không được tinh sạch kỹ lưỡng, thì người
chết đó trọn không được trợ lực nào cả.
Nếu
có thể kỹ lưỡng giữ gìn tinh sạch đem dâng cúng cho Phật
cùng Tăng, thì trong bảy phần công đức, người chết hưởng
được một phần.
Này
ông Trưởng Giả! Vì thế nên những chúng sanh trong cõi Diêm
Phù, sau khi cha mẹ hay người quyến thuộc chết, nếu có thể
thiết trai cúng dường, chí tâm cầu khẩn, thì những người
như thế, kẻ còn lẫn người mất đều được lợi ích cả."
Nói
lời này xong, tại cung trời Ðao Lợi có ngàn muôn ức na-do-tha
quỷ thần của cõi Diêm Phù Ðề đều phát tâm Bồ Ðề vô
lượng.
Ông
Trưởng Giả Ðại Biện làm lễ mà lui ra.
Lược
giảng:
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát lại bảo Trưởng Giả Ðại Biện rằng:
"Lại nữa, này ông Trưởng Giả! Nay Ta sẽ vì Ông mà nói
cặn kẽ hơn. Sau khi những chúng sanh gây nghiệp tội như thế
mạng chung, hàng cốt nhục quyến thuộc vì họ mà làm chay
cúng dường để trợ giúp nghiệp đạo ..." Sau khi những chúng
sanh đã từng gây tạo nghiệp tội nói trên qua đời, thân
nhân bạn bè của họ có thể đứng ra thay họ mà làm một
bữa ăn chay tươm tất thành kính cúng dường Tam Bảo, để
giúp cho nghiệp đạo của họ. "Nghiệp đạo" này tất nhiên
là ám chỉ "ác nghiệp"; do đó, "trợ giúp nghiệp đạo" tức
là giúp cho người chết được nhẹ bớt ác nghiệp.
"Thì
khi thức ăn chưa làm xong cùng trong lúc đang làm, chớ có đem
nước gạo, lá rau đổ vung vãi nơi đất, cho đến các thứ
đồ ăn chưa dâng cúng cho Phật và chư Tăng thì chẳng được
ăn trước." Trước lúc thọ trai hoặc sau khi làm xong các thức
ăn, quý vị không nên tùy tiện đổ bỏ nước gạo và vất
bỏ rau cải một cách bừa bãi. Lại nữa, khi các thức ăn
chay đã nấu nướng xong, nếu chưa đem cúng Phật và chư Tăng
chưa dùng tới, thì quý vị không được tự mình ăn trước.
Do đó tại chùa chiền hoặc Phật Ðường, bất luận quý
vị làm món ăn gì dể cúng dường, thì đều phải dâng lên
cúng Phật trước. Thông thường, vào ngày đản sanh của Ðức
Phật, thì mọi người nấu vài món ăn chay tinh khiết, thanh
đạm để cúng dường Phật; sau khi cúng Phật xong thì mọi
người mới cùng nhau ăn.
Ở
Trung Hoa, cúng Phật thì thường là sắp ba chén cơm đầy và
thức ăn trước tượng Phật, và cần phải sắp đặt cho
đàng hoàng ngay ngắn, chứ không được tùy tiện để sang
một bên, hoặc muốn đặt đâu thì đặt! Ví dụ, cúng ba
chén cơm thì phải trang trọng đặt ngay ngắn ở chính giữa
bàn thờ và ngay trước tượng Phật; ba chén nằm thẳng hàng,
khoảng cách đều nhau, tươm tất trịnh trọng. Cúng trái cây
cũng phải trịnh trọng như vậy. Phía trước tượng Phật,
nơi để sắp đồ cúng, thì không được để đồ bừa bãi.
Ðó là biểu thị lòng cung kính.
Nếu
quý vị tùy tiện để đồ vật trên bàn thờ Phật tức là
không cung kính Phật; vì sao? Lấy thí dụ, nếu quý vị để
một đống đồ ngổn ngang, bừa bãi ngay trước mặt một
người nào đó, thì hẳn nhiên là người ấy sẽ cảm thấy
bực bội, không vui rồi! Nếu gặp những kẻ quen thói bê
bối cẩu thả như heo như chó, thì không nói làm gì; song nếu
nhằm người thích ngăn nắp sạch sẽ mà quý vị để đồ
đạc lung tung trước mặt họ, thì họ sẽ bực bội ngay.
Hơn nữa, Phật là một người thanh tịnh nhất, do đó việc
quý vị đặt để các vật phẩm bừa bãi, thiếu tôn kính
trước mặt Phật là điều không nên! Trước mặt Phật chỉ
nên thiết đặt các cúng phẩm như hoa quả, thức ăn mà thôi,
ngoài ra không nên có đồ gì khác.
Ngoài
thông lệ dâng ba chén cơm và thức ăn cúng Phật, có khi người
ta dâng cúng năm chén, bảy chén, chín chén, hoặc nhiều hơn
nữa tùy theo tính cách của dịp lễ. Như vào dịp Lễ Cúng
Thiên chẳng hạn—mấy cái bàn đặt trước mặt tượng Phật
đều toàn là thức ăn chay được sắp đặt từng chén từng
chén một rất đàng hoàng tươm tất, đâu ra đó cả; chứ
không phải là dùng một cái bát thật lớn rồi bỏ chung mọi
thứ vào đó để cúng, hoặc mua một hộp bánh rồi thờ ơ
để lên bàn thờ cho xong chuyện, chẳng buồn mở ra, bởi
như thế không phải là cúng Phật mà là ô nhục Phật! Các
phẩm vật dâng cúng cho Phật thì phải được mở ra cho đàng
hoàng, không nên để nguyên cả bao bì giấy gói như thế mà
đặt trên bàn thờ; bằng không, đó không phải là cúng Phật!
Ðây là những vấn đề mà tất cả mọi người đều nên
biết. Nếu quý vị dâng đồ cúng trước tượng Phật mà
không mở ra, chỉ thuận tay đặt bừa một gói trên bàn thờ
rồi quay lưng bỏ đi, thì đó là một hành vi bất kính, vô
lễ! Bởi cho dù đem thức ăn cho bất cứ một người nào,
quý vị cũng không đến nỗi dằn mạnh cái chén trước mặt
người đó rồi nói cộc lốc: "Nè, ăn đi!"; vì làm như thế
người ta sẽ không ăn nổi!
Ở
Trung Hoa có câu: " Người quân tử không ăn cơm thí” (Quân
tử bất thực ta lai thực). Ngay cả đối với người ăn xin,
khi quý vị cho họ chén cơm mà không nói được một câu tử
tế: "Mời ông dùng tạm bát cơm này," thì họ cũng chẳng
ăn đâu! Ðó gọi là " không ăn cơm thí" Thế thì, huống gì
là việc cúng Phật? Có nhiều người để nguyên cả gói quà
lên bàn thờ, không mở ra. Tôi bắt gặp rất nhiều lần như
thế rồi, có điều tôi không có nhiều thì giờ để giảng
về vấn đề này
Bây
giờ Phật Giáo truyền bá đến phương Tây, quý vị cần phải
biết về các nghi thức hành lễ. Các chén cơm Thượng Cúng
(cúng ngọ) nhất định phải sắp cho ngay ngắn tươm tất,
đúng nơi đúng chỗ, không được bạ đâu để đó, muốn
đặt đâu thì đặt. Cúng hoa quả trái cây cũng vậy—bình
hoa chưng trên bàn thờ cũng phải cân xứng, trang trọng; nếu
đặt để không đúng vị trí, đáng lẽ ở góc này thì quý
vị lại dời nó sang góc kia, thì sẽ không đẹp, thiếu cân
đối. Mọi việc đều cần phải có quy củ phép tắc. Nếu
nói rằng có quá nhiều quy củ như thế làm sao mà nhớ cho
hết được ư? Không nhớ được thì quý vị khỏi phải tu
hành! Bởi tu hành tức là ở mọi nơi mọi lúc đều phải
đúng với giáo pháp, luôn luôn tuân theo khuôn phép, nền nềp.
Lại
nữa, xuất gia thì có quy củ của xuất gia, tại gia thì có
quy củ của tại gia. Vị đại đệ tử xuất gia trước nhất
thì phải vâng lời Sư Phụ; kỳ dư, vị đệ tử thứ nhì
phải nghe lời của đại đệ tử, vị đệ tử thứ ba thì
phải nghe lời của đại đệ tử và nhị đệ tử, không
được "mục vô sư trưởng," xem thường sư phụ cùng các
sư huynh. Làm đại đệ tử mà không nghe theo sự giáo hóa
của Sư Phụ, thì gọi là "mục vô sư trưởng," không xem ai
ra gì cả! Còn vị nhị đệ tử thì nhất định phải nghe
theo sự giáo hóa của sư huynh, không được khinh mạn sư huynh.
Nếu
quý vị ở vào cương vị của vị tam đệ tử thì nhất định
phải nghe lời của vị đệ tử thứ nhất và thứ nhì. Vị
thứ nhất và vị thứ nhì sai bảo việc gì thì quý vị nhất
định phải vâng lời; không vâng lời tức là không tuân quy
củ. Không bảo quý vị làm gì cả thì quý vị phải nhất
định đừng làm; bằng không, đó cũng là bất tuân quy củ
vậy!
Trong
đoàn thể Phật Giáo nhất định là có nhiều bậc sư trưởng,
trưởng bối, quý vị không được "mục vô sư trưởng." Hễ
quý vị xuất gia sau người ta dù chỉ một ngày thì quý vị
cũng phải làm "sư đệ"; còn nếu quý vị xuất gia trước
người ta một ngày thì quý vị sẽ thành "sư huynh." Người
nào xuất gia trước thì người đó là lớn hơn, người nào
xuất gia sau thì người đó vai vế nhỏ hơn. Bất luận là
tuổi tác chênh lệch bao nhiêu, cho dầu quý vị có một trăm
tuổi đi chăng nữa, mà xuất gia sau thì cũng phải là "sư
đệ" như thường. Lại nữa, mặc dù quý vị mới một tuổi,
song nếu xuất gia trước, thì quý vị sẽ thành "sư huynh."
Người
xuất gia lấy ngày mình xuất gia làm ngày sinh nhật cho cuộc
đời xuất gia của mình; rồi đến lúc lâm chung thì tính
lại xem "tăng lạp" (tuổi xuất gia) của mình được bao nhiêu
năm. Thí dụ, có người "thế thọ" là sáu mươi và "tăng
thọ" là bốn mươi, có nghĩa là người ấy tuổi đời sống
được đến sáu mươi tuổi và xuất gia được bốn mươi
năm.
Ðặc
biệt là lúc thọ Giới của người xuất gia—hễ ai thọ
Giới trước thì người đó làm "sư huynh." Mặc dù là cùng
đi thọ Giới với nhau, quý vị vẫn phải gọi người vừa
bước lên đàn thọ Giới trước quý vị là "Giới huynh,"
và người thọ Giới trễ hơn quý vị là "Giới đệ." Tuy
nhiên, trong Giới Ðàn thì mọi người đều xưng hô với nhau
là "Giới huynh" cả. Quý vị gọi tôi là "Giới huynh," tôi
cũng kêu quý vị là "Giới huynh"; không dùng danh xưng "Giới
đệ" nữa. Ðó là vì mọi người đều lễ phép lịch sự,
cho dù "Giới đệ" cũng được gọi là "Giới huynh."
Ngoài
ra, những vị xuất gia làm "tiểu" Sa Di trong chùa, thì nhất
định là phải nghe lời chỉ huy của các "đại" Sa Di; nếu
không nghe theo tức là "phạm thượng," ngỗ nghịch bất hiếu,
là "phạm thượng tác loạn" vậy. Quy củ của người xuất
gia trong Phật Giáo thì rất chú trọng đến trật tự trên
dưới, chứ không tùy tiện, suồng sã như người tại gia
được.
Tôi
bình thường cũng không có thì giờ để giảng về các quy
củ cúng Phật, cho nên cũng xuề xòa, thấy tạm được thì
cũng thông qua, để xem coi quý vị rốt ráo là ngu si hay có
trí huệ! Nếu quý vị là người có trí huệ thì không cần
phải đợi có người dạy bảo mới biết được. Từ trước
tới nay không có ai dạy cho tôi cả, song tôi chỉ cần nhìn
qua một thoáng là hiểu được ngay. Ðối với những kẻ ngu
si, cho dù quý vị tận tâm dạy dỗ, thì họ cũng không thể
nào nhớ được. Vì thế, qua cách xử sự mọi việc, trong
mọi lúc, ở mọi nơi của một người đều thể hiện được
là người đó có trí huệ hay không.
Như
vậy, thức ăn chưa được dâng cúng cho Ðức Phật cùng chư
Tăng, thì mọi người không được ăn trước. Do đó khi ăn
uống ở chùa, cần phải đợi cúng Phật xong và người xuất
gia cũng đã thọ dụng rồi, thì người tại gia mới nên cùng
nhau ngồi ăn. Người tại gia tuyệt đối không được ăn
trước người xuất gia. Không riêng gì việc cúng Phật, mà
luôn cả việc cúng dường Tam Bảo, mọi người đều phải
theo đúng phép tắc như thế.
"Nếu
ăn trái phép và không được tinh sạch kỹ lưỡng, thì người
chết đó trọn không được trợ lực nào cả." Giả sử quý
vị không tuân giữ quy củ này mà ăn trước, hoặc là lúc
nấu nướng lại cẩu thả lơ đễnh, không chú ý, không làm
đàng hoàng, đó gọi là "bất tinh cần"—không được tinh
sạch kỹ lưỡng. Cúng dường Tam Bảo thì không được lơ
đễnh; bởi nếu quý vị cúng dường Tam Bảo một cách qua
loa cẩu thả, thì người chết sẽ chẳng hưởng được một
mảy phước nào cả.
"Nếu
có thể kỹ lưỡng giữ gìn tinh sạch đem dâng cúng cho Phật
cùng Tăng ..." Nếu quý vị có thể đặc biệt chú ý, hết
sức cẩn thận giữ gìn những thức ăn này được tinh sạch,
rồi cung cung kính kính đem dâng cúng cho Ðức Phật và chư
Tăng, thì trong bảy phần công đức, người chết hưởng được
một phần."
Năm
ngoái chúng ta có tổ chức Lễ Truyền Cúng, hôm đó tất cả
đại chúng đều quỳ xuống và cùng nhau dâng thức ăn cúng
Phật. Những món ăn chay được múc ra từng dĩa hoặc chén,
rồi mọi người tuần tự chuyền tay nhau dâng cúng và đặt
lên bàn thờ Phật. Chùa đã thận trọng nấu nướng nhiều
món chay để cúng Phật; có tới cả trăm món khác nhau được
đặt trong các khay vuông để mọi người chuyền tay nhau dâng
cúng. Cũng có khi người ta dâng cúng Phật các xâu chuỗi tràng
hạt hoặc y phục.
Bất
cứ thứ gì cũng có thể cúng dường cho Phật được cả;
có điều, đó phải là đồ mới, tốt đẹp, chứ không được
đem những thứ mà mình không thích hoặc cũ kỹ hư hoại dâng
cúng cho Phật! Như có một người nọ, ông ta mua bó rau mùi
đến cúng dường Tam Bảo, thế mà ông ta lặt lấy phần tươi
tốt để ở nhà dùng, rồi đem phần già và dai đến cúng
dường tôi, để tỏ ra rằng ông ta cũng biết cúng dường—như
thế thì hoàn toàn chẳng được chút công đức nào cả.
Vậy,
nếu quý vị có thể vì người chết mà chuẩn bị các món
ăn chay một cách thận trọng, tinh khiết để cúng dường
cho Phật cùng chư Tăng, thì trong bảy phần công đức, người
chết sẽ hưởng được một phần, kỳ dư, sáu phần còn
lại thì thuộc về người sống.
"Này
ông Trưởng Giả! Vì thế nên những chúng sanh trong cõi Diêm
Phù, sau khi cha mẹ hay người quyến thuộc chết, nếu có thể
thiết trai cúng dường, chí tâm cầu khẩn, thì những người
như thế, kẻ còn lẫn người mất đều được lợi ích cả."
"Thiết trai" tức là thiết lập, bày biện các thức ăn chay
để cúng dường Tam Bảo. "Chí tâm" tức là thành khẩn, thiết
tha đến cực điểm, không có gì hơn được nữa.
Chính
vì những lý do nói trên, cho nên tất cả chúng sanh ở cõi
Nam Diêm Phù Ðề nếu có thể vì cha mẹ hoặc bà con thân
thích của mình đã qua đời mà làm chay để cúng dường Tam
Bảo và thiết tha dốc lòng cầu khẩn, thì chẳng những người
còn sống được sự lợi ích, mà luôn cả người đã chết
cũng được lợi lạc.
Nói
lời này xong, tại cung trời Ðao Lợi có ngàn muôn ức na-do-tha
quỷ thần của cõi Diêm Phù Ðề đều phát tâm Bồ Ðề vô
lượng. Lúc Ðịa Tạng Vương Bồ Tát dứt lời, đông đảo
quỷ thần của thế giới Diêm Phù hiện diện tại Ðao Lợi
thiên cung đều phát tâm A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề.
Ông
Trưởng Giả Ðại Biện làm lễ mà lui ra. Ông Trưởng Giả
Ðại Biện hướng về Bồ Tát Ðịa Tạng mà cúi lạy, hướng
về Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng cúi đầu đảnh lễ, rồi
lui vào đứng sang một bên.
Người
xuất gia, không chỉ có đệ tử lạy Sư Phụ, mà ngay cả
sư đệ cũng nên lạy sư huynh. Ðừng như người Mỹ, cha mẹ
anh em đều không tương can, chẳng ai để ý tới ai cả. Chúng
ta không nên như thế. Làm thân sư đệ thì phải như vậy,
ai biểu quý vị chịu làm sư đệ làm chi? Ai biểu quý vị
xuất gia trễ, sau người khác làm chi? Quý vị xuất gia sau
thì phải làm sư đệ, mà sư đệ thì phải kính trọng sư
huynh; không kính trọng sư huynh tức là phạm sai lầm, phạm
quy củ của Phật đã dạy, về sau sẽ bị lửa thiêu chết!
__________
hết
Phẩm Thứ Bảy