Quyển
Trung
Phẩm
Thứ Sáu
NHƯ
LAI TÁN THÁN
Ðây
là phẩm "Như Lai Tán Thán," phẩm thứ sáu. "Như Lai" tức là
Ðức Phật, lúc trước tôi đã giảng nhiều lần rồi. "Tán
thán" tức là xưng dương tán thán—tấm tắc khen ngợi. Kinh
Ðịa Tạng có tổng cộng mười ba phẩm, bây giờ giảng đến
phẩm thứ sáu, như vậy là còn bảy phẩm nữa.
Kinh
văn:
Lúc
đó, toàn thân của Ðức Thế Tôn phóng ra ánh sáng lớn soi
khắp trăm ngàn muôn ức thế giới nhiều như cát sông Hằng
của chư Phật, lại phát ra âm thanh lớn bảo khắp các thế
giới của chư Phật rằng:
"Tất
cả hàng Bồ Tát Ma Ha Tát cùng Trời, Rồng, Quỷ, Thần, nhân,
phi nhân, v. v... hãy lắng nghe hôm nay Ta xưng dương tán thán
Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát về việc ở trong mười phương
thế giới, hiện sức từ bi oai thần to lớn không thể nghĩ
bàn, để cứu giúp tất cả những kẻ tội khổ.
Sau
khi Ta diệt độ, thì hàng Bồ Tát Ðại Sĩ các Ông, cùng với
Trời, Rồng, Quỷ, Thần v. v... nên dùng nhiều phương tiện
để gìn giữ Kinh này, khiến tất cả chúng sanh đều chứng
được cảnh vui Niết Bàn."
Nói
lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị Bồ Tát tên là Phổ
Quảng cung kính chắp tay bạch cùng Ðức Phật rằng: "Nay con
nghe Ðức Thế Tôn tán thán Ðịa Tạng Bồ Tát có đức oai
thần rộng lớn bất khả tư nghì như thế, con trông mong Ðức
Thế Tôn lại vì những chúng sanh trong thời Mạt Pháp ở đời
sau, mà tuyên thuyết các sự nhân quả của Ðịa Tạng Bồ
Tát làm lợi ích cho hàng Trời, Người; hầu làm cho Thiên
Long Bát Bộ và chúng sanh trong đời sau thảy đều kính vâng
lời của Ðức Phật."
Lược
giảng:
Lúc
đó, toàn thân của Ðức Thế Tôn phóng ra ánh sáng lớn. Sự
kiện toàn thân Phật đều phóng hào quang rực rỡ như thế,
đủ cho chúng ta thấy bộ Kinh Ðịa Tạng này quan trọng đến
dường nào!
Bấy
giờ, hào quang sáng chói tỏa ra từ thân của Ðức Phật soi
khắp trăm ngàn muôn ức thế giới nhiều như cát sông Hằng
của chư Phật, lại phát ra âm thanh lớn ..." Rồi Ðức Phật
lại phát ra âm thanh nghe lớn như tiếng hống của sư tử,
và rền vang như tiếng sấm. Âm thanh của Phật vẳng đến
tai người nào thì người đó liền sanh tâm hoan hỷ, khởi
lòng cung kính.
Thường
thì người thuyết giảng kinh sách, nếu có giọng nói khàn
đục, không rõ ràng, thì chỉ khiến cho người nghe cảm thấy
tẻ nhạt, buồn ngủ, không hăng hái theo dõi buổi giảng;
còn giọng nói nếu sang sảng, rõ và trong như tiếng chuông
đồng, thì thính chúng dù buồn ngủ cách mấy cũng phải giật
mình tỉnh táo, thích thú lắng nghe! Âm thanh của Phật thì
khiến mọi người vừa thích nghe, lại vừa hết buồn ngủ,
càng nghe càng tỉnh táo, nghe hết câu này liền muốn nghe tiếp
câu kế, giống như được thưởng thức một món ăn ngon,
không đành lòng bỏ sót vậy.
Ðức
Phật phát ra âm thanh tuy lớn, nhưng không phải là la hét chói
tai như loài người chúng ta, cũng không ồ ề khó nghe như
tiếng thanh la bể! Âm thanh của Phật vốn sang sảng, vang rền,
khiến cho người nào được nghe lọt vào tai thì liền nhập
"nghe Pháp Tam Muội." Tiếc thay, chúng ta không được sanh vào
thời Ðức Phật còn tại thế để được lắng nghe âm thanh
của Ngài! Thật là đáng tiếc biết bao!
Vậy,
lúc bấy giờ, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phát ra âm thanh bảo
khắp các thế giới của chư Phật rằng: "Tất cả hàng Bồ
Tát Ma Ha Tát cùng Trời, Rồng, Quỷ, Thần, nhân, phi nhân,
v. v... hãy lắng nghe hôm nay Ta xưng dương tán thán Ðịa Tạng
Bồ Tát Ma Ha Tát về việc ở trong mười phương thế giới,
hiện sức từ bi oai thần to lớn không thể nghĩ bàn, để
cứu giúp tất cả những kẻ tội khổ."
Tại
sao Ðức Phật khen ngợi Ðịa Tạng Bồ Tát? Bởi lòng từ
bi của Ðịa Tạng Bồ Tát thì không thể nghĩ bàn, trí huệ
của Ngài không thể nghĩ bàn, và oai thần của Ngài cũng không
thể nghĩ bàn; cho nên thần thông diệu dụng của Ngài toàn
là thứ cảnh giới không thể nghĩ bàn. Ngài Ðịa Tạng phát
đại nguyện chuyên cứu độ những chúng sanh phạm tội, bởi
Ngài nhận thấy rằng những kẻ chưa phạm tội thì chưa đến
nỗi khổ sở lắm, còn những kẻ đã phạm tội thì quá sức
khổ sở, khổ khổ chồng chất!
Ðức
Phật lại căn dặn: "Sau khi Ta diệt độ, đợi đến sau khi
Ta đã nhập Niết Bàn rồi, thì hàng Bồ Tát Ðại Sĩ các
Ông, cùng với Trời, Rồng, Quỷ, Thần v. v... nên dùng nhiều
phương tiện để gìn giữ Kinh này. Tất cả các vị hãy tận
lực rộng làm nhiều phương tiện để bảo vệ Kinh Ðịa
Tạng, khiến tất cả chúng sanh đều chứng được cảnh vui
Niết Bàn, đạt được cảnh giới Thường Lạc Ngã Tịnh."
Quý
vị xem, bây giờ chúng ta giảng Kinh Ðịa Tạng thì cũng có
Thiên Long Bát Bộ và chư Ðại Bồ Tát đến đây để bảo
hộ vậy!
Sau
khi Ðức Phật nói lời ấy xong, trong Pháp Hội có một vị
Bồ Tát tên là Phổ Quảng, vị Bồ Tát đem lại sự lợi
ích rộng khắp cho hết thảy chúng sanh, cung kính chắp tay
bạch cùng Ðức Phật rằng: "Nay con nghe Ðức Thế Tôn tán
thán Ðịa Tạng Bồ Tát có đức oai thần rộng lớn bất
khả tư nghì như thế, đức hạnh lớn lao như thế, con trông
mong Ðức Thế Tôn lại vì những chúng sanh trong thời Mạt
Pháp ở đời sau, mà tuyên thuyết các sự nhân quả của Ðịa
Tạng Bồ Tát làm lợi ích cho hàng Trời, Người; hầu làm
cho Thiên Long Bát Bộ và chúng sanh đời sau thảy đều kính
vâng lời của Ðức Phật, thảy đều y giáo phụng hành."
Kinh
văn:
Lúc
bấy giờ, Ðức Thế Tôn bảo Bồ Tát Phổ Quảng cùng tứ
chúng rằng: "Lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì các Ông mà lược
nói về những sự phước đức của Ðịa Tạng Bồ Tát làm
lợi ích cho hàng Trời, Người."
Lược
giảng:
Lúc
bấy giờ, Ðức Thế Tôn bảo Bồ Tát Phổ Quảng cùng tứ
chúng—Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, bao gồm
cả Thiên Long Bát Bộ, rằng: "Lắng nghe! Lắng nghe! Tất cả
các Ông hãy chăm chú lắng nghe cho kỹ. Ta sẽ vì các Ông mà
lược nói về những sự phước đức của Ðịa Tạng Bồ
Tát làm lợi ích cho hàng Trời, Người."
"Phước
đức" là gì? Trong Kinh Thư, ở thiên "Hoằng Phạm" có giảng
về chữ "phúc" và phân ra năm loại (Ngũ Phúc) là phúc thọ,
phú quý, khang ninh, tu hiếu đức, và khảo chung mạng.
1)
Phúc thọ (phước sống lâu). Loại phước thứ nhất là "phúc
thọ," nghĩa là "có phước, có thọ"—một người vừa được
phước lại vừa được thọ nữa. Thế nào gọi là "phước"?
"Phước" tức là hết thảy đều rất tự nhiên, tự tại.
"Thọ" là thọ mạng, tuổi thọ.
Người
Trung Hoa thường dùng chữ "thọ" này theo nghĩa "trường thọ"
(sống lâu). "Thọ" thì vốn có "trường thọ" và "đoản thọ"
(sống ngắn ngủi); song nếu chỉ nói "thọ" mà thôi thì được
hiểu là "trường thọ," chứ không phải là "đoản thọ";
vì thế ở đây dùng chữ "phúc thọ."
Có
câu: " Phước Lộc Thọ ba sao chiếu quanh” (Phúc, Lộc, Thọ
tam tinh củng chiếu). "Tam tinh" có nghĩa là ba ngôi sao—Phúc
tinh (sao Phước), Lộc tinh (sao Lộc) và Thọ tinh (sao Thọ).
"Phúc" là sự tốt lành may mắn rất tự nhiên tự tại của
riêng mình. "Lộc" là bổng lộc, lợi tức. Nếu quý vị làm
việc cho chính phủ, thì tiền lương quý vị lãnh được hằng
tháng gọi là "bổng lộc" vậy. "Thọ" là thọ mạng, sự sống
lâu.
Theo
người Trung Hoa, Thọ Tinh Công là một ông tiên quắc thước,
trán cao, không có tóc, chỉ có chòm râu dài bạc trắng như
cước, và còn được gọi là Nam Cực Tử. Tương truyền,
Nam Cực Tử chính là Nam Cực Tiên Ông của Ðạo Giáo, trong
đầu có ba quyển "thiên thư" (sách của trời) là quyển thượng,
quyển trung và quyển hạ. Bởi có được "thiên thư" nên việc
gì Tiên Ông cũng biết rõ cả.
2)
Giàu Sang (Phú quý). Loại phước thứ hai là "phú quý," tức
là vừa giàu có lại vừa sang trọng, tôn quý.
3)
Khỏe mạnh bình yên (Khang ninh). Loại phước thứ ba là "khang
ninh," tức là thân thể vừa khỏe mạnh lại vừa yên ổn.
4)
Thích làm điều lành (Tu hiếu đức). Loại phước thứ tư
là "tu hiếu đức," tức là thích làm việc tốt, thích hướng
theo phương diện đạo đức mà xử sự.
5)
Chết an lành (Khảo chung mạng). Loại phước thứ năm là sống
đến già (chết già, không do tai nạn).
"Ðức"
cũng có năm loại (Ngũ Ðức) là ôn, lương, cung, kiệm, nhượng.
Có người nào hội đủ được năm đức hạnh này chăng?
Ðó chính là Ðức Khổng Tử!
1)
Ôn hòa( Ôn). "Ôn" tức là ôn hòa, không nóng không lạnh, ấm
áp vừa chừng. Nếu quý vị suốt ngày cứ như Quan Ðế Công,
chẳng nói chẳng cười, thì là người quá lạnh lùng, lãnh
đạm; còn nếu suốt ngày cứ cười đùa hi hi ha ha, thì lại
thành ra quá nhiệt tình, quá niềm nở. Ðức Khổng Phu Tử
thì ôn hòa, mẫu mực—đáng cười mới cười, đáng nói
mới nói; không đáng cười thì không cười, không đáng nói
thì không nói.
2)
Lương thiện (Lương). Loại đức hạnh thứ hai là "lương
thiện," nghĩa là có lương tâm, lòng dạ hiền lành, tốt bụng.
3)
Cung kính (Cung). "Cung" tức là đối với bất cứ ai chúng ta
cũng cung kính lễ độ, không có thói khinh người.
4)
Tiết kiệm (Kiệm). "Kiệm" tức là "kiệm phác"; có nghĩa là
tiết kiệm, không làm hư hại, không lãng phí của cải vật
chất. Thí dụ về vấn đề ăn uống, đáng lẽ phải ăn năm
chén cơm mới thật no, nhưng bây giờ mình chỉ ăn ba chén
mà thôi, bớt đi hai chén để dành cho những người đói kém
hơn; như thế là tự kiềm chế để tiết kiệm cho chính mình.
Có câu:
Cho
mình thì nên cần kiệm
Đãi
khách thì cần rộng rãi.
(Tự
phụng tất tu giản ước,
Yến
khách thiết kỵ lưu liên.)
Ðối
với riêng bản thân mình thì phải cần kiệm, đơn giản,
bớt ăn bớt tiêu; những sự chi dụng về đồ ăn thức uống,
áo quần giày dép, nơi ăn chốn ở..., thảy đều không nên
cầu kỳ, xa xỉ, bày vẽ thái quá. Cho nên, chữ "kiệm" (cần
kiệm) này vô cùng quan trọng.
5)
Nhường nhịn (Nhượng). Ðây là loại đức hạnh thứ năm.
"Nhượng" tức là khiêm nhường, nhường nhịn—đối với
bất cứ việc gì chúng ta cũng không tranh giành để được
ưu tiên, chẳng e sợ về sau mình bị thiệt thòi. "Nhượng"
cũng là nhường cho người khác được "đệ nhất"—cái gì
tốt thì để cho người ta được trước, còn cái gì không
tốt thì chính mình lãnh lấy, đó gọi là "nhượng." Chúng
ta cần phải học tánh khiêm nhượng, nhường nhịn một cách
lễ phép, lịch sự.
Vừa
rồi là nói sơ lược về Ngũ Ðức. Bây giờ tôi kể cho quý
vị nghe một câu chuyện có liên quan đến đức tánh "nhượng"
này; đó là "Dung tứ tuế, năng nhượng lê" (Dung lên bốn,
biết nhường lê). Ở Trung Hoa, trước thời Tam Quốc, có một
người tên là Khổng Dung giữ một chức quan rất lớn trong
triều đình. Thuở ấu thời, lúc Khổng Dung mới được bốn
tuổi, có người khách đến nhà biếu một giỏ lê. Người
lớn trong nhà bèn bảo Khổng Dung tự chọn lấy cho mình một
quả, quý vị thử đoán xem cậu bé bốn tuổi này chọn quả
như thế nào? Cậu bé chọn một quả nhỏ nhất trong giỏ!
Bấy
giờ, người khách lấy làm lạ, bèn hỏi: "Sao cậu không lấy
quả lớn mà lại lấy quả nhỏ thôi vậy?"
Khổng
Dung đáp: "Thưa, vì cháu là nhỏ nhất nên ăn quả nhỏ; còn
các anh cháu đều lớn hơn cháu, thì nên ăn quả lớn!" Về
sau, Khổng Dung được làm quan chức tước rất lớn. Do vì
Khổng Dung biết nhường nhịn, để dành quả lê lớn cho các
anh, còn mình thì chịu ăn quả nhỏ, nên nói rằng "Dung lên
bốn, biết nhường lê."
Lại
có một câu chuyện khác, gọi là "Hương lên chín, biết ủ
chiếu” (Hương cửu linh, năng ôn tịch). Ở Trung Hoa, đời
nhà Hán, có một người tên là Hoàng Hương, mới chín tuổi
mà mỗi tối gần đến giờ đi ngủ là lên nằm trên giường
của cha mẹ trước, để giường chiếu đều ủ hơi ấm hầu
cha mẹ vào ngủ được ấm áp. Sau khi cha mẹ an giấc rồi,
Hoàng Hương mới về giường mình nằm ngủ. Ðó gọi là "ôn
tịch," ủ cho giường chiếu ấm lên, và là một hành động
phát xuất từ lòng hiếu thảo—trọn hiếu đạo cũng là
một đức hạnh vô cùng cao quý.
Kinh
văn:
Ngài
Phổ Quảng bạch rằng: "Vâng! Bạch Ðức Thế Tôn! Chúng con
vui mừng muốn được nghe."
Ðức
Phật bảo Bồ Tát Phổ Quảng: "Trong đời vị lai, như có
thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào nghe được danh hiệu
của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hoặc là chắp tay, hoặc
là tán thán, hoặc là đảnh lễ, hoặc là luyến mộ, người
đó sẽ qua khỏi tội khổ trong ba mươi kiếp.
Này
Phổ Quảng! Như có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào, hoặc
tô vẽ hình tượng, hoặc dùng đất, đá, keo, sơn, vàng, bạc,
đồng, sắt, tạc tượng Bồ Tát này, rồi cứ một lần chiêm
ngưỡng một lần đảnh lễ, thì người đó sẽ được sanh
lên cõi trời Ba Mươi Ba một trăm lần, vĩnh viễn không phải
đọa vào ác đạo.
Giả
sử phước trời đã hết, phải sanh xuống nhân gian, cũng
vẫn làm vị Quốc Vương, không hề mất sự lợi lớn."
Lược
giảng:
Ngài
Phổ Quảng bạch với Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni rằng: "Vâng!
Bạch Ðức Thế Tôn! Chúng con vui mừng muốn được nghe. Hiện
tại chúng con đều sẵn sàng và hoan hỷ lắng nghe."
Ðức
Phật bảo Bồ Tát Phổ Quảng: "Trong đời vị lai, như có
thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào, kẻ nam hay người nữ
nào có thọ Ngũ Giới và biết hành Thập Thiện, nghe được
danh hiệu của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hoặc là chắp
tay, hoặc là tán thán..." Người đó có thể trầm trồ nói
rằng: "Ồ! Bồ Tát Ðịa Tạng quả là một vị Ðại Bồ
Tát. Ngài thật là từ bi, lại còn có thần thông diệu dụng
nữa; thật là bất khả tư nghì!"
"Hoặc
là đảnh lễ, hoặc là luyến mộ..." Có người trông thấy
tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng thì sanh lòng "luyến mộ"—không
đành lòng bỏ đi, cứ đứng mãi ở đó mà lưu luyến ngắm
nhìn tôn tượng, đến nỗi quên ăn quên uống, quên hết mọi
chuyện. Ðây cũng giống như người đã say mê, ham thích một
việc gì rồi, thì quên hết tất cả những việc khác vậy.
Như
thế, nếu có người thiện nam hay tín nữ nào khi nghe được
danh hiệu hoặc trông thấy hình tượng của Ðại Bồ Tát
Ðịa Tạng, liền cung kính chắp tay, thành tâm khen ngợi, hướng
về tôn tượng mà cúi lạy, quyến luyến không rời, thì "người
đó sẽ qua khỏi tội khổ trong ba mươi kiếp. Tất cả nghiệp
tội trong ba mươi kiếp của người đó đều được tiêu
tan."
"Này
Phổ Quảng! Như có thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào, hoặc
tô vẽ hình tượng, hoặc dùng đất, đá, keo, sơn, vàng, bạc,
đồng, sắt, tạc tượng Bồ Tát này..." Ðức Phật lại gọi
Bồ Tát Phổ Quảng mà bảo rằng: "Giả sử có kẻ nam hay
người nữ nào có thọ Ngũ Giới và hành Thập Thiện, có
thể dùng bảy màu sắc để tô vẽ tượng Bồ Tát Ðịa Tạng,
dùng đất sét để nặn tượng Bồ Tát Ðịa Tạng, khắc
chạm tượng Bồ Tát Ðịa Tạng trên đá, dùng nhựa để
đắp tượng Bồ Tát Ðịa Tạng, dùng sơn để tô vẽ tượng
Bồ Tát Ðịa Tạng, dùng vàng bạc để tạo tượng Bồ Tát
Ðịa Tạng, hoặc dùng đồng hay sắt để tạo tượng Bồ
Tát Ðịa Tạng...; rồi cứ một lần chiêm ngưỡng, một lần
đảnh lễ, thì người đó sẽ được sanh lên cõi trời Ba
Mươi Ba—trời Ðao Lợi—một trăm lần, vĩnh viễn không
phải đọa vào ác đạo. Nhờ công đức lễ bái Bồ Tát Ðịa
Tạng mà người đó mãi mãi không bị đọa lạc vào đường
ác."
"Giả
sử phước trời đã hết, phải sanh xuống nhân gian, cũng
vẫn làm vị Quốc Vương, không hề mất sự lợi lớn." Khi
các thiện nam tín nữ ấy đã hưởng hết phước báo ở cõi
trời của họ rồi và phải sanh trở lại về cõi người,
thì họ sẽ được sanh làm vua làm chúa. Cho nên, những vị
Quốc Vương trên thế gian hiện nay đều là những người
trước kia đã từng cung kính lễ lạy Ðịa Tạng Vương Bồ
Tát. Ngay cả những vị Tổng Thống cũng vậy, họ đều nhờ
đã lễ bái Bồ Tát Ðịa Tạng mà có được đôi chút công
đức, và họ cũng sẽ không bao giờ đánh mất sự lợi ích
lớn lao nhất này.
Kinh
văn:
"Giả
sử có người nữ nào nhàm chán nữ thân, hết lòng cúng dường
tượng vẽ của Bồ Tát Ðịa Tạng, cùng những tượng bằng
đất, đá, keo, sơn, đồng, sắt, v.v..., ngày ngày như thế,
không hề thối chuyển; lại thường đem hoa, hương, đồ ăn,
thức uống, y phục, gấm lụa, tràng phan, tiền bạc, vật
báu v.v... cúng dường; thì người thiện nữ đó sau khi mãn
một báo thân nữ hiện tại, thời đến trăm ngàn muôn kiếp
còn không sanh vào thế giới có người nữ, huống hồ là
thọ lại nữ thân!
Trừ
phi vì nguyện lực từ bi, muốn thọ nữ thân để độ thoát
chúng sanh, còn thì nương nơi sức cúng dường Ngài Ðịa Tạng
cùng sức công đức, trong trăm ngàn muôn kiếp chẳng còn phải
thọ nữ thân nữa."
Lược
giảng:
"Giả
sử có người nữ nào nhàm chán nữ thân..." Quý vị nữ giới
đừng tưởng rằng làm thân nữ là một điều tốt đẹp
mà vội sanh lòng tự mãn, bởi cái thân nữ này có rất nhiều
sự phiền toái rắc rối.
Vì
sao nói thân nữ có nhiều phiền toái? Quý vị chớ cho rằng
tôi cố ý nói như thế để quý vị chán ghét thân nữ, rồi
đòi xuất gia làm Tỳ Kheo hay Tỳ Kheo Ni! Thân thể của người
nữ quả thật có rất nhiều phiền toái, cho nên cũng có nhiều
người nữ không bằng lòng với cái thân mà họ đương có
này.
Vì
sao phải làm thân người nữ? Quý vị hãy nghiền ngẫm đạo
lý này: Nếu hiện đời, quý vị mang nặng những tập khí
như ganh ghét đố kỵ, chướng ngại, tham lam, ích kỷ, ưa
lợi dụng, thích trau chuốt, thích làm duyên làm dáng, vân
vân ..., thì đời sau quý vị phải sanh làm người nữ. Thế
nhưng, nếu quý vị cung kính chiêm lễ Ðịa Tạng Vương Bồ
Tát, thì vấn đề sẽ được giải quyết—quý vị sẽ không
phải làm thân nữ nữa; còn nếu không giải quyết được
vấn đề này, tức là quý vị sẽ phải mang thân nữ, và
như thế thì chẳng vui vẻ gì cả bởi thân nữ thì có năm
điều chướng ngại (Ngũ Chướng) và mười việc xấu (Thập
Ác).
Năm
sự chướng ngại của thân nữ là gồm có những gì? Ðó
là:
1)
Người nữ không thể làm Ðại Phạm Thiên Vương.
Tại
sao người nữ lại không thể làm Ðại Phạm Thiên Vương?
Bởi vì Ðại Phạm Thiên Vương vốn do tu hạnh thanh tịnh
mà thành ("phạm" có nghĩa là thanh tịnh, trong sạch); trong
khi đó, thân thể người nữ có nhiều nhiễm ô bất tịnh,
không được sạch sẽ, cho nên không thể nào làm Ðại Phạm
Thiên Vương được.
2)
Người nữ không thể làm Ðế Thích (Thiên Chủ).
Thế
thì quý vị sẽ thắc mắc rằng vị Thiên Chủ của cõi trời
Tam Thập Tam không phải là người nữ sao? Ðúng vậy! Có điều,
vị ấy đã chuyển thành thân nam; cho nên Thiên Chủ vẫn là
nam, chứ không phải nữ. Ðế Thích thì rất ít dục niệm;
còn người nữ thì lòng dâm dục nặng nề, cho nên không thể
làm Thiên Chủ được.
3)
Người nữ không thể làm Ma Vương.
Ðiều
này là tốt nhất! Ma Vương vốn rất cang cường, lại vô
cùng cứng rắn; còn người nữ thì quá yếu đuối, hễ có
việc gì xảy ra là liền hoảng hốt, bối rối, mất tự chủ,
phải cầu cứu người khác, cho nên không thể làm Ma Vương
được.
4)
Người nữ không thể làm Chuyển Luân Thánh Vương (Luân Vương).
"Luân
Vương" tức là Kim Luân Thánh Vương, Ngân Luân Thánh Vương,
Thiết Luân Thánh Vương và Ðồng Luân Thánh Vương.
Vì
sao người nữ không thể làm Chuyển Luân Thánh Vương? Chuyển
Luân Thánh Vương thì rất từ bi, rất nhân hậu, thường dạy
người đời trì Ngũ Giới, hành Thập Thiện; còn người nữ
thì tâm địa nhỏ nhen, lòng đố kỵ rất lớn, cái gì cũng
so đo ganh tỵ cả, hễ thấy người khác được điều gì
tốt đẹp là trong bụng mình liền bứt rứt xốn xang, sanh
tâm ghen ghét. Bởi đố kỵ là bản tánh của người nữ,
cho nên họ không thể làm Chuyển Luân Thánh Vương được.
5)
Người nữ không thể làm Phật, không thể thành Phật.
Thân
Phật thì có vạn đức trang nghiêm; còn thân người nữ thì
lại quá nhiều nhơ uế, nhiều xấu ác, lại thường đố
kỵ chướng ngại, tâm lượng hẹp hòi, tâm tướng nhỏ nhoi
như hạt mè vậy, cho nên người nữ không thể thành Phật
được.
Tuy
rằng người nữ có năm sự chướng ngại như thế, nhưng
nếu họ không còn lòng đố kỵ, không còn lòng dâm dục,
không còn yếu đuối nhẹ dạ, không còn những nhơ uế xấu
ác, không còn tâm nhiễm ô bất tịnh, thì họ có thể được
chuyển nữ thành nam; cho nên, họ vẫn có hy vọng. Ðiển hình
là trường hợp của Long Nữ, con gái của Long Vương. Khi nghe
Tôn Giả Xá Lợi Phất nói cô ta không thể thành Phật, Long
Nữ bèn lấy viên bảo châu mà cô yêu thích nhất, không đành
lòng cho đi nhất, đem cúng dường cho Ðức Phật. Phật hoan
hỷ thọ nhận sự cúng dường của cô ta.
Bấy
giờ, Long Nữ hỏi Tôn Giả Xá Lợi Phất rằng: "Tôi có thể
thành Phật ngay bây giờ. Ngài xem, tôi đem bảo châu cúng dường
cho Ðức Phật và Phật đã đón nhận; chẳng hay việc đó
có nhanh chóng chăng?"
Ngài
Xá Lợi Phất đáp: "Thật rất nhanh chóng!"
Long
Nữ bèn nói: "Bây giờ tôi thành Phật cũng nhanh chóng như
thế, nhanh như tôi đem bảo châu dâng cúng cho Ðức Phật vậy!"
Nói vừa dứt lời thì Long Nữ quả nhiên liền chứng đắc
Phật thân, tức thời thành Phật.
Cho
nên, quý vị nữ giới đừng than thân trách phận hoặc chán
ghét cuộc đời, cũng đừng nghĩ là vì có Ngũ Chướng mà
mình không còn hy vọng! Chỉ e rằng quý vị phát tâm không
được dũng mãnh mà thôi, chứ nếu phát tâm một cách dũng
mãnh thì ai nấy đều được thành Phật như nhau cả. Trường
hợp "Long Nữ hiến châu, tức khắc thành Phật," đó là nhờ
cô ta dũng mãnh xả bỏ, đem hạt bảo châu là vật mà mình
yêu quý nhất dâng cúng cho Ðức Phật, cho nên lập tức được
thành Phật.
Về
mười điều xấu (Thập Ác) của người nữ, bây giờ tôi
chỉ nói sơ lược thôi, chứ không giảng giải cho cặn kẽ
được, vì e rằng chúng ta không có đủ thì giờ.
-Ðiều
xấu thứ nhất là ngay từ khi vừa lọt lòng, đứa con gái
liền làm cho cha mẹ không vui rồi—bởi đó là con gái, nếu
là con trai thì cha mẹ rất vui mừng. Tuy rằng không phải là
cha mẹ nào cũng đều như thế cả, song có thể nói rằng
hầu hết mọi quốc gia đều có một phong khí tương đồng—đó
là thích sinh con trai, không thích sinh con gái. Vì thế, vừa
mở mắt chào đời, đứa con gái đã gây cho cha mẹ một ấn
tượng không vui rồi.
-Ðiều
thứ hai là cha mẹ cảm thấy việc nuôi dưỡng con gái là
không có ý nghĩa, không thấy vui.
-Thứ
ba, con gái thường có tính rụt rè, nhút nhát, hay sợ sệt.
Con trai thì không sợ xấu, trong khi đa số con gái đều sợ
xấu, sợ người.
-Thứ
tư, cha mẹ thường vì chuyện hôn nhân của con gái mà nhọc
lòng lo lắng. Khác với người Mỹ là cha mẹ không bận tâm
lắm về chuyện hôn nhân của con cái, tại nhiều quốc gia,
như Trung Hoa chẳng hạn, lại có phong khí là cha mẹ đặc
biệt quan tâm về việc cưới gả của con cái, nhất là việc
tìm cho con gái mình một người chồng tốt.
-Thứ
năm, con gái rồi sẽ sống xa cha mẹ. Trong tương lai, nhất
định con gái sẽ rời bỏ cha mẹ.
-Thứ
sáu, con gái sau khi kết hôn thì nể sợ chồng, thận trọng
từng li từng tí đối với sự vui buồn của chồng—chồng
vui vẻ thì vợ vui theo, chồng nổi nóng thì vợ khép nép sợ
hãi.
-Thứ
bảy, từ khi thai nghén cho đến lúc sinh nở còn rất nhiều
khó khăn trắc trở, người con gái cảm thấy rất lo âu, sợ
hãi.
-Thứ
tám, khi người con gái phạm lỗi lầm thì mọi người đều
trách móc cha mẹ cô ta, rằng họ đã sinh ra một đứa con
gái hư hỏng. Cho nên, con gái nết na đức hạnh thì không
nói làm gì; rủi mà ăn ở vụng về thì cha mẹ sẽ bị mang
tiếng xấu.
-Thứ
chín, người con gái thường bị chồng quản chế, không cho
phép làm việc này việc nọ. Có rất nhiều phép tắc hạn
chế mà người vợ phải tuân theo; bằng không, nếu không
phục tòng thì sẽ bị chồng bỏ, buộc phải ly hôn.
Quý
vị xem, thật là quá nhiều rắc rối phiền phức, có phải
không? Trên đây là chín điều không tốt có thể xảy ra lúc
người nữ còn trẻ.
-Thứ
mười, người nữ đến khi già cả thì lại bị con cái, cháu
chắt xem thường. Con trai, con gái, hoặc cháu nội cháu ngoại,
nghĩ rằng: "Bà đã già yếu đến thế rồi mà vẫn chưa chịu
chết!" Có câu: "Già mà chưa chết thì thành kẻ cắp"—ngay
cả con cái cũng mắng mẹ nữa, quý vị xem có đáng thương
không?
Cho
nên, người nữ có rất nhiều sự phiền toái phức tạp.
Trên đây là mười điều xấu (Thập Ác) của thân nữ; ngoài
ra còn có hai mươi điều nữa, nếu kể ra nữa thì nhiều
quá, nói không hết được.
Bây
giờ chúng ta trở lại với phần kinh văn. Lúc đó, Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni bảo Bồ Tát Phổ Quảng rằng: "Nếu có người
nữ nào vì thấy thân nữ không thanh tịnh nên sanh lòng chán
ghét, không thích cái thân đó nữa, thì phải làm thế nào?
Thì người nữ đó phải hết lòng cúng dường tượng vẽ
của Bồ Tát Ðịa Tạng, cùng những tượng bằng đất, đá,
keo, sơn, đồng, sắt, hoặc là tượng bằng gỗ, v.v..., ngày
ngày như thế, không hề thối chuyển. Nếu người nữ đó
có thể mỗi ngày đều đặn cúng dường tôn tượng của
Bồ Tát Ðịa Tạng như thế, lại thường đem hoa, hương,
đồ ăn thức uống, y phục, gấm lụa, tràng phan, tiền bạc,
vật báu v.v... cúng dường Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, thì
người thiện nữ đó sau khi mãn một báo thân nữ này, thời
đến trăm ngàn muôn kiếp còn không sanh vào thế giới có
người nữ, huống hồ là thọ lại nữ thân!" Sau khi báo thân
nữ ở đời này hết rồi, thì cả trăm ngàn vạn kiếp về
sau, người thiện nữ đó vĩnh viễn không còn sanh vào thế
giới có người nữ nữa. Như vậy thì thế giới nào là thế
giới không có người nữ? Chính là thế giới Tây Phương
Cực Lạc!
Hiện
tôi đã thỉnh tượng vẽ của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát về
đây, cũng là để giúp đỡ những người nữ, nếu có ai
không muốn mang thân nữ nữa thì hãy thành tâm chiêm lễ,
cúng dường tượng vẽ của Ngài.
"Trừ
phi vì nguyện lực từ bi, muốn thọ thân nữ để độ thoát
chúng sanh." Tuy nhiên, có nhiều người mang thân nữ là do tự
nguyện: "Tôi nguyện làm người nữ. Tôi muốn dùng thân nữ
để giáo hóa, độ thoát chúng sanh!"
Trong
số quý vị có thể có người đã từng phát nguyện, muốn
dùng thân nữ để độ chúng sanh, cho nên hiện đời mặc
dù không thích mang thân nữ, cũng vẫn sanh làm người nữ
rồi. Ðiển hình là trường hợp của Phật Mẫu Ma-Da Phu Nhân.
Phật Mẫu dùng Ðại Huyễn Tam Muội mà dạo chơi trong chốn
nhân gian, Bà phát nguyện làm mẹ của tất cả đức Phật
hạ sanh ở thế gian. Cho nên, một ngàn đức Phật xuất thế
(Phật Thích Ca Mâu Ni là đức Phật thứ tư), thì Ma-Da Phu
Nhân đều là mẫu thân của cả ngàn vị—đó là hạnh nguyện
của Bà.
Lại
như trường hợp của Bồ Tát Quán Thế Âm, Ngài vốn là "phi
nam phi nữ"—chẳng phải thân nam cũng chẳng phải thân nữ.
Tuy nhiên, vì biết rằng tất cả chúng sanh trên thế gian đều
thích người nữ có dung mạo mỹ miều, Ngài bèn thị hiện
làm một người nữ vô cùng xinh đẹp, đến thế giới Ta
Bà để cứu độ chúng sanh.
Quý
vị cũng nên học theo hạnh của Bồ Tát Quán Thế Âm, phải
độ thoát chúng sanh, song phải cẩn thận, đừng để cho chúng
sanh "độ" lại mình. Nói như vậy là thế nào? Nghĩa là quý
vị có hảo ý muốn độ chúng sanh, muốn làm cho chúng sanh
lìa khổ được vui, nhưng nếu không khéo thì quý vị chẳng
những không độ nỗi chúng sanh mà bản thân mình cũng bị
rơi vào bể khổ, bị cuốn theo dòng nước, không còn định
lực nữa. Lại cũng có nghĩa là nếu quý vị cứ cắm đầu
cắm cổ chạy theo ái tình, thì sẽ bị ái tình vây khốn
mà trở thành mê muội. Bồ Tát Quán Thế Âm tuy hiện thân
nữ, nhưng Ngài không bị mê đắm trong tình ái. Ngài chân
chánh yêu thương, che chở chúng sanh, muốn cứu độ chúng
sanh; Ngài có thể cứu độ được chúng sanh mà vẫn giữ
cho chính mình không bị trầm luân trong biển khổ.
Cho
nên, trừ khi là do nguyện lực của chính mình muốn mang thân
nữ để cứu độ chúng sanh, "còn thì nương nơi sức cúng
dường Ngài Ðịa Tạng cùng sức công đức, trong trăm ngàn
muôn kiếp chẳng còn phải thọ nữ thân nữa." Nhờ nhân duyên
sức cúng dường Ðịa Tạng Vương Bồ Tát cùng sức công
đức có được từ sự cúng dường này, người thiện nữ
đó trong trăm ngàn vạn kiếp về sau đều không phải làm
thân người nữ nữa!
Kinh
văn:
"Lại
nữa, này Phổ Quảng! Nếu có người nữ nào chán thân xấu
xí và nhiều bệnh tật, đến trước tượng của Ðịa Tạng
Bồ Tát, chí tâm chiêm lễ trong chừng một bữa ăn, người
nữ đó trong ngàn muôn kiếp sẽ được thọ sanh thân hình
tướng mạo viên mãn. Người nữ xấu xí đó, nếu không nhàm
chán thân gái, thì trong trăm ngàn muôn ức đời thường làm
Vương Nữ, cho đến Vương Phi, hoặc con gái dòng dõi Tể Phụ,
Ðại Quan, Ðại Trưởng Giả, đoan chánh thọ sanh, các tướng
viên mãn.
Do
chí tâm chiêm lễ hình tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát mà
được phước như thế."
Lược
giảng:
Ðức
Phật dạy tiếp: "Lại nữa, này Phổ Quảng! Nếu có người
nữ nào chán thân xấu xí và nhiều bệnh tật..."
Trên
thế gian này, cùng là con người song tại sao có người thì
tướng mạo đẹp đẽ xinh xắn, có người lại xấu xí cục
mịch? Hoặc có người thì thân thể tráng kiện, có người
lại ốm đau quặt quẹo? Vì lẽ gì mà có những sự khác
biệt như thế?
Có
mười nghiệp dữ (Thập Ác Nghiệp) khiến cho tướng mạo
con người bị xấu xí; những gì là mười?
-Ác
nghiệp thứ nhất là thường hay phẫn nộ, thích sanh lòng
căm phẫn. Chữ "phẫn" này là một trong hai mươi thứ phiền
não; còn "nộ" là phát cáu, nổi giận.
Người
nữ đa số dễ nổi nóng, dễ giận hờn. Tuy rằng không phải
người nữ nào cũng như vậy, nhưng phần đông thì đều là
dễ nổi giận; họ có thể vì một cây kim hay một sợi chỉ
mà sanh ra giận dữ, tức tối. Nổi giận, nổi nóng là đặc
tính của người nữ.
-Ác
nghiệp thứ hai là trong lòng thường chất chứa một mối
hiềm nghi và ghét hận. Người nữ thường có tánh đa nghi,
cái gì cũng hoài nghi cả; lại còn có thêm lòng phẫn hận
nữa. Họ "hận người," cho rằng ai cũng có lỗi, cũng đắc
tội với mình, cũng đáng cho mình thù ghét cả.
-Ác
nghiệp thứ ba là gì? Là ưa nói dối, thích mê hoặc người
khác—làm cho người khác bị điên điên đảo đảo, không
biết thế nào cho phải nữa.
-Ác
nghiệp thứ tư là gì? Là thích não loạn chúng sanh—đa số
người nữ rất thích điều này.
-Ác
nghiệp thứ năm là không có lòng ái kính chân thành đối
với cha mẹ; cũng có người có vậy, nhưng đa số thì không.
-Ác
nghiệp thứ sáu là không sanh tâm cung kính đối với nơi chốn
tôn nghiêm của Thánh Hiền và Thiện Thần. (Những vị tu học
Phật Pháp mà chứng quả A La Hán đều được gọi là bậc
"Thánh Hiền.") Thậm chí ở trước mặt đức Phật, ở chùa
chiền, đa số người nữ cũng không sanh lòng cung kính, không
có được lòng cung kính chân chánh.
-Ác
nghiệp thứ bảy là xâm đoạt tài sản ruộng vườn nhu yếu
của Thánh Hiền. Ác nghiệp này chỉ nói về một số người
nữ mà thôi, chứ không phải ai cũng như vậy. "Xâm đoạt"
tức là cướp lấy, chiếm đoạt một cách ngang ngược.
-Ác
nghiệp thứ tám là thường dập tắt những ngọn đèn thắp
trước tượng Phật ở trong chùa hoặc trong tháp thờ Phật,
không để đèn tiếp tục cháy sáng nữa. Ðây là hành vi thứ
tám dẫn đến quả báo xấu xí. Thật ra, cũng rất ít người
nữ nào lại thổi tắt đèn thắp trước tượng Phật như
thế.
-Ác
nghiệp thứ chín là thấy người nào xấu xí thì liền sanh
lòng chê bai, khinh miệt, nói rằng: "Ôi! Người gì mà xấu
xí quá sức, thật là chẳng ai dám nhìn!" Người nữ thường
có thói khinh người như thế—song le, thấy người ta xấu
xí mà khinh thường người ta, kết quả là chính bản thân
mình cũng bị xấu xí luôn! Quý vị phải biết rằng, trong
tự tánh của mình vốn có "tấm gương thu hình"; khi quý vị
nhìn thấy một kẻ xấu xí rồi sanh lòng khinh mạn, thì tất
cả đều được ghi nhận và thu vào "tấm gương" của quý
vị; và đến đời sau, quý vị phải đầu thai làm kẻ còn
xấu xí tệ hơn người đó nữa.
-Ác
nghiệp thứ mười là thích học theo hoặc bắt chước theo
những thói hư tật xấu (ác hạnh), những hành vi không chánh
đáng.
Trên
đây là mười thứ ác nghiệp hay mười nguyên nhân dẫn đến
việc thọ quả báo tướng mạo xấu xí. Lại có mười nguyên
nhân khiến cho thân thể mang nhiều bệnh tật; những gì là
mười?
-Thứ
nhất, là thích đánh đập mọi loài chúng sanh. Bất luận
là chúng sanh nào, hễ trông thấy là đều muốn đánh đập—đây
là nguyên nhân đầu tiên của quả báo thân thể phải mắc
nhiều bệnh khổ.
-Nguyên
nhân thứ hai dẫn đến quả báo bệnh tật khổ sở là xúi
giục hoặc sai bảo người khác đánh đập chúng sanh—chó,
mèo, chuột..., thậm chí cả trẻ em.
-Thứ
ba, là khen ngợi việc đánh nhau. Khen ngợi cái gì? Trầm trồ,
khen ngợi cách đánh đập, hành hạ chúng sanh. Do vì tán thưởng
cách đánh đập của người khác, nên chính bản thân mình
phải chịu quả báo nhiều bệnh tật.
-Thứ
tư, là thấy sự đánh đập mà vui mừng. Có những kẻ thấy
người khác đánh đập chúng sanh thì trong lòng lại vui mừng
hớn hở, cho là chuyện thú vị: "Hay thật! Ðáng đời! Ðánh
thật là đẹp mắt!"; xem ra còn thú vị hơn cả coi xi-nê nữa!
-Thứ
năm, là thấy chúng sanh bệnh tật đau đớn rên siết, thì
trong lòng lại hân hoan vui sướng. Có nhiều người hễ thấy
kẻ khác bị ốm đau bệnh hoạn, thì trong lòng lại mừng
rỡ, thích thú: "Có chúng sanh bị đau ốm rồi. Ồ! Hay quá!
Có thế chứ, hắn bệnh rồi đấy!" Họ không cảm thông thương
xót đã đành, lại còn vui cười mừng rỡ nữa.
-Thứ
sáu, là thấy người bệnh được bình phục thì trong lòng
cảm thấy không vui. Có những kẻ thấy người khác mắc bệnh
song sau đó được thuyên giảm hoặc khỏi hẳn thì họ không
vui, chính vì thế cho nên kiếp sau chính bản thân họ phải
chịu quả báo nhiều bệnh tật, hay đau ốm.
-Thứ
bảy, là cho chúng sanh uống thứ thuốc không đúng bệnh. Có
những người đem thuốc cho chúng sanh bị bệnh, họ cho thứ
thuốc gì? Họ cho thứ thuốc không phải trị đúng chứng
bệnh mà chúng sanh đó đương mắc phải. Ví dụ, như người
bệnh đau đầu thì họ lại cho thuốc đau bụng, chẳng những
thế, họ còn huênh hoang: "Quý vị xem, tôi cho bệnh nhân uống
thuốc rồi đó."
-Thứ
tám, là thấy người bệnh được thầy thuốc tận tâm chữa
trị cho, thì sanh lòng đố kỵ, ghen ghét, nói rằng: "Ôi! Ông
bác sĩ đó tốt nhất là chết sớm đi, khỏi cần phải trị
bệnh cho hắn nữa! Thấy mà gai mắt!"
-Thứ
chín, là thấy người khác ốm đau bệnh hoạn thì lại vui
thích, còn mong sao người đó cứ luôn luôn ốm đau, mãi mãi
bị bệnh tật hành hạ.
-Thứ
mười, là thích ăn vặt, ăn luôn miệng. Mới vừa ăn xong
chưa kịp tiêu hóa hết thì lại ăn nữa, miệng lúc nào cũng
thấy thèm ăn, muốn ăn luôn miệng, không ngừng nghỉ.
Do
mười thứ ác nghiệp này mà phải thọ quả báo nhiều ốm
đau bệnh tật.
Chúng
sanh sở dĩ tướng mạo xấu xí hoặc thân thể nhiều bệnh
tật là đều do phạm vào hai mươi ác nghiệp kể trên mà
ra. Nếu không phạm vào hai mươi ác nghiệp đó thì sao? Thì
tướng mạo không bị xấu xí, thân thể cũng không bị nhiều
bệnh tật.
Như
vậy, nếu bị xấu xí và nhiều bệnh tật thì phải làm thế
nào? Thì hãy "đến trước tượng của Ðịa Tạng Bồ Tát,
chí tâm chiêm lễ, dùng cái tâm thành khẩn thiết tha mà chiêm
ngưỡng lễ bái Bồ Tát Ðịa Tạng trong chừng một bữa ăn,
trong một khoảng thời gian ngắn ngủi lâu bằng ăn xong một
bữa cơm, người nữ đó trong ngàn muôn kiếp sẽ được thọ
sanh thân hình tướng mạo viên mãn."
Thế
nào gọi là "tướng mạo viên mãn"? Ðó là mắt thì giống
hình dạng của mắt, tai thì có dáng vẻ của tai. Thế thì,
quý vị nói mắt như thế nào là không giống mắt? Thông thường,
chúng ta thấy hầu hết mọi người đều có đôi mắt dài
dài tựa như hạt hạnh nhân vậy, nhưng có kẻ lại có con
mắt hình tam giác hoặc vuông vức bốn cạnh; hoặc đa số
có tai dài, hình đĩnh vàng, song có kẻ lại có vành tai nhòn
nhọn như mũi dao vậy; có người thì mũi lại hỉnh lên, lỗ
mũi lộ ra ngoài. Nói theo sách tướng, người có tướng mũi
như thế là người chẳng có chút phước báo nào cả—đó
là tướng bần cùng. Gặp những người có tướng như thế
thì quý vị chớ nên kết giao làm bạn, bởi vì làm bạn với
họ sẽ chẳng có gì tốt đẹp cả.
Tôi
có biết một vị Pháp Sư nọ có tướng mắt hình tam giác
và mũi thì lộ ra. Khi còn ở Hương Cảng thì tôi giúp đỡ
ông cũng nhiều, nhưng sau đó ông ta lại tráo trở, dùng đủ
cách để bôi nhọ, phá hoại tôi. Tuy vậy, tôi cũng chẳng
hề trách móc gì ông ta cả. Về sau, ông ta mắc phải chứng
ung thư mà chết. Lúc sắp chết vẫn còn ham thể diện, chưa
bỏ được cái "mặt" này, ông căn dặn rằng: Hãy làm như
Pháp Sư Từ Hàng vậy—hãy đặt nhục thân của ông ta ngồi
trong cái vại lớn rồi niêm lại, sau ba năm thì hãy mở ra
xem, nếu nhục thân vẫn còn tươi tốt thì đem ra thếp vàng.
Rút cuộc, để chưa tới hai hôm thì đầu của ông đã gục
xuống rồi!
Có
người nói với tôi rằng nếu là người có công phu tu hành
thật sự, thì bất luận chết đã bao nhiêu ngày, nhục thân
của họ vẫn trong tư thế đoan nhiên chánh tọa, chứ đầu
không gục xuống như thế! Vị Pháp Sư này sang ngày thứ hai
đầu đã gục xuống, thế nhưng ông ta còn ham thể diện,
dặn đợi đến ba năm rồi mới mở vại. Tuy nhiên, mấy người
học trò của ông ta không dám mở vại, vì họ biết rằng
không "chắc ăn"! Cho nên, người có tướng mũi lộ ra như
thế thì không được tốt cho lắm!
Lại
nữa, đàn ông miệng rộng thì tốt, song đàn bà mà miệng
rộng thì không tốt, đây là tướng phân nam nữ. Vận hạn
của mỗi người, lúc nào thì tốt, lúc nào thì xấu, đều
có thể biết được qua tướng mạo. Chỉ cần xem tướng
mạo, người ta có thể biết được thời thanh niên quý vị
đã thành công như thế nào, thời trung niên sẽ ra sao, và
lúc về già hậu vận sẽ như thế nào. Cho nên, sự hiểu
biết của người Trung Hoa về lãnh vực tướng số rất uyên
thâm, chỉ xem tướng người mà biết được kẻ ấy mai sau
tiền đồ có xán lạn hay không.
"Tướng
mạo viên mãn" tức là tốt đẹp toàn diện, như Hồng y Yu
Bin (Vu Bân) chẳng hạn, tướng mạo của ông ấy vô cùng tốt
đẹp, tuổi già được vận may. Quý vị có thể chú ý tướng
mạo của ông ấy—mắt, mũi, miệng đều rất cân xứng,
hài hòa, tướng người rất phúc hậu, đức độ. Thế nhưng,
rốt cuộc ông lại đi lầm đường; nếu theo Phật Giáo, ông
ta có thể trở thành một vị Pháp Sư bất khả tư nghị.
"Tướng
mạo viên mãn" là quả báo nhờ đã từng niệm Phật, lạy
Phật, hoặc lạy những vị Bồ Tát.
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni dạy tiếp: "Người nữ xấu xí đó, nếu
không nhàm chán thân nữ, tuy rằng xấu xí nhưng nếu cô ta
vẫn thích thân nữ, vẫn muốn làm người nữ, thì trong trăm
ngàn muôn ức đời thường làm Vương Nữ." Nhờ lễ bái hình
tượng của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, cô ta chẳng những
được thác sanh làm con gái của vua chúa mà còn được tướng
mạo xinh đẹp, viên mãn nữa.
"Cho
đến Vương Phi." Thậm chí cô ta có thể được thọ sanh làm
vợ vua, "hoặc con gái dòng dõi Tể Phụ, Ðại Quan, Ðại Trưởng
Giả." Cô ta có thể được làm con gái của quan Tể Tướng,
con gái của bậc Ðại Quan, hoặc con gái của vị Ðại Trưởng
Giả giàu có.
"Ðoan
chánh thọ sanh, các tướng viên mãn." Tướng mạo của cô
ta nhất định là rất đoan trang và vô cùng xinh đẹp, mỹ
miều.
Như
tôi vừa nói ban nãy, nếu cặp mắt thì xinh đẹp nhưng mũi
lại không cân đối, như thế là không viên mãn; mũi rất
đẹp mà mắt không cân xứng thì cũng không viên mãn; mắt,
mũi đều đẹp cả mà tai lại không đẹp, không tương xứng,
thì cũng không gọi là viên mãn, hoàn chỉnh. Chẳng hạn, một
tai lớn, một tai nhỏ; một mắt to, một mắt nhỏ; mũi nằm
lệch sang một bên mặt; miệng dính liền với mũi, hoặc mũi
với miệng không tách rời nhau, không biết đó là mũi hay
miệng nữa—các tướng mạo như thế đều là không viên
mãn. Cũng đều là có mắt, có tai, có mũi như nhau, nhưng lại
không hài hòa, không cân xứng, hoặc là lộn xộn dồn về
một chỗ với nhau—mắt, mũi, tai tụ về thành một khối;
quý vị nói xem, như thế có dễ coi không? Tướng mạo như
thế đều là không viên mãn!
"Do
chí tâm chiêm lễ Ðịa Tạng Bồ Tát mà được phước như
thế." Thế thì, tướng mạo viên mãn, các căn hoàn chỉnh,
mắt cũng đẹp, tai cũng xinh, mũi cũng tốt, miệng cũng vừa
phải, mặt mày đều dễ nhìn, nói chung là tất cả đều
đẹp đẽ, tương xứng, là do đâu? Do có lòng tin chí thành,
tha thiết chiêm ngưỡng và đảnh lễ Bồ Tát Ðịa Tạng mà
được thọ hưởng phước báo tướng mạo đoan trang xinh đẹp
như thế!
Kinh
văn:
"Lại
nữa, này Phổ Quảng! Như có thiện nam tử, thiện nữ nhân
nào có thể đối trước tượng Bồ Tát mà trổi các thứ
kỹ nhạc, cùng ca vịnh, tán thán, cúng dường hương hoa, cho
đến khuyến hóa được một người hay nhiều người; hạng
người đó ở trong đời hiện tại cùng vị lai thường được
trăm ngàn Quỷ Thần ngày đêm theo hộ vệ, không để cho những
việc hung dữ đến tai, huống là để cho chịu các tai vạ
bất ngờ!"
Lược
giảng:
"Lại
nữa, này Phổ Quảng! Như có thiện nam tử, thiện nữ nhân
nào có thể đối trước tượng Bồ Tát mà trổi các thứ
kỹ nhạc ..." "Kỹ nhạc" tức là âm nhạc; và ở đây là
nói đến thứ âm nhạc khen ngợi Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.
"Cùng
ca vịnh, tán thán, cúng dường hương hoa, cho đến khuyến
hóa được một người hay nhiều người..." Ðức Phật dạy
tiếp: "Này Bồ Tát Phổ Quảng! Ta lại nói thêm cho Ông biết
rằng giả sử có người nam kẻ nữ nào tu hạnh Thập Thiện,
có thể đối trước tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng, trổi
các thứ kỹ nhạc, hoặc sáng tác một bài hát ca tụng Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát, hoặc là khen ngợi Ðịa Tạng Vương
Bồ Tát, hoặc là mang hương mang hoa đến cúng dường Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát, hoặc là khuyên được một người phát
tâm cung kính cúng dường Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, hoặc
là khuyên được rất nhiều người sanh lòng cung kính cúng
dường Ðịa Tạng Vương Bồ Tát; hạng người đó—những
người tự mình biết cúng dường, lại còn khuyên được
kẻ khác cúng dường—trong đời hiện tại cùng vị lai thường
được trăm ngàn Quỷ Thần ngày đêm theo hộ vệ, không để
cho những việc hung dữ đến tai, huống là để cho chịu các
tai vạ bất ngờ!"
Những
người có thể "tự hóa, hóa tha," tự độ chính mình được
rồi bèn muốn cứu độ tha nhân đó, thì ngay trong đời này
và luôn cả đời sau, thường được rất nhiều Thiện Thần
Hộ Pháp theo phù hộ; và còn khiến cho những tiếng ác, những
lời hung dữ, những âm thanh không kiết tường không vẳng
đến tai của họ, huống hồ là để chính bản thân họ chịu
đựng những việc không như ý.
"Các
tai vạ bất ngờ" (chư hoạnh) tức là những rủi ro xảy ra
đột ngột, bất trắc, như bị xe đụng chết, bị nước
dìm chết, bị lửa thiêu chết, rớt máy bay chết, xe lửa
lật chết, xe đò rớt xuống khe núi, ... những cái chết như
thế đều gọi là "hoạnh tử." Thế nhưng, bây giờ những
thiện nam tín nữ nói trên không còn phải lo âu về những
vấn đề ấy nữa, vì sao? Là vì có rất nhiều Hộ Pháp Thiện
Thần thường xuyên theo bảo vệ họ!
Hôm
qua có người phàn nàn là không dám đi máy bay, sợ máy bay
bị rớt. Ðiều này không có gì đáng phải lo sợ cả, quý
vị chỉ cần niệm được Chú Ðại Bi và Chú Lăng Nghiêm,
thì sẽ có rất nhiều Thiên Long Bát Bộ, Hộ Pháp Thiện Thần
theo phù hộ quý vị. Dù đến bất cứ nơi nào, chỉ cần
quý vị đừng khởi vọng tưởng, luôn luôn tin tưởng Bồ
Tát, thì Bồ Tát nhất định sẽ che chở cho quý vị. Người
tin Phật thì đừng sợ hãi, cũng đừng sợ quỷ, bởi loài
quỷ trông thấy quý vị thì đều phải cúi đầu, vì quý
vị có công đức. Nếu quý vị không có công đức thì sao?
Nếu quý vị không biết làm việc tốt, thì sẽ có những
việc không may xảy ra; còn nếu ngày ngày quý vị đều tu
tâm dưỡng tánh, giữ lòng hảo tâm, chăm làm thiện sự, thì
sẽ không thể có điều gì không may xảy ra cho quý vị cả.
Kinh
văn:
"Lại
nữa, này Phổ Quảng! Trong đời sau như có ác nhân cùng ác
thần, ác quỷ nào thấy kẻ thiện nam, thiện nữ quy kính
cúng dường, tán thán, chiêm lễ hình tượng của Bồ Tát
Ðịa Tạng, mà vọng sanh khinh chê là không có công đức cùng
sự lợi ích, hoặc nhăn răng ra cười, hoặc chê sau lưng,
hoặc khuyên bảo người khác cùng chê, hoặc một người chê,
hoặc nhiều người chê, cho đến sanh lòng chê bai trong chừng
một niệm; những kẻ như thế, sau khi một ngàn đức Phật
trong Hiền Kiếp diệt độ cả, vì tội báo khinh chê nên vẫn
còn ở trong địa ngục A Tỳ chịu tội cực nặng.
Qua
khỏi kiếp này xong mới thọ thân ngạ quỷ, rồi mãi đến
một ngàn kiếp sau mới thọ thân súc sanh; lại phải trải
qua một ngàn kiếp nữa mới được thân người. Dầu thọ
thân người, nhưng là hạng bần cùng hạ tiện, các căn không
đầy đủ, thường hay bị nghiệp ác kết buộc vào tâm, chẳng
bao lâu lại phải đọa vào ác đạo."
Lược
giảng:
Ðức
Phật lại bảo Bồ Tát Phổ Quảng rằng: "Lại nữa, này Phổ
Quảng! Trong đời sau như có ác nhân cùng ác thần, ác quỷ
nào..." "Ác nhân" là người phạm tội Ngũ Nghịch, Thập Ác.
"Ác thần" là hạng tà thần không giữ quy củ phép tắc gì
cả. Có những tà thần thường tới các miếu thờ mạo xưng
là thần miếu để thọ đồ cúng tế. Như tại miếu thờ
phụng Quan Ðế Công chẳng hạn, vì Quan Ðế thỉnh thoảng
cũng đi đây đi đó, không ở trong miếu thường xuyên, nên
tà thần bèn nhân lúc Ngài vắng mặt mới lẻn vào miếu và
giả dạng Ngài để thọ dụng huyết tanh của heo, dê, bò...
mà người ta mang đến cúng tế.
"Ác
quỷ" thì có đại ác quỷ và tiểu ác quỷ. Ðại ác quỷ
chính là quỷ Cưu Bàn Trà, hình thù tựa như trái bí đao.
Loài quỷ này còn được gọi là quỷ "yểm mỵ," bởi chúng
thường thừa lúc người nào đó đang say ngủ bèn đè lên
thân người ấy, khiến cho người ấy cứ nằm cứng đơ,
không nhúc nhích được mà miệng thì ú ớ, thốt không ra
tiếng. Ðó là một trong những loại đại ác quỷ.
Lại
còn có loại tiểu ác quỷ nữa. Các tiểu ác quỷ thường
nương náu trên cây cối và thị hiện thần thông, khiến cho
người ta tin tưởng chúng. Ðiển hình là chuyện thọ Giới
của cây long não (chương thọ) ở Chùa Nam Hoa (Trung Hoa). Lúc
chưa thọ Giới, vị thần cây thường hiển thị thần thông—hễ
ai có việc gì mà đến thắp nhang khẩn cầu thần cây thì
đều được cảm ứng; cảm ứng như thế nào? Ví dụ như
người bị đau ốm đến cầu xin, thì chỉ cần thắp nén
nhang là liền được khỏi bệnh ngay; hoặc có người bị
mất đồ, bèn thắp hương cầu khẩn, thì liền tìm lại được
những đồ đã mất—những chuyện "linh ứng" như vậy xảy
ra rất nhiều. Những người đến cầu xin tưởng rằng đó
thật là sự linh cảm, là Bồ Tát hiển linh, nên họ liền
giết gà, mổ heo, mang thịt của đủ loại súc sanh đến cúng
tế để tạ ơn, và thế là thần cây được hưởng "lộc
ăn." Song, thật ra, đó là một loại tiểu ác quỷ tác quái.
Trên
thế gian này có rất nhiều chuyện kỳ lạ, cho nên nếu quý
vị không hiểu rõ Phật Pháp thì rất dễ nhận lầm các loại
ác thần ác quỷ này là Bồ Tát, tưởng rằng có sự linh
cảm thật sự. Do vậy, người học Phật Pháp chớ nên nghĩ
rằng hễ nơi nào có sự linh ứng mầu nhiệm xảy ra thì đều
là Phật Pháp—hoàn toàn không phải như vậy. Quý vị cần
phải thông hiểu các đạo lý Phật Pháp một cách chân chánh,
thấu đáo, thì mới không dễ bị lầm lẫn.
"Thấy
kẻ thiện nam, thiện nữ quy kính cúng dường, tán thán, chiêm
lễ hình tượng của Bồ Tát Ðịa Tạng, mà vọng sanh khinh
chê là không có công đức cùng sự lợi ích ..." Có những
ác nhân, ác thần hoặc ác quỷ trông thấy người ta chiêm
ngưỡng đảnh lễ hình tượng Bồ Tát thì lại buông lời
miệt thị: "Ôi! Các ông các bà còn mê tín quá nhỉ! Cứ dập
đầu quỳ lạy mấy cái tượng đất, tượng gỗ đó thì
được cái gì chớ? Chẳng được chút công đức nào đâu,
các người đừng tin nhảm nữa!"; hoặc lại chế nhạo: "Các
ông các bà cứ khom lên khom xuống lạy lục mấy ông phỗng
đó để làm gì?" Giống như hiện tại ở nơi này chẳng hạn,
cũng có một số ngoại đạo khăng khăng cho rằng việc Phật
Giáo lễ bái tượng gỗ là không có công đức—đó cũng
là dèm pha, hủy báng vậy.
"Hoặc
nhăn răng ra cười." Những kẻ ác đó thấy quý vị lạy Phật
thì lại nhe răng cười chế giễu, tỏ vẻ khinh thường, cho
rằng quý vị quá mê tín. "Nhăn răng ra cười" tức là lúc
trông thấy quý vị đang lạy Phật thì kẻ ấy liền cười
chế nhạo ngay trước mặt quý vị.
"Hoặc
chê sau lưng." Có khi, những kẻ ác ấy không chê cười trước
mặt quý vị, mà đợi quý vị đi khuất rồi, họ mới nhỏ
to phê bình: "Mấy người ở Phật Giáo Giảng Ðường thật
là quá mê tín! Tôi thấy họ cứ mặc áo tràng vào, khoác
thêm cái y, rồi chúi mũi lạy Phật và lầm rầm tụng Kinh
tụng Chú suốt ngày suốt đêm; chẳng hiểu họ đang làm cái
gì và làm như thế thì có lý thú gì chứ?" Chê trách, nói
lời xúc phạm kẻ vắng mặt như thế gọi là "chê sau lưng."
Hoặc
những kẻ ác đó lại dèm pha, nói rằng mọi việc của quý
vị đều là không đúng, và họ xầm xì với nhau: "Tu Ðạo
một mình thì cần gì phải lạy Phật? Lạy Phật có tác dụng
gì? Nếu dùng thời gian đó để ngủ thêm thì tốt biết mấy!"
Ðó là phê bình, "chê sau lưng" vậy.
"Hoặc
khuyên bảo người khác cùng chê." Hoặc kẻ ác ấy chẳng
những chính mình chê bai mà còn rủ rê, xúi xiểm nhiều người
khác đừng đi tụng Kinh: "Tụng Kinh có gì tốt đâu? Quý vị
đừng đi lễ Phật, cũng đừng đi nghe Kinh nữa! Thay vì đi
nghe giảng Kinh thì quý vị dùng thì giờ đó để uống một
liều LSD, quý vị sẽ có cảm giác lâng lâng bay bổng, mơ
màng tưởng chừng như mình đang ở thế giới Cực Lạc vậy;
cần gì phải tin vào những việc kia?" Ðây chính là "khuyên
bảo người khác cùng chê," xúi giục người khác làm sai giống
mình, về cùng phe với mình.
Ví
dụ, trong đoàn thể Phật Giáo có một người nọ không tuân
giữ quy củ; biết là mình yếu thế, cho nên ông ta muốn kiếm
một người cũng không giữ quy củ như mình làm "đồng minh,"
để dễ biện hộ cho hành vi sai trái của mình. Bởi nếu
bị chỉ trích, thì ông ta sẽ bào chữa rằng: "Thì người
khác cũng như vậy cơ mà!" Có "đồng đảng" thì dù sao cũng
có ưu thế hơn!
"Hoặc
một người chê, hoặc nhiều người chê." Hoặc chỉ đơn
độc một người đi khắp nơi rêu rao phá hoại, hoặc nhiều
người tụ tập lại một chỗ rồi cùng nhau chỉ trích, chê
bai.
"Cho
đến sanh lòng chê bai trong chừng một niệm." Không cần phải
lúc nào cũng chê bai mà chỉ trong một niệm, trong một khoảnh
khắc ngắn ngủi, tâm tư chợt dấy lên ý tưởng giễu cợt,
phỉ báng.
"Những
kẻ như thế, những kẻ nhăn răng ra cười, hoặc chê sau lưng,
hoặc một mình chê, hoặc cùng người khác chê, hoặc cùng
nhiều người chê, và mặc dù chỉ sanh lòng chê bai trong một
niệm ngắn ngủi mà thôi, thì sau khi một ngàn đức Phật
trong Hiền Kiếp diệt độ cả, vì tội báo khinh chê nên vẫn
còn ở trong địa ngục A Tỳ chịu tội cực nặng."
Kỳ
kiếp hiện tại của chúng ta gọi là Hiền Kiếp; vì sao gọi
là Hiền Kiếp? Bởi vì trong thời kỳ này có rất nhiều bậc
Thánh Hiền—thánh nhân, hiền nhân—xuất hiện ở thế gian.
Kỳ Hiền Kiếp có một ngàn (1.000) đức Phật xuất thế,
trong đó, Phật Thích Ca Mâu Ni là đức Phật thứ tư; như
vậy là còn chín trăm chín mươi sáu (996) đức Phật nữa
sẽ xuất thế. Sau khi có một đức Phật xuất thế, phải
qua một thời kỳ rất lâu rất dài mới lại có một đức
Phật nữa xuất thế; do đó nếu phải đợi cho đến khi chín
trăm chín mươi sáu đức Phật đều xuất thế và diệt độ
cả, thì thời gian chờ đợi dài biết chừng nào! Vậy mà
trải qua suốt kỳ kiếp dài đăng đẳng đó, những kẻ mắc
tội báo khinh chê phá hoại Phật Pháp vẫn còn phải thọ
tội ở địa ngục A Tỳ.
Quý
vị nên biết rằng một ngày một đêm của thế giới chúng
ta đang sống thì lâu bằng sáu mươi (60) tiểu kiếp ở địa
ngục A Tỳ. Lại nữa, năm mươi (50) năm ở nhân gian thì đối
với cõi trời Tứ Thiên Vương chỉ là một ngày một đêm;
và một trăm (100) năm ở nhân gian chỉ bằng một ngày một
đêm ở cung trời Ðao Lợi.
Thế
thì, vì sao một ngày một đêm của chốn nhân gian lại tương
đương với sáu mươi tiểu kiếp của địa ngục A Tỳ? Con
người, nếu hôm nào trong lòng vui vẻ thì cảm thấy một
ngày rất ngắn ngủi, thời gian trôi qua rất nhanh; trái lại,
nếu ngày nào ưu tư lo lắng, gặp việc không ưng ý, phải
chờ đợi một ai đó hoặc đang trông mong điều gì đó, thì
lại cảm thấy ngày dài lê thê, thời gian sao đi quá chậm!
Từ đó suy ra thì chúng ta cũng có thể biết được do đâu
mà một ngày một đêm ở nhân gian lại bằng sáu mươi tiểu
kiếp ở địa ngục—bởi ở địa ngục quá đau khổ; khi
sống trong sự thống khổ thì người ta thường cảm thấy
thời gian đi chậm quá, ngày dài quá, còn lúc hưởng thụ
sung sướng thì lại thấy thời gian trôi qua vùn vụt!
"Qua
khỏi kiếp này xong, mới thọ thân ngạ quỷ." Sau khi đã chịu
tội ở địa ngục A Tỳ trong suốt kỳ Hiền Kiếp một ngàn
đức Phật xuất thế rồi, những kẻ ác mắc tội báo phá
hoại Phật Pháp đó lại phải đi làm thân ngạ quỷ.
"Rồi
mãi đến một ngàn kiếp sau mới thọ thân súc sanh. Lại phải
trải qua một ngàn kiếp nữa mới được thân người." Sau
một ngàn kiếp làm ngạ quỷ thì họ được làm thân súc
sanh. Làm súc sanh thì cứ sinh ra rồi chết, chết rồi lại
sinh ra, luẩn quẩn trong suốt một ngàn kiếp như thế rồi
mới được đầu thai làm người. Tuy nhiên, "dầu thọ thân
người, nhưng là hạng bần cùng hạ tiện." Bấy giờ, mặc
dù được mang thân người, nhưng lại thế nào? Lại thuộc
hạng nghèo hèn, thấp kém trong xã hội.
Hiện
nay, nước Mỹ đang khởi xướng những hoạt động tế bần;
thế mà khi vừa đặt chân đến nước này thì tôi liền phê
bình công tác "cứu nghèo" này ngay. Sở dĩ tôi nói rằng công
cuộc tế bần là không có công dụng gì mấy, bởi vì cái
nghèo của con người trong đời này vốn do vô lượng nghiệp
tội tạo tác từ vô lượng kiếp cho đến nay. Sự cứu giúp
của quý vị chẳng qua là giải quyết vấn đề trong lúc nhất
thời mà thôi, chứ không thể nào khiến cho họ vĩnh viễn
thoát khỏi cảnh nghèo khó được cả. Nếu thật sự muốn
tế bần thì cần phải đề xướng đủ loại công việc từ
thiện, đề xướng kêu gọi mọi người làm việc tốt, bỏ
ác làm lành, đừng tạo nghiệp tội nữa—như thế mới là
chân chánh tế bần. Ngoài ra, cần phải đừng xúi người
khác hủy báng Tam Bảo, mà nên đi khắp nơi đề xướng Phật
Pháp. Như thế, có Tam Bảo, có Phật Pháp Tăng trụ thế, thì
nhân loại có thể trồng phước được. Bởi người biết
cúng dường Tam Bảo tất sẽ được phước báo; có phước
báo thì về sau sẽ không phải nghèo nàn túng thiếu—đó
mới là chân chánh tế bần vậy.
Trong
phần kinh văn này nói rõ là người hủy báng Tam Bảo sau khi
đã trải qua thời kỳ Hiền Kiếp của một ngàn đức Phật
rồi, còn phải đọa địa ngục suốt một ngàn kiếp, trầm
luân trong cõi ngạ quỷ một ngàn kiếp, và luẩn quẩn trong
cõi súc sanh thêm một ngàn kiếp nữa, rồi sau đó mới được
đầu thai làm người. Làm người thì thế nào? Thì phải sống
trong cảnh nghèo nàn túng quẫn, hèn kém vô cùng.
"Các
căn không đầy đủ." Những kẻ ác nói trên tuy được mang
thân người song các căn không được đầy đủ. Họ có thể
sanh làm người song phải mang khuyết tật như không có mắt,
không có tai, không có mũi, không có lưỡi, không có tay, không
có chân ...—nói chung là sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
và ý không đầy đủ trọn vẹn. Vừa rồi tôi có nói là
"không có lưỡi"; làm sao lại không có lưỡi được? "Không
có lưỡi" ở đây ngụ ý là không nói được. Họ có thể
là không có mắt hoặc là chỉ có một con mắt mà thôi. Mọi
người đều có hai con mắt, nay có kẻ chỉ có một con mắt,
quý vị thử tưởng tượng xem như thế trông có khó coi lắm
không? Hoặc người chỉ có một lỗ tai thì thế nào? Trên
đây là ví dụ cho những trường hợp sáu căn không toàn vẹn,
"các căn không đầy đủ."
"Thường
hay bị nghiệp ác kết buộc vào tâm." Nói chung, tuy những
kẻ ác ấy được làm người song mọi việc đều không được
thuận lợi, suông sẻ như ý muốn—không thiếu ăn thiếu
mặc thì cũng thiếu chỗ ở hoặc gặp phải những sự việc
xảy ra ngoài ý muốn. "Nghiệp ác" này cũng chính là "các tai
vạ bất ngờ" như đã đề cập ở trên.
Những
kẻ ấy cứ gặp các "hoạnh sự," bị những việc bất như
ý, những việc không tốt lành ràng buộc, làm não loạn tâm
trí; rồi "chẳng bao lâu lại phải đọa vào ác đạo." Những
người ấy làm người chưa được bao lâu thì lại bị đọa
vào ba đường ác lần nữa.
Trong
phẩm trước có kể rõ rằng bà mẹ của cô Quang Mục đầu
thai vào nhà của con gái và đến mười ba tuổi thì phải
chết, đọa lạc ác đạo, cũng là một thí dụ điển hình
của trường hợp này vậy.
Kinh
văn:
"Cho
nên, Phổ Quảng, khinh chê sự cúng dường của người khác
mà còn mắc phải tội báo như thế, huống là tự sanh ác
kiến hủy diệt!"
Lược
giảng:
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: "Cho nên, Phổ Quảng, khinh chê
sự cúng dường của người khác mà còn mắc phải tội báo
như thế..." Khinh chê và hủy báng những người cúng dường
Ðịa Tạng Vương Bồ Tát thì phải nhận lãnh những ác báo
nào? Ðó là quả báo phải trải qua một ngàn kiếp đày đọa
ở chốn địa ngục, một ngàn kiếp trôi nổi trong đường
ngạ quỷ, một ngàn kiếp luẩn quẩn trong chốn súc sanh, rồi
sau đó mới được đầu thai làm người mà lại là người
bần cùng hạ tiện và các căn không toàn vẹn.
Có
người thắc mắc: "Có nhất định là phải trải qua đủ
số mấy ngàn kiếp như thế rồi mới được làm người không?"
Chính thế! Nhất định là như thế! Ðây là luật pháp của
địa ngục do chính Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni tuyên nói. Tuy
nhiên, trong đó vẫn có sự ngoại lệ đối với những nhân
duyên đặc biệt, cho nên có khi lại không nhất định là
phải như thế. Nhân duyên đặc biệt như thế nào?
Ví
dụ có kẻ đáng lẽ phải làm ngạ quỷ suốt một ngàn kiếp,
song trong lúc đang mang thân ngạ quỷ thì kẻ ấy phát tâm
từ bi, tự nguyện trợ giúp những người đang tu Ðạo, hoặc
thấy người khác lạy Phật, lạy Bồ Tát thì kẻ ấy cũng
tùy hỷ phát tâm lễ bái theo và hoan hỷ bảo vệ người tu
Ðạo; như vậy là trong thời gian thọ tội, kẻ ấy đã lập
được công đức thiện lành, nhờ đó kẻ ấy có thể không
cần phải đợi hết một ngàn kiếp mới được đi đầu
thai làm súc sanh hoặc làm người. Hoặc là có người trong
lúc đang mang thân súc sanh thì được may mắn sống gần gũi
với những người tin Phật, như được nuôi trong chùa hoặc
trong nhà của các cư sĩ Phật tử, ngày ngày được huân tập
huân tu cho nên vô hình trung, cũng sanh tín tâm đối với Phật
Pháp. Tin Phật rồi thì tội chướng cũng giảm dần, cho nên
người ấy không nhất thiết phải mang thân súc sanh đủ một
ngàn kiếp như đã định nữa, mà có thể được thác sanh
làm người sớm hơn!
Lúc
Hư Vân Lão Hòa Thượng ở Vân Nam (Trung Hoa), có một con gà
được mang đến thả nuôi trong chùa, và hằng ngày nó thường
lẽo đẽo đi theo những người tu hành ở đó. Khi chư Tăng
lên chánh điện niệm Phật thì nó cũng đi theo, và cùng mọi
người nhiễu Phật, niệm Phật. Như thế được ba năm thì
có một hôm con gà đó đến đứng trước tượng Phật mà
vãng sanh. Ðây là một trong những trường hợp nhân duyên
đặc biệt vậy.
Như
vậy, nếu có nhân duyên đặc biệt, thì kẻ đang mang thân
súc sanh nói trên không cần phải trải qua một ngàn kiếp
nữa mới được làm người. Lại nữa, nếu trong lúc thọ
thân làm người bần cùng hạ tiện, kẻ ấy biết được
rằng sở dĩ đời này mình phải chịu quả báo nghèo hèn
thấp kém, các căn không đầy đủ như thế, là do vô lượng
kiếp về trước mình đã từng hủy báng Tam Bảo, không nghe
Phật Pháp, không cung kính Ðịa Tạng Vương Bồ Tát; nên bèn
dũng mãnh tinh tấn tu tâm dưỡng tánh, ăn chay niệm Phật hoặc
chăm chỉ tu Ðạo, thậm chí xuất gia làm Tỳ Kheo, thì kẻ
ấy sẽ không phải đọa vào ác đạo lại nữa.
Nói
tóm lại, tất cả đều tùy thuộc vào nhân duyên cá biệt
của từng chúng sanh. Nếu gặp trường hợp có nhân duyên
đặc biệt thì thời gian thọ báo không nhất thiết là phải
lâu dài như đã định. Cho nên Phật Pháp rất linh động,
uyển chuyển và rất hữu lý. Không phải là đã biết sám
hối và sửa đổi rồi, mà sau đó vẫn phải chịu khổ báo
lâu dài như thế. Không phải như vậy!
Trong
phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện (Kinh Hoa Nghiêm) có nói rằng
tội lỗi nghiệp chướng của chúng sanh thì không có hình
tướng, chứ nếu có hình tướng cụ thể thì nghiệp tội
của mỗi một kẻ trong chúng ta đã choán đầy hết cõi hư
không từ lâu rồi. May mà nghiệp chướng không có hình tướng,
không nhìn thấy được, không cần chuẩn bị nơi để chứa
nó, do đó có nhiều đến bao nhiêu đi nữa thì cũng chẳng
hề gì! Nếu quý vị biết ăn năn hối cải thì bao nhiêu tội
chướng cũng đều có thể tiêu diệt, vì vậy mới có câu:
“Trước
Phật lễ bái, tội diệt vô số.”
(Phật
tiền đảnh lễ, tội diệt hà sa.)
Quý
vị đối trước Phật mà lễ bái, chân thành sám hối, thì
bao nhiêu tội chướng (dù nhiều như cát sông Hằng) cũng đều
được tiêu tan, không còn nữa. Có câu:
“Buông
xả một đồng, phước tăng vô lượng”
(Xả
tiền nhất văn, tăng phúc vô lượng.)
Trước
Tam Bảo xả bỏ tiền của, dốc lòng bố thí, có bao nhiêu
thì hoan hỷ bố thí bấy nhiêu, thì phước báo của quý vị
sẽ vô lượng vô biên; song cần phải dốc hết chân tâm,
đem lòng chí thành mà cúng dường mới được. Mọi việc
đều không có gì là nhất định cả; bởi Pháp không nhất
định nên nghiệp chướng của con người cũng không nhất
định.
"Huống
là tự sanh ác kiến hủy diệt!" Khinh chê người khác cúng
dường mà còn phải bị quả báo đọa lạc trong ba đường
ác suốt mấy ngàn kiếp, thế thì nếu chính mình nảy sanh
ác kiến hủy diệt Tam Bảo, phá hoại Tam Bảo, tội ấy hẳn
càng lớn, càng nặng biết bao nhiêu!