Quyển
Thượng
Phẩm
Thứ Hai
Phân
Thân Tập Hội
Phẩm
Phân Thân Tập Hội là phẩm thứ hai trong số mười ba phẩm,
và thuộc quyển Thượng trong toàn bộ ba quyển Thượng, Trung,
Hạ của Kinh Ðịa Tạng.
"Phân
thân"—thân thể làm sao có thể phân chia ra được? "Phân
thân" ở đây cũng có thể gọi là "phân linh," "phân tánh,"
hoặc "phân tâm." Vì sao gọi là "phân linh"? Các bậc Bồ Tát
thường có một thứ "linh cảm" có thể nói là "hữu cảm
tự thông, vô cầu bất ứng," và có thể ví với cảnh giới:
"Ngàn
ao đầy nước, ngàn trăng hiện,
Vạn
dặm không mây, vạn dặm trời xanh."
(Thiên
đàm hữu thủy, thiên đàm nguyệt,
Vạn
lư vô vân, vạn lư thiên.)
Có
một ngàn đầm nước thì có một ngàn bóng trăng lung linh
phản chiếu trong đầm—các vầng trăng trong những đầm nước
này chính là "linh," là "tánh," là "thân," và cũng là "tâm"
vậy. Vì có hồ nước cho nên có bóng trăng phản chiếu, song
bổn thể của trăng vẫn nguyên vẹn, chẳng hề bị phân chia.
Có hồ nước thì có bóng trăng, vậy bóng trăng đó có phải
là từ mặt trăng tách ra không? Không phải! Tuy không phải,
nhưng trong hồ nước rõ ràng vẫn có bóng trăng hiển hiện,
nên nói:
"Ngàn
ao đầy nước, ngàn trăng hiện,
Vạn
dặm không mây, vạn dặm trời xanh."
Các
"phân thân" của Bồ Tát Ðịa Tạng vốn không hiện hữu,
vì sao ở đây lại nói là có "phân thân"? Bởi vì các "phân
thân" này là do tùy thuận theo cơ duyên của chúng sanh mà thị
hiện. Các "phân thân" này là như thế nào? Nói một cách đơn
giản, "phân thân" cũng tương tự như hình ảnh vậy—vốn
chỉ là một người, sau khi chụp hình thì có được nhiều
bức ảnh của cùng một người. Tuy nhiên, hình ảnh thì không
có tác động, không có sự cảm thông linh ứng, và cũng chẳng
có sinh khí; còn các "phân thân" mà Bồ Tát Ðịa Tạng hóa
hiện ra thì đều giống hệt bổn thân của Ngài; cho nên gọi
là "ngàn muôn ức hóa thân." Hễ thấy nơi nào có địa ngục,
Bồ Tát Ðịa Tạng liền phân phối một thân của mình đến
nơi đó để giáo hóa chúng sanh. Do vậy, khắp ba ngàn đại
thiên thế giới, bất cứ nơi nào có địa ngục, Ngài đều
hiện diện để giáo hóa chúng sanh. Vì Bồ Tát Ðịa Tạng
phát thệ nguyện giáo hóa các chúng sanh trong địa ngục, cho
nên ở đâu có địa ngục, thì ở đó có phân thân của Ngài
Ðịa Tạng vậy!
"Tập
hội" tức là quy tụ, tựu về. Vậy, "Phân Thân Tập Hội"
ở đây có nghĩa là tất cả những thân mà Ðịa Tạng Bồ
Tát đã hóa hiện ra đều trở về và tụ hội lại với nhau.
Kinh
văn:
Lúc
đó, phân thân của Bồ Tát Ðịa Tạng từ các nơi có địa
ngục trong trăm ngàn muôn ức không thể nghĩ, không thể bàn,
không thể tính đếm, không thể nói hềt, vô lượng a-tăng-kỳ
thế giới, đều đến hội họp tại cung trời Ðao Lợi.
Do
nhờ thần lực của Ðức Như Lai, phân thân từ mỗi phương
hợp cùng những chúng đã được giải thoát khỏi chốn nghiệp
đạo, cũng đông đến số ngàn muôn ức na-do-tha, đồng cầm
hương hoa đến cúng dường Phật.
Những
chúng cùng đến ấy thảy đều nhờ Bồ Tát Ðịa Tạng giáo
hóa, làm cho vĩnh viễn không còn thối chuyển nơi A Nậu Ða
La Tam Miệu Tam Bồ Ðề.
Những
chúng sanh này từ nhiều kiếp lâu xa đến nay, trôi lăn trong
vòng sanh tử, chịu khổ trong sáu đường, không lúc nào tạm
ngừng dứt. Nhờ lòng từ bi quảng đại và thệ nguyện thâm
sâu của Bồ Tát Ðịa Tạng, nên tất cả đều chứng được
quả vị. Khi đến được cung trời Ðao Lợi, lòng họ vui
mừng hớn hở chiêm ngưỡng Ðức Như Lai, mắt nhìn mãi không
rời.
Lược
giảng:
Lúc
đó, phân thân của Bồ Tát Ðịa Tạng từ các nơi có địa
ngục trong trăm ngàn muôn ức không thể nghĩ, không thể bàn,
không thể tính đếm, không thể nói hềt, vô lượng a-tăng-kỳ
thế giới, đều đến hội họp tại cung trời Ðao Lợi.
"không
thể nghĩ" có nghĩa là không thể nào nghĩ ra được, không
thể mường tượng được.
"không
thể bàn" là không thể dùng lời lẽ mà luận bàn được.
"không
thể tính đếm" tức là không thể nào tính toán, đong đếm
hoặc đo lường được.
"không
thể nói hềt" tức là ngay cả nói cũng không thể nói cho
hết được.
"Vô
lượng a-tăng-kỳ thế giới" tức là vô lượng vô số thế
giới, nhiều đến nỗi không thể tính đếm ra số lượng
được.
Hễ
nơi nào có địa ngục thì nơi đó có phân thân của Bồ Tát
Ðịa Tạng hóa hiện ra, cho nên có đến vô lượng phân thân
của Bồ Tát Ðịa Tạng, và lúc bấy giờ tất cả các phân
thân này đều cùng quy tụ về Ðao Lợi Thiên Cung.
Do
nhờ thần lực của Ðức Như Lai, phân thân từ mỗi phương
hợp cùng những chúng đã được giải thoát khỏi chốn nghiệp
đạo, cũng đông đến số ngàn muôn ức na-do-tha, đồng cầm
hương hoa đến cúng dường Phật.
Nhờ
đại oai thần lực của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, phân thân
của Bồ Tát Ðịa Tạng đến từ các phương đều dẫn theo
những chúng sanh từng được Ngài cứu độ ra khỏi chốn
nghiệp đạo tội lỗi. Cho nên, mỗi phân thân của Bồ Tát
Ðịa Tạng đều có cả trăm ngàn vạn ức na-do-tha chúng sanh
lũ lượt tháp tùng. Những chúng sanh này cũng như các phân
thân của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát, ai nấy đều có mang theo
hương và hoa để cúng dường Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Những
chúng cùng đến ấy, tất cả những chúng sanh đi theo các
phân thân của Bồ Tát Ðịa Tạng, thảy đều nhờ Bồ Tát
Ðịa Tạng giáo hóa, làm cho vĩnh viễn không còn thối chuyển
nơi A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề. Những chúng sanh ấy
nhờ được Bồ Tát Ðịa Tạng giáo hóa mà được an trụ
mãi mãi trong cảnh giới bất thối chuyển đối với Ðạo
Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Những
chúng sanh này từ nhiều kiếp lâu xa đến nay, trôi lăn trong
vòng sanh tử, chịu khổ trong sáu đường. Họ cứ thoạt chìm
thoạt nổi, ngoi ngóp trong bể khổ sanh tử, chẳng khác nào
những đợt sóng biển cuồn cuộn không ngừng—họ cứ sanh
ra rồi chết đi, chết rồi lại sanh ra, sanh sanh tử tử như
sóng nước bất tận. Cứ thế, họ trầm luân trôi giạt trong
sáu nẻo luân hồi, không lúc nào tạm ngừng dứt. Trong Lục
Ðạo, họ đã phải liên tục chịu đựng vô lượng khổ
não, ngay cả một khoảnh khắc ngắn ngủi để nghỉ ngơi
cũng không thể nào có được.
May
thay, nhờ lòng từ bi quảng đại và thệ nguyện thâm sâu
của Bồ Tát Ðịa Tạng, nên tất cả những chúng sanh khốn
khổ ấy đều chứng được quả vị. Bồ Tát Ðịa Tạng
đã từng phát nguyện:
"Địa
ngục chưa trống không, tôi thề chưa thành Phật,
Chúng
sanh độ hết rồi, tôi mới chứng Bồ Đề.”
(Địa
ngục vị không, thệ bất thành Phật,
Chúng
sanh độ tận, phương chứng Bồ Đề.")
Chính
nguyện lực rộng lớn của Bồ Tát Ðịa Tạng đã khiến
cho các chúng sanh ấy đều chứng được quả vị—Sơ Quả,
Nhị Quả, Tam Quả, Tứ Quả A La Hán, hoặc các quả vị khác.
Giờ
đây, khi đến được cung trời Ðao Lợi, lòng họ vui mừng
hớn hở, ai nấy đều sanh tâm đại hoan hỷ, và chiêm ngưỡng
Ðức Như Lai, mắt nhìn mãi không rời.
Những
chúng sanh này đến được cõi trời Ðao Lợi rồi thì tất
cả đều một lòng một dạ hân hoan dõi mắt về phía Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni, thành kính ngắm nhìn, không rời một
thoáng—đó là biểu thị sự nhất tâm chiêm ngưỡng Ðức
Như Lai và lòng cung kính chí thành của họ.
Kinh
văn:
Bấy
giờ, Ðức Thế Tôn đưa cánh tay sắc vàng xoa đảnh các phân
thân của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát trong trăm ngàn vạn
ức không thể nghĩ, không thể bàn, không thể tính đếm,
không thể nói hềt, vô lượng a-tăng-kỳ thế giới, rồi
dạy rằng: "Ta ở trong đời ác Ngũ Trược giáo hóa những
chúng sanh cang cường như thế, làm cho lòng chúng nó điều
phục, bỏ tà về chánh; nhưng trong mười phần, vẫn còn một
hai phần quen theo thói ác.
Ta
cũng phân ngàn trăm ức thân, rộng lập ra nhiều phương tiện.
Hoặc có kẻ có lợi căn, nghe thấy liền tín thọ; hoặc có
kẻ có thiện quả, phải ân cần khuyên bảo mới thành tựu;
hoặc có kẻ ám độn, phải giáo hóa thời lâu mới quay về;
hoặc có kẻ nghiệp nặng, chẳng sanh lòng kính ngưỡng; Ta
bèn phân ra nhiều thân để độ thoát những hạng chúng sanh
mỗi mỗi sai khác như thế.
Hoặc
hiện thân người nam, hoặc hiện thân người nữ; hoặc hiện
thân Trời, Rồng; hoặc hiện thân Quỷ, Thần; hoặc hiện
ra núi, rừng, nguồn sông, đồng bằng, sông rạch, ao hồ,
khe suối, giếng nước, để làm lợi ích cho con người, khiến
tất cả đều được độ thoát.
Hoặc
hiện thân Thiên Ðế, hoặc hiện thân Phạm Vương, hoặc hiện
thân Chuyển Luân Vương, hoặc hiện thân Cư Sĩ, hoặc hiện
thân Quốc Vương, hoặc hiện thân Tể Phụ, hoặc hiện ra
thân các hàng quan thuộc, hoặc hiện ra thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo
Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, cho đến các thân Thanh Văn, La Hán,
Bích Chi Phật, Bồ Tát... để hóa độ chúng sanh; chớ chẳng
phải chỉ có thân Phật hiện ra trước chúng thôi đâu!"
Lược
giảng:
Bấy
giờ, Ðức Thế Tôn—tức là Ðức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn—đưa
cánh tay sắc vàng xoa đảnh các phân thân của Ðịa Tạng
Bồ Tát Ma Ha Tát trong trăm ngàn vạn ức không thể nghĩ, không
thể bàn, không thể tính đếm, không thể nói hềt, vô lượng
a-tăng-kỳ thế giới. Ðức Phật chỉ dùng một cánh tay mà
có thể xoa đảnh đầu của tất cả phân thân của Bồ Tát
Ðịa Tạng từ trăm ngàn muôn ức thế giới, số nhiều đến
không thể nghĩ tới, không thể bàn luận, không thể tính
đếm được— nhiều đến vô lượng a-tăng-kỳ. Ðây là
Phật thị hiện Như Ý Thân—Như Ý Thần Thông—từ một
cánh tay mà biến thành cả trăm ngàn cánh tay, do đó với một
cánh tay mà Phật có thể xoa đảnh đầu của cả trăm ngàn
vạn ức phân thân của Ðịa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát trong cùng
một lúc.
Rồi
Ðức Phật dạy rằng: "Ta ở trong đời ác Ngũ Trược—một
thế giới ô trọc xấu ác với năm thứ trược là kiếp trược,
kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, và mạng
trược—để giáo hóa những chúng sanh cang cường như thế."
Chúng
ta hãy lưu ý danh xưng này—"chúng sanh cang cường" là ai? Có
thể là quý vị mà cũng có thể là người khác. Người nào
cang cường, bướng bỉnh thì người đó tự biết. "Những
chúng sanh cang cường" chính là những chúng sanh ương ngạnh,
cứng đầu cứng cổ, không chịu giữ quy củ, chẳng muốn
vào khuôn phép. Có một đứa bé còn hỏi rằng: "Tại sao phải
có quy củ chứ?" Nghe hỏi như thế cũng đủ thấy rằng đứa
bé này không thích có quy củ, luật lệ; và đó cũng là do
ảnh hưởng của những người lớn xưa nay chẳng muốn tuân
theo quy củ mà ra. Nói tóm lại, những kẻ ngang tàng, không
chịu giữ gìn phép tắc quy củ, thích thế nào thì làm thế
ấy, thì đó chính là "những chúng sanh cang cường" vậy!
"Làm
cho lòng chúng nó điều phục." Ðối với những chúng sanh
cang cường ương ngạnh này, muốn khiến cho họ vui vẻ và
thành thật cảm phục, thật không phải dễ!
"Ðiều
phục." Thế nào gọi là "điều" (làm cho hài hòa)? Cách nấu
ăn của người Mỹ thì không cần tới nhiều gia vị rắc
rối; song người Trung Hoa thì rất để ý đến gia vị nêm
nấu, họ thường trộn thêm các vị chua, ngọt, đắng, hoặc
cay vào thức ăn một cách thích đáng, vừa phải, để thành
những món ăn thật ngon lành. Ðó gọi là "điều vị" (điều
hòa mùi vị).
Ở
Trung Hoa vào thời Liệt Quốc (các nước phân tranh), có một
người đầu bếp giỏi tên là Dịch Nha. Mạnh Tử đã từng
nói: "Dịch Nha tiên đắc ngã khẩu chi sở tư dã" (Dịch Nha
biết trước được những gì mà miệng tôi muốn nếm). Dịch
Nha có tài đón ý, đoán biết được khẩu vị của người
khác, nêm nấu rất vừa miệng—giỏi về "điều vị." Dịch
Nha là một đầu bếp danh tiếng xưa nay của Trung Hoa; và cũng
nhờ tài nấu ăn rất khéo nên được tuyển vào làm đầu
bếp trong hoàng cung.
"Phục"
là hàng phục, trong lòng vui vẻ và thành thật phục tòng,
không còn phản kháng nữa. Những chúng sanh mà Ðức Phật
nói bất luận giáo pháp gì họ cũng ngoan ngoãn nghe theo, hoan
hỷ tiếp thọ, chẳng chút hoài nghi, không hề phản đối—thì
đó chính là những chúng sanh đã được "điều phục," tánh
nết đã thuần thành vậy.
Chớ
nói rằng năm trăm năm sau khi Phật nhập Niết Bàn thì chẳng
còn ai khai ngộ, hoặc không có ai chứng quả A La Hán nữa.
Thật ra, bất cứ lúc nào và ở vào thời nào cũng đều có
người được khai ngộ, cũng có bậc A La Hán xuất thế cả;
chẳng qua là các bậc A La Hán này sau khi chứng quả đều
không muốn thị hiện thần thông, không đi khắp nơi xem xét
chuyện thế gian.
Thuở
trước, các Pháp Sư từ Ấn Ðộ sang Trung Hoa hoằng Pháp như
Tôn Giả Ma Ðằng, Tôn Giả Trúc Pháp Lan, và cả Tổ Sư Ðạt
Ma (xuất thế sau khi Phật diệt độ cả ngàn năm) nữa, các
ngài đều có thần thông. Gần đây thì có Lão Hòa Thượng
Hư Vân, Luật Sư Hoằng Nhất và Lão Pháp Sư Ấn Quang—các
ngài đều là những bậc cao tăng thời cận đại của Trung
Hoa và là những bậc A La Hán, những bậc Bồ Tát. Ðặc biệt
hơn nữa, mọi người đều công nhận Lão Pháp Sư Ấn Quang
chính là hóa thân của Ðại Thế Chí Bồ Tát! Như vậy, sau
khi Phật nhập Niết Bàn, ở nước Trung Hoa vẫn có rất nhiều
bậc đại đức cao tăng xuất hiện. Cho nên, dù Phật vào
Niết Bàn đã năm trăm năm, một ngàn năm, hay một vạn năm
đi chăng nữa, hễ người nào có thể y theo Phật Pháp mà
chân chánh tu hành, thì người đó cũng sẽ được khai ngộ
và chứng quả vị như thường.
"Bỏ
tà về chánh." Ðức Phật đã khiến cho tất cả chúng sanh
từ bỏ mọi tà tri tà kiến, để quay về với chánh tri chánh
kiến.
"Nhưng
trong mười phần, vẫn còn một hai phần quen theo thói ác."
Trong mười người thì có một hoặc hai người vẫn còn giữ
các tập khí xấu ác, chưa hoàn toàn từ bỏ được tất cả
những thói hư tật xấu.
"Ta
cũng phân ngàn trăm ức thân." "Ta" (ngô) là tiếng tự xưng
của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni; Ngài nói rằng: "Ta cũng phân
thành cả ngàn trăm ức hóa thân và rộng lập ra nhiều phương
tiện. Ta lại còn mở bày vô số pháp môn phương tiện nữa."
Trong
số các chúng sanh đó, "hoặc có kẻ có lợi căn, nghe thấy
liền tín thọ." Kẻ có "lợi căn" tức là người có thiện
căn sâu dầy, thông minh lanh lợi, rất có trí huệ. Những
chúng sanh có lợi căn khi nghe được giáo pháp của Phật thì
liền mau mắn tin nhận.
"Hoặc
có kẻ có thiện quả, phải ân cần khuyên bảo mới thành
tựu." Lại có hạng người mà trong đời trước đã từng
làm một vài việc thiện, có gieo trồng thiện quả, thì Phật
cũng phải ân cần khuyên bảo thêm để họ được nhanh chóng
thành tựu Phật Ðạo, và không phải chỉ khuyên bảo một
lần mà là rất nhiều lần. "Ân cần khuyên bảo" không có
nghĩa là chỉ khuyên bảo một lần rồi thôi. Khi chúng ta có
lòng muốn cứu vớt, độ thoát một người nào đó, thì phải
nhớ rằng chưa chắc chỉ khuyên bảo một lần mà "độ" được
người ấy ngay. Khuyên một lần mà chưa "độ" được thì
phải khuyên thêm lần nữa; nếu thêm lần này mà vẫn chưa
"độ" được, thì chúng ta lại phải cố gắng thêm nhiều
lần nữa. Nếu những người đó ở xa thì quý vị nên viết
thư nhắc nhở, kể chuyện Phật Pháp cho họ biết; còn nếu
ở gần thì thỉnh thoảng nên gặp gỡ, tiếp xúc với họ
để giảng Phật Pháp cho họ nghe.
Lại
nữa, hễ đã phát tâm muốn "độ người" thì chớ để cho
mình bị "người độ"! Thế nào gọi là bị "người độ"?
Thí dụ, ban đầu là quý vị muốn độ họ, muốn làm cho
họ tin Phật, nhưng rốt cuộc thì quý vị lại bị lung lạc
và bị lôi kéo vào tôn giáo của họ! Thâm tâm mình vốn muốn
"độ người," làm cho họ tin Phật, ngờ đâu lại bị họ
làm cho mình chuyển đổi tín tâm, thay đổi tín ngưỡng—như
thế là mình bị "người độ" vậy. Muốn "độ người" thì
bản thân mình cần phải có Ðịnh Lực; sở dĩ mình bị "người
độ" chính là vì mình không có Ðịnh Lực.
"Ân
cần khuyên bảo" ngụ ý là thường xuyên nhắc nhở, sốt
sắng khuyên lơn. Ví dụ quý vị suy nghĩ: "Người bạn này
đối xử với mình quá tử tế, mình phải độ anh ấy, khiến
anh ấy tin theo Phật mới được! Lại còn ông chú bà bác
kia nữa, họ đều là những người tốt bụng, mình cũng nên
độ họ, làm cho họ thích học Phật Pháp!" Do đó quý vị
"ân cần khuyên bảo" họ. Không phải chỉ khuyên một lần
mà là kiên nhẫn khuyên lơn rất nhiều lần, lần này mình
khuyên giải mà họ chưa hiểu rõ thì cố gắng thêm lần nữa,
rồi cứ lần này sang lần khác như thế, dứt khoát không
chịu bỏ cuộc. Nói tóm lại, quý vị phát tâm độ người
thì phải độ cho tới nơi tới chốn, độ được họ phát
tâm tin Phật và cho tới khi họ thành Phật—như thế, sứ
mạng mới hoàn tất, thệ nguyện mới viên mãn!
"Hoặc
có kẻ ám độn, phải giáo hóa thời lâu mới quay về." "Ám
độn" tức là ngu si, căn tánh mê muội, không có trí huệ.
Ðối với hạng chúng sanh ám độn, si mê thì cần phải có
thời gian lâu dài để giáo hóa, chứ không thể một sớm
một chiều mà được ngay đâu. "Ân cần khuyên bảo" thì tính
theo số lần; còn "thời lâu" là thuộc vấn đề thời gian.
Nếu trong một ngày mà mình chưa độ được họ, thì phải
kiên trì cho dù là hai ngày, ba ngày, năm ngày, hoặc một tháng,
hai tháng, ba tháng, năm tháng, hoặc một năm, hai năm, ba năm,
năm năm...—quý vị phải nuôi trong lòng một chí nguyện bền
bỉ, lâu dài, và giáo hóa họ với cái tâm trường cửu, nhất
quyết làm cho họ thành tâm tin tưởng đạo Phật. Ðây gọi
là "cửu hóa phương quy"—phải trải qua một sự giáo hóa
lâu dài họ mới có thể quay về, quy y Tam Bảo.
"Hoặc
có kẻ nghiệp nặng, chẳng sanh lòng kính ngưỡng." Lại có
hạng chúng sanh nghiệp chướng nặng nề, tội lỗi thâm trọng,
hoàn toàn không có lòng kính tin ngưỡng mộ đối với Phật
Giáo.
"Ta,
Phật Thích Ca Mâu Ni, bèn phân ra nhiều thân để độ thoát
những hạng chúng sanh mỗi mỗi sai khác như thế." Bởi mỗi
người đều có những nhân quả nghiệp báo khác nhau, Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni phải tùy theo đó mà phân thân hóa hiện
thành nhiều loại thân để có thể độ thoát tất cả chúng
sanh. , Phật Thích Ca Mâu Ni, bèn phân ra nhiều thân để độ
thoát những hạng chúng sanh mỗi mỗi sai khác như thế." Bởi
mỗi người đều có những nhân quả nghiệp báo khác nhau,
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phải tùy theo đó mà phân thân hóa
hiện thành nhiều loại thân để có thể độ thoát tất cả
chúng sanh.
"Hoặc
hiện thân người nam, hoặc hiện thân người nữ." Ðức Phật
có thể hiện thân làm một thanh niên khôi ngô tuấn tú để
đi độ các người nữ, hoặc làm một thiếu nữ xinh đẹp
mỹ miều để đi độ các người nam, bởi Phật biết rất
rõ dục tâm khát vọng của chúng sanh. Vì chúng sanh thích chuyện
nam nữ nên Phật cũng tùy theo căn tánh của chúng sanh mà biến
hiện, hầu có thể giáo hóa chúng sanh.
"Hoặc
hiện thân Trời, Rồng." Ðức Phật cũng hiện ra thân Trời
hoặc thân Rồng để độ thoát đồng loại của các chúng
sanh ấy.
"Hoặc
hiện thân Quỷ, Thần." Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni còn hiện
thân làm vị thần đại oai đức, hoặc làm vị đại quỷ
vương.
"Hoặc
hiện ra núi, rừng, nguồn sông, đồng bằng, sông rạch, ao
hồ, khe suối, giếng nước." Quý vị xem, trong Kinh nói rằng
núi non, rừng rậm, nguồn sông, đồng bằng... đều là do
Pháp Thân của Như Lai biến hiện ra. Như thế, cũng có thể
là chúng ta hiện đang ngồi trên Pháp Thân của Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni, mà chúng ta lại không ý thức được đó thôi.
Như thành phố Cựu Kim Sơn (San Francisco) này chẳng hạn, cũng
là do Phật biến hiện ra từ lâu để làm lợi ích cho chúng
sanh, khiến mọi người có nơi để sinh sống.
Tuy
trong Kinh chỉ nói là Ðức Phật biến hiện ra núi rừng, cây
cối, nguồn sông (tức là nơi có nước), và đồng bằng (nguyên
dã), song quý vị chớ cho rằng chỗ đất bằng (bình địa)
lại không phải là Pháp Thân của Phật. Ðất bằng cũng là
từ Pháp Thân của Phật biến hiện ra vậy. Nếu nói rằng
chúng ta đang ngồi trên Pháp Thân của Phật, thì tại sao chúng
ta lại không thấy được Pháp Thân ấy? Bởi vì chúng ta cũng
giống như con kiến đang bò dưới đất hoặc đang bám trên
người chúng ta vậy—nó không thể nào nhìn thấy toàn thân
của con người được! Chúng ta chẳng khác nào một côn trùng
nhỏ bé sống trên Pháp Thân của Phật, nên mới không rõ
Pháp Thân ấy đang ở nơi đâu! Thật ra, chúng ta vốn đang
sống trên Pháp Thân của Phật, chẳng qua là chúng ta không
nhận ra được mà thôi!
Như
vậy, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể hóa hiện ra dòng sông,
ao hồ, đồng bằng, khe suối, giếng nước ... "để làm lợi
ích cho con người." Tóm lại, Phật hóa hiện những thứ này
nhằm mang lại sự ích lợi cho nhân loại, khiến tất cả
đều được độ thoát."
Thí
dụ Phật biến hiện ra một hòn núi, quý vị đến núi ấy
dạo chơi và cảm nhận được đôi chút linh khí của núi
nên phát khởi tâm Bồ Ðề; hoặc là quý vị vào rừng hít
thở không khí trong lành của thiên nhiên, thì thứ không khí
trong lành này chính là "không khí" của Pháp Thân Phật vậy!
Không khí trong hư không đều là của Phật, cho nên một khi
quý vị được hít thở không khí của Phật thì nhất định
quý vị sẽ được khai ngộ.
Quý
vị chớ nên chấp trước, cho rằng sau khi Phật diệt độ
được năm trăm năm thì chẳng có người nào khai ngộ nữa
cả! Kỳ thực, cho dù Phật đã diệt độ cả năm ngàn năm
rồi đi nữa, thì cũng vẫn có người được khai ngộ như
thường. Chỉ e rằng quý vị không thật tâm tu hành mà thôi;
nếu quý vị thật sự dụng công tu hành, tôi bảo đảm là
quý vị chắc chắn sẽ khai ngộ!
Ðức
Phật có thể hiện ra một con sông, quý vị đến đó tắm
rửa và cảm thấy rất thoải mái, dễ chịu, rồi sau đó
được khai ngộ. Sông là do Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni hóa
hiện, và cả nước ao, nước hồ cũng vậy. Phật cũng hóa
hiện ra giếng nước, quý vị uống thứ nước giếng này
thì Ðạo tâm của mình sẽ mỗi ngày một lớn mạnh. Cho nên,
đây đều là những cảnh giới không thể nghĩ bàn. Tóm lại,
nhất cử nhất động của Phật đều là vì lợi ích của
chúng sanh, giúp cho muôn loài đều được độ thoát.
"Hoặc
hiện thân Thiên Ðế." Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng có thể
hiện thân làm Thiên Ðế. Giả sử quý vị đang ngồi Thiền
bỗng có vị Thiên Ðế đến cúi đầu đảnh lễ và nói rằng:
"Tôi là Ðế Thích trên cõi trời!" Vì sao Ðế Thích lại lạy
quý vị? Vì muốn làm cho quý vị sanh khởi một Ðạo tâm
kiên cố và tinh tấn dõng mãnh.
"Hoặc
hiện thân Phạm Vương—tức Ðại Phạm Thiên Vương, hoặc
hiện thân Chuyển Luân Vương—tức Chuyển Luân Thánh Vương."
Chuyển Luân Thánh Vương có vô số bảo bối quý giá, trong
đó có chiếc "phi xa" (xe bay). Hiện nay chúng ta phóng hỏa tiễn
từ trái đất mà lên tới mặt trăng thì cũng phải mất một
thời gian khá lâu, song nếu dùng "phi xa" của Chuyển Luân Thánh
Vương thì chỉ nội trong một tiếng đồng hồ là có thể
dạo khắp cõi Tam Thiên Ðại Thiên thế giới. Với chiếc
"phi xa" này, không phải chỉ nguyệt cầu, tinh cầu, mà bất
cứ nơi nào chúng ta cũng có thể đến được một cách nhanh
chóng.
Chuyển
Luân Thánh Vương còn có rất nhiều "bảo tàng" (kho báu). Bất
luận đến nơi nào, Chuyển Luân Thánh Vương chỉ cần nói:
"Ta cần dùng tiền," thì đất nơi ấy lập tức nứt ra để
lộ kho báu—Ngài cần dùng bao nhiêu vàng bạc cũng có cả,
và muốn lấy bao nhiêu châu báu thì có bấy nhiêu. Vì sao lại
được như thế? Bởi phước báo của Chuyển Luân Thánh Vương
rất lớn, hết thảy châu báu đều là dành sẵn cho Ngài,
tất cả mọi thứ trên thế gian đều là sở hữu của Ngài.
Chuyển
Luân Thánh Vương còn có "bảo mã" (ngựa báu), có thể chạy
nhanh hơn cả hỏa tiễn; và Ngài cũng có "bảo nữ" (ngọc
nữ) nữa. Chuyển Luân Thánh Vương rất thích "bảo nữ"; lúc
nào Ngài muốn thì họ liền tự nhiên hiện ra. Vì phước
báo của Chuyển Luân Thánh Vương quá lớn, nên Ngài muốn
gì được nấy. Nói chung là tất cả mọi sự đối với Ngài
đều "tùy tâm, như ý"; do đó Ngài chẳng hề biết tới nỗi
khổ mong cầu mà không được toại nguyện!
Ðức
Phật hiện ra thân Chuyển Luân Thánh Vương với đầy đủ
oai đức, là muốn cho hết thảy chúng sanh trông thấy được
thân tướng của Ngài mà phát Bồ Ðề tâm.
"Hoặc
hiện thân Cư Sĩ." Trong số quý vị cư sĩ ở đây, biết đâu
chừng cũng có hiện thân của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni! Quý
vị chớ cho rằng điều đó không thể xảy ra, bởi cư sĩ
cũng có phần vậy!
"Hoặc
hiện thân Quốc Vương làm vua cai trị một nước, hoặc hiện
thân Tể Phụ, hoặc hiện ra thân các hàng quan thuộc." Tể
Phụ tức là Tể Tướng, là chức quan cao nhất trong triều
đình.
"Hoặc
hiện ra thân Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di—bốn
chúng đệ tử—cho đến các thân Thanh Văn, La Hán, Bích Chi
Phật, Bồ Tát để hóa độ chúng sanh." Phật hiện ra vô số
thân khác nhau như thế chỉ nhằm để hóa độ chúng sanh mà
thôi.
"Chớ
chẳng phải chỉ có thân Phật hiện ra trước chúng thôi đâu!"
Ngoài thân Phật, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni còn thị hiện
vô số thân khác để độ thoát chúng sanh.
Kinh
văn:
"Ông
xem Ta trải qua biết bao số kiếp cần cù khó nhọc độ thoát
những chúng sanh cang cường đầy tội khổ, khó khai hóa như
thế.
Còn
những kẻ chưa được điều phục, thì phải theo nghiệp mà
chịu báo ứng. Nếu họ bị đọa vào đường dữ và chịu
nhiều sự thống khổ, thì Ông nên nhớ nghĩ đến Ta ở cung
trời Ðao Lợi đã ân cần phó chúc, mà làm cho chúng sanh ở
thế giới Ta Bà đến lúc Ðức Phật Di Lặc xuất thế đều
được độ thoát, xa lìa vĩnh viễn mọi điều khổ, được
gặp Phật và được thọ ký."
Lược
giảng:
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni nói tiếp: "Ông xem Ta trải qua biết bao
số kiếp, suốt một thời gian dài đến nỗi chẳng thể biết
được là bao nhiêu lâu, cần cù khó nhọc..." Quý vị xem,
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lúc nào cũng siêng năng cần mẫn,
không bao giờ lười biếng, và chẳng có lúc nào được sung
sướng cả! Ðức Phật cần cù, không biếng nhác, cũng chẳng
mong được hưởng thụ sung sướng—thì tất cả là vì cái
gì? Vì Ngài muốn "độ thoát những chúng sanh cang cường đầy
tội khổ, khó khai hóa như thế."
Quý
vị chớ nghĩ rằng có lẽ không có mình trong số những chúng
sanh tội khổ, cứng đầu, khó dạy này. Sự thực thì quý
vị và tôi đều nằm trong số các chúng sanh đó! Quý vị
có biết Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã phí biết bao tâm huyết
để giáo hóa chúng ta, độ thoát chúng ta chăng? Thế mà chúng
ta đã không biết hổ thẹn lại còn tỏ ra rất đắc ý, cho
rằng sự hy sinh đó chẳng có gì đáng kể: "Ðức Phật Thích
Ca Mâu Ni có vất vả đôi chút cũng chẳng sao. Tôi không thích
học Phật Pháp, cũng chưa muốn tu hành vội! Tôi thích được
ngủ nghỉ nhiều hơn!" Rồi cứ thế mà tự mình giảng đạo
lý cho mình, tự mình làm luật sư biện hộ cho mình.
"Còn
những kẻ chưa được điều phục, chưa được độ thoát,
thì phải theo nghiệp mà chịu báo ứng, thọ lãnh quả báo.
Nếu họ bị đọa vào đường dữ—Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ,
Súc Sanh—và chịu nhiều sự thống khổ, thì Ông nên nhớ
nghĩ đến Ta ở cung trời Ðao Lợi đã ân cần phó chúc, mà
làm cho chúng sanh ở thế giới Ta Bà đến lúc Ðức Phật
Di Lặc xuất thế đều được độ thoát, xa lìa vĩnh viễn
mọi điều khổ, được gặp Phật và được thọ ký. Ông
hãy nhớ đến những lời dặn dò, gởi gắm tha thiết của
Ta ở tại cung trời Ðao Lợi này, mà cố gắng độ thoát
tất cả chúng sanh trong thế giới Ta Bà kể từ bây giờ cho
đến khi Ðức Phật Di Lặc ra đời, khiến họ được vĩnh
viễn xa lìa mọi khổ não, được gặp chư Phật và được
các Ngài thọ ký cho họ làm Phật."
Bây
giờ chúng ta nói thêm về Lão Pháp Sư Ấn Quang. Ngài vốn
người tỉnh Sơn Tây; sau khi thọ Cụ Túc Giới, Ngài đến
núi Phổ Ðà "bế quan." Trong suốt thời gian "bế quan" này,
từ sáng đến tối Ngài ngồi ngay ngắn, chuyên chú xem tạng
Kinh một cách hết sức cung kính. Mỗi khi ra nhà vệ sinh Ngài
đều thay y phục và mang dép khác. Sau khi đi vệ sinh và tẩy
tịnh xong, Ngài lại thay bộ đồ ấy ra, rồi mặc lại y phục
mà Ngài thường mặc lúc xem kinh. Cho dù nhà vệ sinh rất sạch
sẽ, Ngài vẫn thay đổi y phục như thế—y phục mặc lúc
xem kinh thì không mặc khi vào nhà vệ sinh, còn y phục mặc
khi vào nhà vệ sinh thì không mặc lúc vào phòng xem kinh. Từ
sáng đến tối, Ngài đều xem kinh sách với một thái độ
hết sức cung kính, cẩn trọng. Ngài tu ở đạo tràng Quán
Âm Bồ Tát trên núi Phổ Ðà suốt mười tám năm ròng, và
ngày ngày đều chuyên tâm xem kinh sách, không hề xao lãng.
Sau
mười tám năm miệt mài tu học, Lão Pháp Sư Ấn Quang đến
Nam Kinh giảng Kinh A Di Ðà; quý vị có biết thế nào không?
Một bậc cao tăng thạc đức như thế, mà giảng kinh lại
không có ai đến nghe cả; ngoại trừ một người duy nhất,
ngày ngày chăm chỉ đến và ngồi ở băng ghế. Thấy vậy,
Lão Pháp Sư nghĩ rằng người này hẳn rất thích nghe giảng,
nên một hôm Ngài vui vẻ hỏi han ông ta: "Ông nghe tôi giảng
có hiểu hết không?" Sở dĩ Ngài hỏi như thế là vì Ngài
vốn người Sơn Tây, khẩu âm hơi khó nghe.
Người
ấy trả lời: "Ồ! Thưa Pháp Sư, tôi không hiểu gì cả!"
-"Ông
không hiểu ư!? Thế ông ngồi đây làm gì?"
Người
ấy đáp: "Tôi đợi Pháp Sư giảng kinh xong để tôi cất dẹp
các băng ghế. Tôi là kẻ có phận sự thu dọn băng ghế ở
đây chứ không phải đến nghe giảng!"
Chao
ôi! Lão Pháp Sư nghe qua thì trong lòng vô cùng đau xót, tự
nhủ rằng từ nay sẽ không đến thuyết giảng ở đất Nam
Kinh này nữa! Quý vị xem, Ngài giảng kinh chẳng ai đến nghe,
có được một người đều đặn đến thì lại không phải
để nghe giảng, mà là chờ Ngài giảng xong để cất dẹp
các băng ghế!
Về
sau, Hội Cư Sĩ Lâm ở Thượng Hải cung thỉnh Lão Pháp Sư
Ấn Quang đến giảng Kinh A Di Ðà; Ngài nhận lời và lần
này, khi Ngài thuyết giảng ở Thượng Hải, thì có rất nhiều
người đến nghe. Bởi Phật Giáo ở Nam Kinh bấy giờ không
được hưng thịnh lắm, cho nên mặc dù Ngài là bậc thạc
đức cao tăng, nhưng vì không có người thông báo, phổ biến
tin tức, nên chẳng ai biết để đến nghe Ngài thuyết pháp
cả. Còn Thượng Hải là nơi có đông đảo đệ tử quy y
của Ngài cư ngụ; những người này biết Sư Phụ mình sắp
đến giảng Pháp liền loan báo khắp nơi, nên mọi người
nô nức rủ nhau đến nghe Pháp rất đông. Trong số thính chúng
đó có một cô học sinh trạc mười tám mười chín tuổi,
và chưa phải là tín đồ Phật Giáo. Có một đêm nọ cô
nữ sinh này nằm mộng, thấy có người mách với cô rằng:
"Ngươi nên đến Cư Sĩ Lâm để nghe giảng kinh. Ðại Thế
Chí Bồ Tát đang hoằng dương Phật Pháp ở đó, và Ngài hiện
đang giảng Kinh A Di Ðà!"
Sáng
hôm sau, cô đọc báo, quả nhiên thấy có đăng tin giảng Kinh
A Di Ðà ở Cư Sĩ Lâm và người giảng là Lão Pháp Sư Ấn
Quang. Cô kinh ngạc tự hỏi: "Thật kỳ lạ! Sao đêm qua mình
nằm mơ lại nghe nói là Ðại Thế Chí Bồ Tát giảng Kinh
A Di Ðà kia mà?" Thế là cô ta liền rủ thêm một số bạn
học và cùng nhau háo hức đi nghe giảng; và cô còn kể cho
họ biết rằng cô chiêm bao thấy vị Pháp Sư này chính là
Ðại Thế Chí Bồ Tát!
Tuy
vậy, cô nữ sinh này cũng không biết Ðại Thế Chí Bồ Tát
là ai, nên bèn đi hỏi những người am hiểu Phật Pháp hơn.
Những người này lại hỏi cô ta đầu đuôi sự việc, vì
sao lại hỏi như thế; thì cô đáp: "Tôi mộng thấy có người
mách bảo rằng Ðại Thế Chí Bồ Tát đang giảng Kinh A Di
Ðà tại Cư Sĩ Lâm ở Thượng Hải, và bảo tôi hãy đến
đó nghe giảng."
Những
cư sĩ nghe cô nói như thế bèn nghĩ: "Vị Pháp Sư này có lẽ
là Bồ Tát Ðại Thế Chí hiện thân đến thật đấy!" Thế
là họ tới gặp Lão Pháp Sư Ấn Quang và thưa với Ngài rằng
có một nữ sinh nằm mộng thấy có người bảo Ngài chính
là Ðại Thế Chí Bồ Tát và đang giảng Kinh Di Ðà ở đây.
Lão Pháp Sư liền quở: "Các người chớ nói bậy!" Ngài quở
trách những người này một hồi, vì vậy không còn ai dám
nhắc đến chuyện đó nữa.
Về
sau, cô nữ sinh này cũng quy y với Lão Pháp Sư Ấn Quang. Trong
giấc chiêm bao ấy, cô còn được cho biết là vị Ðại Thế
Chí Bồ Tát này chỉ còn ở lại thêm ba năm nữa mà thôi,
và sau đó thì Ngài phải trở về, không ai còn gặp được
Ngài nữa. Quả nhiên ba năm sau, nhằm năm Dân Quốc thứ 33,
Lão Pháp Sư Ấn Quang viên tịch. Sau khi Ngài viên tịch mọi
người mới biết Ngài là Bồ Tát Ðại Thế Chí. Sinh thời,
Lão Pháp Sư Ấn Quang rất thích chép chương "Ðại Thế Chí
Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông" trong Kinh Lăng Nghiêm; và rất
nhiều cư sĩ vẫn còn giữ được những bản chép tay đặc
biệt này với chính bút tích của Ngài.
Như
vậy, Lão Pháp Sư Ấn Quang là điển hình của một bậc cao
tăng thạc đức được khai ngộ trong thời cận đại; cho
nên không thể nói là sau khi Phật diệt độ năm trăm năm
thì không có bậc A La Hán xuất thế! Kỳ thực, chẳng những
A La Hán mà cao hơn cả A La Hán cũng có nữa! Sau khi Lão Pháp
Sư Ấn Quang viên tịch và nhục thân được thiêu hóa, thì
còn lại rất nhiều Xá Lợi. Người chưa chứng quả hoặc
chưa khai ngộ thì không bao giờ có Xá Lợi; có Xá Lợi thì
không phải là người thường.
Kinh
văn:
Bấy
giờ, các phân thân của Bồ Tát Ðịa Tạng ở các thế giới
hợp lại thành một hình, rơi lệ ai luyến mà bạch Phật
rằng: "Từ số kiếp lâu xa đến nay, con nhờ Ðức Thế Tôn
tiếp độ dắt dìu, khiến con có được thần lực chẳng
thể nghĩ bàn, đầy đủ trí huệ rộng lớn.
Các
phân thân của con thị hiện ở khắp trăm ngàn muôn ức thế
giới nhiều như cát sông Hằng; trong mỗi thế giới hóa hiện
trăm ngàn muôn ức thân, mỗi một thân đó hóa độ trăm ngàn
muôn ức người, khiến cho họ quy kính Tam Bảo, vĩnh viễn
xa lìa sanh tử, đến được Niết Bàn an lạc.
Những
chúng sanh nào ở trong Phật Pháp, dù chỉ làm việc lành bằng
chừng một sợi lông, một giọt nước, một hạt cát, một
hạt bụi, hoặc mảy lông tơ, con đều độ thoát lần lần,
làm cho họ được lợi ích lớn.
Con
cúi mong Ðức Thế Tôn chớ vì những chúng sanh ác nghiệp
đời sau mà sanh lòng lo lắng!" Ngài bạch cùng Ðức Phật
ba lần như thế.
Lúc
ấy, Ðức Phật khen ngợi Bồ Tát Ðịa Tạng rằng: "Lành
thay! Lành thay! Ta hộ trợ cho điều Ông muốn để Ông thành
tựu được các hoằng thệ nguyện đã lập từ số kiếp
lâu xa đến nay. Việc quảng độ xong rồi, Ông liền chứng
quả Bồ Ðề."
Lược
giảng:
Bấy
giờ, các phân thân của Bồ Tát Ðịa Tạng ở các thế giới
hợp lại thành một hình. Bồ Tát Ðịa Tạng từ một thân
mà phân thành nhiều thân, rồi từ nhiều thân lại hợp thành
một thân. Bởi từ một thân mà có thể biến thành nhiều
thân, cho nên "một" thân cũng chính là "nhiều" thân; nhiều
thân có thể hợp lại làm một thân, do đó "nhiều" thân cũng
là "một" thân. Nói một cách sâu xa hơn, thì không có nhiều
thân mà cũng chẳng có một thân!
Bồ
Tát Ðịa Tạng vốn một thân cũng chẳng có. Vì sao lại nói
như thế? Vì Ngài đã chứng được "vô ngã"! Nếu Ngài có
một cái thân, tức là Ngài có ngã tướng. Chính vì Ngài đã
chứng "vô ngã" cho nên tuy là nhiều thân, song nhiều mà chẳng
phải nhiều; dù chỉ là một thân, nhưng một mà cũng không
phải là một. Do đó, "một" cũng là "nhiều," mà "nhiều" cũng
là "một" vậy. Phân thân của Bồ Tát Ðịa Tạng nhiều vô
lượng, mà vô lượng lại hợp thành một—từ một thân
mà thành đến vô lượng thân, từ vô lượng thân lại có
thể nhập chung trở lại làm một thân. Như vậy, quý vị
nói xem, Bồ Tát Ðịa Tạng làm sao có thể có một "cái" thân
được? Hơn nữa, nếu nói là có cái thân thì Ngài nhiều
thân như thế, quý vị nói cái thân nào là của Ngài, và cái
thân nào là không phải của Ngài?
Cho
nên, có thể nói rằng mỗi phân thân đều là Bồ Tát Ðịa
Tạng, lại cũng có thể nói đó không phải là thân của Bồ
Tát Ðịa Tạng. Tại sao nói có thể là thân của Bồ Tát
Ðịa Tạng? Căn cứ vào thân thị hiện của Bồ Tát Ðịa
Tạng thì có thể nói đó là thân của Ngài; nhưng xét về
thân "vô tướng" thì Ngài vốn không có thân tướng, do đó
mà nói rằng đó không phải là thân của Bồ Tát Ðịa Tạng.
Lại
có thể nói rằng bất cứ người nào phát nguyện học theo
gương Bồ Tát Ðịa Tạng, thì bản thân người đó chính
là phân thân của Bồ Tát Ðịa Tạng, so với Bồ Tát Ðịa
Tạng chẳng có gì khác biệt. Vì sao quý vị phát nguyện muốn
noi gương Bồ Tát Ðịa Tạng? Bởi vì quý vị ngưỡng mộ
hành vi, trí huệ, nguyện lực của Ngài. Tại sao quý vị ngưỡng
mộ Ngài? Ðạo lý này quý vị vốn đã biết rồi, không cần
tôi nói ra. Tuy nhiên, vì quý vị không dám thừa nhận là mình
đã biết rồi, cho nên nay tôi phải nói rõ, chứng minh quý
vị là phân thân của Bồ Tát Ðịa Tạng. Nếu quý vị thích
Bồ Tát Ðịa Tạng thì quý vị phải thực hành theo chí nguyện
của Ngài—làm một phân thân của Ngài. Tuy là phân thân nhưng
quý vị có thể y theo Phật Pháp mà tu hành, trở về với
tự tánh viên mãn của chính mình, minh tâm kiến tánh, thì
lúc đó quý vị sẽ có thần thông, có thể quay về để hợp
thành một thể, nhập thành một hình với Ðịa Tạng Vương
Bồ Tát—bấy giờ cũng chính là lúc quý vị trở về với
bản nguyên vậy.
Sau
khi các phân thân của Bồ Tát Ðịa Tạng hợp chung lại thành
một hình, Ngài rơi lệ ai luyến ..." "Ai" là bi ai, buồn bã;
"luyến" là lưu luyến, quyến luyến chẳng rời, không đành
lìa bỏ. Vì sao Ðịa Tạng Vương Bồ Tát lại bi ai, thương
cảm? Có bốn điều khiến Ngài bi ai:
1)
Thứ nhất, Ðịa Tạng Vương Bồ Tát đau xót bi ai bởi Lục
Ðạo chúng sanh mải mê gây nghiệp tạo tội, không biết sửa
đổi. Tất cả chúng sanh trong các cõi Trời, Người, A-tu-la,
Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh do tạo nghiệp tội nên cứ
luân hồi luẩn quẩn mãi trong sáu nẻo ấy, không biết hối
cải, chẳng biết ăn năn sám hối.
2)
Thứ hai, Ðịa Tạng Vương Bồ Tát bi ai là vì tất cả chúng
sanh đều cứng đầu, khó dạy—giảng Phật Pháp cho họ thì
họ không muốn nghe, nhưng nếu nói những điều không phải
là Phật Pháp thì họ lại vui vẻ theo dõi câu chuyện ngay!
Ví
dụ quý vị nói với mọi người rằng: "Anh A là một người
có học vấn cao, phẩm hạnh tốt. Anh ta giỏi về mọi mặt,
cái gì cũng biết cả!"; thì người ta sẽ không chú ý nghe
cho lắm. Thế nhưng, nếu quý vị kể cho họ biết anh A là
người xấu xa hư hỏng ra sao, khéo che đậy những hành vi
tội lỗi của mình như thế nào để không ai hay biết...;
thì ai nấy liền chăm chú theo dõi câu chuyện, nôn nóng muốn
biết cách che giấu chuyện xấu của anh ta ra sao.
Thói
thường, quý vị nói điều tốt thì chẳng mấy ai chú ý nghe.
Chẳng hạn quý vị khuyên: "Các bạn nên chăm chỉ học Phật
Pháp," thì không ai để tâm tới và cũng chẳng có ai chịu
tu học. Tuy nhiên, nếu quý vị rủ rê: "Hiện nay có một loại
thuốc, hễ uống vào thì các bạn sẽ có được một cảm
giác rất kỳ diệu," thì sẽ có rất nhiều người tranh nhau
để được dùng thử loại thuốc đem lại ảo giác đó ngay.
Uống vào rồi thì đầu óc trở nên mơ mơ màng màng, tưởng
chừng như mình đang lâng lâng bay bổng đến Cực Lạc Thế
Giới vậy! Ðó vốn là một thứ thuốc vô cùng độc hại,
thế mà người ta nếm một lần rồi thì liền muốn thêm
lần nữa, dần dà không biết đến bao nhiêu lần! Trong lúc
"say" thuốc, họ cảm thấy cái gì cũng biến đổi, thậm chí
trời đất cũng không lớn bằng họ nữa! Thế nhưng, qua khỏi
khoảnh khắc phù du đó rồi thì họ liền cảm thấy cơ thể
mệt mỏi dã dượi, khó chịu một cách khổ sở—không đau
đầu thì cũng nhức xương, tay chân rã rời, nên không muốn
làm gì cả, cứ nằm vật vã một chỗ như cái xác không hồn.
Tuy vậy, mặc dù ra đến nông nỗi này, họ cũng chưa tỉnh
ngộ, còn thắc mắc: "Tại sao mình lại như thế này?" Ðã
thế, họ còn cho rằng dùng thêm một ít thuốc ấy nữa thì
sẽ được khai ngộ: "Lần này hẳn là thuốc chưa đủ công
lực, chưa đủ mạnh. Nếu tăng liều lượng nhiều hơn chút
nữa có lẽ mình sẽ được khai ngộ, sẽ thành công!"
Quý
vị nói xem, như thế mà không phải là ngu si đến cực điểm
thì là gì? Bảo học Phật Pháp thì không học, cứ lén lút
sử dụng độc phẩm. Dù biết là phạm pháp, nhưng họ vẫn
muốn làm, thích làm và làm cho bằng được; cho nên đó chính
là những chúng sanh cứng đầu, ương ngạnh. "Khó dạy" tức
là khó uốn nắn, không dễ giáo hóa, không dễ dạy bảo.
Quý vị khuyên họ học Phật Pháp thì họ không thích; nhưng
nếu quý vị bày cách lừa đảo, lường gạt kẻ khác thì
họ liền vui vẻ bám riết, cắm đầu cắm cổ chạy theo ngay.
Quý vị thấy đó, lòng dạ của chúng sanh là như thế!
Vậy,
nỗi bi ai thứ hai của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát chính là
đau xót vì chúng sanh cứng đầu, khó giáo hóa, khó điều
phục.
3)
Nỗi bi ai thứ ba của Bồ Tát Ðịa Tạng là gì? Ðó là "mặt
trời trí huệ" (huệ nhật) Như Lai sắp lặn. Phật ví như
vầng thái dương, cho nên Phật sắp nhập Niết Bàn thì chẳng
khác nào mặt trời trí huệ sắp lặn mất; do đó Bồ Tát
Ðịa Tạng lấy làm bi ai.
4)
Nỗi bi ai thứ tư của Bồ Tát Ðịa Tạng là gì? Là việc
dặn dò trọng đại ở Ðao Lợi Thiên Cung. Tại cung trời
Ðao Lợi, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni ân cần căn dặn Bồ Tát
Ðịa Tạng rằng cho đến trước khi Ðức Phật Di Lặc ra
đời, Ngài hãy giáo hóa, độ thoát tất cả chúng sanh và
khiến họ được gặp chư Phật, được Phật thọ ký. Ðây
là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Ðức Phật Thích Ca
Nâu Ni đã giao phó trọng trách này cho Bồ Tát Ðịa Tạng,
và đây cũng chính là nỗi bi ai thứ tư của Ngài.
Các
phân thân của Bồ Tát Ðịa Tạng hợp chung lại thành một
thân, rồi rơi nước mắt mà bạch Phật rằng: "Từ số kiếp
lâu xa đến nay, con nhờ Ðức Thế Tôn tiếp độ dắt dìu,
được mười phương chư Phật từ bi tiếp dẫn, khiến con
có được thần lực chẳng thể nghĩ bàn—thứ thần lực
không thể dùng tâm trí để nghĩ suy, không thể dùng ngôn
ngữ để luận bàn—và được đầy đủ trí huệ rộng lớn."
"Thần"
là thần diệu khôn lường. "Thần lực" là thứ sức mạnh
thần diệu, mầu nhiệm khôn lường, quý vị không có cách
gì biết được. Muốn cứu độ chúng sanh thì quý vị cần
phải có thần lực; song nếu chỉ có thần lực mà không có
trí huệ, thì cũng không được; cho nên quý vị cần phải
có đầy đủ đại trí đại huệ nữa. Chúng ta dùng đại
trí huệ để chi phối thần lực, và dùng thần lực để
hỗ trợ trí huệ—trí huệ và thần lực hỗ tương hợp
tác, tương trợ lẫn nhau—nhờ vậy mới có thể cứu độ
chúng sanh.
"Các
phân thân của con thị hiện ở khắp trăm ngàn muôn ức thế
giới nhiều như cát sông Hằng, chẳng có nơi nào mà con không
hiện thân tới. Trong mỗi thế giới hóa hiện trăm ngàn muôn
ức thân, mỗi một thân đó hóa độ trăm ngàn muôn ức người."
Ở mỗi thế giới, Ðịa Tạng Vương Bồ Tát đều phân thành
vô lượng, vô biên thân; và mỗi phân thân của Ngài có thể
độ thoát cả trăm ngàn vạn ức chúng sanh, "khiến cho họ
quy kính Tam Bảo." Vì sao phải quy kính Tam Bảo? Vì tất cả
chúng sanh khi chưa quy y Tam Bảo đều được xem là còn "ở
bên ngoài." Ở bên ngoài của cái gì? Ðó là ở bên ngoài
Phật Pháp. Quy y Tam Bảo rồi tức là đã bỏ tà theo chánh,
từ bỏ bóng tối u ám để trở về với ánh sáng quang minh.
Do đó, mọi người đều cần phải quy kính Tam Bảo— quy
y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.
"Vĩnh
viễn xa lìa sanh tử, đến được Niết Bàn an lạc—chứng
được bốn cái vui Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của cõi Niết
Bàn."
"Những
chúng sanh nào ở trong Phật Pháp, dù chỉ làm việc lành bằng
chừng một sợi lông, một giọt nước, một hạt cát, một
hạt bụi, hoặc mảy lông tơ ..." Việc thiện mà bằng "một
sợi lông" tức là một việc thiện nhẹ nhất, bằng "một
giọt nước" là ám chỉ một việc thiện nhỏ nhất, bằng
"một hạt cát, một hạt bụi" là chỉ cho một việc thiện
vi tế nhất. "Một sợi lông, một giọt nước, một hạt cát,
một hạt bụi" là tượng trưng cho sự ít nhất, nhẹ nhất,
vi tế nhất, nhỏ bé nhất. Quý vị có biết một sợi lông
nặng bao nhiêu không? Rất là nhẹ, có thể nói là nhẹ nhất.
Một giọt nước thì quá ít ỏi, một hạt cát thì rất vi
tế, và một hạt bụi thì vô cùng nhỏ bé. Khi giảng Kinh
Lăng Nghiêm, tôi đã giảng về "lân hư trần"—nếu lấy một
hạt bụi (vi trần) mà chúng ta nhìn thấy được đem phân
làm bảy phần, thì biến thành "lân hư trần"—đó là thứ
nhỏ nhất, vô cùng nhỏ.
"Mảy
lông tơ" thì nhỏ hơn "một sợi lông"—sợi lông thì cũng
như sợi tóc vậy, cũng là một loại rất nhỏ; song lông tơ
trên thân người thì còn nhỏ hơn nữa.
Vậy,
Ðịa Tạng Vương Bồ Tát bạch Phật rằng: "Tất cả chúng
sanh dù chỉ làm được rất ít việc lành, hoặc việc lành
mà họ làm được thì rất nhỏ nhoi, nên họ chỉ gieo trồng
được thứ thiện căn cũng ít ỏi và nhỏ nhoi như thế mà
thôi, thì con đều độ thoát lần lần, làm cho họ được
lợi ích lớn. Con sẽ nghĩ cách để dần dần độ họ, khiến
cho họ được xa lìa khổ não, đạt sự an vui." Thế nào gọi
là "lợi ích lớn" (đại lợi)? Có phải giàu to, phát tài
tức là "được lợi ích lớn" không? Phát tài không phải
là "được lợi ích lớn"! Vậy thì làm quan chăng? Cũng không
phải!
"Ðược
lợi ích lớn" tức là được thành Phật! Quý vị nghĩ cái
"lợi ích" này có lớn lao không? Ai có thể giúp cho quý vị
thành Phật? Chính là Ðịa Tạng Vương Bồ Tát—với đại
thần lực và đại trí huệ, Ðịa Tạng Vương Bồ Tát dùng
vô số diệu pháp không thể nghĩ bàn để giáo hóa, khiến
cho quý vị dù không muốn tiếp nhận cũng không được. Cho
dù quý vị muốn bỏ cuộc và nói rằng: "Tôi không học Phật
Pháp nữa," nhưng quý vị cũng không có cách nào từ bỏ được—sự
vi diệu chính là ở chỗ này. Ai mà có thể làm cho quý vị
trở thành như thế? Chính là Ðại Nguyện Ðịa Tạng Vương
Bồ Tát, vị đại thiện tri thức của chúng ta. Ngài có rất
nhiều phương pháp diệu dụng có thể mang lại những lợi
ích to tát cho chúng sanh.
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát bạch Phật tiếp: "Con cúi mong Ðức Thế
Tôn chớ vì những chúng sanh ác nghiệp đời sau mà sanh lòng
lo lắng!" Ngài bạch cùng Ðức Phật ba lần như thế.
Ước
nguyện duy nhất của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát là mong sao
Ðức Phật khỏi phải lo nghĩ về những chúng sanh tạo nghiệp
ác trong đời sau. Vì sao Bồ Tát Ðịa Tạng lại trấn an Ðức
Phật, xin Phật chớ lo lắng nữa? Ở đây, ý của Ðịa Tạng
Vương Bồ Tát là: "Ðó là trách nhiệm của con. Xin Ðức Thế
Tôn hãy giao phó trách nhiệm này cho con. Xin Ðức Thế Tôn
chớ lo nghĩ nữa; vì nếu tất cả chúng sanh không thành Phật
thì con cũng không thành Phật. Bởi con đã lập nguyện ‘Ðịa
ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương
chứng Bồ Ðề,’ thế nên con thỉnh cầu Ðức Thế Tôn đừng
bận tâm lo lắng nữa; con sẽ gánh vác trách nhiệm này."
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát bạch với Ðức Phật như vậy và lập
đi lập lại đến ba lần—đó là biểu thị tầm trọng yếu
và trân trọng của sự việc. Nếu chỉ nói một lần thì
tỏ ra mình không hết lòng tận tụy với trách nhiệm, nói
hai lần thì chưa đủ thành khẩn, cho nên để bày tỏ lòng
trân trọng đối với sự việc này, Ðịa Tạng Vương Bồ
Tát mới bạch với Phật đến ba lần, rằng: "Con cúi mong
Ðức Thế Tôn chớ vì những chúng sanh ác nghiệp đời sau
mà sanh lòng lo lắng! Xin Ðức Thế Tôn đừng ưu tư lo nghĩ
về các chúng sanh hậu thế tạo tội gây nghiệp, bởi đã
có con là Ðịa Tạng đứng ra chịu trách nhiệm hoàn toàn.
Con nhất định sẽ độ tất cả chúng sanh nhiều nghiệp ác
đó được thành Phật."
Nói
đến đây, quý vị nghĩ lại xem chúng ta có nên mừng cho chính
mình hay không? Chúng ta tạo nghiệp tội nhiều như thế mà
vẫn có cơ hội được thành Phật; vì sao vậy? Mấy hôm trước
tôi có dự tính mua bảo hiểm cho người này người nọ, bây
giờ thì có người mua bảo hiểm cho chúng ta rồi; người
đó là ai? Chính là Ðịa Tạng Vương Bồ Tát! Ngài đã bảo
chứng trước rằng những chúng sanh tạo nhiều ác nghiệp
như chúng ta đều có thể thành Phật—như thế thì cũng như
Ngài mua bảo hiểm cho chúng ta vậy. Vì thế, chúng ta, những
người hiện đang nghe giảng Kinh Ðịa Tạng, đều không phải
lo âu nữa, mà hãy vui vẻ lên, vì tất cả chúng ta đều có
cơ hội được thành Phật. Vì sao? Vì từ trước, Bồ Tát
Ðịa Tạng đã bảo đảm cho chúng ta đều được thành Phật—Ngài
hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc này. Nếu chúng ta không
thành Phật, Ðịa Tạng Vương Bồ Tát cũng không chứng Bồ
Ðề; cho nên chúng ta đều nên phấn chấn, vui mừng.
Hôm
nay giảng đến đoạn kinh văn này, tôi cũng cảm thấy rất
hoan hỷ và có làm một bài hát bằng tiếng Anh. Bài hát này
có tựa đề là "Tôi Rất May Mắn Gặp Ðược Thiện Tri Thức."
Vị Thiện Tri Thức đó là ai? Chính là Ðịa Tạng Vương Bồ
Tát! Chúng ta được gặp Ngài và được Ngài đứng ra làm
người bảo chứng, đoan chắc rằng chúng ta sẽ được thành
Phật. Làm sao chúng ta biết được? Căn cứ vào câu nói mà
Ngài trân trọng nhắc lại đến ba lần với Ðức Phật: "Con
cúi mong Ðức Thế Tôn chớ vì những chúng sanh ác nghiệp
đời sau mà sanh lòng lo lắng"; chúng ta có thể thấy được
ân đức của Bồ Tát Ðịa Tạng đối với chúng ta vốn cao
như trời, dày như đất. Ân đức ấy quá thâm sâu, quá cao
dày; còn "cao hơn núi Tu Di và kiên cố hơn núi Tu Di" nữa.
Cảnh giới của Bồ Tát Ðịa Tạng thật không thể nghĩ bàn
vậy.
Lúc
ấy, vừa nghe Bồ Tát Ðịa Tạng bảo chứng là tất cả chúng
sanh sẽ sớm thành Phật, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni quá đỗi
vui mừng nên buột miệng khen ngợi Bồ Tát Ðịa Tạng rằng:
"Lành thay! Lành thay! Tốt lắm! Tốt lắm!" Ðức Phật nói
hai lần như thế. Bồ Tát Ðịa Tạng bạch Phật ba lần, Phật
khen ngợi Bồ Tát hai lần "lành thay, lành thay"; như vậy chứng
tỏ Phật đặc biệt xem trọng Bồ Tát Ðịa Tạng—Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát xứng đáng là một vị Ðại Bồ Tát!
"Ta
hộ trợ cho điều Ông muốn để Ông thành tựu được các
hoằng thệ nguyện đã lập từ số kiếp lâu xa đến nay."
Ðức
Phật nói: "Ta sẽ giúp Ông việc gì nào? Ta hoan hỷ giúp Ông
những việc mà Ông thích, để cho các thệ nguyện rộng lớn
mà Ông đã lập từ vô số kiếp lâu xa trở lại đây đều
chóng được thành tựu."
"Hoằng
thệ nguyện" là những lời thệ nguyện rộng lớn; tiêu biểu
là Tứ Hoằng Thệ Nguyện:
“Chúng
sanh vô biên, nguyện độ hết
Phiền
năo vô tận, nguyện trừ sạch
Pháp
môn vô lượng, nguyện học trọn
Phật
Đạo vô thượng, nguyện thành tựu.”
(Chúng
sanh vô biên, thệ nguyện độ,
Phiền
năo vô tận, thệ nguyện đoạn,
Pháp
môn vô lượng, thệ nguyện học,
Phật
Đạo vô thượng, thệ nguyện thành.)
“Chúng
sanh vô biên, nguyện độ hết” (Chúng sanh vô biên, thệ nguyện
độ). Mỗi ngày, chúng ta đều nên tự phản tỉnh: "‘Chúng
sanh vô biên thệ nguyện độ,’ thế th́ ḿnh hiện đang độ
người ta hay là người ta đang độ ḿnh? Ḿnh có độ được
chúng sanh chăng? Có phải ban đầu ḿnh tin theo đạo Phật
nhưng sau đó lại bị tôn giáo khác ‘độ’ mất?" Có thể
là sau khi quư vị tin theo đạo Phật th́ được nghe nói về
việc Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá thật cao
cả, vĩ đại, nên quư vị lại muốn theo đạo Thiên Chúa.
Nếu thế, th́ đó là quư vị bị người độ, chứ không
phải là quư vị độ được người!
Vậy,
chúng ta phải thường xuyên tự xét, xem ḿnh có đang độ
vô biên chúng sanh, đoạn vô tận phiền năo, học vô lượng
Pháp môn, và sẽ chứng đắc Phật Đạo vô thượng hay chăng.
“Phiền
năo vô tận, nguyện trừ sạch” (Phiền năo vô tận thệ
nguyện đoạn). Chúng ta cần phải tự vấn: "Ḿnh đă dứt
sạch phiền năo chưa? Nếu người nào hơi nặng lời với
ḿnh một tí th́ ḿnh có sanh ḷng sân hận hay không? Có dấy
khởi cái tâm ‘đại vô minh’ hay không?" Quư vị cần phải
quán xét, xem ḿnh có như vậy hay không. Nếu có, tức là quư
vị chưa đoạn trừ được phiền năo; c̣n nếu không có,
th́ cũng chưa thể khẳng định được là quư vị đă hết
phiền năo! Phải chờ cơ hội để thử thách thêm mới biết
chắc được quư vị có thật sự dứt sạch phiền năo hay
chưa!
Nếu
không dứt trừ phiền năo th́ việc học Phật Pháp chỉ là
h́nh thức; phải đoạn trừ được phiền năo th́ mới là
chân chánh lănh hội được nội dung của Phật Pháp, thực
sự tiến vào "biển lớn" Phật Pháp.
“Pháp
môn vô lượng, nguyện học trọn” (Pháp môn vô lượng thệ
nguyện học"). Đường vào Phật Pháp th́ vô lượng, vô biên—nói
là có tám vạn bốn ngàn pháp môn, song đó chỉ là một con
số tổng thể, chung chung; chứ thực tế làm sao chỉ có tám
vạn bốn ngàn mà thôi được? Kỳ thực, có đến vô lượng
vô biên pháp môn, cho nên nói "Pháp môn vô lượng thệ nguyện
học."
Quư
vị chớ nghĩ rằng ḿnh học Chú Lăng Nghiêm và thuộc được
Chú Lăng Nghiêm là đủ rồi! Phải biết rằng Đại Tạng
Kinh trong Phật Giáo ví như đại dương mênh mông vậy, không
thể chỉ mới học được đôi chút bằng chừng một giọt
nước, một mảy lông, một hạt cát hay một hạt bụi, mà
có thể hiểu rơ được Phật Pháp. Nếu quư vị thực sự
thấu suốt Phật Pháp và được uống nước của biển Phật
Pháp—nếu chỉ một hớp mà có thể uống cạn hết nước
trong biển ấy, th́ tức là quư vị hiểu được Phật Pháp;
nhưng nếu một hớp mà không uống cạn được nước biển
đó, th́ c̣n phải học tập rất nhiều!
“Phật
Đạo vô thượng, nguyện thành tựu.” (Phật Đạo vô thượng
thệ nguyện thành). Không cần chứng minh thì cũng biết là
chúng ta chưa thành Phật; bởi nếu thành Phật rồi thì chúng
ta không còn thắc mắc gì nữa, mọi vấn đề đều đã được
giải quyết xong xuôi. Do đó, chúng ta chớ nên chưa thành Phật
mà lại tự mạo xưng mình là Phật! Như có người khoác lác:
"Này, không phải chỉ một mình tôi là Phật thôi đâu, ông
cũng là Phật nữa đấy! Everybody is a Buddha!" Những người
như thế là "Phật" gì? Là "Phật" phiền não, "Phật" tham lam,
"Phật" sân hận, hay là "Phật" si mê? Họ là vị "Phật" nào?
Cho nên, hạng người dám thốt ra những lời ngạo mạn như
thế quả thật là không biết hổ thẹn! Quý vị không nên
chạy theo hạng người lầm lạc mà cứ tưởng mình là đúng
đó—những kẻ chưa thành Phật mà dám nói mình là Phật,
chưa đắc Ðạo mà dám nói là đã đắc Ðạo—đừng bao
giờ bắt chước những kẻ "tăng thượng mạn" ấy.
Ðức
Phật lại bảo Ðịa Tạng Vương Bồ Tát: "Việc quảng độ
xong rồi, một khi hoàn tất việc cứu độ chúng sanh rộng
lớn ấy, Ông liền chứng quả Bồ Ðề."
Vậy
thì lúc ấy là lúc nào? Bao giờ Ðịa Tạng Vương Bồ Tát
mới chứng được đạo quả Bồ Ðề? Không có thời điểm
chính xác—có thể là cho đến lúc cùng tận của đời vị
lai. Như thế là Ðịa Tạng Vương Bồ Tát sẽ chẳng bao giờ
chứng được Bồ Ðề sao? Ðiều này thì quý vị khỏi phải
bận tâm, bởi thật ra, Ðịa Tạng Vương Bồ Tát đã chứng
quả Bồ Ðề từ nhiều kiếp lâu xa về trước rồi. Nếu
chưa chứng đắc đạo quả Bồ Ðề thì Ngài không thể nào
có được thần lực và trí huệ quảng đại đến thế—đây
quả là một thứ cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn. Cho nên,
quý vị chớ lo rằng Ðịa Tạng Vương Bồ Tát sẽ không khi
nào chứng được Bồ Ðề—Ngài đã chứng Bồ Ðề từ lâu
lắm rồi! Bây giờ là Ngài chỉ còn đợi cho quý vị chứng
quả Bồ Ðề, đợi tôi chứng quả Bồ Ðề và đợi cho tất
cả chúng sanh đều chứng quả Bồ Ðề nữa mà thôi. Do đó,
chúng ta cần phải tinh tấn, dõng mãnh tu học để sớm chứng
được đạo quả Bồ Ðề.
"Bồ
Ðề" là gì? Tại sao chúng ta cần phải "chứng Bồ Ðề"?
Và "chứng Bồ Ðề" để làm gì? "Bồ Ðề" là phiên âm từ
tiếng Phạn, và được dịch là "giác." Thế thì, "giác" nghĩa
là gì? "Giác" là tỉnh thức, sáng suốt, không mê muội hồ
đồ. Vừa rồi có người nói rằng "giác" tức là không còn
vô minh—đúng đấy! Chúng ta phải mau mau đoạn trừ những
vô minh của mình thì mới mong sớm chứng được đạo quả
Bồ Ðề!