Quyển
Trung
Phẩm
Thứ Năm
DANH
HIỆU CỦA ÐỊA NGỤC
Phẩm
Danh Hiệu Của Ðịa Ngục là phẩm thứ năm trong bộ Kinh Ðịa
Tạng, nói rõ về tên của các địa ngục.
Thế
nào gọi là "địa ngục" (nhà tù dưới đất)? Ðịa ngục
do ai tạo ra? Ở cõi người (nhân gian) có nhà tù, thì tại
địa phủ, tức là "cõi âm," cũng có nhà tù. Nhà tù ở nhân
gian thì do chính phủ cho xây sẵn, chuẩn bị để giam giữ
những kẻ vi phạm luật pháp quốc gia; thế thì nhà tù ở
địa phủ có giống như vậy không? Không phải như vậy! Ðịa
ngục—nhà tù ở địa phủ—không được tạo dựng sẵn
từ trước để chờ đón tội nhân như nhà tù ở nhân gian.
Ðịa
ngục vốn thuộc loại "có tên nhưng vô hình” (hữu danh vô
hình)—tên của địa ngục thì có, mà hình tướng của địa
ngục thì không; phải đợi đến lúc tội nhân tới thời
điểm thọ tội báo thì địa ngục mới hiện hình. Bấy giờ,
hễ tội nhân đã từng gây ra nghiệp tội gì thì sẽ có địa
ngục tương ứng với nghiệp tội đó hiện ra. Những địa
ngục này không phải do người nào hoặc đấng quỷ thần
nào dựng nên, mà là do nghiệp lực của chính bản thân người
tội tạo thành. Hễ chúng ta gây nghiệp tội gì thì ở cõi
âm sẽ xuất hiện một địa ngục tương ứng với nghiệp
tội mà chúng ta đã tạo tác—sự việc này xảo diệu và
bất khả tư nghị một cách phi thường. Vì sao gọi là "cõi
âm" (cõi tối tăm)? Bởi vì nơi đó luôn luôn tối tăm u ám,
không có ánh sáng của mặt trời và mặt trăng dọi tới,
nên gọi là "cõi âm," và cũng là "âm ty" hoặc "âm phủ."
Cho
nên, địa ngục là do những nghiệp tội của chúng ta gây
ra tích tụ lại với nhau mà hình thành. Lại nữa, địa ngục
chỉ có danh hiệu chứ không có thực thể; phải đợi đến
lúc chúng ta đi thọ tội thì địa ngục mới hiện ra—đây
quả là một điều vô cùng vi diệu và bất khả tư nghị.
Kinh
văn:
Lúc
đó, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát thưa cùng Ðịa Tạng Bồ
Tát rằng: "Thưa Nhân Giả! Xin Ngài hãy vì trời, rồng, tứ
chúng và tất cả chúng sanh ở hiện tại cùng vị lai, mà
nói rõ danh hiệu của các địa ngục, nơi thọ báo của các
chúng sanh tội khổ ở thế giới Ta Bà và cõi Diêm Phù Ðề,
cùng những sự ác báo, để cho chúng sanh trong thời Mạt Pháp
ở đời sau biết rõ những quả báo đó."
Lược
giảng:
Lúc
đó, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát thưa cùng Ðịa Tạng Bồ
Tát rằng ... Có lẽ quý vị ai nấy đều đã biết đến vị
Phổ Hiền Bồ Tát thường cỡi con voi trắng sáu ngà này.
Ngài là vị Bồ Tát có hạnh lực lớn lao nhất, nên được
tôn xưng là "Ðại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát." "Ma-ha-tát" có
nghĩa là lớn (đại).
Vậy,
lúc bấy giờ, Ðại Bồ Tát Phổ Hiền nói với Bồ Tát Ðịa
Tạng rằng: "Thưa Nhân Giả! Xin Ngài hãy vì trời, rồng, tứ
chúng và tất cả chúng sanh ở hiện tại cùng vị lai, mà
nói rõ danh hiệu của các địa ngục ..."
"Nhân
Giả" (bậc nhân đức) là một danh xưng khác của các bậc
Bồ Tát.
Phổ
Hiền Bồ Tát mong rằng Ðịa Tạng Bồ Tát sẽ vì trời, rồng
và bốn chúng—Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di—cũng
như hết thảy chúng sanh trong đời này và đời sau, mà kể
rõ tên của các địa ngục, "nơi thọ báo của các chúng sanh
tội khổ ở thế giới Ta Bà và cõi Diêm Phù Ðề." "Chúng
sanh tội khổ" tức là những kẻ do đã từng gây ra tội lỗi
nên phải chịu quả báo khổ sở. Thế thì, chúng sanh ở thế
giới "Kham Nhẫn" và cõi Nam Diêm Phù Ðề, hễ tạo tội thì
phải đến nơi nào để thọ lãnh quả báo?
"Cùng
những sự ác báo." Ngoài ra, Phổ Hiền Bồ Tát cũng thỉnh
cầu Ðịa Tạng Bồ Tát hoan hỷ nói rõ về việc thọ lãnh
các quả báo xấu ác, "để cho chúng sanh trong thời Mạt Pháp
ở đời sau biết rõ những quả báo đó; đồng thời hiểu
được sự nghiêm trọng của các quả báo ở địa ngục."
Kinh
văn:
Ngài
Ðịa Tạng đáp rằng: "Thưa Nhân Giả! Nay tôi nương oai thần
của Ðức Phật cùng oai lực của Ðại Sĩ, mà lược nói
danh hiệu của các địa ngục, cùng những sự về tội báo
và ác báo.
"Thưa
Nhân Giả! Phương Ðông của cõi Diêm Phù Ðề có dãy núi
tên là Thiết Vi. Dãy núi đó tối thẫm, không có ánh sáng
của mặt trời, mặt trăng; trong đó có địa ngục lớn tên
là Cực Vô Gián, lại có địa ngục tên là Ðại A Tỳ, lại
có địa ngục tên là Bốn Sừng , lại có địa ngục tên
là Dao Bay .."
Lược
giảng:
Ngài
Ðịa Tạng đáp rằng: "Thưa Nhân Giả! Nay tôi nương oai thần
của Ðức Phật cùng oai lực của Ðại Sĩ ..." "Nhân giả"
tức là người có lòng nhân ái, đại từ đại bi.
Ðịa
Tạng Bồ Tát nghe Phổ Hiền Bồ Tát thỉnh vấn như thế,
bèn trả lời rằng: "Bây giờ tôi xin nương nhờ oai đức
thần thông của Ðức Phật, cũng như oai lực của chính Ðại
Sĩ—Phổ Hiền Bồ Tát—mà lược nói danh hiệu của các
địa ngục, cùng những sự về tội báo và ác báo." Chúng
sanh hễ tạo nghiệp nào thì phải chịu quả báo nấy—trước
kia nếu có làm điều ác thì nay phải thọ ác báo, có làm
việc thiện thì nay được hưởng thiện báo; mà địa ngục
là nơi chúng sanh thọ lãnh các ác báo.
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát nói tiếp: "Thưa Nhân Giả! Phương Ðông
của cõi Diêm Phù Ðề có dãy núi tên là Thiết Vi." Ở về
phía Ðông của cõi Nam Diêm Phù Ðề này có một dãy núi to
lớn, hùng vĩ, tên là núi Thiết Vi. "Thiết" (sắt) thì màu
đen; ở đây là biểu thị cho sự tối tăm u ám, không có
ánh sáng.
"Dãy
núi đó tối thẫm, không có ánh sáng của mặt trời, mặt
trăng." Núi ấy tăm tối thâm u, như nằm trong hang động vậy.
Nơi đó, mặt trời mặt trăng không thể dọi tới được,
nên hoàn toàn không có ánh sáng.
"Trong
đó có địa ngục lớn tên là Cực Vô Gián." Ðịa ngục Cực
Vô Gián là một địa ngục lớn nhất và cao nhất. ("Vô Gián"
này chính là địa ngục Vô Gián và cũng có năm loại như
đã nói trong phẩm trước.)
"Lại
có địa ngục tên là Ðại A Tỳ." "A-tỳ" là tiếng Phạn,
Trung Hoa dịch là "vô gián" (không gián đoạn). Ðịa ngục
vừa rồi thì lớn nhất và có tên là Cực Vô Gián (vô gián
cùng tột), còn địa ngục này tên là Ðại Vô Gián (vô gián
lớn).
"Lại
có địa ngục tên là Bốn Sừng (Tứ Giác)." "Tứ Giác" có
thể là chỉ cho bốn phương—Ðông, Tây , Nam , Bắc; và cũng
có thể là ám chỉ bốn cái sừng. Trong ngục này có bốn
hình cụ tương tự như bốn cái sừng trâu, tội nhân ở đây
bị đâm phải những cái sừng ấy mà chết; song cứ chết
đi rồi sống lại, sống lại thọ tội rồi chết đi.
"Lại
có địa ngục tên là Dao Bay (Phi Ðao)." Tại địa ngục này,
có một con dao chẳng rõ từ đâu bay đến chém đứt đầu
hoặc chặt tay chặt chân của tội nhân, hoặc cắt xẻ thân
thể của tội nhân khiến máu me lênh láng, hoặc đâm chém
tới tấp khắp mình mẩy của tội nhân. Tội nhân bị đâm
chém đến nỗi toàn thân đau đớn khủng khiếp. Cơn đau vừa
dứt, tội nhân vừa hết quằn quại, thì lập tức lại có
phi đao vèo vèo bay tới đâm tiếp; cho nên tội nhân lại lăn
lộn rên siết nữa, đau rồi hết đau, hết đau rồi lại
đau, cứ thống khổ triền miên như thế mãi. Ðịa ngục Phi
Ðao là một loại địa ngục đau đớn khổ sở nhiều nhất.
Kinh
văn:
"Lại
có địa ngục tên là Tên Lửa , lại có địa ngục tên là
Núi Ép, lại có địa ngục tên là Giáo Đâm, lại có địa
ngục tên là Xe Sắt, lại có địa ngục tên là Giường Sắt,
lại có địa ngục tên là Trâu Sắt, lại có địa ngục tên
là Áo Sắt..."
Lược
giảng:
"Lại
có địa ngục tên là Tên Lửa (Hỏa Tiễn)." Trong địa ngục
Hỏa Tiễn có rất nhiều mũi tên và ở đầu mỗi mũi tên
đều có lửa, rất đáng sợ. Những hỏa tiễn mà ngày nay
người ta bắn lên nguyệt cầu cũng tương tự như loại ở
địa ngục này vậy.
"Lại
có địa ngục tên là Núi Ép (Giáp Sơn)." Tội nhân ở địa
ngục Giáp Sơn phải chịu đựng một nỗi thống khổ rất
ghê gớm.
Trước
tiên là cửa ngục ở hướng Ðông mở ra, cửa vừa mở toang
thì tội nhân trong ngục liền cắm đầu cắm cổ chạy ùa
ra, chẳng khác nào những tên cướp trên đường đào tẩu
vậy. Những tội nhân này cứ đinh ninh là thoát ra ngoài tất
sẽ được tự do, mà không ngờ rằng vừa ra khỏi địa ngục
này thì lại gặp phải hai hòn núi chắn ngang. Tưởng rằng
trốn trong núi thì có thể tránh khỏi tội báo, ai nấy đều
đổ xô về đó; thế nhưng, chạy vào tới trong núi rồi thì
thế nào? Núi này là loại núi "hoạt động," có thể tự
di chuyển—núi từ bốn phía đều có thể di động và tiến
gần lại với nhau; do đó, chung quanh tội nhân, trước mặt
sau lưng và bên phải bên trái, đều là núi non chập chùng
đồng thời khép chặt lại, khiến toàn thân tội nhân bị
ép dẹp, máu thịt bầy nhầy, trông rất rùng rợn.
Ở
nơi đó, không những tại cửa ngục phía Ðông mà tại các
cửa ở phía Nam, phía Tây và phía Bắc của địa ngục Giáp
Sơn cũng đều xảy ra y như vậy. Các cửa ngục này vừa mở,
tội nhân liền tẩu thoát ra ngoài, và trông thấy núi thì
liền chạy vào đó để trốn, không biết rằng trong núi ấy
vẫn là địa ngục. Tại sao lại như vậy? Ðó là vì nghiệp
tội của các chúng sanh này quá nặng nề thâm trọng, khiến
họ phải chịu quả báo ở khắp mọi nơi, đến đâu họ
cũng phải chịu đựng thứ cực hình không cách gì chịu đựng
nổi này.
Vì
sao lại có loại quả báo địa ngục Giáp Sơn? Bởi khi còn
sống, những tội nhân trong địa ngục này đã lạm dụng
quyền hành thế lực để áp bức, chèn ép người khác một
cách thậm tệ, cho nên sau khi chết họ phải chịu quả báo
"núi ép" như thế.
"Lại
có địa ngục tên là Giáo Đâm (Thông Thương)." " Giáo” (Thương)
thì lớn và thô hơn " mũi tên” (tiễn); đầu ngọn giáo thì
rất to và nhọn, có thể đâm chết người.
Ở
địa ngục Giáo Đâm , tội nhân thường xuyên bị đâm bằng
giáo—đâm đằng trước, đâm đằng sau, đâm bên phải, đâm
bên trái. Cứ mỗi nhát đâm thì thân thể tội nhân bị khoét
ra một lỗ lớn như "trổ cửa sổ" vậy; cho nên chẳng mấy
chốc là khắp mình mẩy tội nhân lỗ chỗ những "cửa sổ"
máu thịt đỏ loét trông rất ghê rợn. Hình phạt ở địa
ngục Giáo Đâm (Thông Thương) này vô cùng đau đớn, thống
khổ.
"Lại
có địa ngục tên là Xe Sắt (Thiết Xa)." Ở địa ngục này
có chiếc xe bằng sắt chạy qua chạy lại trên người của
tội nhân, cán dập nát thân thể của họ.
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn đang tu hành tại nhân địa, có
một kiếp nọ Ngài đắc được Thiên Nhãn Thông và nhìn thấy
được địa ngục Thiết Xa. Bấy giờ, chứng kiến cảnh các
tội nhân bị xe sắt chạy qua chạy lại trên thân thể quá
sức đau đớn khổ sở, Ngài liền phát tâm từ bi mà nguyện
rằng: "Ta nhất định phải phát tâm tu Ðạo; và sau này, khi
thành Phật rồi, Ta sẽ độ thoát tất cả chúng sanh trong
địa ngục này!"; và đó là lần phát tâm từ bi tối sơ của
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.
"Lại
có địa ngục tên là Giường Sắt (Thiết Sàng)." Trong địa
ngục này, tội nhân phải nằm hoặc ngồi trên giường sắt,
bên dưới có rất nhiều con dao nung nóng đỏ rực.
"Lại
có địa ngục tên là Trâu Sắt (Thiết Ngưu)." Những con trâu
ở trong địa ngục này đều bằng sắt và đều có sừng;
chúng dùng sừng để húc vào mình tội nhân.
"Lại
có địa ngục tên là Áo Sắt (Thiết Y).” Những người khi
còn sống đã thọ Giới rồi mà lại phạm Giới, thì sau khi
chết phải đọa vào địa ngục Áo Sắt.
Ðịa
ngục Áo Sắt thì như thế nào? Ở địa ngục này có rất
nhiều lưỡi lê có gắn móc câu, hễ đâm trúng thân tội
nhân thì móc rách tơi tả hết áo quần trên người, làm cho
tội nhân phải chịu trần truồng. Bấy giờ, có một loại
áo quần bằng sắt từ không trung bay đến; tội nhân vừa
thấy áo quần đó liền vui mừng giơ tay vẫy gọi: "Áo quần
tới đây! Áo quần tới đây!" Ý nói rằng: "Áo quần ơi,
hãy mau mau bay đến chỗ của ta!" Vẫy vẫy tay như thế mà
áo quần kia liền bay đến thật. Bay đến nơi thì áo quần
đó liền tự động bao bọc lấy thân tội nhân như một lớp
da sắt, và lại là lớp da sắt nóng đỏ. Vì vậy, mặc vào
người rồi là toàn thân tội nhân đều bị nung cháy khét
lẹt và chẳng bao lâu đã trở thành một đống tro. Biến
thành tro rồi thì sao? Chỉ trong chốc lát thì có ngọn "xảo
phong" thổi tới, bấy giờ xác thân vốn đã không còn của
tội nhân lại hồi phục và hiện trở lại hình tướng như
trước, và tội nhân lại tiếp tục chịu tội. Ðó là hình
phạt trong địa ngục Áo Sắt.
Kinh
văn:
"Lại
có địa ngục tên là Ngàn Mũi Nhọn, lại có địa ngục tên
là Lừa Sắt, lại có địa ngục tên là Nước Đồng Sôi,
lại có địa ngục tên là Ôm Trụ Đồng, lại có địa ngục
tên là Lửa Chảy, lại có địa ngục tên là Cày Lưỡi, lại
có địa ngục tên là Chém Đầu, lại có địa ngục tên là
Đốt Chân, lại có địa ngục tên là Móc Mắt, lại có địa
ngục tên là Viên Sắt..."
Lược
giảng:
"Lại
có địa ngục tên là Ngàn Mũi Nhọn (Thiên Nhẫn).” Ðịa
ngục Thiên Nhẫn là do con người tạo tội quá nhiều mà ra.
Tại địa ngục này có rất nhiều lưỡi dao từ trên hư không
rơi xuống như mưa. Những lưỡi dao này tựa như những giọt
mưa sắc bén, rơi xuống đâm nát đầu và thân của tội nhân;
tất cả xương cốt và da thịt đều bị cắt xẻ. Sau khi
tội nhân chết đi thì lại có ngọn gió "xảo phong" thổi
đến, tội nhân liền sống trở lại và tiếp tục thọ tội
báo như cũ.
"Lại
có địa ngục tên là Lừa Sắt (Thiết Lư).” Tại địa ngục
này có con lừa sắt giẫm đạp lên thân thể của tội nhân
mà đi, và cứ liên tục đi qua đi lại như thế mãi.
"Lại
có địa ngục tên là Nước Đồng Sôi (Dương Ðồng).” Ở
địa ngục này, tội nhân bị bỏ vào trong dung dịch đồng
nấu chảy. Ngay cả đồng mà còn bị nung chảy lỏng, thế
thì con người nếu bị bỏ vào đó tất cũng bị thiêu hóa
mất mà thôi!
"Lại
có địa ngục tên là Ôm Trụ Đồng (Bão Trụ).” Ðịa ngục
Ôm Trụ Đồng (Bão Trụ) còn có tên là địa ngục Cột Đồng
Nung (Bào Lạc). Năm ngoái, lúc giảng Kinh Lăng Nghiêm tôi đã
có giảng qua, song e rằng mọi người đều quên cả rồi.
Trong
địa ngục Ôm Trụ Đồng (Bão Trụ) có một cột trụ bằng
đồng được nung nóng đỏ rực, hễ ôm lấy trụ đồng này
rồi thì không thể nào rời ra được nữa. Hạng người nào
phải đọa vào địa ngục này? Ðó là hạng người thích
điều dâm loạn, ưa việc gian dâm, cho nên khi còn sống đã
phạm quá nhiều nghiệp dâm; và trong số ấy, số người nam
phạm tội rất đông, mà số người nữ phạm tội cũng chẳng
ít!
Nói
chung, bất luận là nam hay nữ, hễ người nào phạm nghiệp
dâm dật thì sau khi chết cũng đều bị đọa vào địa ngục
Ôm Trụ Đồng cả. Bấy giờ, khi đã vào địa ngục này rồi,
nếu tội nhân là người nam thì nhìn trụ đồng mà lại thấy
đó là cô gái mình từng yêu thương nhất lúc còn sống, thế
là mừng rỡ nhào đến ôm chầm lấy; khốn nỗi, vừa ôm
được thì toàn thân đều bị bỏng cháy bởi trụ đồng
nung. Tội nhân bị thiêu chết rồi thì có ngọn gió "xảo
phong" thổi đến làm cho hồi sinh; hồi sinh rồi thì mọi việc
vẫn tái diễn giống hệt như trước—cũng ôm trụ đồng,
ôm rồi lại ôm nữa, thiêu rồi lại thiêu nữa, chết rồi
lại chết nữa...; cứ thế mà lập đi lập lại không biết
bao nhiêu lần.
Người
nam nhìn trụ đồng nung thì thấy đó là người nữ, thế
đối với người nữ thì sao? Người nữ nhìn trụ đồng
nung thì thấy đó là chàng trai mà lúc còn sống mình yêu thương
nhất! Và thế là cô ta không dằn lòng được, hớn hở chạy
đến ôm choàng lấy người yêu. Sau khi ôm, cô ta cũng bị
lửa của trụ đồng đốt cháy thành tro bụi; rồi đến khi
ngọn gió "xảo phong" thổi lướt qua, cô ta liền sống trở
lại. Sống rồi thì lại tiếp tục đi ôm trụ đồng, ôm
rồi lại chết, chết rồi lại sống, sống lại thì tiếp
tục thọ báo như trước.
Vì
sao có địa ngục Ôm Trụ Đồng? Phải chăng có người nào
đó đã chuẩn bị sẵn như thế? Không phải! Chính nghiệp
dâm—ngọn lửa nghiệp từ lòng dâm dục của tội nhân cảm
vời mà thành ra địa ngục Ôm Trụ Đồng! Cho nên chúng ta,
bất kể là nam hay nữ, đừng vội cho rằng chuyện trai gái
yêu đương là điều hoàn toàn tốt đẹp; bởi nếu quý vị
đi lệch sang con đường tà dâm bất chánh, thì sau này sẽ
bị đọa vào địa ngục Ôm Trụ Đồng; và đó là một sự
việc vô cùng đau khổ và đáng sợ.
"Lại
có địa ngục tên là Lửa Chảy (Lưu Hỏa).” Trong địa ngục
này chỉ toàn là lửa và lửa, song thứ lửa này lại lưu
chuyển và chảy giống như nước vậy. Ðịa ngục Lửa Chảy
cũng là do lửa dâm dục của chúng sanh tạo ra.
"Lại
có địa ngục tên là Cày Lưỡi (Canh Thiệt)." Vì sao lại
gọi là địa ngục Cày Lưỡi? Trong địa ngục này có loài
ác quỷ chuyên dùng một cái móc câu móc vào đầu lưỡi của
tội nhân rồi kéo lên, khiến lưỡi của tội nhân bị căng
dài đến mấy trượng và sưng phồng lên rất to. Sau đó,
chúng dùng cái cày (dụng cụ để xới đất) mà cày bừa
trên lưỡi ấy, cày tới cày lui khiến cho lưỡi của tội
nhân bị xẻ thành nhiều đường rãnh.
Tại
sao phải chịu quả báo này? Ðó là vì lúc còn sống ở dương
gian, tội nhân đã từng hủy báng Tam Bảo, vu khống Tam Bảo,
phá hoại Tam Bảo. Ví dụ như nói rằng: "Quý vị không nên
tin Phật. Phật vốn không có thật, không hề tồn tại. Phật
Pháp chẳng qua chỉ là trò lừa gạt. Thầy tu là những kẻ
mượn áo nhà Phật và dùng Phật Pháp để lừa gạt mọi
người; quý vị chớ có tin theo!"—như thế là hủy báng Tam
Bảo vậy.
Có
bốn nghiệp xấu do miệng (lời ăn tiếng nói) gây ra; đó
là nói lời thô ác (ác khẩu), nói đôi chiều (lưỡng thiệt),
nói thêu dệt (ỷ ngữ) và nói dối (vọng ngôn).
1)
Nói lời thô ác (Ác khẩu), tức là nói lời thô ác hoặc
mắng chửi người khác.
2)
Nói đôi chiều (Lưỡng thiệt), có nghĩa là nói hai lưỡi,
nói đôi chiều, nói để gây chia rẽ. Ví dụ, gặp Trương
Tam thì nói là Lý Tứ không tốt, gặp Lý Tứ thì lại nói
là Trương Tam không phải, khiến đôi bên nảy sanh hiềm khích
và mất hòa khí, suốt ngày cứ gây gỗ, cãi vã, nghi kỵ lẫn
nhau; như thế là nói đôi chiều vậy.
3)
Nói thêu dệt (Ỷ ngữ), tức là nói thêu dệt. Ðàn ông thì
thường hay nói chuyện về đàn bà, chẳng hạn như: "Anh thấy
cô ấy thế nào? Xinh quá, phải không? Còn cô này thì sao?
Lại còn cô kia nữa ..." Còn đàn bà thì sao? Thì lại nói
chuyện về đàn ông: "Anh chàng kia cũng không tệ lắm. Anh
chàng này thì thế này, thế nọ ..." Nói tóm lại, những lời
nói phù phiếm, không đúng đắn, gợi chuyện tà dâm ..., đều
là "ỷ ngữ."
4)
Nói dối (Vọng ngôn), tức là nói dối, nói điều trái với
sự thật.
Chúng
sanh do phạm bốn điều ác của miệng là đó là nói lời
thô ác, nói đôi chiều, nói thêu dệt và nói dối nên bị
đọa vào địa ngục Cày Lưỡi.
"Lại
có địa ngục tên là Chém Đầu (Tỏa Thủ).” Những tội
nhân bị đọa vào địa ngục Tỏa Thủ thì đều bị chém
đầu; tại sao? Ðó là vì lúc sinh thời họ đã giết hại
quá nhiều chúng sanh; bởi họ đập vỡ đầu của chúng sanh
để giết, cho nên sau khi chết, họ phải đọa địa ngục
Tỏa Thủ và chịu hình phạt bị chặt đầu.
Khi
muốn giết sâu bọ, chim se sẻ, hoặc các loài cầm thú khác,
nhiều người thường dùng chùy, gậy gộc hoặc một vật
gì đó để đập vỡ đầu của chúng trước; hoặc trông
thấy con du diên hay con rết, cho đó là loại trùng độc nên
nhiều người cũng lấy đồ đập đầu chúng cho chết; chính
vì làm tổn hại quá nhiều sinh mạng cho nên sau khi chết,
những người ấy phải đọa vào địa ngục Chém Đầu. Nói
chung, khi sống chúng ta tạo nghiệp tội gì thì sau khi chết
chúng ta phải thọ quả báo tương ứng với nghiệp tội đó.
"Lại
có địa ngục tên là Đốt Chân (Thiêu Cước).” Ðịa ngục
này thì chuyên môn đốt chân của tội nhân, nhưng không phải
dùng lửa để đốt, mà là người tội đặt chân đến chỗ
nào thì chỗ đó liền có lửa bùng lên đốt chân người
ấy. Chân của tội nhân ví như ngọn nến, hễ đi đến đâu
là mang mồi lửa theo đến đó, tới bất cứ nơi nào thì
nơi đó cũng bắt lửa; vì thế địa ngục này được gọi
là địa ngục Đốt Chân.
"Lại
có địa ngục tên là Móc Mắt (Ðạm Nhãn).” Trong địa ngục
này có loài diều hâu (điêu thứu, một loài chim hung tợn),
chuyên ăn những đồ dơ bẩn.
Ðịa
ngục Móc Mắt là nơi có nhiều diều hâu nhất; loài chim này
thấy tội nhân thì liền bay đến, giương hai móng sắt ra
và chụp xuống bấu chặt lấy hai vai của người tội, khiến
người ấy không cách gì vùng vẫy để thoát ra được. Sau
đó, diều hâu quay đầu lại, dùng mỏ mổ rách mắt của
tội nhân, rồi ăn thứ nước chảy ra từ con mắt đó. Nó
lại còn mổ cho bể đầu của tội nhân để uống thứ nước
tủy trong não nữa. Tội nhân chết rồi thì diều hâu cũng
bay đi mất; đợi đến khi tội nhân sống lại thì diều hâu
cũng liền bay về lại.
"Lại
có địa ngục tên là Viên Sắt (Thiết Hoàn). Ở địa ngục
Thiết Hoàn thì có những viên sắt hình thù tương tự như
cái trứng, từ bốn phía văng tới đập xối xả vào đầu
vào mặt tội nhân; khắp thân thể tội nhân, chỗ nào cũng
bị các viên sắt đập trúng cả. Khi tội nhân bị đập đến
chết rồi, thì những viên sắt đó cũng không văng tới nữa.
Thế nhưng, đợi đến lúc tội nhân sống trở lại thì chúng
lại xuất hiện. Ðó là hình phạt ở địa ngục Viên Sắt
.
Kinh
văn:
"Lại
có địa ngục tên là Cãi Cọ, lại có địa ngục tên là
Rìu Sắt, lại có địa ngục tên là Nhiều Nóng Giận."
Ngài
Ðịa Tạng nói rằng: "Thưa Nhân Giả! Trong dãy núi Thiết
Vi có những địa ngục như thế, số nhiều vô hạn. Lại
có địa ngục Kêu Gào, địa ngục Rút Lưỡi, địa ngục
Phân và Nước Tiểu, địa ngục Khóa Đồng, địa ngục Voi
Lửa, địa ngục Chó Lửa, địa ngục Ngựa Lửa, địa ngục
Trâu Bò Lửa, địa ngục Núi Lửa, địa ngục Đá Lửa, địa
ngục Giường Lửa, địa ngục Rường Lửa, địa ngục Chim
Ưng Lửa, địa ngục Cưa Răng, địa ngục Lột Da, địa ngục
Uống Máu, địa ngục Đốt Tay, địa ngục Đốt Chân, địa
ngục Đâm Ngược, địa ngục Nhà Lửa, địa ngục Nhà Sắt,
địa ngục Chó Sói Lửa.
"Các
thứ địa ngục như thế, trong mỗi thứ lại có những địa
ngục nhỏ, hoặc một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, cho đến
trăm, ngàn; trong số đó danh hiệu đều chẳng đồng nhau."
Lược
giảng:
"Lại
có địa ngục tên là Cãi Cọ (Tranh Luận). Trong địa ngục
này có rất nhiều ác quỷ cứ quát tháo, chửi mắng tội
nhân rất thậm tệ, nói rằng tội nhân cái gì cũng không
đúng cả. Tại sao lại bị đọa vào địa ngục này? Chính
vì lúc còn sống, những tội nhân trong địa ngục này ưa
tranh luận cãi vã với người khác, nên sau khi chết phải
chịu quả báo như thế.
"Lại
có địa ngục tên là Rìu Sắt (Thiết Phu)." Ở địa ngục
này, tội nhân bị chặt đầu bằng cái rìu sắt.
"Lại
có địa ngục tên là Nhiều Nóng Giận (Ða Sân). Những tội
nhân bị đọa vào địa ngục này đều là do tánh tình hung
hăng nóng nảy, nhiều sân hận mà ra. Những người quá nóng
tánh, động một chút là tức tối, hằn học: "Mày dám đánh
tao, tao phải đánh mày," thì cũng như những tội nhân ở địa
ngục này—cứ không ngừng gây gỗ, ẩu đả lẫn nhau.
Ngài
Ðịa Tạng nói với Phổ Hiền Bồ Tát rằng: "Thưa Nhân Giả!
Trong dãy núi Thiết Vi có những địa ngục như thế, số nhiều
vô hạn. Tôi tuy đã kể ra rất nhiều tên địa ngục như
thế, song thật sự thì tên của địa ngục vốn nhiều đến
không có hạn lượng."
Ðịa
Tạng Bồ Tát kể tiếp: "Lại có địa ngục Kêu Gào (Khiếu
Hoán). Trong mười tám địa ngục thì có tám địa ngục lạnh
và tám địa ngục nóng. Ðịa ngục thứ tư trong tám địa
ngục lạnh là địa ngục Khiếu Hoán, cũng gọi là địa ngục
Ðại Khiếu Hoán. Trong địa ngục này suốt ngày luôn luôn
có tiếng kêu la ầm ĩ, gào thét om sòm, ồn ào đến đinh
tai nhức óc.
"Ðịa
ngục Rút Lưỡi (Bạt Thiệt)”. Lại có loại địa ngục
chuyên môn kéo lưỡi của tội nhân.
"Ðịa
ngục Phân và Nước Tiểu (Phẩn Niệu).” Lại có loại địa
ngục mà trong đó chỉ toàn là phân và nước tiểu; tội nhân
trong địa ngục này hễ đói thì ăn phân, khát thì uống nước
tiểu.
"Ðịa
ngục Khóa Đồng (Ðồng Tỏa).” Tội nhân đã vào địa ngục
này rồi thì như bị một cái khóa bằng đồng khóa chặt
ở trong đó, làm thế nào cũng không thoát ra được.
"Ðịa
ngục Voi Lửa (Hỏa Tượng)." Lại có loại địa ngục mà
trong đó toàn là voi lửa.
"Ðịa
ngục Chó Lửa (Hỏa Cẩu).” Trong địa ngục này có loài
chó mà toàn thân đều bốc lửa tỏa khói.
"Ðịa
ngục Ngựa Lửa (Hỏa Mã).” Những con ngựa trong địa ngục
này thì toàn thân đều rực lửa.
"Ðịa
ngục Trâu Bò Lửa (Hỏa Ngưu)." Trên mình của trâu bò ở
địa ngục này đều có lửa cháy rừng rực.
"Ðịa
ngục Núi Lửa (Hỏa Sơn).” Lại có loại địa ngục mà trong
đó có ngọn núi luôn ngùn ngụt lửa.
"Ðịa
ngục Đá Lửa (Hỏa Thạch).” Trong địa ngục này toàn là
đá lửa dùng để nện hoặc đè lên mình tội nhân.
"Ðịa
ngục Giường Lửa (Hỏa Sàng)." Trong địa ngục này có loại
giường bằng lửa.
"Ðịa
ngục Rường Lửa (Hỏa Lương)." Lại có địa ngục mà rường
cột, xà nhà đều bốc lửa.
"Ðịa
ngục Chim Ưng Lửa (Hỏa Ưng).” Trong địa ngục này có loài
chim ó có lửa, chuyên môn ăn mắt của tội nhân; ăn xong rồi
thì chúng lại bay đi.
"Ðịa
ngục Cưa Răng (Cứ Nha).” Lại có địa ngục chuyên môn cưa
răng tội nhân.
"Ðịa
ngục Lột Da (Bác Bì)." Lại có địa ngục chuyên lột da của
tội nhân.
"Ðịa
ngục Uống Máu (Ẩm Huyết).” Lại có địa ngục chuyên uống
máu tội nhân.
"Ðịa
ngục Đốt Tay (Thiêu Thủ).” Lại có địa ngục chuyên đốt
tay của tội nhân.
"Ðịa
ngục Đốt Chân (Thiêu Cước).” Lại có địa ngục chuyên
đốt chân của tội nhân.
"Ðịa
ngục Đâm Ngược (Ðảo Thích).” Trong địa ngục này, tội
nhân bị treo lủng lẳng trên những móc câu treo ngược.
"Ðịa
ngục Nhà Lửa (Hỏa Ốc).” Trong địa ngục này, tội nhân
bị giam cầm trong một căn phòng lửa cháy hừng hực.
"Ðịa
ngục Nhà Sắt (Thiết Ốc), địa ngục Chó Sói Lửa (Hỏa
Lang)." Lại còn có địa ngục mà phòng ốc toàn bằng sắt,
và có địa ngục thì có nhiều chó sói rực lửa.
"Các
thứ địa ngục như thế, trong mỗi thứ lại có những địa
ngục nhỏ, hoặc một, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, cho đến
trăm, ngàn; trong số đó danh hiệu đều chẳng đồng nhau."
Trong
những địa ngục mà Ðịa Tạng Vương Bồ Tát vừa kể ra
lại còn có rất nhiều địa ngục nhỏ khác nữa. Ðịa ngục
thì có thứ lớn, có thứ nhỏ. Trong mỗi địa ngục lớn
thì có thể có một, hai, ba, hoặc bốn sở ngục nhỏ, thậm
chí có thể có đến cả trăm cả ngàn sở ngục nhỏ; và
tên của mỗi ngục nhỏ này mỗi khác nhau.
Kinh
văn:
Ðịa
Tạng Bồ Tát nói với Phổ Hiền Bồ Tát rằng: "Thưa Nhân
Giả! Ðây đều là do chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề
làm điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra như thế. Nghiệp
lực rất lớn, có thể sánh với núi Tu Di, có thể sâu dường
biển cả, có thể chướng ngăn Thánh Ðạo. Vì thế, chúng
sanh chớ khinh điều ác nhỏ mà cho là không tội, sau khi chết
đều có quả báo, dầu mảy mún đều phải thọ chịu. Chí
thân như cha với con, mỗi người đều mỗi ngả đường khác
nhau, dầu có gặp gỡ cũng chẳng bằng lòng chịu khổ thay
cho nhau. Nay tôi nương oai lực của Ðức Phật mà lược nói
những sự tội báo nơi địa ngục; mong Nhân Giả tạm nghe
lời đó."
Ngài
Phổ Hiền đáp rằng: "Tôi từ lâu đã rõ tội báo nơi Tam
Ác Ðạo. Tôi mong Nhân Giả nói ra để khiến cho tất cả
chúng sanh ác hạnh trong đời Mạt Pháp sau này, nghe được
lời dạy của Nhân Giả mà quay về với Phật."
Lược
giảng:
Ðịa
Tạng Bồ Tát nói với Phổ Hiền Bồ Tát rằng: "Thưa Nhân
Giả! Ðây, tất cả những địa ngục vừa kể, đều là do
chúng sanh trong cõi Nam Diêm Phù Ðề—Nam Thiệm Bộ Châu—làm
điều ác mà tùy nghiệp chiêu cảm ra như thế." Bởi các chúng
sanh này ăn ở bất nhân, làm ác tạo nghiệp, nên cảm vời
ra quả báo, và đó chính là những cảnh địa ngục kể trên.
"Nghiệp
lực rất lớn, có thể sánh với núi Tu Di." Nghiệp lực của
chúng sanh thì vô cùng to lớn; lớn đến cỡ nào? Lớn như
núi Tu Di!
"Có
thể sâu dường biển cả." Nghiệp chướng của chúng sanh
thâm sâu như thế nào? Sâu thẳm như biển cả vậy!
"Có
thể chướng ngăn Thánh Ðạo." Tại sao chúng ta tu hành mà
không thành tựu được Ðạo nghiệp? Ðó là vì bị nghiệp
lực cản trở, ngăn chận con đường Thánh Ðạo của chúng
ta, khiến cho chúng ta chẳng thể tu thành Thánh Ðạo.
"Vì
thế, chúng sanh chớ khinh điều ác nhỏ mà cho là không tội."
Quý vị đừng bao giờ xem thường điều quấy nhỏ, tác hại
ít; vì sao? Vì nhiều việc ác nhỏ dồn lại thì sẽ thành
ra tội ác to lớn tày trời—"tích thiểu thành đa," tiểu
ác mà tích lũy lại thì dần dần cũng trở thành đại ác.
Quý vị đừng tưởng rằng tội ác mà nhỏ thì không có tội;
bởi "sau khi chết đều có quả báo, dầu mảy mún đều phải
thọ chịu." Nếu quý vị không dè dặt thận trọng, thì sau
khi chết sẽ phải thọ lãnh vô số quả báo, nhiều như số
tóc trên đầu vậy; dù chỉ phạm một việc ác nhỏ bằng
hạt bụi cũng phải gánh chịu quả báo như thường.
"Chí
thân như cha với con, mỗi người đều mỗi ngả đường khác
nhau." Trên thế gian này, quan hệ giữa cha với con là thân
thiết gần gũi nhất; thế nhưng, một khi đã ở trong địa
ngục rồi thì cha cũng không thể vì phụ tử tình thâm mà
chịu tội thay cho con, và con tuy hiếu thảo song cũng chẳng
thể nào lãnh tội giùm cha mẹ được—do đó mà nói là "mỗi
người đều mỗi ngả đường khác nhau."
"Dầu
có gặp gỡ cũng chẳng bằng lòng chịu khổ thay cho nhau."
Cho dù cha và con gặp mặt nhau ở chốn địa ngục, thì cũng
không có ai bằng lòng chịu khổ thay cho ai; vì sao? Bởi vì
tuy đã từng làm cha con với nhau ở chốn nhân gian, nhưng vào
địa ngục thì ai nấy đều hiểu ra rằng đó chẳng qua chỉ
là nghiệp chướng của đời trước, mà có khi lại là oan
gia đối đầu cũng không chừng! Cho nên, bị đọa vào địa
ngục thì "tội ai nấy chịu," không có ai bằng lòng chịu
tội thay cho người khác cả!
Ðịa
Tạng Vương BồTát lại nói cùng Phổ Hiền Bồ Tát rằng:
"Nay tôi nương oai lực của Ðức Phật mà lược nói những
sự tội báo nơi địa ngục; mong Nhân Giả tạm nghe lời đó.
Tôi ước mong rằng Nhân Giả sẽ tạm thời hoan hỷ lắng
nghe những điều tôi sắp nói ra đây."
Ngài
Phổ Hiền đáp rằng: "Tôi từ lâu đã rõ tội báo nơi Tam
Ác Ðạo. Tôi vốn đã được biết về quả báo trong ba đường
ác từ lâu lắm rồi, cho nên, dù Ngài có nói hay không thì
tôi cũng đã rõ cả; song, tôi chỉ e rằng các chúng sanh trong
thời Mạt Pháp ở đời sau sẽ chẳng có ai được biết về
những tội báo đó. Vì thế cho nên, tôi mong Nhân Giả nói
ra để khiến cho tất cả chúng sanh ác hạnh trong đời Mạt
Pháp sau này, nghe được lời dạy của Nhân Giả mà quay về
với Phật. Những chúng sanh có tâm hạnh ác độc trong thời
Mạt Pháp ở đời vị lai, sau khi được nghe Ngài kể về
các tội báo trong chốn địa ngục, ắt hẳn sẽ sanh lòng
kính sợ, không dám làm việc ác nữa, và đều sẽ hồi tâm
mà quy y Tam Bảo, quy hướng Phật Giáo. Do đó, tôi thiết tha
mong mỏi Nhân Giả sẽ nói rõ về các tội báo ấy!"
Kinh
văn:
Ngài
Ðịa Tạng nói rằng: "Thưa Nhân Giả! Về tội báo ở chốn
địa ngục, việc ấy như vầy:
Hoặc
có địa ngục kéo lưỡi người tội ra cho trâu cày lên; hoặc
có địa ngục moi tim người tội cho quỷ Dạ Xoa ăn; hoặc
có địa ngục vạc nước sôi sùng sục nấu thân người tội;
hoặc có địa ngục đốt trụ đồng nóng đỏ rồi bắt người
tội ôm lấy; hoặc có địa ngục các bựng lửa đuổi theo
người tội; hoặc có địa ngục toàn là băng giá; hoặc có
địa ngục đầy vô hạn đồ phẩn tiểu; hoặc có địa ngục
toàn là loại chùy gai bay; hoặc có địa ngục có nhiều giáo
lửa; hoặc có địa ngục chỉ đập ngực lưng; hoặc có địa
ngục chỉ đốt tay chân; hoặc có địa ngục rắn sắt quấn
cắn; hoặc có địa ngục xua đuổi chó sắt; hoặc có địa
ngục toàn kéo la sắt ..."
Lược
giảng:
Ngài
Ðịa Tạng nói rằng: "Thưa Nhân Giả! Về tội báo ở chốn
địa ngục, việc ấy như vầy ..."
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát nói với Phổ Hiền Bồ Tát rằng: "Ngoài
những địa ngục kể trên, còn có rất nhiều địa ngục
với tình trạng tội báo khác như sau: Hoặc có địa ngục
kéo lưỡi người tội ra cho trâu cày lên." Những người ưa
huênh hoang khoác lác, mắng nhiếc chửi bới, hoặc nói lời
gian dối điêu ngoa, thì sau khi chết sẽ bị đọa vào địa
ngục mà ở đó, tội nhân sẽ bị móc lưỡi ra bằng móc
câu, rồi có con trâu kéo cày đi tới đi lui, cày bừa ngay
trên lưỡi của tội nhân.
"Hoặc
có địa ngục moi tim người tội cho quỷ Dạ Xoa ăn." Lại
có địa ngục, trong đó tội nhân bị mổ ngực để moi tim
ra, rồi có loài quỷ Dạ Xoa (tức quỷ dũng kiện hoặc quỷ
tiệp tật) lấy ăn những quả tim ấy.
"Hoặc
có địa ngục vạc nước sôi sùng sục nấu thân người tội."
Lại có loại địa ngục, trong đó tội nhân bị thả vào
nồi nước lớn đang sôi sùng sục.
"Hoặc
có địa ngục đốt trụ đồng nóng đỏ rồi bắt người
tội ôm lấy." Lại có loại địa ngục, trong đó tội nhân
phải ôm trụ đồng đang nung cháy đỏ rực.
"Hoặc
có địa ngục các bựng lửa đuổi theo người tội." Lại
có địa ngục, trong đó tội nhân bị rất nhiều thứ lửa
đuổi theo thiêu đốt.
"Hoặc
có địa ngục toàn là băng giá." Lại có địa ngục, trong
đó còn rét lạnh hơn cả băng giá khiến cho tội nhân bị
lạnh cóng và đông thành đá.
"Hoặc
có địa ngục đầy vô hạn đồ phẩn tiểu." Lại có địa
ngục, trong đó chứa rất nhiều phân và nước tiểu dơ bẩn.
"Hoặc
có địa ngục toàn là loại chùy gai bay." "chùy gai” hay tật-lê
là một thứ chùy bằng sắt có hình thù như trái cam và chung
quanh tua tủa những gai nhọn như mũi kim.
Có
loại địa ngục mà trong đó chỉ thuần một thứ chùy gai
từ dưới đất vọt lên hoặc từ không trung bay đến (tuy
bằng sắt nhưng chúng có thể bay được) và cứ nhắm vào
thân tội nhân mà đánh, khiến cho đầu, mắt, tai, mũi, miệng
... của tội nhân đều bị các gai nhọn đâm trúng; hễ tội
nhân đau chỗ nào thì liền bị chùy gai đập vào chỗ đó.
"Hoặc
có địa ngục có nhiều giáo lửa." "Giáo lửa" (hỏa thương)
này cũng chính là "giáo đâm" (thông thương). Lại cũng có
địa ngục có những ngọn giáo được nung nóng đỏ, dùng
để đâm vào thân thể của tội nhân và khoét thành từng
lỗ có lửa bốc cháy, đồng thời xẻ ra những đường rãnh
trên mình của tội nhân để "thông gió."
"Hoặc
có địa ngục chỉ đập ngực, lưng." Lại có địa ngục,
trong đó tội nhân chỉ bị đánh đằng trước ngực hoặc
sau lưng.
"Hoặc
có địa ngục chỉ đốt tay, chân." Lại có địa ngục, trong
đó chỉ đốt tay hoặc đốt chân của tội nhân.
"Hoặc
có địa ngục rắn sắt quấn cắn." Lại có địa ngục, trong
đó có loài rắn bằng sắt quấn quanh người của tội nhân.
Loài rắn sắt này là một loại trùng có rất nhiều miệng—toàn
thân nó đều lởm chởm những cái miệng. Mỗi cái miệng
trên mình rắn lại có thể nhả ra một con rắn nhỏ, và mỗi
con đều có mười hai cái miệng sắt. Những con rắn nhỏ
này chui qua mắt của người tội để luồn lách vào trong
cơ thể của người ấy, rồi lại từ nam căn hoặc nữ căn
của người tội mà chui ra. Tội nhân bị chúng cắn xé, đau
đớn thống khổ đến không thể nào chịu nổi.
Tại
sao lại phải chịu loại quả báo này? Bởi lúc sanh tiền,
tội nhân sống hoang dâm vô độ, chơi bời trụy lạc, không
tiết chế chừng mực, cho nên đến khi đọa địa ngục thì
phải gánh chịu quả báo như thế; thật là đáng sợ lắm
thay!
"Hoặc
có địa ngục xua đuổi chó sắt." Lại có địa ngục, trong
đó có loài ác quỷ xua chó sắt tới cắn tội nhân.
"Hoặc
có địa ngục toàn kéo la sắt." Lại có địa ngục, trong
đó tội nhân phải kéo con la bằng sắt. ("La" thì cũng to lớn
như ngựa, có lớn hơn lừa một chút.)
Kinh
văn:
"Nhân
Giả! Những quả báo như thế, trong mỗi ngục có trăm ngàn
thứ khí cụ nghiệp đạo đều là bằng đồng, bằng sắt,
bằng đá, bằng lửa; bốn thứ này là do các hành nghiệp
cảm vời ra. Nếu nói rộng ra về những sự tội báo ở địa
ngục, thì trong mỗi ngục còn có cả trăm ngàn thứ khổ sở,
huống chi là nhiều ngục!
Nay
tôi nương sức oai thần của Ðức Phật và vì Nhân Giả hỏi
đến mà nói sơ lược như thế; nếu nói rộng ra thì cùng
kiếp nói cũng không hết được!"
Lược
giảng:
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát lại nói với Phổ Hiền Bồ Tát: "Thưa
Nhân Giả, bậc Ðại Sĩ nhân đức! Những quả báo như thế,
trong mỗi ngục có trăm ngàn thứ khí cụ nghiệp đạo. Trong
mỗi địa ngục đều có cả trăm ngàn vạn loại tội khí
tạo nghiệp thọ báo khác nhau. Những khí cụ dùng để hành
hình các tội nhân chịu quả báo ở các địa ngục đều
là bằng đồng, bằng sắt, bằng đá, bằng lửa."
Thế
nhưng, có phải thật là có đồng, sắt, đá, lửa không? Không
phải! Vậy là thế nào?
"Bốn
thứ này là do các hành nghiệp cảm vời ra." Chúng sanh hễ
trồng nhân gì thì gặt quả đó, gây nghiệp tội gì thì có
quả báo tương ứng với nghiệp tội đó xuất hiện. Nếu
quý vị tạo loại nghiệp đáng phải bị trừng phạt bởi
khí cụ bằng đồng, thì có ngục đồng hiện ra; còn nếu
tạo loại nghiệp đáng phải dùng khí cụ bằng sắt để
trừng trị, thì quý vị phải chịu những thống khổ của
ngục sắt; thậm chí cả ngục đá và ngục lửa cũng vậy.
"Nếu
nói rộng ra về những sự tội báo ở địa ngục, thì trong
mỗi ngục còn có cả trăm ngàn thứ khổ sở, huống chi là
nhiều ngục!" Giả sử muốn nói rộng ra và cặn kẽ từng
chi tiết về các tội báo ở địa ngục, như gây tội gì
thì phải lãnh quả báo gì, thì trong mỗi ngục không phải
chỉ có vỏn vẹn một thứ khổ sở thôi đâu, mà là có đến
hằng trăm, hằng ngàn, hằng vạn thứ khổ sở khác nữa.
Trong một địa ngục mà đã muôn vàn thứ khổ sở không thể
kể xiết như thế, thì huống chi là trong nhiều địa ngục?
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát lại nói với Phổ Hiền Bồ Tát rằng:
"Nay tôi nương sức oai thần của Ðức Phật và vì Nhân Giả
hỏi đến mà nói sơ lược như thế; nếu nói rộng ra thì
cùng kiếp nói cũng không hết được! Nếu muốn giảng giải
cho cặn kẽ thì dẫu có nói trong suốt mấy đại kiếp cũng
không thể nào nói cho hết được."
hết
Phẩm Thứ Năm