Quyển
Thượng
Phẩm
Thứ Ba
Quán
Chúng Sanh Nghiệp Duyên
Ðây
là phẩm thứ ba, nói về các nghiệp duyên của chúng sanh.
"Quán"
là quán sát, xem xét.
Thế
nào gọi là "chúng sanh"? "Chúng" có nghĩa là nhiều; "sanh" tức
là sinh ra. Bởi do năm nhân tố—Sắc (hình sắc), Thọ (cảm
thọ), Tưởng (suy nghĩ), Hành (hành vi), Thức (ý thức)—buộc
ràng mà tạo thành thân thể, và do tác động của nhân duyên
cảnh giới mà sinh ra, nên gọi là "chúng sanh."
Vì
sao có "nghiệp"? "Nghiệp" là do thân (hành vi), khẩu (miệng—lời
nói) hoặc ý (tư tưởng) gây tạo ra. Nói là "tạo ra," thì
tại sao không gọi đó là "nhân" (nguyên nhân), mà lại gọi
là "nghiệp"? "Nhân" chỉ có nghĩa là một loại nguyên nhân,
lý do của một lần tạo tác mà thôi; còn "nghiệp" là tập
hợp do các "nhân" tích lũy lại mà thành. Bởi trong "nghiệp"
bao gồm quá nhiều loại "nhân" nên không thể gọi đó là
"nhân" nữa, mà gọi là "nghiệp."
"Duyên"
là nhân duyên, sự đưa đẩy dẫn đến việc tạo nghiệp.
Nhân duyên tạo nghiệp thì nhiều vô số—mỗi chúng sanh đều
có một nghiệp duyên khác biệt, cho nên cảnh giới mà mỗi
chúng sanh gặp phải cũng không đồng nhất. Chẳng hạn, có
chúng sanh thì lúc nào cũng được vui sướng, may mắn; vì
sao? Ðó là do trong các đời trước chúng sanh ấy trồng toàn
"nhân lành" (thiện nhân), cho nên đời này được hưởng "quả
lành" (thiện quả). Lại có những chúng sanh thường phải
sống trong cảnh khổ sở khốn cùng, là vì sao? Ðó là vì
trong đời trước các chúng sanh ấy không hề gieo "nhân lành,"
mà chỉ trồng toàn "nhân xấu" (ác nhân); các "nhân xấu" ấy
tích lũy lâu ngày trở thành "nghiệp xấu" (ác nghiệp), do
đó đời này phải chịu quả báo khổ sở.
Ở
đời, trồng thiện nhân thì được thiện quả; gieo ác nhân
tất gặp ác báo. Thiện hay ác, tốt hay xấu, thì đều do
cá nhân mỗi người tự gây tự tạo, chứ không phải do ai
khác chỉ thị, sai khiến. Ngay cả việc thành Phật cũng vậy—chính
bản thân quý vị phải nỗ lực dụng công tu tập để có
được sự thành tựu, chứ không ai có thể làm thay cho quý
vị được cả! Cho nên, nếu bây giờ quý vị tinh tấn dụng
công tu hành tức là quý vị đang tinh tấn gieo trồng "nhân"
Phật, và trong tương lai quý vị sẽ được thành Phật (tức
là kết thành "quả" Phật). Nói cách khác, hễ quý vị tạo
Phật nghiệp thì tương lai sẽ thành Phật, còn nếu tạo ma
nghiệp thì tương lai chắc chắn sẽ làm ma làm quỷ!
Kinh
văn:
Lúc
đó, Ðức Phật Mẫu Ma Da Phu Nhân cung kính chắp tay hỏi Bồ
Tát Ðịa Tạng rằng: "Thánh Giả! Chúng sanh trong cõi Diêm
Phù tạo nghiệp sai khác, cảm thọ sự báo ứng như thế nào?"
Ngài
Ðịa Tạng đáp rằng: "Trong ngàn muôn thế giới cho đến
các quốc độ, nơi có địa ngục hoặc không địa ngục,
nơi có người nữ hoặc không người nữ, nơi có Phật Pháp
hoặc không Phật Pháp, cho đến cả Thanh Văn và Bích Chi Phật
cũng đều như thế, chứ chẳng phải riêng tội báo nơi địa
ngục thôi đâu!"
Lược
giảng:
Lúc
đó, Ðức Phật Mẫu Ma Da Phu Nhân... Ma Da Phu Nhân là mẹ của
Ðức Phật Thích Ca. Sau khi hạ sanh Ðức Phật (Thái Tử Tất
Ðạt Ða) được mấy hôm thì Bà qua đời và được sanh lên
cõi trời. (Vì Phật được sanh ra từ cạnh sườn bên trái
của mẹ, nên có lẽ là do mất máu quá nhiều mà Phật Mẫu
qua đời.) Thành Ðạo rồi, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lại
đi khắp nơi thuyết Pháp trong suốt bốn mươi chín năm, với
hơn ba trăm Pháp Hội giảng Kinh. (Tôi nhắc lại lần nữa
là hơn ba trăm Pháp Hội chứ không phải là ba trăm bộ Kinh
như người nào đó đã nói hôm trước. Kinh Phật thì không
phải chỉ vỏn vẹn có ba trăm bộ, mà là có đến cả mấy
ngàn bộ!) Ðến khi sắp nhập Niết Bàn, Ðức Phật nhớ tới
mẫu thân chưa được độ, bèn đến cung trời Ðao Lợi để
thuyết Pháp cho Bà nghe. Và bây giờ, thân mẫu của Ðức Phật
đang cung kính chắp tay. Ðức Phật Mẫu tỏ ra cung kính như
thế đối với ai? Ðối với Ðịa Tạng Vương Bồ Tát!
Phật
Mẫu chắp hai tay lại và kính cẩn hỏi Bồ Tát Ðịa Tạng
rằng: "Thánh Giả! Chúng sanh trong cõi Diêm Phù tạo nghiệp
sai khác, cảm thọ sự báo ứng như thế nào? Tất cả chúng
sanh ở cõi Nam Diêm Phù Ðề gây tạo nghiệp nhân đều không
giống nhau, vậy chẳng hay quả báo mà họ thọ nhận thì sai
khác ra sao?"
Ngài
Ðịa Tạng đáp rằng: "Trong ngàn muôn thế giới cho đến
các quốc độ, nơi có địa ngục hoặc không địa ngục..."
Thế giới Cực Lạc là một thí dụ điển hình cho nơi không
có địa ngục, không có ba đường ác; còn thế giới Ta Bà
của chúng ta thì có ba đường ác—Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ,
Súc Sanh.
"Nơi
có người nữ hoặc không người nữ." Thế giới của chúng
ta này đây thì có người nam và cũng có người nữ, có bậc
Thánh nhân và cũng có kẻ phàm phu; còn ở thế giới Cực
Lạc thì chỉ có người nam chứ không có người nữ. Thế
thì, không có người nữ thì làm sao lại có người nam được?
Quý vị chớ vội lo âu—người nam sanh về thế giới Cực
Lạc thì vẫn là người nam; mà người nữ sanh về thế giới
Cực Lạc thì cũng biến thành người nam cả. Như vậy, người
ở thế giới Cực Lạc là từ đâu đến? Do ai sanh ra? Ðiều
này có lẽ quý vị chưa hề biết tới—người ở thế giới
Cực Lạc đều là "liên hoa hóa thân," tức là được sanh
ra từ hoa sen chứ không phải từ bụng mẹ!
Vì
sao chúng ta niệm Phật? Ở đây quý vị niệm một tiếng Phật
thì tại thế giới Cực Lạc, "bà mẹ hoa sen" (liên hoa mẫu
thân) của quý vị sẽ được trổ sanh; và hễ quý vị niệm
Phật càng nhiều thì hoa càng lớn, niệm Phật càng thành tâm
thì hoa càng tươi tốt. Nếu quý vị niệm Phật một cách
thiết tha, thành khẩn, thì sau khi chết, "thân trung ấm" của
quý vị (tức là "thức thứ tám"; song lúc chưa làm người,
làm quỷ hoặc làm thần, thì gọi là "thân trung ấm") sẽ
được tiếp dẫn vào trong hoa sen đó và hoa liền nở rộ—hoa
vừa nở thì quý vị được sanh ra. Do đó, người ở thế
giới Cực Lạc đều được sanh ra từ hoa sen, và tất cả
đều là nam, không có nữ.
"Nơi
có Phật Pháp hoặc không Phật Pháp." Có những quốc gia hoặc
thế giới đương có Phật thuyết Pháp, có Phật Pháp trụ
thế; và cũng có những nơi chẳng hề có sự hiện diện của
Phật Pháp. Thế nào gọi là "nơi không Phật Pháp"? Ðó là
những nơi không có người giảng Kinh thuyết Pháp, không có
tượng Phật, không có kinh điển, hoặc không có người xuất
gia tu hành. Căn cứ theo kinh điển Phật Giáo thì ở châu Bắc
Câu Lư không có Phật Pháp, và châu Bắc Câu Lư chính là một
nơi trong Bát Nạn. "Bát Nạn" là gì? Ðó là tám chỗ chướng
nạn, khó khăn; nếu chẳng may sanh vào tám cảnh ngộ này thì
không được thấy Phật nghe Pháp, chẳng thể tu học thành
Ðạo.
"Cho
đến cả Thanh Văn và Bích Chi Phật—thậm chí có Thanh Văn
hoặc không có Thanh Văn, có Bích Chi Phật hoặc không có Bích
Chi Phật, có Bồ Tát hoặc không có Bồ Tát—thì cũng đều
như thế, chứ chẳng phải riêng tội báo nơi địa ngục thôi
đâu!" Với cái nhìn hạn hẹp của phàm phu chúng ta thì hàng
Thanh Văn rất vui sướng; nhưng đối với cảnh giới của
hàng Bồ Tát thì Thanh Văn cũng có cái khổ của Thanh Văn.
Cho nên, ở đây chúng ta có thể giảng là "có khổ của Thanh
Văn hoặc không có khổ của Thanh Văn, có khổ của Bích Chi
Phật hoặc không có khổ của Bích Chi Phật."
Vậy,
không phải chỉ có tội báo ở địa ngục là bình đẳng
như nhau, mà bất luận ở nơi đâu và bất luận là ai, hễ
người nào tạo nghiệp thì người đó phải chịu quả báo,
không tạo nghiệp thì không bị quả báo—tất cả đều rất
công bằng bình đẳng, chẳng chút thiên vị riêng tư!
Kinh
văn:
Ma
Da Phu Nhân lại bạch cùng Bồ Tát rằng: "Nay tôi muốn nghe
về tội báo trong cõi Diêm Phù chiêu cảm lấy ác đạo."
Ngài
Ðịa Tạng đáp rằng: "Thánh Mẫu! Mong Ngài lắng nghe nhận
lấy, tôi sẽ lược nói việc đó."
Phật
Mẫu bạch rằng: "Xin Thánh Giả nói cho."
Bấy
giờ Ðịa Tạng Bồ Tát nói với Thánh Mẫu rằng: "Danh hiệu
của những tội báo trong cõi Nam Diêm Phù Ðề là như vầy:
Như có chúng sanh chẳng hiếu thảo với cha mẹ, cho đến giết
hại cha mẹ, kẻ đó phải đọa vào địa ngục Vô Gián trong
ngàn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được."
Lược
giảng:
Ma
Da Phu Nhân, mẫu thân của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, lại
bạch cùng Bồ Tát rằng: "Nay tôi muốn nghe về tội báo trong
cõi Diêm Phù chiêu cảm lấy ác đạo."
Lúc
bấy giờ, Phật Mẫu lại thưa với Ðịa Tạng Vương Bồ
Tát rằng: "Những thế giới khác đối với tôi thì xa xôi
cách trở quá, và tôi cũng chưa hề đặt chân đến đó bao
giờ; mà dẫu có đến rồi thì tôi cũng đã quên bẵng, cho
nên tôi cũng không thắc mắc gì về các nơi ấy. Tôi nay chỉ
muốn hỏi Ngài về chuyện ở cõi Nam Diêm Phù Ðề. Tôi muốn
biết về sự chiêu cảm lấy ác đạo do tội báo ở cõi Nam
Diêm Phù Ðề, và tạo nghiệp tội gì thì phải chịu quả
báo gì. Tôi rất khao khát lắng nghe, xin Thánh Giả vì tôi
mà thuyết giảng cho!"
Nghe
mẫu thân của Phật thỉnh cầu như vậy, Ngài Ðịa Tạng
đáp rằng: "Thánh Mẫu! Mong Ngài lắng nghe nhận lấy, tôi
sẽ lược nói việc đó. Tôi mong rằng Thánh Mẫu sẽ tiếp
thọ những đạo lý mà tôi sắp nói đây. Song, tôi chỉ nói
sơ lược thôi, chứ không thể giảng kỹ từng chi tiết một,
vì nếu giảng kỹ thì suốt cả mấy đại kiếp giảng cũng
không hết được. Cho nên, tôi chỉ nói khái quát mà thôi!"
Phật
Mẫu bạch rằng: "Xin Thánh Giả nói cho." Thấy Ðịa Tạng
Vương Bồ Tát hoan hỷ nhận lời thỉnh cầu của mình thì
Phật Mẫu vui mừng reo lên: "Tôi rất sung sướng và sẵn sàng
đón nghe lời giảng của Bồ Tát!"
Bấy
giờ Ðịa Tạng Bồ Tát nói với Thánh Mẫu rằng: "Danh hiệu
của những tội báo trong cõi Nam Diêm Phù Ðề là như vầy..."
Bây giờ Bồ Tát Ðịa Tạng bắt đầu kể tên của những
tội báo mà chúng sanh trót gây tạo ở cõi Nam Diêm Phù Ðề
và rồi chiêu cảm ra các cảnh địa ngục:
"Như
có chúng sanh chẳng hiếu thảo với cha mẹ, cho đến giết
hại cha mẹ, kẻ đó phải đọa vào địa ngục Vô Gián trong
ngàn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được." Giả
sử có chúng sanh nào bất hiếu, thậm chí nhẫn tâm sát hại
cả cha và mẹ của mình, thì kẻ đó phải vĩnh viễn ở trong
địa ngục Vô Gián mà đền tội, chẳng bao giờ được thoát
ra.
Chúng
sanh chúng ta có bổn phận phải hiếu thảo với cha mẹ. Không
hiếu thảo với cha mẹ là đã có tội rồi, huống chi là
giết hại cha mẹ!? Ðó đều là những tội ác tày trời.
Chúng ta làm người thì phải biết ăn ở cho hiếu thảo với
cha mẹ, chu toàn bổn phận làm con. Tại sao con người cần
phải lo tròn hiếu đạo? Hiếu thảo là gốc của con người;
nếu không hiếu thảo với cha mẹ tức là quên mất nguồn
cội. Có câu:
"Cha
cho sự sống, mẹ đẻ dưỡng nuôi,
công
ơn bao la, khó trọn báo đáp. "
(Phụ
hề sanh ngă, mẫu hề dục ngă,
hạo
thiên vơng cực, toát phát nan báo.)
Nghĩa
là cha cho ta sự sống, mẹ sinh đẻ dưỡng nuôi, công ơn ấy
bao la không bờ bến, còn cao hơn trời và dày hơn đất nữa;
chúng ta khó thể báo đáp cho trọn vẹn. "Hạo thiên" tức
là bầu trời cao rộng hơn hết; song, dù cao đến đâu, rộng
đến thế nào, thì cũng không thể sánh bằng công ơn sanh
thành dưỡng dục của cha mẹ. Cho nên, là kẻ làm con, chúng
ta nhất định phải hiếu thuận cha mẹ.
Thế
nào gọi là hiếu thuận cha mẹ? Phải chăng ngày ngày chúng
ta mua cho cha mẹ vài món ngon vật lạ, dăm bộ quần áo mới,
tức là có hiếu rồi? Chưa phải! Ðó chỉ là "hình thức,"
là lớp vỏ ngoài của sự hiếu thuận mà thôi. Vậy thì "nội
dung" của hiếu thuận là gì? Chúng ta phải "lấy thuận làm
hiếu"—chiều theo tâm ý và nguyện vọng của cha mẹ mình.
Cha mẹ vui thì mình cũng nên vui, những gì cha mẹ yêu thích
thì mình cũng nên mến chuộng.
Có
người vừa nghe như thế liền nói: "Như thế tức là hiếu
thuận ư? Cha tôi thích hút thuốc phiện, mỗi ngày hút hết
một lạng; nay tôi hút mỗi ngày hai lạng thuốc tức là tôi
có hiếu lắm rồi, vì tôi biết thuận theo sở thích của
cha tôi!" Ðó có phải là "thuận" không? Không phải! "Thuận"
là thuận theo tâm ý chứ không phải thuận về chuyện hút
xách, ăn uống. Thí dụ, thấy cha mình thích ăn bánh mì bơ,
mình cũng muốn giành ăn: "Con cũng thích món này. Ba để con
ăn trước, con ăn no rồi thì ba hẵng ăn!" Ðó gọi là "tranh"
chứ không phải "thuận." "Thuận" ở đây tức là thuận theo
những ước muốn chánh đáng của bậc cha mẹ đối với con
cái. Chúng ta phải tìm hiểu tâm nguyện cũng như sở thích
của cha mẹ để khỏi làm trái ý hoặc phụ lòng mong mỏi
của cha mẹ—đó gọi là "hiếu" vậy.
Vừa
rồi chúng ta có nghe nói là công ơn của cha mẹ thì "toát
phát nan báo." "Toát phát" có nghĩa là số tóc trên đầu. Vậy,
"toát phát nan báo" ngụ ý rằng tóc trên đầu còn có thể
đếm được (tuy khó!), chứ ơn cha nghĩa mẹ thì khó thể
đáp đền; cho nên ai ai cũng phải hiếu thảo với cha mẹ.
Trong
khóa hè năm ngoái, tôi đã giảng về câu "dê con quỳ bú,
quạ mớm nuôi mẹ" (cao dương quỳ nhũ, ô nha phản bộ).Câu
này có nghĩa là dê con mỗi khi bú đều quỳ hai chân trước
xuống trước mặt dê mẹ, còn quạ con thì biết mớm mồi
nuôi quạ mẹ (do đó ở Trung Hoa người ta gọi quạ là loài
chim hiếu—hiếu điểu). Vì sau khi ấp trứng nở ra quạ con,
quạ mẹ già yếu không bay đi kiếm mồi được nữa, quạ
con bèn đi tìm thức ăn mang về cho quạ mẹ. Quý vị xem, quạ
và dê đều là loài cầm thú mà còn biết hiếu thảo với
cha mẹ, huống hồ là loài người chúng ta? Do đó, nếu chúng
ta ăn ở bất hiếu với cha mẹ, thì chúng ta còn thua cả loài
cầm thú nữa! Loài người chúng ta có đầy đủ hạnh đức
Ngũ Thường—nhân, lễ, nghĩa, trí, tín—thì lẽ nào chúng
ta lại chẳng bằng cả loài quạ loài dê? Cho nên, làm người
thì điều quan trọng nhất là phải hiếu thảo với cha mẹ!
Có
người bùi ngùi hối tiếc: "Tôi rất thiết tha muốn báo hiếu
cho cha mẹ; tiếc thay nay tôi đã xuất gia đi tu rồi, không
thể cận kề hôm sớm để chăm sóc song thân, vậy thì tôi
phải làm thế nào để báo hiếu bây giờ?"
Xuất
gia tu hành là một hành động thể hiện lòng "đại hiếu,"
bởi đó chính là hạnh hiếu thảo vĩ đại nhất, cao cả
nhất. Có câu:
"Một
người con vào cửa Phật, tổ tiên chín đời được lên cơi
trời."
(Nhất
tử nhập Phật môn, cửu tổ thăng thiên.)
Nếu
quý vị xuất gia tu Ðạo thì tất cả tổ tiên trong chín đời
đều nhờ công đức tu hành của quý vị mà được siêu thăng
lên cõi trời. Cho nên, xuất gia không phải là chỉ báo hiếu
cho cha mẹ hiện đời, mà còn báo hiếu cho cả cha mẹ và
tổ tiên trong những đời quá khứ nữa! Tuy nhiên, quý vị
xuất gia mà phải chân chánh tu hành thì mới báo hiếu được;
còn nếu quý vị cứ giải đãi, không tinh tấn dụng công
tu tập, thì "cửu tổ" của quý vị vẫn phải đọa địa
ngục, và bấy giờ họ sẽ than khóc ầm ĩ. Vì sao họ khóc?
Họ than thở với nhau rằng: "Tôi cứ tưởng là có được
đứa cháu xuất gia tu Ðạo thì chúng ta sẽ nhờ đó mà được
thăng thiên. Ngờ đâu đứa cháu này lại chẳng chuyên cần
tu tập, suốt ngày chỉ biết ngủ với nghỉ, vô cùng lười
biếng! Giờ đây những nghiệp tội của chúng ta không được
xá miễn chút nào cả, và chúng ta vẫn phải tiếp tục trầm
luân trong địa ngục."
Vì
vậy, tuy nói rằng xuất gia tu hành thì "cửu tổ" của mình
được sanh thiên, nhưng nếu quý vị không tinh nghiêm tu Ðạo
thì "cửu tổ" vẫn bị đọa địa ngục như thường. Chớ
nói rằng: "Tôi đã xuất gia đi tu rồi, ‘cửu tổ’ nhất
định sẽ được thăng thiên!"; bởi vấn đề không phải
như vậy! Nếu quý vị chỉ cạo đầu xuất gia rồi chẳng
chịu tu hành gì cả, thì "cửu tổ" vẫn không được thăng
thiên; trái lại, nếu quý vị chân chánh tu hành thì trong tương
lai sẽ siêu độ được cha mẹ cùng tổ tiên của quý vị,
và đó chính là "đại hiếu" vậy.
Bây
giờ tôi sẽ kể cho quý vị nghe câu chuyện về một chú tiểu
Sa Di, đệ tử của tôi. Hôm nay tôi đến Phật Ðường và
đợi rất lâu mà chú ta vẫn chưa ngủ dậy. Thấy thế, một
vị Sư Phụ vốn rất hiền hòa cũng phải nổi nóng mà gắt
lên: "Kẻ xuất gia sao lại lười biếng đến thế?"
Chú
Sa Di này cũng ngoan, không đối đáp lại tiếng nào. Sau đó,
tôi tra hỏi cặn kẽ mới hiểu ra đầu đuôi sự việc; quý
vị có biết như thế nào không? Bây giờ tôi kể ra cho mọi
người cùng biết: Thì ra chú Sa Di này cứ nằm dài như thế
là vì đói chứ không phải lười biếng! Chú ta đói đến
nỗi lả người, tay chân bủn rủn. Vì sao chú đói đến như
vậy ư? Mấy hôm nay chú ấy muốn thử mang bình bát đi hóa
duyên một mình, ngày nào chú cũng đi nhưng đều không được
ai bố thí cho cả. Thế là chú sanh ra giận dỗi, trở về
chùa cũng không chịu ăn uống gì cả. Ðến hôm nay nữa là
chú đã nhịn đói được sáu, bảy ngày rồi, cho nên mới
kiệt sức, không ngồi dậy nổi! Ấy thế mà tôi chưa rõ
sự tình ra sao cả đã vội nóng nảy rầy la chú ta một trận
nên thân! Cũng may là sau đó tôi nghĩ lại và căn dặn chú:
"Vì sao con lười biếng thế? Con nên nói thật cho Sư Phụ
biết!"
Bấy
giờ chú ta mới chịu thú thật: "Vì không có ai bố thí cho
con, con không có gì ăn cả nên mới bị kiệt sức, Sư Phụ
ạ!"
Nghe
chú nói như vậy, tôi mới vỡ lẽ và tự trách mình: "Ôi!
Sư Phụ đã mắng oan con rồi!" Và tôi bảo chú Sa Di: "Nếu
con cảm thấy trong người còn yếu thì cứ ở trong phòng mà
nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Sư Phụ mở cho con một ‘cánh cửa’
phương tiện vậy!"
Quý
vị thấy đó, làm Sư Phụ thật là không phải dễ! Ðối
phó với đệ tử, lắm lúc ông Sư Phụ cũng bối rối, không
biết nên dùng phương pháp gì để giáo hóa cho thích hợp—đệ
tử bị bỏ đói mà ông còn rầy la trách mắng nữa! May thay,
chú đệ tử này quả có dụng công tu tập thực sự. Quý
vị nghĩ xem, sáu, bảy ngày trời không ăn gì cả thế mà
vẫn có thể cùng đại chúng tụng kinh, bái sám, và đến
lớp nghe giảng kinh đều đặn như thường lệ—nếu không
có công phu tu tập thì làm sao chịu đựng nổi!? Cho nên, bây
giờ "lửa" giận đã tắt, tôi cũng thấy mừng là có được
người đệ tử biết chăm chỉ dụng công tu hành—như thế
cũng không tệ lắm! Tôi mong rằng các đệ tử khác đều
học theo hạnh của chú Sa Di này, tập tánh nhẫn nại, nhịn
nhục, dầu bị Sư Phụ quở trách cho một trận cũng không
việc gì!!!
Ngoài
ra, trên bước đường tu học, quý vị nhớ là đừng lo nghĩ
về chuyện mình đã một ngày chưa ăn, hoặc hai ngày, ba ngày,
bốn ngày, năm ngày, sáu ngày chưa ăn—hãy gạt bỏ chuyện
đó ra khỏi tâm trí. Ăn rồi với chưa ăn đều như nhau, chưa
ăn hay ăn rồi thì cũng thế—đừng nhớ là mình đã ăn hay
chưa ăn nữa. Phải quên đi chuyện ăn rồi hay chưa ăn—như
thế mới là chân chánh tu Ðạo! Song, nếu không chân chánh
tu Ðạo, thì quý vị sẽ quên không nổi!
Nếu
chân chánh tu Ðạo, thật sự dụng công, thì quý vị sẽ có
được Ðịnh lực chân chánh. Một khi quý vị đã có Ðịnh
lực chân chánh rồi, thì đừng nói là bị tôi la mắng, mà
dù có bị tôi đánh đập đi chăng nữa, quý vị cũng không
hề hay biết và cũng chẳng thắc mắc: "Ai đánh tôi thế?
Tôi đang ở đâu vậy?" Vì sao ư? Bởi vì bấy giờ quý vị
không thấy có cái "tôi" nữa! Khi quý vị không còn cái "ngã,"
không còn thấy có sự hiện hữu của một cái "tôi" to tướng
nữa, thì lúc đó mới thật là có Ðịnh lực chân chánh!
Nếu quý vị vẫn còn cái "tôi," vẫn còn nhớ rõ: "Hừ! Ông
đánh tôi! Ông mắng tôi! Ông nói xấu tôi! Tôi đói, tôi chưa
ăn cơm!..." Quý vị chưa quên được điều này, thì Ðịnh
lực chưa thể nảy sanh. Nhất định phải quên nó đi thì
Ðịnh lực mới có thể nảy sanh; Ðịnh lực nảy sanh rồi
tức là có được công phu chân chánh vậy!
Kinh
văn:
"Nếu
có chúng sanh nào làm thân Phật chảy máu, hủy báng Tam Bảo,
chẳng kính tôn kinh, kẻ đó cũng phải đọa vào địa ngục
Vô Gián trong ngàn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi
được."
Lược
giảng:
"Nếu
có chúng sanh nào làm thân Phật chảy máu..." Ðây chỉ là
giả thiết, ví dụ là có hạng chúng sanh phạm một tội ác
như thế mà thôi. Thế nào gọi là "làm thân Phật chảy máu"
(xuất Phật thân huyết)? Hiện nay Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni đã nhập Niết Bàn rồi, thì làm sao có thể bị chúng sanh
"làm thân Phật chảy máu" được? Vả lại, chúng ta không
sanh vào thời Ðức Phật còn tại thế, cũng không gặp được
Phật, thì làm sao có thể "làm thân Phật chảy máu" được?
Vào
thời Ðức Phật còn tại thế, thì "làm thân Phật chảy máu"
có nghĩa là làm cho thân thể của Phật bị tổn thương, gây
thương tích cho Phật. Còn sau khi Phật nhập Niết Bàn, thì
"làm thân Phật chảy máu" tức là phá hủy tượng Phật, như
cố tình làm sứt mất một lỗ tai hoặc làm gãy một ngón
tay... của tôn tượng. Ngay cả thiêu đốt các tranh vẽ hình
Phật bằng giấy cũng thế, đó cũng chẳng khác nào "làm thân
Phật chảy máu" vậy! Tội này vốn không thể sám hối mà
tiêu tan được, song có thể tùy theo tình huống mà có sự
"khai duyên." Chẳng hạn nếu do say rượu, mắc bệnh điên
cuồng hoặc tâm trí rối loạn bất thường, mà phạm phải,
thì được xem là ngoại lệ, không bị khép vào thứ tội
này. Tuy nhiên, nếu viện cớ mình tinh thần bất ổn hoặc
là say rượu, rồi cố ý làm càn, thì nhất định là có tội.
Nếu quý vị do vô tình mà trót phạm, thì nghiệp tội có
nhẹ bớt phần nào.
Lúc
Ðức Phật còn tại thế, oai lực thần thông của Phật lớn
lao như vậy, thì ai mà có thể "làm thân Phật chảy máu" được?
Phật đã chứng quả rồi thì ai mà có thể hãm hại, gây
thương tích cho Phật được? Ở đời, lắm lúc cũng có những
sự việc xảy ra ngoài sức dự liệu của con người—Phật
cũng có thể bị ám hại, bị hành hung vậy. Quý vị đã có
bao giờ nghe đến cái tên "Ðề Bà Ðạt Ða" chưa? Tôn Giả
Ðề Bà Ðạt Ða vốn là em chú bác của Ðức Phật Thích
Ca, nhưng ông lại thường xuyên gây khó dễ cho Phật, chuyên
môn chống đối Phật. Phật thuyết pháp này thì ông phá hoại,
Phật thuyết pháp kia thì ông đả kích. Nói tóm lại, bất
cứ điều gì Phật làm ông cũng bài bác và cho là không đúng
cả! Thế thì, Ðề Bà Ðạt Ða hãm hại Ðức Phật như thế
nào?
Có
một lần, Ðề Bà Ðạt Ða tìm một phụ nữ gia cảnh rất
nghèo khó, và nói với cô ta rằng: "Cô hãy giúp ta một việc
này; khi xong việc, ta sẽ thưởng cho cô một món tiền rất
lớn!"
Con
người trong cảnh túng thiếu thường dễ bị đồng tiền
lung lạc, có kẻ miễn có tiền là chịu làm tất cả, và
người phụ nữ này cũng không thoát khỏi lẽ thường tình
đó; vì thế, cô ta sốt sắng hỏi: "Ngài cần tôi làm việc
gì?"
Ðề
Bà Ðạt Ða bảo: "Cô hãy độn một cái gối trong bụng, giả
vờ là đang mang thai. Sau đó, đợi đến lúc Phật thuyết
pháp thì cô hãy ra trước mặt các đệ tử của Phật mà
tuyên bố rằng đứa bé trong bụng cô là con của Phật; như
thế, thanh danh của Phật sẽ bị hoen ố và các đệ tử của
Phật sẽ không còn tin tưởng ở Phật nữa. Việc thành rồi
ta sẽ thưởng cho cô rất hậu hỹ."
Người
phụ nữ ấy y lời, răm rắp làm đúng theo lời dặn—cô
độn bụng cho lớn và ngang nhiên nói với đệ tử của Phật
rằng đứa bé trong bụng cô ta là con của Phật, cố ý bôi
nhọ thanh danh của Phật. Nhưng Ðức Phật có thần thông,
Ngài dùng thần thông làm cho cái gối độn bụng của cô ta
tuột ra và rớt xuống trước sự chứng kiến của mọi người,
nhờ đó ai nấy đều hiểu ra là cô ta muốn vu oan giá họa
cho Phật. Ðây là một trong những cách Ðề Bà Ðạt Ða dùng
để ám hại Phật trong lúc Phật giảng Kinh thuyết Pháp.
Lại
có một lần Ðề Bà Ðạt Ða dùng thần thông để ám hại
Phật. Bởi Ðề Bà Ðạt Ða cũng có thần thông, cho nên một
hôm nọ, nhân lúc Phật đang trên đường tới núi Linh Thứu,
ông xô núi cho lở ra để đá lăn đổ xuống, chủ ý là đè
Ðức Phật đến tan xương nát thịt. May thay, ngay khi ông ra
tay đẩy núi, thì vị Kim Cang Lực Sĩ (cũng chính là vị sơn
thần giữ núi Linh Thứu, tên là Bối Lạp) trông thấy; và
thế là từ đàng xa, Thần Bối Lạp giơ chùy Kim Cang ra đỡ
lấy núi, khiến bao nhiêu đá núi đều văng ngược trở lại.
Ðá bị vỡ vụn văng tung tóe, và có một hòn đá nhỏ văng
trúng đầu ngón chân út của Phật, làm cho rách da chảy máu—đây
chính là "làm thân Phật chảy máu." Lần này thân Phật có
bị chảy máu song cũng không hề gì; tuy nhiên, liền ngay lúc
đó, có một chiếc xe hừng hực lửa của địa ngục chạy
đến, Ðề Bà Ðạt Ða bị bắt sống và áp giải về địa
ngục.
Ðề
Bà Ðạt Ða vừa "làm thân Phật chảy máu" thì liền bị đọa
địa ngục ngay lúc còn sống, phải mang nhục thân vào địa
ngục. Người đời nay, nếu thiêu đốt hình Phật, phá hủy
tượng Phật, hoặc đập phá chùa chiền, tháp miếu thờ Phật,
thì đều bị xem là phạm cùng một tội với Ðề Bà Ðạt
Ða—tức là "làm thân Phật chảy máu" vậy.
"Hủy
báng Tam Bảo." Thế nào gọi là "hủy báng Tam Bảo"? Chúng
ta, những người tin Phật, phải nhớ kỹ là chớ phạm tội
này—tuyệt đối đừng bao giờ khinh chê Tam Bảo, nói xấu
Phật Pháp Tăng.
Trong
Giới hạnh Bồ Tát có giới điều "không rao nói lỗi của
Tứ Chúng." Tứ Chúng là gồm có Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà
Tắc và Ưu Bà Di. Người đã thọ Bồ Tát Giới thì không
được rêu rao, bàn tán về những lỗi lầm, sai sót của Tỳ
Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di. Chính bản thân mình
không nói đã đành, nếu bắt gặp người khác nói lỗi của
Tứ Chúng thì quý vị cũng đừng góp chuyện hoặc nói hùa
theo, mà phải như là mình không nghe thấy gì cả vậy. Vì
sao? Vì nếu quý vị hùa theo họ mà bàn ra tán vào thì quý
vị cũng sẽ mắc tội "hủy báng Tam Bảo," và đồng thời
phạm luôn cả tội "rao nói lỗi của Tứ Chúng." Do đó, tốt
nhất là cứ ngậm miệng làm thinh!
Ngoài
ra, kiến giải của phàm phu chúng ta thường hay có chỗ sai
lầm, bên cạnh đó, cảnh giới của hàng thánh nhân lại không
phải là những gì mà phàm phu chúng ta có thể biết rõ được—chẳng
hạn như bậc Sơ Ðịa Bồ Tát thì không thể biết được
cảnh giới của hàng Nhị Ðịa Bồ Tát, Thập Ðịa Bồ Tát
thì không thể biết được cảnh giới của Ðẳng Giác Bồ
Tát, Sơ Quả A La Hán thì không thể biết được cảnh giới
của Nhị Quả A La Hán... Cho nên, khi chưa có được trí huệ
chân chánh thì chúng ta không nên sanh tâm hủy báng Tam Bảo,
và cũng đừng rao nói lỗi của Tứ Chúng. Cho dù họ rõ ràng
là có lỗi, quý vị cũng chớ vội phê phán; vì sao? Quý vị
biết được cái sai của người ta, thì hãy lấy đó mà răn
mình để tránh và làm cho đúng là được rồi; chứ đừng
như cái máy chụp hình, toàn lo chụp hình cho người khác,
còn chính mình hình thù như thế nào thì lại không hay không
biết!
Giảng
đến đây, tôi nhớ đến một công án về Chí Công Thiền
Sư, đời vua Lương Võ Ðế ở Trung Hoa. Ðương thời, mỗi
ngày Chí Công Thiền Sư đều ăn hai con chim bồ câu. Thấy
thế, người đầu bếp nghĩ rằng thịt bồ câu hẳn là ngon
lắm, và một hôm anh ta lén ăn bớt một cái cánh của chim
bồ câu. Chí Công sau khi ăn hết hai con bồ câu thì hỏi anh
ta: "Tại sao ngươi ăn vụng thịt bồ câu của ta?"
Người
đầu bếp liền chối: "Bạch Thầy, con đâu dám làm thế!"
Chí
Công gặn hỏi: "Không phải sao? Ông xem này!" Nói xong, Ngài
há miệng và khạc ra hai con chim bồ câu—một con vỗ cánh
bay đi liền, còn con kia thì không bay đi được vì bị thiếu
mất một cái cánh! Và Ngài hỏi tiếp trước sự sửng sốt
của người đầu bếp: "Nếu ông không ăn thì cánh của con
chim này mất đi đâu?"
Quý
vị xem, cùng là ăn thịt chim bồ câu đã được nấu chín
và chặt nhỏ, mà Chí Công Thiền Sư thì có thể khạc ra lại
nguyên vẹn con bồ câu còn sống; còn người đầu bếp thì
không có được khả năng ấy—ăn vào bụng rồi là thôi,
chẳng thể làm cho nó sống lại được. Cho nên, cảnh giới
của Chí Công Thiền Sư là "ăn mà như không ăn" vậy.
Lại
có một công án khác về Tế Công Thiền Sư ở chùa Linh Ẩn
tại Tây Hồ, Hàng Châu (Trung Hoa). Ngài là một vị Sư như
thế nào? Ngài ăn thịt chó, uống rượu, và ngày nào cũng
uống đến say mèm, đến nỗi vừa nhìn là ai nấy đều biết
ngay đó là một ông Sư say rượu, chẳng chối cãi gì được!
Song, thật sự thì những khi say sưa như thế chính là lúc
Ngài giáo hóa chúng sanh.
Một
lần nọ, trong chùa tạc một pho tượng Phật và muốn thếp
vàng. Tế Công Thiền Sư hay tin liền bạch với Hòa Thượng
phương trượng: "Xin Hòa Thượng cho phép tôi thếp vàng pho
tượng Phật này, khỏi phải kêu mướn ai cả!"
Hòa
Thượng phương trượng bằng lòng. Thế nhưng đợi mãi vẫn
không thấy Tế Công thếp vàng cho pho tượng, vị Sư quản
lý bèn nhắc: "Ông muốn thếp vàng tượng Phật này, nhưng
sao chờ mãi mà không thấy ông làm gì cả?"
Tế
Công nói: "Vâng, tôi sẽ làm ngay."
Ðến
tối hôm ấy, Tế Công lại cũng uống rượu say mèm như mọi
khi, rồi đợi cho mọi người đều đi ngủ cả, Ngài đến
trước pho tượng Phật mới tạc và há miệng khạc vàng ra
rồi phun lên pho tượng. Bấy giờ, khi toàn thể bức tượng
đã được bao phủ bởi một lớp vàng sáng lóng lánh, chỉ
còn sót một chỗ trên đỉnh đầu mà thôi, thì vị Sư quản
lý nghe thấy tiếng khạc nhổ om sòm của Tế Công, bèn tức
tốc chạy đến xem và trách móc: "Sao ông lại cả gan đến
thế? Ông dám nhổ đờm lên tượng Phật à?"
Tế
Công chỉ nói: "Thế à? Thôi, tôi không nhổ nữa"; và bỏ
đi.
Hôm
sau, mọi người ra xem thì thấy tượng Phật đã được thếp
vàng xong xuôi, chỉ còn sót một chỗ nhỏ trên đỉnh đầu
mà thôi. Vì thế, trong chùa phải gọi người thợ chuyên môn
thếp vàng đến làm nốt cho xong; nhưng lớp vàng đắp thêm
đó lại không đẹp bằng vàng mà Tế Công khạc nhổ ra!
Quý
vị xem, cảnh giới của hàng A La Hán thật là không thể nghĩ
bàn! Do đó, chúng ta là những người tin Phật thì không nên
ngồi lê đôi mách, rao nói lỗi của Tứ Chúng. Bởi nếu đối
tượng mà quý vị xúc phạm là người bình thường thì có
thể không hề gì, nhưng nếu nhằm bậc thánh nhân đã chứng
quả thì quý vị sẽ mang tội. Mang tội thì sẽ ra sao? Thì
quý vị sẽ bị đọa địa ngục!
Tại
sao có những người muốn hủy báng Tam Bảo? Ðó là vì họ
không có tín tâm! Nguyên nhân nào khiến những kẻ ấy không
có tín tâm? Tùy theo trường hợp, có lúc là do họ giao du
nhằm bạn xấu mà ra. "Bạn xấu" là bao gồm những kẻ xấu
xa, ác độc, không hiểu Phật Pháp. Những kẻ ác không hiểu
Phật Pháp thì thường hủy báng Tam Bảo, do đó nếu người
nào kết giao với họ thì cũng bị tiêm nhiễm, dần dần cũng
có thói khinh chê, hủy hoại Tam Bảo như họ vậy.
Ngoài
ra, những người siểm khúc, ngu si cũng thường hủy báng Tam
Bảo. Thế nào gọi là "siểm khúc"? "Siểm khúc" là siểm nịnh,
nịnh nọt—người thời nay thường nói là "tâng bốc, bợ
đỡ." Như có những người không tiếc lời ca tụng, tấm
tắc khen ngợi quý vị, để được quý vị tin yêu, rồi sau
đó lợi dụng sự tin yêu của quý vị để mưu đồ lợi
lộc riêng tư—như thế gọi là "siểm khúc," bởi tâm địa
của họ vốn khúc mắc quanh co, gian manh xảo trá, chứ không
phải ngay thẳng, thành thật. Vì sao họ lại siểm khúc như
thế? Bởi vì họ ngu si! Song le, những kẻ ngu si đó lại tự
cho rằng mình vô cùng thông minh tài trí, nên ôm trong lòng
một nỗi "thông minh mạn"—kiêu hãnh, ngạo mạn về trí thông
minh hão của mình!
"Thông
minh mạn" cũng chính là "tăng thượng mạn"—là thứ kiêu
căng ngã mạn giống như của năm ngàn người bỏ ra về, không
dự Pháp Hội thuyết Kinh Pháp Hoa vậy. Người "tăng thượng
mạn" mang trong lòng mối "thông minh mạn"—họ có phần nào
thông minh, song rất kiêu ngạo, xem thường người khác, coi
ai cũng không bằng mình. Do thói ngạo mạn về trí thông minh
của mình, nên họ không tin Chánh Pháp, lại còn khinh chê,
hủy báng giáo lý của Ðức Phật, "móc" bỏ Pháp Nhãn của
chúng sanh. Tại sao nói như thế? Bởi chúng sanh vốn có Trạch
Pháp Nhãn (con mắt, khả năng biết chọn lựa Pháp), nhưng
họ lại muốn làm cho chúng sanh mất phương hướng, lầm đường
lạc lối, như thế thì có khác nào cầm dao khoét mất "con
mắt" Trạch Pháp Nhãn của chúng sanh?
Những
kẻ làm cho chúng sanh không còn Trạch Pháp Nhãn này, trong tương
lai sẽ bị quả báo thân thể có khuyết tật hoặc tàn phế,
như không có tay hoặc không có chân. "Không có chân" tức là
mắc bệnh liệt hoặc bệnh khoèo, và thường là không đi
đứng được hoặc chỉ đi khập khiểng. Họ cũng có thể
phải chịu quả báo bị câm, tuy có lưỡi nhưng không nói
được. Vì sao có người bị câm? Quý vị cần phải lưu ý
điểm này—người câm trên thế gian này đều là do hủy
báng Tam Bảo mà ra!
Những
kẻ hủy báng Tam Bảo sẽ bị đọa vào địa ngục và ở
đó thọ tội trong suốt hai ức năm, rồi mới được đi đầu
thai; đầu thai làm thân gì? Họ phải đầu thai làm thân súc
sanh như ngựa, trâu, dê, gà, chó... ; và họ phải mang thân
súc sanh như thế suốt hai ức năm, rồi sau đó mới được
làm người trở lại. Bấy giờ, tuy họ được mang thân người
song sáu căn không toàn vẹn—như bị đui mù, không có mắt;
hoặc bị điếc, không nghe thấy gì cả; hoặc bị câm, có
lưỡi mà không nói được, chẳng khác gì không có lưỡi
vậy... Nói tóm lại, những người mà đời này lục căn bị
khiếm khuyết hoặc tướng mạo xấu xí, đều là do trong đời
quá khứ họ đã từng chê bai, hủy báng Tam Bảo. Lúc sống,
họ phải chịu đựng vô lượng đau khổ đắng cay như thế,
và sau khi chết họ lại còn bị đọa vào địa ngục Vô Gián
nữa. Ðó là nói về quả báo do hủy báng Tam Bảo.
"Chẳng
kính tôn kinh." Ðây là điều chúng ta cần phải chú ý—phàm
là kinh điển của Phật, chúng ta nhất định phải tôn kính,
quý trọng. Kinh Kim Cang có dạy:
"Phàm
nơi nào có kinh điển là nơi đó có Phật."
(Phàm
thị kinh điển sở tại chi xứ, tức vi hữu Phật.)
Ở
đâu có kinh điển thì ở đó có Phật. Kinh điển là nơi
an trụ của Pháp Thân chư Phật, do đó chúng ta phải hết
lòng cung kính. Nơi cất giữ kinh điển cần phải được thu
dọn cho sạch sẽ, ngăn nắp, không nên để bừa bãi. Kinh
Phật phải được đặt ở nơi cao ráo và bên trên tất cả
các loại kinh điển hoặc sách vở phổ thông khác, và phải
để về phía đầu nằm chứ không được để ở phía chân;
bằng không, nếu để ở dưới thấp, tức là không cung kính.
Ngoài ra, giường ngủ là nơi không được sạch sẽ nhất,
cho nên phải nhớ kỹ là không nên để kinh điển trên giường.
Phàm là kinh Phật hoặc sách Phật, chúng ta đều phải cung
kính, tôn trọng—phải cung kính kinh điển như cung kính Phật
vậy. Không cung kính kinh điển tức là không cung kính Phật,
và như thế cũng chính là hủy báng Tam Bảo vậy.
Những
nghiệp tội "làm thân Phật chảy máu, hủy báng Tam Bảo, chẳng
kính tôn kinh" là như nhau, cho nên kẻ nào có những hành vi
này, thì "kẻ đó phải đọa vào địa ngục Vô Gián trong
ngàn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được." Do
đó, mọi người phải nhớ kỹ đoạn kinh văn vô cùng quan
trọng này. Người học Phật nhất định phải luôn luôn tôn
kính Tam Bảo, quý trọng kinh điển, và không làm thân Phật
chảy máu!
Kinh
văn:
"Nếu
có chúng sanh xâm tổn của Thường Trụ, làm nhơ nhuốc Tăng
Ni, hoặc tứ tình hành dâm trong chốn Già Lam, hoặc giết hoặc
hại; hạng người như thế phải đọa vào địa ngục Vô
Gián trong ngàn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được."
Lược
giảng:
"Nếu
có chúng sanh xâm tổn của Thường Trụ..." Thế nào gọi là
"xâm tổn của Thường Trụ"? "Thường Trụ" tức là đạo
tràng, và có bốn loại (Tứ Chủng Thường Trụ); đó là:
-Thường
Trụ Thường Trụ;
-Thập
Phương Thường Trụ;
-Hiện
Tiền Hiện Tiền Thường Trụ;
-Thập
Phương Hiện Tiền Thường Trụ.
1)
Thường Trụ Thường Trụ. "Ðạo tràng" thì luôn luôn tồn
tại và thường xuyên có người xuất gia trú ngụ, cho nên
gọi là chốn "thường trụ của thường trụ."
"Thường
Trụ" là chỗ ở của Tăng chúng; vậy thì thế nào gọi là
"xâm tổn của Thường Trụ"? Những thứ gì của Thường Trụ
có thể bị xâm phạm, hao tổn? Ðó là thực phẩm (đồ ăn
thức uống), và tài vật thuộc về Thường Trụ. Phàm những
người chưa xuất gia mà đến ở trong chùa, thì cần phải
biết cúng dường cho chùa. Nếu quý vị ở chùa vài ngày rồi
bỏ đi, chẳng hề cúng dường Thường Trụ gì cả, như thế
tức là quý vị đã "xâm tổn của Thường Trụ" và trong tương
lai chắc chắn sẽ bị đọa địa ngục.
Vậy
thì, thế nào mới là không "xâm tổn của Thường Trụ"? Thí
dụ quý vị đến ở trong chùa và có thể cúng dường Thường
Trụ một số tiền tương đương với phí tổn mà quý vị
phải trả nếu ở trọ nơi khác; như thế thì quý vị không
"xâm tổn của Thường Trụ." Do đó, tôi chủ trương rằng
tất cả các đệ tử quy y của tôi, hễ đến bất cứ đạo
tràng nào thì cũng đều phải nỗ lực trợ giúp đạo tràng
đó và tuyệt đối không được xâm tổn của Thường Trụ!
"Xâm
tổn của Thường Trụ" tức là bóc lột tài sản của chùa,
làm cho tài sản của chùa bị hao hụt, sút giảm. Chúng ta
đã không giúp đỡ được thì thôi; chứ đừng bao giờ xâm
phạm, gây tổn thất cho chùa. Những người không hiểu Phật
Pháp cứ cho rằng ở trong chùa thì khỏi tốn kém gì cả,
nên tha hồ lợi dụng cơ hội! Ðiều này, nếu chưa hiểu
Phật Pháp thì còn có thể châm chế cho được; nhưng sau khi
đã hiểu Phật Pháp rồi thì dứt khoát là không nên xâm tổn
của Thường Trụ nữa!
Ðừng
nói là người tại gia, ngay cả tôi tuy là kẻ xuất gia, song
hễ đến trú ở bất cứ Thường Trụ nào, tôi đều có cúng
dường đôi chút. Thí dụ, nếu ở nhà trọ mỗi ngày phải
trả năm đồng, thì tôi cúng dường cho Thường Trụ đó một
nửa số tiền, tức là ba đồng. Ở lại chùa nào tôi cũng
đều cúng dường cả, trừ phi chính mình thật sự không có
tiền mà thôi. Nếu quý vị quả thật là không có tiền thì
không sao, nhưng nếu có tiền thì chớ nên xâm tổn của Thường
Trụ; cho dù là người xuất gia cũng không nên xâm tổn của
Thường Trụ. Bởi Thường Trụ ví như đại địa, là nơi
trú ngụ của đại chúng; nếu quý vị phá hoại, phung phí
của Thường Trụ, khiến cho đại chúng bị thiếu thốn, không
đủ ăn, thì quý vị có tội rất lớn. Riêng cá nhân mình
thì dẫu có đói đến chết cũng chẳng hề chi, nhưng nếu
quý vị làm cho những người xuất gia đang sống trong Thường
Trụ này không còn gì để ăn, cũng không được ai cúng dường,
tức là quý vị đã "xâm tổn của Thường Trụ" vậy. Bởi
"dân dĩ thực vi thiên"—người dân xem cái ăn là trời, xem
sự no cơm ấm áo là điều thiết yếu—cho nên, nếu quý
vị khiến cho người khác không còn gì ăn, tức là quý vị
đã tạo tội rồi vậy.
Cho
nên chúng ta, những người nghiên cứu Phật Pháp, hễ ở lại
bất cứ chùa nào thì đều nên tùy khả năng mà cúng dường
cho chùa đó, không nên xâm tổn của Thường Trụ. Quý vị
tạm trú tại chùa, cúng dường dù có ít so với tiền thuê
phòng trọ, thì cũng được coi như quý vị đã hết lòng;
chớ nên chỉ ở rồi bỏ đi, chẳng cúng dường một chút
gì cả!
2)
Thập Phương Thường Trụ. Ðạo tràng là nơi mà chư Tăng
từ khắp mười phương đều có thể trú ngụ, nên gọi là
"thường trụ của mười phương Tăng."
3)
Hiện Tiền Hiện Tiền Thường Trụ. Chư Tăng hiện đang trú
ngụ ở đạo tràng được gọi là "hiện tiền Tăng."
4)
Thập Phương Hiện Tiền Thường Trụ. Chư Tăng từ khắp mười
phương đến đạo tràng thì đều được dự phần; điều
này bao gồm cả đồ vật của "vong Tăng." Thế nào gọi là
"vong Tăng"? "Vong Tăng" tức là vị Sư đã viên tịch. Sau khi
một vị Sư viên tịch, những đồ đạc của vị ấy để
lại—có thể là những món đồ quý giá, hoặc bảo vật
đắt tiền cũng không chừng (bởi giữa các Tăng nhân không
có gì là nhất định cả!)—sẽ được Thập Phương Hiện
Tiền Thường Trụ phân chia.
Tăng
vật thuộc Hiện Tiền Hiện Tiền Thường Trụ thì chỉ dành
cho chư Tăng hiện đang tạm thời trú ngụ tại chùa, những
vị đến sau không có phần; còn của Thập Phương Hiện Tiền
Thường Trụ thì bất kể là đến trước hay đến sau, chư
Tăng đều có thể cùng chia nhau di sản của vị Sư đã viên
tịch.
"Làm
nhơ nhuốc Tăng Ni." Tăng Ni là những người xuất gia—Tỳ
Kheo và Tỳ Kheo Ni. Có nhiều người rất dã man, độc ác,
nhẫn tâm làm nhơ nhuốc phẩm hạnh thanh tịnh của Tăng Ni,
cưỡng bức các Tỳ Kheo Ni làm điều dâm loạn—những kẻ
ấy đều mang tội rất nặng.
"Hoặc
tứ tình hành dâm trong chốn Già Lam." "Già Lam" là nơi thanh
tịnh yên tĩnh—như đạo tràng, chùa chiền, tự viện. "Tứ"
là phóng túng, không tuân giữ quy củ. Không tuân giữ quy củ
gì? Ðó là không tuân giữ thanh quy, tùy tiện hành dâm ở
chốn đạo tràng thanh tịnh. Những nơi có hình tượng Phật
thì không được hành dâm, làm điều ô uế; nếu phạm, thì
bị khép vào tội "tứ tình hành dâm."
Thuở
trước, có một người nọ mắc phải chứng bệnh nam căn
thường bị ung nhọt, lở loét, bèn đến thỉnh vấn ngài
Mục Kiền Liên về nguyên nhân bệnh trạng của mình. Tôn
Giả Mục Kiền Liên trả lời người ấy rằng: "Bởi trong
đời quá khứ ông đã phạm tội ‘tứ tình hành dâm trong
chốn Già Lam,’ do đó đời này phải chịu quả báo nam căn
thường bị làm độc, ghẻ lở, mắc nhiều chứng bệnh."
Ðây là nói về người nam, song nam hay nữ thì cũng vậy—bất
luận là ai, hễ không giữ phép tắc thanh quy, tùy tiện làm
điều dâm loạn ở chốn đạo tràng, thì đều bị đọa địa
ngục cả; đến khi ra khỏi địa ngục, nếu được đầu
thai làm người thì nam căn hoặc nữ căn thường bị ung nhọt,
hoặc mắc phải các chứng bệnh nan y, không chữa trị được.
Cho nên, "nhân nào quả nấy"—quý vị nhất định phải tin
ở luật nhân quả; bằng không, sau này sẽ phải nhận lãnh
quả báo khổ sở.
"Hoặc
giết hoặc hại." Có khi những kẻ độc ác đó, vì việc
cưỡng hiếp không thành, bèn nhẫn tâm ám hại hoặc giết
chết nạn nhân.
"Hạng
người như thế—những kẻ xâm tổn Thường Trụ, ô phạm
Tăng Ni, tứ tình hành dâm trong chốn chùa chiền, hoặc giết
hại người xuất gia—phải đọa vào địa ngục Vô Gián
trong ngàn muôn ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được."
Họ cầu mong được thoát khỏi địa ngục song kỳ hạn thì
lâu dài đến vô lượng vô biên, không thể tính kể.
Có
người cảm thấy rằng Phật Pháp càng học càng khó khăn,
càng học càng bị gò bó, mất tự do. Kỳ thực, không học
Phật Pháp thì sau này sẽ hoàn toàn bị mất tự do; còn học
Phật Pháp thì chỉ hiện tại tạm thời bị mất tự do mà
thôi. Bây giờ quý vị học Phật Pháp thì đây chính là lúc
thiện căn tăng trưởng; trái lại, nếu không học Phật Pháp
thì nghiệp chướng sẽ gia tăng. Nghiệp chướng tăng trưởng
thì sự "mất tự do" ấy sẽ là "mất tự do" vĩnh viễn. Song,
thiện căn tăng trưởng thì sự "mất tự do" trong hiện tại
chỉ là tạm thời, chỉ một thời gian ngắn mà thôi. Nếu
quý vị muốn mãi mãi "mất tự do" thì khỏi học Phật Pháp;
còn nếu muốn trong tương lai được tự do thì tạm thời
chịu khó "mất tự do" đôi chút. Ðối với người học Phật
Pháp, sự "mất tự do" này rất ngắn ngủi và không đáng
kể; nhưng với kẻ không học Phật Pháp, thì thời gian bị
"mất tự do" ấy dài đăng đẳng! Vậy, quý vị hãy tự cân
nhắc thiệt hơn, xem mình phải làm như thế nào!
Kinh
văn:
"Nếu
có chúng sanh giả làm Sa Môn mà tâm chẳng phải Sa Môn, phá
hoại, lạm dụng của Thường Trụ, gạt gẫm hàng bạch y,
trái phạm Giới Luật, tạo vô số tội ác; hạng người như
thế phải đọa vào địa ngục Vô Gián trong ngàn muôn ức
kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được."
Lược
giảng:
"Nếu
có chúng sanh giả làm Sa Môn..." Có bốn hạng Sa Môn (Tứ Chủng
Sa Môn)—Thắng Ðạo Sa Môn, Thuyết Ðạo Sa Môn, Hoạt Ðạo
Sa Môn và Ô Ðạo Sa Môn.
1)
Thắng Ðạo Sa Môn. Thế nào gọi là "Thắng Ðạo Sa Môn"?
Chư Phật và chư Bồ Tát đều được gọi là những bậc
Thắng Ðạo Sa Môn, tức là hạng Sa Môn trổi thắng hơn hết
về Ðạo lý.
2)
Thuyết Ðạo Sa Môn. Hạng Sa Môn này lấy việc giảng Kinh
thuyết Pháp là lẽ sống; và đó chính là những bậc đại
đức cao tăng đã chứng quả A La Hán.
3)
Hoạt Ðạo Sa Môn. Ðây là hạng Sa Môn sống đời vì Ðạo,
lấy việc tu Ðạo là lẽ sống.
4)
Ô Ðạo Sa Môn. "Ô" là ô uế, không thanh khiết. Hạng Sa Môn
này làm ô uế Ðạo; và đây chính là hạng Sa Môn được
nói đến trong đoạn kinh văn này.
"Sa
Môn" là tiếng Phạn và có ba nghĩa; ba nghĩa này thật ra không
phải là ba mà là hai nghĩa; hai nghĩa này đúng ra chẳng phải
là hai mà là một nghĩa—Phật Pháp kỳ diệu như thế đấy!
Vậy, chữ "Sa Môn" có một nghĩa, thì một nghĩa đó là gì?
Ðó là "cần tức"; "Sa Môn" có nghĩa là "cần tức"—siêng
năng dứt bỏ.
"Cần"
là cần mẫn siêng năng; còn "tức" là "hưu tức" và có nghĩa
là dứt bỏ, ngưng nghỉ. "Cần" cũng có nghĩa là không lười
biếng; và "tức" hàm ý lười biếng, không siêng năng. Thế
nên, có thể nói rằng đó là hai ý muốn của một con người—một
đằng thì lười biếng, và một đằng thì siêng năng. "Lười
biếng" chèo kéo, rủ rê "siêng năng": "Ðừng đi làm nữa;
phải hưởng thụ đôi chút chứ!" "Siêng năng" khuyên can: "Ồ!
Anh đừng lười biếng, hãy theo tôi tinh tấn tu tập." Vị
Sa Môn phải tự đấu tranh, giằng co với hai ý tưởng như
thế; hễ bên nào có "thế lực" hơn thì bên đó thắng—"siêng
năng" mạnh hơn thì "lười biếng" thua cuộc; "lười biếng"
mạnh hơn thì "siêng năng" bại trận. Vậy, đây là một người
có hai ý muốn là "cần" và "tức"—siêng năng và biếng nhác—và
đó cũng chính là hai nghĩa của từ ngữ "Sa Môn."
Còn
nói "Sa Môn" có ba nghĩa, là gồm có những gì? "Cần" (siêng
năng) được chia làm ba loại, và "tức" (dứt bỏ) cũng được
phân thành ba loại. Ba loại "cần" là gồm những gì? Ðó là
"cần tu Giới, Ðịnh, Huệ"—siêng tu Giới, siêng tu Ðịnh
và siêng tu Huệ. Còn ba loại "tức" chính là "tức diệt tham,
sân, si"—dứt bỏ tâm tham lam, dứt bỏ tâm sân hận và dứt
bỏ tâm si mê.
"Giới"
là gì? "Giới" chính là:
"Chẳng
làm điều ác,
Vâng
làm việc lành."
(Chư
ác mạc tác,
Chúng
thiện phụng hành.)
Ngoài
ra, "Giới" cũng chính là "chỉ ác phòng phi"—chấm dứt các
việc ác, không làm điều ác nữa; và ngăn ngừa những sai
lầm mà mình có thể gây ra. Có bao nhiêu loại Giới? Căn bản
thì có Ngũ Giới—không sát sanh, không trộm cướp, không
tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Ngoài ra, còn có
Bát Quan Trai Giới, Sa Di Thập Giới, Tỳ Kheo Giới (250 giới
điều), Bồ Tát Giới (mười trọng giới và bốn mươi tám
khinh giới), Tỳ Kheo Ni Giới (348 giới điều). Có người nói
là Tỳ Kheo Ni Giới có đến 500 điều, song cũng không đáng
kể vì hiện nay đa số Tỳ Kheo Ni đều thọ 348 giới điều.
"Ðịnh"
là do tham Thiền, tĩnh tọa tu tập mà có được. Muốn có
Ðịnh thì phải tu tập, không tu tập thì không thể có Ðịnh.
Vì sao người tu hành phải thường xuyên tọa Thiền? Thường
xuyên tọa Thiền tức là cách tu Ðịnh từng chút một. Lúc
mới bắt đầu tĩnh tọa thì quý vị chưa có Ðịnh, cho nên
cái tâm của quý vị cứ chạy lăng xăng—hết lên trời thì
lại xuống địa ngục, không đến chỗ Phật thì cũng vào
chỗ Bồ Tát, hoặc có khi lại vào cả chuồng ngựa, trâu,
dê, gà, chó, heo... Cái tâm này, quý vị thấy đó, không cần
mua vé mà bất cứ nơi đâu—thiên đường hay địa ngục—nó
cũng đều có thể đến được cả. Vì sao cái tâm này cứ
chạy lung tung khắp nơi như thế? Bởi vì quý vị chưa có
Ðịnh! Bây giờ quý vị tu Ðịnh, tức là thâu nhiếp cái
tâm ấy, tập cho nó hết chạy tới chạy lui, không còn lăng
xăng lên Nam xuống Bắc hoặc vào Ðông ra Tây nữa.
Có
người thắc mắc: "Vì sao cần phải tu Ðịnh? Không có Ðịnh
thì cũng đâu có sao? Quý vị xem kìa, khiêu vũ, múa hát chẳng
phải là thú vị hơn sao? ‘Ðịnh’ là nghĩa lý gì? Cứ ngồi
yên một chỗ như khúc gỗ thế kia thì có gì lý thú đâu?
Các tượng gỗ tượng đất ngồi trơ trơ ởù đó thì có
ích lợi gì? Tôi thấy như thế quá khô khan, thiếu tình cảm;
tu Ðịnh thì có lợi ích gì kia chứ?"
Thật
ra, tu Ðịnh vốn không có lợi điểm nào cả, chẳng qua là
nếu muốn có trí huệ thì trước hết quý vị cần phải
có Ðịnh—không có Ðịnh thì không có được trí huệ. Nếu
tâm mà quá tán loạn thì không thể có Ðịnh; không có Ðịnh
tất sẽ không có trí huệ. Bởi trí huệ có được là nhờ
Ðịnh; do đó, quý vị muốn không còn si mê thì cần phải
tu Ðịnh.
Có
một người nói rằng trong lúc tọa Thiền, anh ta luôn có cảm
giác như mình sắp bị rớt xuống khe núi, cho nên rất sợ
hãi. Ðúng thế, đó là khởi đầu của sự đắc Ðịnh; và
lúc bấy giờ, quý vị chớ sanh lòng sợ hãi! Hôm nay, nhân
Pháp Hội này, tôi sẽ giảng thêm đôi chút.
Trước
đây, tôi có nói là trong khi ngồi tĩnh tọa, lắm lúc quý
vị cảm thấy như có dĩa mực đen hoặc tấm sắt lớn lơ
lửng trên không và cứ chực rớt xuống đầu mình, hoặc
là đạn nguyên tử sắp nổ tung ngay trên đầu mình. Thế
thì, lúc đó quý vị phải làm gì? Lúc đó, quý vị không
nên chấp tướng, không nên bám trụ vào cảnh giới, bởi
nếu chấp tướng thì quý vị sẽ dễ bị rơi vào ma cảnh.
Hễ quý vị chấp tướng thì sẽ có đạn nguyên tử nổ tung
trên đầu quý vị thật; còn nếu không chấp tướng thì sao?
Thì tất cả sẽ rất tĩnh lặng, yên ổn, không việc gì,
và nhất định quý vị sẽ thắng được chúng ma! Quý vị
có Ðịnh, thì ma quỷ nào cũng chạy trốn hết!
Cảm
giác thấy mình như sắp bị rớt xuống vực sâu muôn trượng
chỉ là thứ vọng cảnh hư dối, không có thật. Tại sao lại
là vực sâu thăm thẳm? Ðó là biểu thị nghiệp chướng của
quý vị—nghiệp chướng mà quý vị đã tạo tác từ những
đời trước cho đến nay còn thâm sâu hơn cả vực thẳm đó
nữa. Vậy, nay biết được là mình nghiệp chướng nặng nề,
sâu dày như thế nào rồi, thì quý vị hãy mau mau tu tập,
chớ nên sanh tâm sợ hãi nữa.
Lại
nữa, đôi khi đang ngồi tĩnh tọa quý vị bỗng cảm thấy
rất tự tại—tự tại, tự tại, chân tự tại—một thứ
tự tại rất khó hình dung, rất khó diễn tả; và nếu đạt
được cảnh giới tự tại này thì quý vị sẽ quên tất
cả! Bởi "Sắc Giới trước vị Thiền"—chúng sanh ở cõi
Sắc Giới chấp trước vào Thiền vị vì hương vị của Thiền
Na đem lại niềm vui sướng không gì sánh bằng, hơn hẳn mọi
loại ma-túy! Cảnh giới đó thật khó mà diễn tả bằng lời
được, chỉ có thể nói đó là thứ:
"Tự
tại, tự tại, chân tự tại;
Khó
thể hình dung, nói không lại";
và:
"Như
người uống nước, ấm lạnh tự biết."
Ví
dụ quý vị uống nước trà, nước nóng hay nguội thì chỉ
có một mình quý vị là biết rõ thôi; trường hợp này cũng
vậy, cảnh giới tự tại này chỉ có những người từng
trải mới hiểu được mà thôi. Thế nào gọi là "người
từng trải"? Ðó là những người đã từng đi qua con đường
này, đã có kinh nghiệm về cảnh giới này; nhờ vậy, quý
vị vừa nói ra là họ liền biết quý vị đang ở giai đoạn
nào hoặc đã đạt tới trình độ nào ngay!
Hiện
nay, trong số quý vị, có người đã dụng công tu tập và
sắp đạt tới cảnh giới Ly Sanh Hỷ Lạc Ðịa của Tứ Thiền.
Tuy nhiên, cảnh giới ấy cũng không đáng kể lắm, quý vị
chớ cho rằng như thế là tài giỏi, bởi đó là chuyện rất
bình thường. Tu Thiền, chỉ cần có thành tâm và chuyên cần
thì ai ai cũng có thể đạt được cảnh giới như nhau. Vì
cảnh giới tự tại, vui sướng đó vốn không gì sánh bằng,
cho nên được gọi là "Ly Sanh Hỷ Lạc Ðịa"—sắp xa lìa
mọi phiền não, đạt được sự vui sướng; và đó cũng là
một trong các thứ Ðịnh vậy.
"Huệ"
tức là trí huệ. Có trí huệ thì có ích lợi gì? Có trí
huệ thì sẽ không bị lầm đường lạc lối. Tại sao hiện
nay có nhiều người sống một cách điên điên đảo đảo,
cứ "lấy khổ làm vui"? Ðó là do họ "bội giác hợp trần"—họ
thờ ơ quay lưng lại với đạo lý giác ngộ để hợp cùng
đạo lý Lục Trần. Tại sao họ hành động như vậy? Bởi
họ không có trí huệ; chính vì si mê nên họ mới lầm lẫn
"lấy khổ làm vui" mà lại không biết rằng như thế là si
mê nhất!
Quý
vị nghe giảng Kinh, không cần phải nghe cho nhiều, chỉ cần
nghe hiểu một chữ then chốt rồi đem áp dụng, thì sẽ thấy
được sự lợi ích bất tận của chữ đó. Như trong câu
"cần tu Giới Ðịnh Huệ," thì chỉ cần nắm được một
chữ "cần" thôi là đủ rồi—cần mẫn tu Giới, cần mẫn
tu Ðịnh, cần mẫn tu Huệ. Phải cần mẫn tu tập thì mới
có sự thu hoạch, có sự chứng đắc; không cần mẫn tu tập
thì không chứng đắc được gì cả. Do đó, quý vị nhất
định phải cần mẫn tu tập, phải vâng lời và tuân theo
sự giáo hóa của Sư Phụ mình.
Bây
giờ nói đến chữ "tức" trong câu "tức diệt tham sân si"
(dứt bỏ tham sân si). Vừa rồi tôi có nói chữ "tức" này
còn có nghĩa là lười biếng; vì sao ư? Chữ "tức" này vốn
có nghĩa là đình chỉ, hoặc nghỉ ngơi; mà "nghỉ ngơi" không
phải là lười biếng thì là gì? "Nghỉ ngơi" tức là lười
biếng; "lười biếng" tức là đình chỉ, là ngừng lại, không
tiến thêm nữa. "Ðình chỉ" cái gì? "Ðình chỉ" cái tâm tham,
tâm sân, tâm si; cho tham, sân, si được "nghỉ ngơi," được
"về hưu"—chúng ta không cần dùng đến chúng nữa. Hãy khiến
cho tâm tham, tâm sân, tâm si đều đình chỉ! Quý vị không
nên tham muốn gì nữa, ngay cả mọi vật chất hưởng thụ
của thế gian. Cũng đừng giận dữ, đừng nổi nóng, đừng
để cho "lửa" giận bùng lên; hãy đem tánh nóng nảy, đem
"lửa" giận ấy ra bố thí đi; bố thí cho ai? Hãy bố thí
cho tôi, bố thí cho Sư Phụ. Sư Phụ cần có những ngọn "lửa"
giận thật lớn, cần phải rất nóng tánh, để khiến cho
đệ tử nể sợ, chứ nếu Sư Phụ cứ hiền hòa, dịu dàng
như cái gối bông thì các đệ tử sẽ không kiêng sợ. Không
sợ Thầy thì họ sẽ không chịu tu hành; mà không tu hành
tức là lười biếng vậy!
Trên
đây là nghĩa "cần tức"—cần tu Giới Ðịnh Huệ, tức diệt
tham sân si—của từ ngữ "Sa Môn."
"Mà
tâm chẳng phải Sa Môn." Có nhiều người gian trá, giả làm
Sa Môn thôi chứ không phải thật; thâm tâm họ chẳng hề
thực hành đạo hạnh của bậc Sa Môn. Họ không "siêng tu
Giới Ðịnh Huệ," cũng chẳng "dứt bỏ tham sân si"; trái lại,
còn dám nói rằng tham, sân, si càng nhiều thì càng tốt, và
khuyến khích mọi người tốt nhất là hãy quên hết Giới
Ðịnh Huệ, chẳng cần nhớ gì cả! Ðó chính là hạng Sa
Môn "giả hiệu," hư ngụy; và tâm của những kẻ đội lốt
Sa Môn này không hành hạnh từ bi, không tu hạnh nhẫn nhục,
không hành Lục Ðộ Vạn Hạnh—họ có dụng tâm không làm
phận sự của một vị Sa Môn! Thế thì họ làm gì? Họ mượn
danh nghĩa Sa Môn để dễ bề "phá hoại, lạm dụng của Thường
Trụ."
Ðồ
vật của Thường Trụ, dù là những thứ lặt vặt nhất,
tầm thường nhất như một tờ giấy chẳng hạn, chúng ta
cũng không được tùy tiện phung phí, vất bỏ bừa bãi; tại
sao? Bởi tuy chỉ là một mẩu giấy, nhưng "tích tiểu thành
đa," từ một tờ mà lâu ngày dồn lại thì cũng thành nhiều.
Do đó, tùy tiện phí phạm một tờ giấy, cũng là lạm dụng,
làm hao tổn của Thường Trụ.
Có
câu rằng:
"Dù
là một lá cây, một cọng cỏ,
cũng
chẳng được không cho mà lấy."
Người
ta không cho mình mà mình tự tiện lấy, như thế là trộm
cắp. Cho dù đó chỉ là một lá cây hay một cọng cỏ, song
hễ chưa được chủ nhân cho phép mà mình đã lấy, tức là
trộm cắp vậy. Bất cứ đồ vật gì của người khác, chúng
ta đều không được tùy tiện sử dụng. Quý vị dùng đồ
của người khác mà người đó lại không biết, như thế
cũng là ăn trộm, là phạm giới trộm cắp.
Lại
có câu:
"Dù
là một cây kim, một sợi chỉ,
đều
là của bố thí."
Những
gì người ta đem cho chùa, dù là một cây kim hay một sợi
chỉ, đều gọi là "của bố thí." Do đó, chúng ta không được
tùy tiện phá hoại, lạm dụng của Thường Trụ. Phàm là
đồ vật thuộc về Thường Trụ, thì dù là người xuất
gia sống trong chùa cũng không được tùy tiện lấy đem cho
kẻ khác. Trường hợp đó là vật sở hữu của riêng mình
thì không sao—thí dụ quý vị có cái áo không mặc nữa nên
đem cho người khác, như thế thì được. Còn nếu là đồ
vật thuộc của chung của cả chùa, thì ngay cả một sợi
chỉ cũng không được tùy tiện đem cho người khác để lấy
cảm tình; bởi đó gọi là "mua lòng cá nhân," muốn làm cho
người ta có thiện cảm với mình, muốn kết thân với dụng
ý riêng. Nếu quý vị muốn làm cho kẻ khác có ấn tượng
tốt về mình, để họ thích hộ Pháp và cúng dường riêng
cho cá nhân mình—thì đó là điều hết sức sai lầm! Tất
cả mọi người cần phải đặc biệt chú ý điểm này!
Vậy,
không cần nhiều, dù chỉ một tờ giấy, một sợi chỉ, thậm
chí một hạt gạo của chùa mà thôi, nếu quý vị vì tình
cảm riêng tư mà tự tiện đem cho người khác, tức là quý
vị "phá hoại, lạm dụng của Thường Trụ." Phàm là người
xuất gia, đồ đạc của riêng cá nhân mình thì mình có quyền
tặng cho người khác, song đối với những thứ thuộc của
chung, thì cho dù là một cây nhang mình cũng không được tự
tiện đem cho người khác.
"Gạt
gẫm hàng bạch y." "Bạch y" (áo trắng) là chỉ cho hàng cư
sĩ, những người tại gia. Những kẻ giả danh Sa Môn ấy chẳng
những thiếu thành thật, chỉ toàn nói lời dối trá để
lừa gạt người tại gia, mà lại còn "trái phạm Giới Luật,
tạo vô số tội ác" nữa. Họ không tuân thủ Giới Luật,
không trì giữ Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, Sa Di Thập Giới,
Bồ Tát Giới, Tỳ Kheo Giới, Tỳ Kheo Ni Giới; lại còn gây
ra không biết bao nhiêu thứ tội ác. "Vô số" tức là không
phải chỉ có một loại, mà là rất nhiều loại, ngoài sức
tưởng tượng của chúng ta.
"Hạng
người như thế, những kẻ giả danh Sa Môn đó, phải đọa
vào địa ngục Vô Gián trong ngàn muôn ức kiếp, không lúc
nào mong ra khỏi được."
Kinh
văn:
"Nếu
có chúng sanh trộm cắp tài vật, lúa gạo, đồ ăn thức uống,
y phục của Thường Trụ, cho đến không cho mà lấy một vật;
kẻ đó phải đọa vào địa ngục Vô Gián trong ngàn muôn
ức kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được."
Lược
giảng:
"Nếu
có chúng sanh trộm cắp tài vật, lúa gạo, đồ ăn thức uống,
y phục của Thường Trụ, cho đến không cho mà lấy một vật..."
Thuở
trước, có một vị Ðại Bồ Tát phát nguyện rằng: "Giả
sử có người phạm các tội Ngũ Nghịch, Tứ Trọng, Thập
Ác, thì tôi vẫn có thể cứu độ được. Duy trường hợp
trộm cắp tài vật của Thường Trụ, dù chỉ là một lá
cây hay một cọng cỏ, thì tôi không thể nào cứu nổi, vì
tôi không có cách nào cứu được người đó. Giả sử có
người giết chết tám vạn bốn ngàn cha mẹ của mình, tạo
tội nghiệt thâm trọng đến dường ấy, thì bằng nguyện
lực của mình, tôi vẫn có thể cứu được người đó thoát
khỏi địa ngục. Song le, nếu người đó trộm cắp tài vật,
đồ ăn thức uống của Thường Trụ—dù chỉ một hạt gạo—thì
tôi không tài nào cứu nổi!"
Qua
lời nguyện trên, quý vị có thể thấy được rằng trộm
cắp tài vật của chùa là tội lớn nhất, nghiêm trọng nhất.
Chúng ta, những người tin Phật, cần phải hiểu cho thấu
đáo điều này. Phàm là tài sản của Thường Trụ, như lúa
gạo, đồ ăn thức uống, hoặc ngay cả một món đồ hết
sức nhỏ bé, tầm thường, nhưng nếu chưa được chủ nhân
ở chùa cho phép thì quý vị cũng không được lấy; bằng
không, sẽ mắc tội "không cho mà lấy." Và như thế, "kẻ
đó phải đọa vào Ðịa Ngục Vô Gián trong ngàn muôn ức
kiếp, không lúc nào mong ra khỏi được."
Kinh
văn:
Ngài
Ðịa Tạng thưa rằng: "Thánh Mẫu! Nếu có chúng sanh nào phạm
những tội như thế, thì kẻ đó phải đọa vào Ngũ Vô Gián
địa ngục, cầu tạm ngừng sự đau khổ trong chừng một
niệm cũng không được."
Lược
giảng:
Ngài
Ðịa Tạng thưa với Ma Da Phu Nhân rằng: "Thánh Mẫu! Nếu
có chúng sanh nào phạm những tội như thế, gây ra vô số
nghiệp tội như tôi vừa kể, thì kẻ đó phải đọa vào
Ngũ Vô Gián địa ngục—địa ngục có năm loại không gián
đoạn. Bấy giờ, chúng sanh đó cầu tạm ngừng sự đau khổ
trong chừng một niệm, một khoảnh khắc vô cùng ngắn ngủi,
cũng không được."
Kinh
văn:
Ma
Da Phu Nhân lại bạch cùng Bồ Tát Ðịa Tạng: "Thế nào gọi
là địa ngục Vô Gián?"
Ngài
Ðịa Tạng thưa rằng: "Thánh Mẫu! Tất cả địa ngục đều
ở trong núi Ðại Thiết Vi. Ðịa ngục lớn có mười tám
chỗ; thứ kế có năm trăm chỗ, danh hiệu đều khác nhau;
thứ kế nữa lại có đến ngàn trăm, danh hiệu cũng đều
khác nhau.
"Ngục
Vô Gián có ngục thành giáp vòng hơn tám vạn dặm; thành đó
thuần bằng sắt, cao một vạn dặm; trên thành có lửa tụ,
không chỗ nào hở trống. Trong ngục thành đó, các nhà ngục
nối tiếp nhau, danh hiệu đều sai khác."
Lược
giảng:
Ma
Da Phu Nhân, mẫu thân của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, lại
bạch cùng Bồ Tát Ðịa Tạng: "Thế nào gọi là địa ngục
Vô Gián? Vì sao địa ngục đó lại có tên là ‘vô gián’?"
Ngài
Ðịa Tạng thưa rằng: "Thánh Mẫu! Tất cả địa ngục đều
ở trong núi Ðại Thiết Vi. Trong số đó, địa ngục lớn
có mười tám chỗ—có mười tám sở ngục thuộc loại lớn
nhất; thứ kế có năm trăm chỗ, danh hiệu đều khác nhau;
thứ kế nữa lại có đến ngàn trăm, danh hiệu cũng đều
khác nhau."
"Ngục
Vô Gián có ngục thành giáp vòng hơn tám vạn dặm; thành đó
thuần bằng sắt, cao một vạn dặm." Bức thành này làm bằng
sắt, cao mười ngàn dặm (lý), và bao quanh một chu vi rộng
hơn tám mươi ngàn dặm.
"Trên
thành có lửa tụ, không chỗ nào hở trống." Trên mặt thành
lửa cháy ngùn ngụt—lửa ở phía đông bắn sang tường thành
phía tây, lửa ở phía tây lại bắn qua tường thành phía
đông; lửa ở phía nam phụt sang tường thành phía bắc, lửa
ở phía bắc cũng phụt tới tường thành phía nam. Trong địa
ngục này đâu đâu cũng rực lửa và đông đảo vô số ác
thú, chẳng sót chỗ nào. Trong ngục thành đó, các nhà ngục
nối tiếp nhau, danh hiệu đều sai khác." Bên trong bức thành
bằng sắt là các địa ngục nằm san sát nhau và mỗi ngục
đều có một tên gọi riêng biệt.
Kinh
văn:
"Chỉ
có một ngục tên là Vô Gián. Ngục này chu vi một vạn tám
ngàn dặm; tường ngục cao một ngàn dặm, toàn bằng sắt
và có lửa cháy suốt trên suốt dưới. Trên tường ngục
có rắn sắt, chó sắt phun lửa đuổi nhau chạy bên này sang
bên kia."
Lược
giảng:
"Chỉ
có một ngục tên là Vô Gián." Chỉ có độc nhất một địa
ngục có tên là Vô Gián mà thôi. "Vô gián" tức là liên tục,
không gián đoạn—sự thống khổ trong địa ngục Vô Gián
thì không có lúc ngừng dứt, tội nhân ở đó phải chịu
khổ sở, đau đớn luôn luôn. Vì sao họ phải luôn luôn chịu
đựng vô vàn thống khổ như vậy? Các linh hồn thọ tội
trong địa ngục này là ai? Ðó là những người đã từng
gây ra tội lỗi. Mỗi người đều có một linh hồn, và nếu
người nào có tội thì linh hồn của người đó phải vào
địa ngục để chịu tội.
Người
ở thế gian nếu bị lửa thiêu hoặc bị chém thì đều có
thể chết, và chết rồi thì chẳng còn biết đau đớn khổ
sở gì nữa; thế thì ở địa ngục, phải chăng chết rồi
thì cũng không còn hay biết gì cả? Ðúng thế, cũng không
hay biết gì cả! Tuy nhiên, ở địa ngục thì tội nhân cứ
chết đó rồi sống đó—sống lại rồi chết đi, chết đi
rồi sống lại, và cứ liên miên như thế mãi. Sống lại
như thế nào?
Ở
địa ngục có hai loại gió, gọi chung là "xảo phong" (gió
tinh khôn). Vì sao gọi là "xảo phong"? Bởi vì hai luồng gió
này rất kỳ lạ—một luồng gọi là "xú phong" (gió thối),
và một luồng là "hương phong" (gió thơm). "Hương phong" thì
làm cho tội nhân sống lại với tướng mạo rất viên mãn
và sau đó được thăng lên cõi trời; còn "xú phong" thì cũng
làm cho tội nhân sống lại song với hình dạng vô cùng xấu
xí, như loài A-tu-la vậy. (Mấy hôm trước tôi đã có giảng
rồi, mặt mày của họ rất xấu xí, mắt mũi miệng đều
"dọn nhà," dồn hết về một chỗ với nhau, như muốn làm
một "công ty hợp d