Quyển
Thượng
Phẩm
Thứ Nhất
Thần
Thông Trên Cung Trời Ðao Lợi
Ðây
là phẩm mở đầu của Kinh Ðịa Tạng. "Ðao Lợi" là tiếng
Phạn, Trung Hoa dịch là "tam thập tam", tức là chỉ cõi trời
Ba Mươi Ba. Như thế, có phải trời Ðao Lợi nằm ở tầng
thứ ba mươi ba không? Không phải! Tuy gọi là cõi trời "Ba
Mươi Ba", nhưng đó không phải do đếm từ dưới lên trên
theo thứ tự, như tầng trời thứ nhất, tầng trời thứ hai,
rồi đến tầng trời thứ ba,... cho tới tầng trời thứ ba
mươi ba. Vậy thì như thế nào? Cõi trời Ba Mươi Ba này vốn
nằm chính giữa, và ở bốn phía đông tây nam bắc của cõi
trời này thì mỗi phía lại có tám cõi trời. Do đó, tổng
cộng có ba mươi hai cõi trời phân bố chung quanh cõi trời
Ba Mươi Ba.
Thiên
chủ của cõi trời Ba Mươi Ba là Ðế Thích. Trong Kinh A Di
Ðà có nói đến "Thích Ðề Hoàn Nhân", tức là vị Ðế Thích
này vậy. Ngoài ra, trong Chú Lăng Nghiêm có câu "Nam Mô Nhân
Ðà La Da", thì Nhân Ðà La Da cũng chính là Thiên Chủ Ðế
Thích. Ở cõi trời thì Ðế Thích là một vị Thiên Chủ;
còn trong Phật Giáo thì Ngài là một vị Hộ Pháp - Ngài chẳng
những không được làm chủ mà ngay cả tòa sen để ngồi
cũng không có nữa, Ngài chỉ đứng ở ngưỡng cửa mà thôi!
Thiên
Chủ Ðế Thích cũng chính là đấng "Thượng Ðế Vạn Năng"
mà người đời thường xưng tụng. Ðúng vậy, Ðế Thích
quả là một "đấng vạn năng" - Ngài cai quản tất cả mọi
việc ở cõi trời cũng như ở cõi người. Tuy nhiên, giữa
Ngài và người thế gian chúng ta chẳng có gì khác biệt lắm.
Vì sao? Vì Ngài vẫn còn tâm dâm dục, và vẫn cần ăn uống,
ngủ nghỉ; có khác chăng là ba thứ dục vọng ấy ở Ngài
thì nhẹ và tinh tế, chứ không nặng nề và thô thiển như
ở phàm phu chúng ta! Người thế gian chúng ta chỉ không ăn
không uống vài bữa là chịu không nổi, vài ngày không dâm
dục là cảm thấy khó chịu, vài hôm không ngủ nghỉ là thấy
uể oải, bạc nhược. Còn Trời Ðế Thích thì một trăm ngày
không ăn cũng được; thậm chí hai trăm ngày, ba trăm ngày,
hoặc một năm mới ăn một lần cũng chẳng sao; suốt năm
không ngủ cũng vẫn tỉnh táo như thường, và quanh năm không
dâm dục cũng chẳng lấy làm phiền - tuy nhiên, Ngài vẫn chưa
đoạn trừ được dục vọng.
Tuổi
thọ của chư thiên ở cõi trời Ðao Lợi là một ngàn năm.
Một trăm năm của cõi nhân gian chúng ta chỉ là một ngày
một đêm ở cõi trời Ðao Lợi. Vậy, quý vị thử tính xem,
so với người thế gian chúng ta thì thọ mạng của chư thiên
lâu hơn được bao nhiêu năm?
Cõi
trời Ðao Lợi rộng tám vạn do-tuần; tất cả tường vách
của thành trì nơi đây đều được làm bằng bảy thứ báu.
Thành trì của Thiên Chủ Ðao Lợi Thiên là Thiện Kiến Thành,
rộng sáu vạn do-tuần; và tất cả cung điện đều được
xây bằng những vật liệu quý báu nhất. Ðây cũng là lý
do khiến Thiên Chủ Ðế Thích sau khi được sanh về đó rồi
thì chỉ muốn ở lại làm chúa trời, chứ không muốn "dọn
nhà" đi nơi khác! Mọi thứ xung quanh Ðế Thích toàn làm bằng
châu báu; ngay cả nhà cửa phòng ốc cũng được kiến tạo
bằng những vật liệu vô cùng quý giá.
Vì
được sống ở một nơi đẹp đẽ với những cung điện
tráng lệ như thế, nên Ðế Thích khó thể dứt bỏ dục tâm.
Ngài lấy làm thỏa mãn, an nhiên hưởng thụ phước trời,
và cho rằng đó là nơi vui sướng nhất. Chẳng những thế,
Ngài còn kêu gọi tất cả chúng sanh hãy sanh về "thiên quốc"
- thế giới của Ngài. Ðối với Ngài, cõi trời Ðao Lợi
là một thế giới đầy vui thú; do đó, ai thích thì cứ đến
ở, Ngài sẵn lòng hoan nghênh tất cả. Ngài cho rằng Ngài
rất khảng khái, rộng lượng, vì lúc nào cũng hoan hỷ nghênh
đón mọi người đến ở và cùng an hưởng phước lạc của
cõi trời với Ngài; song le, Ngài không biết rằng sở dĩ bản
thân mình chưa thoát khỏi vòng sanh tử là bởi mình còn tham
đắm dục lạc!
Vì
sao Ngài được làm Thiên Chủ? Có phải là trước tiên thì
làm Ðịa Chủ (chúa đất), rồi sau đó được thăng chức
làm Thiên Chủ (chúa trời)? (Ở Quảng Châu, Trung Hoa, hầu
như nhà nào cũng có thờ Ðịa Chủ cả.) Hay là phải từ
địa vị Ðịa Chủ rồi lên Nhân Chủ (chúa nhân gian), sau
đó mới từ Nhân Chủ mà thăng lên làm Thiên Chủ? Không phải!
Thế thì nhờ đâu mà Ngài được làm Thiên Chủ?
Vào
thời Ðức Phật Ca Diếp, vị chúa trời Ðế Thích này là
một người con gái từng phát tâm xây cất ngôi tháp thờ
Phật Ca Diếp. Do nhân duyên gì mà cô phát tâm như thế? Thuở
ấy, nhân thấy một ngôi miếu đổ nát, mất nóc, và trong
miếu có pho tượng Phật đã bị mưa gió làm loang lổ lớp
vàng thếp trên mặt, cô cảm thấy rất đau lòng: "Chao ôi!
Tượng Phật này đã bị nhện giăng bụi bám, bây giờ lại
còn phải chịu cảnh gió táp mưa sa, tôi thật không đành
lòng!". Thế là cô ta phát tâm sửa sang ngôi cổ miếu ấy
lại cho trang nghiêm. Tuy nhiên, vì không có tiền, cô ta bèn
tìm đến bạn bè và những người thân thuộc, nói với họ
rằng: "Tôi muốn xây dựng lại ngôi cổ miếu nọ nhưng không
có tiền, chẳng hay quý vị có thể giúp tôi một tay không?
Quý vị ai có người thân thì kêu gọi người thân, ai có
bạn bè thì kêu gọi bạn bè; chúng ta hãy hợp lực để làm
một việc từ thiện, cùng nhau trùng tu ngôi cổ miếu này."
Bạn
bè và bà con quyến thuộc của cô gái này đều hăng hái hưởng
ứng: "Ðược, tất cả chúng ta hãy hợp tác để trùng tu
ngôi cổ miếu!". Cô ta tìm được ba mươi hai người có cùng
một tâm nguyện với mình, và có lẽ tất cả đều là nữ
giới. (Ðiều này không thể kiểm chứng qua lịch sử, cũng
chẳng thể tra cứu ở đâu được!) Cho dù có phái nam tham
gia thì con số cũng rất ít; vì sao ư? Vì nam giới thường
tự cho là mình tài giỏi, không thích việc xây chùa dựng
tháp, lại còn bảo rằng họ nhường công việc đó cho phái
nữ!
Sau
khi cô gái khởi xướng và ba mươi hai người nữ ấy hoàn
tất việc trùng tu ngôi cổ miếu, họ còn cùng nhau cất thêm
một bảo tháp nữa. Họ cứ kẻ góp công người góp của,
ai nấy đều tùy theo khả năng của mình mà góp phần, nhờ
đó việc xây dựng ngôi bảo tháp cũng được thành tựu viên
mãn. Ðến khi thọ mạng của ba mươi ba người này đã hết,
tất cả đều được sanh lên cõi trời. Lên trời thì mỗi
người một cõi, cho nên ba mươi ba người thì có ba mươi
ba cõi trời. Vị Thiên Chủ của cõi trời trung ương Ba Mươi
Ba - Ðao Lợi Thiên - là Ðế Thích, tức là cô gái khởi xướng
việc trùng tu ngôi cổ miếu thuở trước. Ðó là sự tích
của cung trời Ðao Lợi.
"Trời"
có nghĩa là gì? Không có nghĩa gì cả; bởi nếu có nghĩa
thì đã không gọi là "trời"! Vì sao không có nghĩa? "Trời"
lấy "tự nhiên" làm nghĩa; "tự nhiên" là ý nghĩa của "trời".
Những cõi trời này là do nghiệp báo, nghiệp lực của ba
mươi ba người ấy cảm ứng mà hóa hiện ra. Nếu không có
ba mươi ba người ấy, thì ba mươi ba cõi trời này cũng chẳng
hiện hữu; cho nên tôi nói "trời" không có ý nghĩa là vì
vậy. Ước vọng được lên cõi trời là một điều không
có ý nghĩa, do đó chúng ta không nên cầu mong được đến
ba mươi ba cõi trời ấy.
"Cung"
tức là cung điện với lối kiến trúc nguy nga tráng lệ, vô
cùng xinh đẹp. Tại Trung Quốc cũng còn một vài cung điện,
song cung điện ở cõi trời thì tráng lệ và đẹp đẽ hơn,
lộng lẫy không thể nói hết.
"Thần
Thông". Thế nào gọi là "thần"? Thế nào gọi là "thông"?
"Thần" là "thiên tâm", là tâm của trời; "thông" là "huệ
tánh", tức là có trí huệ. "Thông" còn là "thông đạt vô
ngại" - chẳng có gì không thông suốt; và "thần" cũng hàm
ý thần kỳ bí ẩn.
Thần
thông có sáu loại - sáu loại cũng là một loại, một loại
mà phân làm sáu loại. Cho nên, tách riêng ra thì có tới sáu
loại, song hợp lại thì chỉ là một. Thật ra, một loại
cũng chẳng có nữa, bởi xưa nay vốn không có thần thông
mà vốn cũng có thần thông!
Vì
sao nói "vốn không có thần thông"? Vì sao lại nói "vốn cũng
có thần thông"? Ðiều này rất kỳ diệu, lý thú. Bây giờ,
chúng ta hãy nói về sáu loại thần thông trước, rồi sau
đó sẽ bàn đến "vốn là thần thông, vốn không phải là
thần thông; vốn là một loại thần thông, vốn là một loại
thần thông cũng chẳng có."
Sáu
loại thần thông chính là Thiên Nhãn Thông, Thiên Nhĩ Thông,
Tha Tâm Thông, Túc Mạng Thông, Lậu Tận Thông, và Thần Túc
Thông.
1)
Thiên Nhãn Thông. Người chứng được Thiên Nhãn Thông có
thể nhìn thấy khắp cả ba ngàn đại thiên thế giới rõ
ràng như nhìn quả am-ma-la trong lòng bàn tay vậy. Trong hàng
đệ tử của Phật, Tôn Giả A Na Luật là bậc đứng đầu
về Thiên Nhãn Thông.
2)
Thiên Nhĩ Thông. Chứng được Thiên Nhĩ Thông thì có thể
nghe được mọi âm thanh từ cõi nhân gian cho đến tận ba
ngàn đại thiên thế giới, luôn cả các âm thanh của cõi
trời.
3)
Tha Tâm Thông. Ðây là khả năng đọc được ý nghĩ của người
khác. Tất cả những việc mà quý vị dự tính trong đầu,
định sẽ thực hiện, thì cho dù quý vị chưa hề thổ lộ
với ai cả, nhưng người đã chứng đắc Tha Tâm Thông vẫn
có thể biết rõ.
4)
Túc Mạng Thông. Người chứng đắc Túc Mạng Thông có khả
năng biết được tất cả những việc - thiện cũng như ác
- mà quý vị đã tạo tác trong các đời trước.
5)
Thần Cảnh Thông (cũng gọi là Thần Túc Thông hoặc Như Ý
Thông). Chữ "thần" này đồng nghĩa với chữ "thần" vừa
giảng ở trên, và cũng chỉ cho một cảnh giới kỳ diệu,
không thể nghĩ bàn. Ý nghĩa của chữ "thần" và chữ "diệu"
có đôi chút tương đồng; cho nên có lúc nói "thần diệu
khôn lường", chính là ám chỉ một thứ cảnh giới không
thể nghĩ bàn.
"Cảnh"
là cảnh giới; còn "thông" là thông đạt vô ngại, vốn không
thông mà lại thông. Thí dụ, bức tường chắn ngang tuy có
gây trở ngại, nhưng nếu quý vị khoét một lỗ hổng thì
sẽ được thông lưu. Tương tự như thế, "bức tường" vô
minh gây chướng ngại, ngăn che ánh sáng quang minh của tự
tánh trong chúng ta; song, nếu quý vị có thể dùng "gươm" trí
huệ của mình để phá vỡ bức tường đó, thì sẽ được
thông suốt ngay.
6)
Lậu Tận Thông. Chúng ta vì sao chưa thành Phật? Bởi vì chúng
ta vẫn còn "lậu hoặc"! Chúng ta vì sao chưa thể làm Bồ Tát?
Bởi vì "lậu hoặc" vẫn tồn tại trong chúng ta! Chính vì
lậu hoặc mà chúng ta phải trầm luân trong Tam Giới - Dục
Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới. Chẳng những thế, các
lậu hoặc này còn khiến cho chúng ta bị lưu lạc, nổi trôi
trong chín Pháp Giới. Chín Pháp Giới là gì? Ðó là chín cõi
giới của Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, Thiên (Trời), Nhân
(Người), A Tu La, Ðịa Ngục, Ngạ Quỷ và Súc Sanh. Chúng sanh
trong chín Pháp Giới này chưa thể thành Phật được là vì
họ còn có lậu hoặc; nếu không còn lậu hoặc nữa thì nhất
định sẽ thành Phật.
Lậu
hoặc này do đâu mà có? Chính là do vô minh! Cho nên, hễ diệt
trừ được vô minh thì lậu hoặc sẽ không còn nữa; nếu
vô minh chưa bị phá hủy thì lậu hoặc vẫn còn tồn tại.
Do vậy, người chứng được Lậu Tận Thông chẳng có bao
nhiêu. Một khi không còn lậu hoặc thì quý vị sẽ không còn
phải trôi lăn trong vòng sanh tử nữa. Tại sao chúng ta vẫn
còn luẩn quẩn trong vòng sanh tử? Ðó là vì chúng ta có lậu
hoặc! Người có lậu hoặc ví như cái bình bị lủng vậy
- quý vị muốn đổ nước cho đầy bình, nhưng nước cứ
rỉ ra ngoài theo chỗ lủng, bình không thể giữ được nước.
Cho nên, dứt sạch mọi mối lậu tức là được "lậu tận
thông" vậy.
Nói
rằng con người "vốn không có thần thông", là ám chỉ lúc
chúng ta còn là phàm phu, chưa hiện thần thông. Lại nói rằng
con người "xưa nay vốn có thần thông", bởi y cứ vào quả
vị của bậc Thánh nhân mà nói thì thần thông vốn đã có
sẵn. Hạng phàm phu thì không có thần thông, bậc Thánh nhân
mới có thần thông. Thần thông của Thánh nhân phải chăng
là đến từ bên ngoài? Không, đó là có sẵn! Thế thì phàm
phu không có thần thông, phải chăng là vì họ đã đánh mất?
Cũng không phải, bởi thần thông ấy vẫn tiềm tàng trong
tự tánh của phàm phu; chẳng qua là họ chưa phát hiện ra,
chưa nhận thức được, nên tưởng rằng mình không có mà
thôi! Cho nên, tôi nói "vốn không có thần thông" là vì lẽ
ấy.
Có
thần thông hay không có thần thông đều chẳng quan trọng.
Quý vị chớ lầm tưởng rằng có thần thông tức là đắc
Ðạo hoặc chứng được quả vị. Phải biết rằng có được
thần thông rồi vẫn còn ở cách sự chứng quả và đắc
Ðạo rất xa! Chúng ta không nên mới đạt được đôi chút
thành tựu liền tự mãn: " - , phen này tôi phát tài rồi!"
Mới có được một lượng vàng mà đã reo mừng rối rít,
cho là mình phát tài; trong khi người ta có tới hàng ngàn hàng
vạn lượng vàng thì lại không hề khoe khoang, vẫn bình thản
như không có gì cả vậy! So với người ta thì việc mình
có được một lượng vàng có gì là to tát đâu? Có câu:
“Được
ít cho là đủ, nửa đường tự ngừng”
(Đắc
thiểu vi túc, trung đạo tự hoạch)
Những
kẻ chỉ mới gặt hái được một vài thành quả nhỏ nhoi
mà ngỡ là nhiều lắm, thì chẳng khác nào tự vẽ sẵn mức
đường giới hạn cho mình ở nửa đường, đến mức đó
thì ngừng lại, không lướt tới nữa. Ðó là cảnh giới
của hàng Nhị Thừa, chứ không phải là căn tánh Bồ Tát
của Ðại Thừa. Cho nên, đừng nghĩ rằng có thần thông là
tài giỏi. Nếu quý vị có thần thông rồi tự phụ, cho rằng
mình tài giỏi hơn người, thì quý vị còn quá nông nỗi -
bởi như thế là quý vị vẫn còn tâm chấp trước, còn lòng
tự mãn.
Kinh
văn:
Tôi
nghe như vầy: Một thuở nọ, tại cung Trời Ðao Lợi, Ðức
Phật vì Thánh Mẫu mà thuyết Pháp.
Lược
giảng:
Tôi
nghe như vầy. Hiện tại (1968), chúng ta khai đàn giảng Kinh
Kim Cang, Kinh Ðịa Tạng và Kinh Pháp Hoa trong cùng một thời
điểm, cho nên bốn chữ "Tôi nghe như vầy" sẽ được giảng
đi giảng lại đến ba lần.
"Như
vầy" hay "như thị", vốn là từ "chỉ pháp"; ngụ ý rằng
pháp như vậy thì tin được, còn pháp không như vậy thì không
đáng tin. Hiện tại, pháp này gọi là pháp "như thị" - đây
là thứ pháp đáng tin cậy. "Như thị" cũng là từ "ấn khả",
khẳng định rằng (Pháp) đích thực là như vầy, tuyệt đối
không được sửa đổi.
"Tôi
nghe như vầy" chính là đáp án của Ðức Phật cho một trong
bốn vấn đề mà Tôn Giả A Nan đã thỉnh vấn trước khi
Phật nhập Niết Bàn. Lúc bấy giờ, sau khi hay tin Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni sắp nhập Niết Bàn, Tôn Giả A Nan khóc đến
nỗi đầu váng mắt hoa, tâm trí bấn loạn, quên bẵng hết
mọi việc. Trong khi đó, Tôn Giả A Na Luật, nhục nhãn tuy
không còn song Thiên Nhãn rất sáng tỏ, thì lại hết sức
trầm tĩnh; Ngài căn dặn Tôn Giả A Nan phải thỉnh vấn Phật
về bốn việc:
- Thứ
nhất, khi kết tập kinh điển, mở đầu văn kinh nên dùng
chữ gì làm tiêu biểu cho tất cả kinh tạng;
- Thứ
hai, khi Phật còn tại thế thì các đệ tử đều an trú cùng
một nơi với Phật, vậy sau khi Phật nhập Niết Bàn thì họ
phải sống với ai;
- Thứ
ba, khi Phật còn trụ thế thì Phật là Thầy, vậy sau khi Phật
nhập Niết Bàn thì nên tôn ai làm Thầy;
- Thứ
tư, nên đối phó như thế nào với các Tỳ Kheo có tánh tình
xấu ác?
Khi
ấy, Ðức Phật trả lời rằng:
- Thứ
nhất, khi kết tập kinh tạng, hãy dùng bốn chữ "Tôi nghe
như vầy" (Như thị ngã văn) để mở đầu cho tất cả các
bộ kinh;
- Thứ
hai, hãy nương theo Tứ Niệm Xứ mà an trú. Tứ Niệm Xứ chính
là Thân, Thọ, Tâm và Pháp - quán thân bất tịnh, quán thọ
thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã;
- Thứ
ba, khi Phật còn tại thế thì Ðức Phật là Thầy; Phật nhập
Niết Bàn rồi thì lấy Ba La Ðề Mộc Xoa (Giới) làm Thầy
- đây là Thầy của tất cả Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni;
- Thứ
tư, hãy dùng phương pháp "mặc tẫn" để đối phó với các
Tỳ Kheo tánh ác. "Mặc" nghĩa là làm thinh, không nói chuyện
với họ; còn "tẫn" là làm lơ, không để ý đến họ nữa.
Câu
"Tôi nghe như vầy" được dùng nhằm xóa tan mọi nghi vấn
trong lòng đại chúng. Lúc Ðại Hội Kết Tập Kinh Tạng khai
mạc, Tôn Giả A Nan không được mời tham dự. Sau đó, khi
đã chứng được Tứ Quả A La Hán, vì không có ai mở cửa
cho vào, Tôn Giả A Nan bèn đi xuyên qua cửa và tiến vào hội
trường để tham gia Ðại Hội Kết Tập Kinh Tạng. Những
người tham dự cuộc kết tập kinh tạng tuy đã chứng quả,
nhưng trí nhớ của họ đều không bằng Tôn Giả A Nan. Ngài
A Nan là "đại quyền thị hiện" - giấu thật hiện quyền,
thị hiện thiện xảo phương tiện. Tôn Giả A Nan đã từng
làm thị giả cho tất cả chư Phật xuất thế trong quá khứ,
được thân cận hết thảy chư Phật. Khi Ðức Phật Thích
Ca Mâu Ni thành Phật, Tôn Giả A Nan cũng xuất thế để làm
thị giả cho Phật; và vị thị giả ấy chính là người được
chuẩn bị cho công cuộc kết tập kinh tạng sau này.
Ðương
thời, lúc Tôn Giả A Nan vừa bước lên Pháp tòa, trong đại
chúng lập tức dấy khởi ba mối nghi ngờ:
- Thứ
nhất, họ nghi đó là Phật Thích Ca Mâu Ni sống lại, ngờ
rằng Phật chưa nhập Niết Bàn. Vì khi Tôn Giả A Nan lên Pháp
tòa sư tử để kết tập kinh tạng, Ngài thị hiện tướng
hảo trang nghiêm, tướng mạo giống hệt Ðức Phật, chỉ
thấp thua Phật ba lóng tay mà thôi, cho nên đại chúng mới
ngờ rằng đó là Phật Thích Ca Mâu Ni sống lại.
- Thứ
hai, hoài nghi đó là Ðức Phật từ phương khác đến.
- Thứ
ba, hoài nghi Tôn Giả A Nan đã chứng quả, thành Phật.
Tuy
nhiên, khi Tôn Giả A Nan vừa thốt ra bốn tiếng "Tôi nghe như
vầy" thì ba nỗi hoài nghi ấy liền tan biến, không còn vướng
mắc trong tâm trí mọi người nữa.
Câu
"Tôi nghe như vầy" được dùng bởi bốn nguyên do:
1)
Dứt trừ mọi nghi ngờ (Đoạn chúng nghi);
2)
Tuân theo lời dặn ḍ của Đức Phật (Tuân Phật chúc);
3)
Chấm dứt mọi tranh căi (Tức tranh luận).
Khi
kết tập kinh tạng, ngài A Nan tuổi vẫn còn rất trẻ. Một
người trẻ tuổi mà đứng ra chủ trì việc kết tập kinh
tạng thì e rằng những bậc Trưởng Lão như Tôn Giả Ca Diếp,
Kiều Trần Như, Tu Bồ Ðề sẽ nói: "Ông còn trẻ người
non dạ như thế thì đã có kinh nghiệm, kiến thức gì đâu
mà đòi kết tập kinh điển?"
Nếu
Ngài A Nan nói kinh điển là do chính Ngài tự viết ra thì sẽ
không tránh khỏi sự tranh luận: "Những điều ông nói hoàn
toàn không đúng, Ðức Phật không hề nói như vậy!" Nhưng
khi Ngài A Nan tuyên bố "Tôi nghe như vầy," thì mọi người
đều không tranh cãi; vì sao? Vì bốn chữ ấy ngụ ý rằng
tất cả những gì Ngài A Nan sắp sửa nói ra chỉ là tuyên
thuyết lại những điều mà chính Ngài đã được nghe từ
kim khẩu của Ðức Phật, chứ hoàn toàn không phải do Ngài
bịa đặt; nhờ thế mà chấm dứt mọi tranh luận!
4)
Để khác biệt với ngoại đạo (Dị ngoại đạo):. Lư thuyết
mà các Luận Sư ngoại đạo thường dùng là: "Tất cả vạn
pháp của thế gian đều không ngoài hai chữ 'hữu (có), vô
(không)'."
Nếu
nói "có," tức là vạn pháp đều hiện hữu; c̣n nói "không,"
tức là vạn pháp đều không hiện hữu. Bởi họ cho rằng
hết thảy các pháp đều nằm trọn trong một chữ "có" và
một chữ "không," nên kinh điển ngoại đạo dùng hai chữ
"A, Hạ" làm mở đầu cho văn kinh. "A" có nghĩa là "không",
và "hạ" nghĩa là "có".
Do
đó, nhằm phân biệt với ngoại đạo, Đức Phật dạy phải
dùng bốn chữ "Tôi nghe như vầy" để mở đầu cho văn kinh,
ư nói rằng: "Chính tôi, A Nan, từng được nghe Phật nói Pháp
như thế này".
Phàm
kinh điển do Phật thuyết đều hội đủ sáu điểm để thành
tựu cho toàn Kinh, gọi là Sáu Lọai Thành Tựu (Lục Chủng
Thành Tựu):
1)
Tin cậy (Tín). "Như vầy" biểu thị thành tựu về tin cậy
(Tín thành t ựu).
2)
Nghe (Văn). "Tôi nghe" biểu thị thành tựu về nghe (Văn thành
tựu). V́ sao không nói "tai nghe" mà lại nói là "tôi nghe"?
V́ "tôi" là từ tổng xưng cho một thân thể, cho nên dùng
"tôi" để tiêu biểu cho cả sáu căn.
3)
Thời điểm (Thời). "Một thuở nọ" (nhất thời) biểu thị
thành tựu về thời điểm (Thời thành tựu). Tại sao không
nói rơ là Phật thuyết Pháp vào ngày nào, tháng nào, năm nào,
mà chỉ nói chung chung là "một thuở nọ"? Bởi v́ quốc tế
lịch số không đồng nhất - có khi nơi này là tháng chạp
th́ nơi khác lại đang là tháng hai, ở nước nọ là tháng
giêng th́ ở nước kia lại đang là tháng ba hoặc tháng tư...
- cho nên trong kinh điển của Phật chỉ nói là "một thuở
nọ" mà thôi. Có một thời điểm như thế này, th́ đây là
thành tựu về thời điểm
4)
Chủ. "Đức Phật" biểu thị thành tựu về chủ (Chủ thành
tựu). Phật thì tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Bởi
tam giác viên mãn, vạn đức đủ đầy, nên gọi là "Phật".
"Ðức Phật" này chính là Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, Giáo
Chủ cõi Ta Bà.
Thật
ra, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thành Phật từ vô lượng
kiếp về trước; nhưng vì nhận thấy chúng sanh ở cõi Ta
Bà - Nam Thiệm Bộ Châu - cơ duyên đã thành thục, cho nên
Ngài đến thị hiện thành Phật, hầu khiến tất cả chúng
sanh cũng đều thành Phật, thoát khỏi sanh tử. Giáo pháp mà
Ðức Phật thuyết giảng đều là chân thật, không hư dối,
tất cả chúng sanh chúng ta cần phải trân trọng thọ lãnh.
Nếu chúng ta xem những lời giáo huấn của Ðức Phật như"gió
thoảng qua tai," vào tai này rồi ra tai kia, ắt sẽ không được
chút lợi ích nào cả. Do đó, chúng ta cần phải thực sự
áp dụng, chân chánh thực hành đúng theo giáo pháp, không được
có một mảy may hư dối dù nhỏ như đường tơ kẽ tóc -
nhất định phải hoàn toàn chân thật.
5)
Nơi chốn (Xứ). "Cung trời Đao Lợi" biểu thị thành tựu
về nơi chốn (Xứ thành tựu).
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni lên cõi trời Ðao Lợi là để độ thân
mẫu. Sau khi Phật ra đời được bảy ngày, thì thân mẫu
của Phật là Ma Da Phu Nhân qua đời và sau đó được sanh
lên cõi trời Ðao Lợi. "Ma Da" (Maya) là tiếng Phạn, Trung Hoa
dịch là "Ðại Thuật", và cũng là "Huyễn". Thánh Mẫu Ma Da
từng là mẹ của ngàn đức Phật trong thời quá khứ, là
đấng sanh thành của tất cả chư Phật xuất thế.
Thánh
Mẫu làm mẹ của Ðức Phật, đến khi Ðức Phật thành Phật
lại đi thuyết pháp để độ Thánh Mẫu - đây có thể ví
như một vở tuồng ở nhân gian chúng ta vậy. Thế gian này,
nếu quý vị hiểu rõ thì sẽ thấy tất cả đều giống như
một vở kịch, mà các tình tiết, các màn diễn trong đó đều
nói lên chân đế của cuộc đời, một thứ chân lý của
nhân sinh. Nếu thấu suốt được một chân lý này, thì quý
vị cũng sẽ thông hiểu được chân lý kia. Cho nên, những
kẻ không hiểu mà xem kịch thì chỉ thấy các tình tiết diễn
tiến cùng những cảm xúc vui buồn tan hợp, hoặc vui mừng,
đau đớn, xót xa, sợ sệt, yêu thương, ganh ghét, thù hận,
mong cầu... của vở kịch. Còn người sáng suốt, từng trải
thì sao? Họ biết rằng đó chỉ là một vở kịch và tất
cả vốn như huyễn như hóa - đời người chẳng qua là như
thế mà thôi! Kinh Kim Cang có dạy:
"Tất
cả pháp hữu vi,
Như
mộng huyễn, bọt nước,
Như
sương mai, điện chớp,
Nên
quán tưởng như vậy."
Thế
nên, việc giáo hóa chúng sanh đối với Phật cũng là Du Hý
Tam Muội, Phật không xem đó là điều đáng kể. Phật không
như phàm phu chúng ta - chấp đông chấp tây, chấp nam chấp
bắc, chấp trên chấp dưới, không thấy được tất cả đều
là viên dung vô ngại. Kỳ thực, mọi cảnh giới chẳng qua
đều là giả dối, không thật; nếu quý vị không có được
cái nhìn như vậy, tức là còn chấp trước.
6)
Chúng. "V́ Thánh Mẫu mà thuyết pháp" biểu thị thành tựu
về chúng (Chúng thành tựu).
Phật
Mẫu Ma Da Phu Nhân là mẹ của cả ngàn đức Phật; và mỗi
đức Phật sau khi thành Phật đều lên cõi trời Ðao Lợi
thuyết Pháp cho mẫu thân nghe.
Phật
thuyết Pháp cần phải có Luân Vương (tức Chuyển Luân Thánh
Vương) hoặc Ðế Thích đến thỉnh Pháp; thế thì lần này
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni lên cõi trời Ðao Lợi thuyết Pháp,
là do ai cung thỉnh? Ðó là do thân phụ của Phật cung thỉnh.
Thân phụ của Phật, tức Luân Vương, nói với Phật rằng:
"Xin Phật hãy đến cõi trời Ðao Lợi thuyết Pháp để cứu
độ Phật Mẫu". Ðây là Luân Vương thỉnh cầu Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni thuyết Pháp.
Cũng
có sách chép là do Ðế Thích, thiên chủ cõi trời Ðao Lợi,
thỉnh Pháp. Ngài vốn là cô gái nghèo tu sửa tháp miếu thuở
xưa, và nhờ công đức ấy mà được làm Thiên Chủ Ðế
Thích. Nhân biết được thân mẫu của Ðức Phật cũng ở
cõi trời Ðao Lợi, Ðế Thích bèn thỉnh Phật đến đó thuyết
Pháp. Có sách thì chép như vậy; song, bất luận thế nào,
nói tóm lại là Phật thuyết Pháp thì phải có người thỉnh
Pháp.
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp gì cho Phật Mẫu nghe? Phật
thuyết Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, một giáo pháp
về hiếu đạo.
Chúng
ta, ai ai cũng phải hiếu thảo với cha mẹ; vì sao? Vì cha mẹ
là gốc rễ của con người - chúng ta hiếu thảo với cha mẹ
thì cũng giống như tự chăm bón, vun bồi cái gốc của chính
mình vậy. Cho nên, kẻ bất hiếu thì tương lai chắc chắn
chẳng có triển vọng gì. Người biết hiếu thảo với cha
mẹ, tức là biết chăm sóc, bồi đắp gốc rễ của mình
cho vững chắc, thì tiền đồ nhất định sẽ huy hoàng, xán
lạn. Có câu:
“Gốc
vững cành nhiều, rễ sâu lá tốt.”
(Bổn
cố chi vinh, căn thâm diệp mậu.)
Nghĩa
là cái gốc mà được vun phân tưới nước, chăm sóc kỹ
lưỡng thì cây sẽ đâm chồi nẩy lộc; rễ mà bám sâu vào
đất thì cành lá sẽ sum xuê, tươi tốt.
Như
vậy, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni vì mẹ mà tuyên thuyết giáo
pháp về hiếu đạo này. Và, phần tiếp theo sau là các đạo
lý mà Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết giảng cho Thánh Mẫu
nghe.
Kinh
văn:
Lúc
ấy, không thể nói hết không thể nói hết tất cả chư Phật
và Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát trong vô lượng thế giới ở mười
phương đều đến hội họp...
Lược
giảng:
"Vô
lượng thế giới ở mười phương" là thuộc về Y Báo; "không
thể nói hết không thể nói hết tất cả chư Phật và Ðại
Bồ Tát Ma Ha Tát" là Chánh Báo. "Người" là Chánh Báo, "thế
giới" là Y Báo - đó gọi là "Y, Chánh Nhị Báo."
"Lúc
ấy" (nhĩ thời) tức là đương thời, lúc bấy giờ. Nay tôi
dùng năm thứ thời điểm để giảng, vì có năm cách giải
thích từ ngữ "lúc ấy" này:
1)
Lúc muốn nói (dục thuyết thời), lúc đương nói (chánh thuyết
thời), lúc nói xong (dĩ thuyết thời). "Lúc ấy" tức là chỉ
cho thời điểm mà Phật bằng lòng thuyết Pháp, muốn nói
Pháp. "Lúc ấy" lại là đúng ngay lúc Phật muốn thuyết thứ
Pháp về hiếu đạo; và"lúc ấy" cũng chính là khi Phật đã
nói xong Pháp hiếu đạo đó. Ðây là cách giải thích thứ
nhất về từ "lúc ấy."
2)
Lúc phá ngoại đạo. Những pháp mà hàng ngoại đạo nói thì
không có quá khứ, cũng chẳng có hiện tại hoặc vị lai;
mà chỉ nói một cách chung chung, rất mơ hồ. Cho nên, bây
giờ đã đến lúc Phật thuyết thứ Pháp có đủ ba thời
quá khứ, hiện tại và vị lai để đả phá ngoại đạo.
Ðây là ý nghĩa thứ hai của từ ngữ "lúc ấy."
3)
Lúc gieo hạt (hạ chủng thời). Gieo hạt tức là vùi hạt
giống xuống dưới đất. Có gieo hạt tất sẽ có lúc thu
hoạch, chín muồi. Sau khi chín muồi thì thế nào? Thì đến
"giải thoát thời" - tức là lúc được giải thoát. Ðây
cũng là một hàm nghĩa của từ ngữ "lúc ấy."
"Lúc
gieo hạt" cũng có nghĩa là lúc chưa trồng thiện căn, hoàn
toàn không có căn lành. Như trường hợp của lão ông nọ
- ông vốn muốn xuất gia nhưng khi các bậc A La Hán quán sát
thấy rằng trong tám vạn đại kiếp ông ta không hề trồng
được một mảy may thiện căn nào cả, bèn khước từ, không
chịu thâu nạp ông ta vào hàng ngũ xuất gia. Có câu:
Chớ
bảo xuất gia là chuyện dễ,
Ấy
do nhiều kiếp trồng Bồ Đề.
(Mạc
đạo xuất gia dung dị đắc,
Giai
nhân lũy thế chủng Bồ Đề.)
Vì
vậy, những người đời này hiện đã xuất gia ắt hẳn trong
tám vạn kiếp về trước đã có gieo trồng thiện căn rồi,
nên nay mới được như thế. Chớ nên cho rằng việc xuất
gia là tùy tiện, dễ dàng.
Ðối
với những người đến nay vẫn chưa hề trồng thiện căn,
Phật dạy họ trồng thiện căn. Ðối với những ai chưa biết
niệm Phật thì Phật dạy họ niệm Phật, chưa biết trì Chú
thì dạy họ trì Chú; bởi đó cũng là trồng thiện căn, gieo
hạt giống tốt lành. Ðã gieo hạt, đã có trồng thiện căn
rồi, thì sẽ có sự nẩy mầm, tăng trưởng; và sau đó sẽ
đến giai đoạn thành thục, chín muồi. Như làm ruộng chẳng
hạn, mùa xuân gieo mạ thì sang mùa thu gặt hái, tức là bước
sang giai đoạn chín muồi. Tuy nhiên, nếu lúa chín rồi mà
không kịp thời gặt hái, để mãi ngoài đồng ruộng, thì
cũng chẳng có ích lợi gì. Thu hoạch được lúa thóc, đem
hoa lợi về - đó gọi là đạt được sự giải thoát vậy.
Ðây
là ngụ ý rằng những người chưa trồng thiện căn thì hãy
chăm chỉ gieo trồng thiện căn; còn những người đã trồng
thiện căn thì nên cố gắng tu hành, xuất gia làm Tăng, Ni.
Làm Tăng, Ni thuần thục rồi thì phải thành Phật, phải chứng
quả vị - chứng quả vị là được giải thoát.
Thế
nên, quý vị nghe giảng kinh, chớ nên nói rằng: "Tôi nghe hai
lần rồi, không cần nghe thêm nữa!" Quý vị nghe càng nhiều
thì càng biết được nhiều vấn đề, nếu không nghe nhiều
thì kiến thức sẽ không tăng trưởng và không lãnh hội được
tri thức của Phật Học.
4)
Thời điểm của vị Thầy chân chánh (chánh sư) -. Muốn học
Phật Pháp th́ cần phải có bậc Thầy chân chánh (chánh sư),
với giáo pháp chân chánh (chánh giáo) và sự học tập chân
chánh (chánh học). Nếu quư vị không học tập một cách chân
chánh, nghiêm túc, th́ dù có gặp được chánh giáo cũng chẳng
ích lợi ǵ. Lại nữa, nếu quư vị gặp được chánh giáo
và quư vị cũng có ḷng muốn học hành đàng hoàng, chăm chỉ,
nhưng không có một vị Thầy chân chánh hiểu rơ Phật Pháp
hướng dẫn cho, th́ quư vị cũng không học tập ǵ được.
Cho nên, "lúc ấy" cũng có nghĩa là thời điểm hội đủ chánh
sư, chánh giáo, chánh học.
5)
"Lúc ấy" là lúc Phật bằng ḷng thuyết Pháp, đồng thời
cũng là lúc chúng sanh muốn nghe Pháp. Sự nghe Pháp và thuyết
Pháp xảy ra cùng một lúc, cơ duyên giáo hóa tương ưng, không
cao không thấp, chẳng sâu chẳng cạn. Phật thuyết pháp nào
th́ có chúng sanh thích hợp với giáo pháp đó đến nghe. Đây
gọi là "Phật muốn thuyết, chúng sanh muốn nghe" - thích hợp
với căn cơ mỗi người, không có sự cao thấp.
Trên
đây là năm ư nghĩa của từ ngữ"lúc ấy." Tóm lại, trong
bộ Kinh này:
- "như
vầy" là thành tựu về Tin cậy (Tín thành tựu).,
- "tôi
nghe" là thành tựu về Nghe (Văn thành tựu).,
- "một
thuở nọ" là thành tựu về Thời điểm (Thời thành tựu),
- "Phật"
là thành tựu về Chủ (Chủ thành tựu),
- "cung
trời Đao Lợi" là thành tựu về Nơi chốn (Xứ thành tựu),
- "v́
Thánh Mẫu mà thuyết pháp" là thành tựu về Chúng (Chúng thành
t ựu).
Tuy
nói rằng Đức Phật v́ Phật Mẫu mà thuyết pháp, nhưng trên
trời cũng có thiên chúng đến nghe. Ngoài ra, c̣n có người
ở nhân gian lên trời dự Pháp Hội nữa - riêng Đức Phật
là đă có đến một ngàn hai trăm năm mươi vị đệ tử thường
xuyên đi theo Ngài rồi. Như vậy, Nhân Đà La Da, thiên chủ
cơi trời Đao Lợi, làm Hộ Pháp Chủ, tức là trai chủ thỉnh
pháp. Tuy nói Đức Phật "v́ Thánh Mẫu mà thuyết pháp," nhưng
thật ra cũng là thuyết pháp cho toàn thể đại chúng; do đó,
câu này là tiêu biểu cho Chúng thành tựu.
Vậy,
trên đây là Sáu Lọai Thành Tựu (Lục Chủng Thành Tựu).
Lúc
ấy, không thể nói hết không thể nói hết tất cả chư Phật
và Ðại Bồ Tát Ma Ha Tát... "không thể nói hết" tức là
nói không xuể, kể không xiết, không có đủ ngôn từ để
diễn đạt. "Ma Ha Tát" là bậc Ðại Bồ Tát trong hàng Bồ
Tát, là những chúng sanh có Ðạo tâm rộng lớn. Lúc bấy
giờ, có vô số kể chư Phật và chư Ðại Bồ Tát, đông
đảo đến không thể nói được là bao nhiêu, từ trong vô
lượng thế giới ở mười phương, tận cùng hư không và
khắp Pháp Giới, đều đến hội họp tại cung trời Ðao Lợi.
Quý
vị xem, khi Phật thuyết Kinh Ðịa Tạng, mười phương chư
Phật và chư Ðại Bồ Tát đều tề tựu lắng nghe, thế thì
hạng phàm phu chúng ta càng cần phải đến tụ họp để nghe
Pháp hơn nữa!
Hiện
nay chúng ta khai đàn giảng Kinh Ðịa Tạng tại đạo tràng
này, thì mười phương chư Phật và chư Bồ Tát cũng tựu
về nơi đây. Nếu có Phật Nhãn, quý vị sẽ thấy được
vô lượng vô biên, không thể nào đếm xuể chư Phật và
chư Ðại Bồ Tát từ khắp mười phương đến đây để hộ
trì Pháp Hội giảng kinh này.
Kinh
văn:
...
tán thán Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni có thể ở trong đời ác
Ngũ Trược mà hiện sức Ðại Trí Huệ, Thần Thông không
thể nghĩ bàn...
Lược
giảng:
Tất
cả chư Phật và Ðại Bồ Tát trong mười phương đều đến
cung trời Ðao Lợi và tất cả các ngài cùng tán thán Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni.
"Tán"
là xưng tán;"thán" là thán thưởng - "tán thán" có nghĩa là
tấm tắc khen ngợi, hết lời ca tụng.
"Thích
Ca Mâu Ni" là tiếng Phạn."Thích Ca Mâu Ni" là tên riêng -
"Thích Ca" là họ và"Mâu Ni" là tên - còn"Phật" là tên chung.
Tất cả Ðức Phật đều được tôn xưng là"Phật," nhưng
mỗi Ðức Phật đều có một danh hiệu riêng biệt (biệt
danh)."Thích Ca" có nghĩa là"năng nhân," hàm ý rằng Ngài có
năng lực dùng đức nhân từ để phổ độ tất cả chúng
sanh."Mâu Ni" tức là"tịch mặc," ngụ ý"bất động.""Tịch"
là tịch tĩnh,"mặc" là mặc nhiên - "tịch tĩnh mặc nhiên"
chính là trạng thái tĩnh lặng, không có âm thanh, chẳng còn
mùi vị. Trong Nho Giáo có câu:
“Đến
chỗ tột cùng của tĩnh lặng, không thêm được nữa! Không
âm thanh, chẳng mùi vị. "
(Chí
ư tĩnh, vô dĩ phục gia hề! Vô thanh, vô khứu.)
Âm
thanh không c̣n, mùi vị cũng hết - đây chính là lúc con người
đạt đến bản thể tịch nhiên bất động."Tịch nhiên bất
động" chính là Định;"năng nhân" chính là Huệ.
V́
sao Phật có thể dùng ḷng nhân từ để tế độ chúng sanh?
Bởi v́ Phật có trí huệ."Năng nhân" cũng có nghĩa là tùy
duyên;"tịch mặc" cũng chính là bất biến. Đức Phật th́
thường bất biến, song cũng luôn tùy duyên; tuy luôn tùy duyên,
nhưng vẫn thường bất biến. Mặc dù ở trong Định tịch
nhiên bất động, Phật vẫn có thể cảm thông linh ứng. Cho
nên nói:
“Mọi
tâm tưởng của chúng sanh, Phật đều có thể thấy, nghe và
rơ biết.”
(Nhất
thiết chúng sanh nhược can chủng tâm, Như Lai tất tri tất
kiến.)
Mọi
tâm tưởng của chúng sanh, bất luận nhiều hay ít, Phật đều
có thể thấy, nghe và rơ biết tất cả. V́ sao Phật có thể
thấy biết tất cả? Chính là nhờ"năng nhân, tịch mặc."
Bởi Đức Phật có thể"năng nhân" nên Ngài thấy rơ được
tất cả; và nhờ có thể"tịch mặc" nên Phật thấu suốt
hết mọi sự. Do đó, quư vị đừng lầm tưởng rằng không
ai hay biết những việc ḿnh làm, bởi Phật có thể thấy
biết tất cả.
Chúng
ta tu Đạo, hễ trong ḷng có một phần chân thành th́ sẽ
được một phần cảm ứng, có mười phần chân thành th́
sẽ được mười phần cảm ứng. Nếu tâm quư vị có trăm
ngàn vạn ức phần chân thành, th́ Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni dù đang ở vị trí"bổn giác tịch nhiên bất động," cũng
có thể cảm thông linh ứng mà giúp cho quư vị được toại
nguyện, khiến cho quư vị được sớm thành tựu Đạo nghiệp.
Trên
đây là ư nghĩa của bốn chữ"Thích Ca Mâu Ni."
"Phật"
là gọi tắt từ chữ"Phật Đà Da," và vốn là tiếng Phạn.
Vậy th́ Phật là người như thế nào? Phật chính là một
bậc Đại Giác Ngộ. Phật có đủ Tự Giác, Giác Tha, Giác
Hạnh Viên Măn - bởi Ngài là"Tam Giác viên măn, vạn đức
đủ đầy" nên được thành Phật. Cũng có thể nói Tam Giác
tức là Thủy Giác, Bổn Giác và Cứu Cánh Giác - ba loại giác
ngộ này đều hoàn toàn viên măn nên được thành Phật. Nếu
chúng ta có thể y theo giáo pháp của Phật mà chân chánh tu
hành, th́ chúng ta cũng sẽ đạt được loại giác ngộ và
quả vị này. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni từng dạy:
Tất
cả chúng sanh đều có thể làm Phật!
(Nhất
thiết chúng sanh giai kham tác Phật!)
V́
sao hết thảy chúng sanh đều có thể thành Phật? Bởi v́
tất cả chúng sanh đều có Phật tánh! Cho nên, chỉ cần chịu
cố gắng, nỗ lực tu hành, th́ chắc chắn tất cả chúng
ta đều sẽ được thành Phật.
Có
thể ở trong đời ác Ngũ Trược. "Đời ác" tức là một
thế giới xấu xa nhất. Ngũ Trược tức là năm thứ ô trược,
dơ bẩn; đó là: Kiếp Trược (thời đại này hết sức ô
uế, bất tịnh), Kiến Trược (con người có những kiến giải
hết sức tà vạy, bất chánh), Phiền Năo Trược (trong ḷng
con người chứa đầy phiền năo, như thế là bất tịnh),
Chúng Sanh Trược (chúng sanh cũng bất tịnh, không trong sạch),
và Mạng Trược (thân mạng này của chúng ta cũng ô trược,
bất tịnh).
Theo
Kinh Lăng Nghiêm, nếu ta bỏ một nắm đất vào chậu nước
trong, th́ công năng vốn có của đất và nước sẽ bị mất
đi.
Vậy
công năng vốn có của đất (thổ) là ǵ? Là "lưu ngại" (lưu
giữ, ngăn ngại)! Đất (thổ) có tánh gây chướng ngại cho
nên con người có thể đi lại trên đất. Nếu không có đất,
chúng ta sẽ bị rơi vào biển cả, bởi bên dưới đất là
nước, nước có thể cuốn trôi đất. Bên dưới nước lại
là lửa; cho nên có lúc núi lửa bộc phát là do tác dụng
của một sự biến hóa. Nếu nói rằng bên dưới nước là
lửa, vậy lửa này không bị nước dập tắt sao? V́ lửa
cháy quá dữ dội nên nước không dập tắt nổi! Muốn hiểu
thấu đạo lư này th́ quư vị phải nghiên cứu Phật Pháp
thâm sâu hơn nữa mới được.
Kinh
Lăng Nghiêm cũng có chép: “Khi nước và đất trộn lẫn,
th́ đất mất tánh lưu ngại, nước mất tánh thanh khiết.”
(Thổ thất lưu ngại, thủy vong thanh khiết.)
Bởi
nước bị vẩn đục, mất đi sự thanh khiết, cho nên gọi
là "trược." Cõi "Ngũ Trược ác thế" này ví như vũng bùn
dơ bẩn - một hỗn hợp của nước và đất. Ðây là một
thế giới không thanh tịnh bởi có sự hiện hữu của năm
thứ ô trược:
1)
Kiếp Trược. "Kiếp" là danh từ chỉ thời gian. Thời gian
thì ô trược bởi chúng ta không thể phân định một cách
rõ ràng là khi nào, thời điểm nào. Trước kia có người
hỏi tôi, thế nào gọi là thời gian? Thật ra, không có cái
gọi là "thời gian," không thể nào định rõ được thời
gian. Ðó là Kiếp Trược.
2)
Kiến Trược. Quý vị nghĩ xem, chúng ta có thể phân biệt
cái "thấy" của mình một cách rõ ràng hay không? Tất nhiên
là không thể được! Chúng ta có thể phân ranh giới cho cái"thấy"
của mỗi người hay không? Cũng không được! Bởi nếu quý
vị nói rằng đây là cái "thấy" của quý vị, kia là cái"thấy"
của tôi; thế thì quý vị lấy gì làm ranh giới để phân
biệt giữa cái "thấy" của quý vị và cái "thấy" của riêng
tôi? Chính vì cái "thấy" ấy là một hỗn hợp lộn xộn,
không có ranh giới, không thể phân định rõ ràng, nên gọi
là Kiến Trược.
3)
Phiền Não Trược. Mọi người đều có phiền não - quý vị
có phiền não, tôi cũng có phiền não - phiền não của chúng
ta trộn lẫn, xen lộn với nhau, không cách nào phân định
cho rõ được.
Có
người nói: "Tôi thừa biết rằng phiền não của tôi là của
tôi, phiền não của Thầy tức là của Thầy - của ai cứ
nấy!" Nếu nói như thế thì tại sao quý vị lại có thể
gây phiền não cho tôi được? Nếu quả thật phiền não là
của tôi thì đáng lẽ không cần quý vị gây ra mới phải;
còn nếu đó đích thật là của quý vị, thì tất nhiên cũng
không cần tôi gây ra, không cần tôi làm cho quý vị sanh phiền
não mới đúng chứ?! Như vậy, xét ra thì phiền não cũng không
có ranh giới rõ rệt và cũng là một hỗn hợp ô trược,
bất tịnh.
4)
Chúng Sanh Trược. Có những chúng sanh đời này mang thân người,
song biết đâu chừng đời sau lại phải đầu thai làm chó,
làm mèo, làm chuột, hoặc làm côn trùng bò lung tung khắp nơi...
- không có gì là nhất định cả. Như thế thì làm sao quý
vị có thể phân biệt một cách rõ ràng được? Chúng sanh
với chúng sanh cùng nhau hợp tác để mở một "đại công
ty," cũng không phân biệt nhau được rõ ràng. Trong "đại công
ty" này, nếu không phải mình bị người ta đem bán, thì cũng
là người ta bị mình đem bán - tất cả đều có quan hệ
qua lại với nhau. Như thế không phải là "trược" sao? Vậy,
đó gọi là Chúng Sanh Trược.
5)
Mạng Trược. Vận mạng của chúng ta cũng là hỗn trược,
bất tịnh.
Mặc
dù năm thứ ô trược này rất phức tạp, Ðức Phật Thích
Ca Mâu Ni vẫn có thể ở trong đời ác Ngũ Trược - một thế
giới xấu xa nhất - mà hiện sức Ðại Trí Huệ và Thần
Thông không thể nghĩ bàn. "Không thể nghĩ bàn" tức là vô
cùng vi diệu, chúng ta không tài nào nghĩ ra hoặc mường tượng
ra được. Thứ gì mà vi diệu, không thể nghĩ bàn như thế?
Ðó chính là năng lực từ Ðại Trí Huệ và Ðại Thần Thông
của Ðức Phật.
Kinh
văn:
...điều
phục những chúng sanh cang cường, khiến cho họ biết được
pháp khổ, pháp vui. Rồi mỗi Ngài đều sai thị giả đến
vấn an Ðức Thế Tôn. Bấy giờ, Ðức Như Lai mỉm cười,
phóng ra trăm ngàn muôn ức vầng mây sáng rỡ lớn...
Lược
giảng:
Ðiều
phục những chúng sanh cang cuờng. "Ðiều" là điều hòa,"phục"
là hàng phục. Sao gọi là "điều hòa"? Chúng ta muốn cho thức
ăn có hương vị ngon lành thì phải nêm nấu sao cho năm vị
chua, ngọt, đắng, cay, mặn được điều hòa, vừa phải.
Nếu thức ăn cay quá thì người không quen ăn cay sẽ không
ăn được; chua quá thì người không thích chua sẽ không đụng
đến; đắng quá thì cũng có người không thích; mà ngọt
quá thì cũng có người chê, chẳng muốn ăn! Cho nên các thứ
gia vị phải điều hòa, mỗi loại chỉ nêm vừa phải, không
nhiều không ít, để có được mùi vị thích đáng.
Mọi
người thường chỉ thích thưởng thức các món ăn hợp khẩu
vị của mình. Tương tự như thế, về Phật Pháp thì có người
thích pháp môn này, có người thích pháp môn kia. Về tín ngưỡng
thì có người tin Gia Tô Giáo, có người tin Hồi Giáo, có
người theo Ðạo Giáo (đạo Lão), có người theo Nho Giáo (đạo
Khổng). Khổng, Lão, Phật, Gia, Hồi là năm tôn giáo lớn trên
thế giới. Tuy nói là năm, nhưng trên thực tế thì chỉ là
một. Vì sao lại là một? Bởi pháp mà Ðức Phật nói ra thì
"mọi pháp đều là Phật Pháp," và trong đó bao hàm tất cả
các pháp môn của mọi tôn giáo. Bất luận là Gia Tô Giáo,
Hồi Giáo, Ðạo Giáo, hay Nho Giáo, hết thảy đều được
bao gồm trong "mọi pháp," đều không ở ngoài "mọi pháp."
Không một tôn giáo nào có thể nói là không có giáo pháp;
bởi vì nếu nói như thế tức là ở ngoài"mọi pháp," mà
ở ngoài mọi pháp" thì hoàn toàn không có một pháp nào
cả!
"Mọi
pháp" đều là Phật Pháp và đều là "bất khả đắc" - đều
không thể chứng đắc. Thể hội được "mọi pháp" đều
không hiện hữu thì mới gọi là chân chánh "về tới nhà."
Tôi không hề nói rằng tôi có phương pháp đặc biệt này
hoặc món ăn ngon lành nọ để dụ dỗ, lừa phỉnh quý vị.
Bởi thực sự là không có, cái gì cũng không có cả! Xưa
nay vốn không có cái gì cả! Vì sao lại biết được xưa
nay cái gì cũng không có? Lục Tổ Ðại Sư từng dạy:
"Bồ
Ðề vốn không thân,
Gương
sáng cũng không đài,
Xưa
nay không một vật,
Nơi
nào bụi bám đây?"
Xưa
nay vốn không có, vậy phải đến nơi nào để tìm chỗ cho
bụi bám? Hoàn toàn không có! Vậy thì còn tìm bụi bặm gì
nữa? Nếu quý vị có một món đồ cụ thể thì còn có chỗ
cho bụi bám, nhưng vì không có đồ vật gì cả, do đó bụi
bặm cũng không có chỗ để bám vào. Cho nên, người thông
hiểu đạo lý thì biết rằng"mọi pháp đều là Phật Pháp."
Tuy
nhiên, "pháp" thì có pháp đúng và pháp sai; có pháp rốt ráo
và pháp không rốt ráo; có pháp thiện và cũng có pháp ác.
Chúng ta tu hành thì phải tu pháp rốt ráo (cứu cánh pháp).
Hãy
nêu một ví dụ: Từ Châu Mỹ sang Châu Âu, nếu quý vị đi
bằng máy bay thì nhất định sẽ mau chóng tới được nơi
sở định; còn nếu theo đường bộ thì quý vị nghĩ phải
mất bao lâu? Ngoài việc đi bộ vất vả trên đất liền,
quý vị còn phải trải qua những gian khổ của đường biển
nữa. Lúc gặp biển tất phải dùng thuyền để vượt biển,
mà thuyền thì đi rất chậm, phải mất rất nhiều thời gian;
trong khi nếu đáp máy bay thì lại rất nhanh.
Tương
tự như thế, chúng ta tu pháp không rốt ráo thì phải tu trong
một thời gian rất lâu mới được "về tới nhà" (thành Phật).
Song, nếu tu pháp rốt ráo thì chẳng mấy chốc là chúng ta
"về tới nhà" ngay, rất nhanh chóng. Như thế, pháp không rốt
ráo là gì? Ðó là tất cả các pháp của ngoại đạo. Ðúng
vậy, tu pháp không rốt ráo cũng có được đôi chút lợi
ích, nhưng rất chậm. Tu pháp rốt ráo tức là y chiếu theo
giáo pháp của Ðức Phật mà tu hành.
Ðể
điều phục, cảm hóa những chúng sanh cang cường, trước
hết, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni không nói thẳng với họ rằng
nóng giận là không tốt; Ngài chỉ nói: "Này! Nóng tánh cũng
không đến nỗi nào, vì phiền não chính là Bồ Ðề. Ngươi
có tánh nóng nảy đấy, song cũng chẳng sao - phiền não là
Bồ Ðề, sanh tử là Niết Bàn!"
Phật
làm cho họ cảm thấy:"Mình có tánh nóng nảy nhưng không phải
là người xấu. Ðành rằng mình rất nóng tánh, nhưng tâm
Bồ Ðề của mình cũng đâu phải nhỏ! "Thế là họ quyết
định thử tu sửa tâm tánh xem sao; và càng thử thì họ càng
nhận thấy rằng hễ phiền não giảm bớt thì Bồ Ðề lại
gia tăng. Phiền não càng ngày càng giảm thì Bồ Ðề càng
ngày càng tăng. Giảm được phiền não, thì đó chính là Bồ
Ðề vậy. Cho nên, đối với những chúng sanh tánh tình cang
cường, ương ngạnh, thì Ðức Phật giảng nói thứ pháp như
thế.
Còn
đối với những chúng sanh nhu nhược thì sao? Những chúng
sanh nhu nhược tức là những kẻ nhút nhát, từ sáng đến
tối họ cứ hồi hộp sợ sệt; thậm chí tiếng mèo kêu hay
tiếng chó sủa cũng làm cho họ giật mình run sợ, hồn phiêu
phách tán. Bất cứ một động tĩnh gì cũng có thể làm cho
họ hốt hoảng được cả; cho nên, Ðức Phật phải dùng
lời dịu ngọt như dỗ dành trẻ con mà vỗ về những chúng
sanh nhút nhát đó:"Con đừng sợ. Hãy bình tâm mà học Phật
Pháp, Phật sẽ giúp đỡ và phù hộ cho con!" Các chúng sanh
ấy nghe được liền cảm thấy an ủi phần nào, trong lòng
thầm nghĩ rằng lời nói của người này thật đáng tin cậy;
và thế là họ dốc lòng tin tưởng Phật Pháp. Sau khi tin và
học Phật Pháp, họ càng ngày càng bớt nhút nhát, càng ngày
càng mạnh dạn, can đảm thêm.
Ở
Hồng Kông, tôi có một đệ tử quy y vốn tánh nhút nhát.
Khi chưa quy y, anh ta rất sợ ma và sợ bóng tối. Trời vừa
nhá nhem tối là anh ta không dám bước chân ra khỏi cửa, tánh
rất nhát gan. Cho dù trong nhà có đông người, anh ta cũng vẫn
cứ nơm nớp sợ hãi, cứ cảm thấy xung quanh mình - trái,
phải, trước, sau - chỗ nào cũng có ma cả. Tuy chưa bao giờ
gặp ma, nhưng anh ta lại rất sợ ma! Sau khi anh ta quy y Tam Bảo,
mặc dù tôi không niệm Chú cũng chẳng làm phép thuật gì
cho anh ta cả, nhưng kể từ đó thì anh ta không còn thói hay
sợ sệt nữa - không sợ ma mà cũng chẳng sợ bóng tối. Ban
đêm ở nhà một mình cũng không sợ, đi đâu lúc trời tối
cũng không sợ. Cho nên, đối với những chúng sanh không có
lòng gan dạ, thì chúng ta cần phải giúp đỡ, khiến họ có
can đảm.
Ngoài
ra, đối với những chúng sanh hay khóc, thì quý vị nên khuyên
họ chớ khóc lóc nữa, mà hãy sanh tâm hoan hỷ, vui vẻ. Tóm
lại, chúng sanh thường mang nhiều thành kiến lệch lạc, tánh
tình cũng thiên vị, quá quắt; cho nên chúng ta phải tìm cách
làm cho họ trở về với trung đạo, giữ được mức quân
bình - như thế gọi là "điều phục" vậy.
Khiến
cho họ biết được pháp khổ, pháp vui. Ðức Phật có thể
điều phục các chúng sanh ương ngạnh, bướng bỉnh và làm
cho họ hiểu rõ thế nào là khổ, thế nào là vui. Những chúng
sanh này vì ương ngạnh cho nên khổ họ cũng bất chấp mà
sướng họ cũng bất cần. Thế nào là khổ, thế nào là sướng?
Họ chẳng hề để ý tới! Vì tánh ương ngạnh, khổ hay sướng
họ đều không sợ; họ cứ sống một cách không lo không
buồn, không khổ không sướng như thế.
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni có khả năng làm cho các chúng sanh ương
ngạnh này biết được thế nào là "chân khổ" (đau khổ thật
sự) và thế nào là "chân lạc" (an vui thật sự). Rốt cuộc,
cái gì là "chân khổ"? Ðọa lạc chính là "chân khổ." Bị
đọa xuống địa ngục, bị đọa làm ngạ quỷ, súc sanh -
đó đều là"chân khổ." Cái gì là "chân lạc"? Ðược khai
ngộ, chứng quả (như quả vị A La Hán chẳng hạn), thực
hành Bồ Tát Ðạo - đó đều là"chân lạc" vậy. "Khổ" vốn
rất nhiều loại, "vui" cũng rất nhiều thứ, song chúng ta bây
giờ biết được ý nghĩa tổng quát là được rồi. Vậy,
"biết được pháp khổ, pháp vui" tức là biết được "mùi
vị" của đau khổ và của an vui.
Rồi
mỗi Ngài đều sai thị giả đến vấn an Ðức Thế Tôn. Các
vị Ðại Bồ Tát, Ma Ha Tát ở khắp mười phương quốc độ
đều không đi một mình. Mỗi Bồ Tát thường dẫn theo một,
hai, ba hoặc bốn thị giả; có vị lại thích dắt theo nhiều
thị giả, có khi đông tới mấy trăm, mấy ngàn, mấy vạn
thị giả. Lúc bấy giờ, mỗi vị Bồ Tát đều phái người
thị giả theo hầu bên cạnh mình đến hỏi thăm Ðức Phật.
Hỏi thăm như thế nào? Họ đồng đến trước mặt Phật
và thưa hỏi rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn, chẳng hay Ngài có
được ít bệnh, ít phiền não chăng? Ngài có được an vui
chăng? Chúng sanh có dễ độ chăng?" Các thị giả đều hỏi
han Ðức Thế Tôn như vậy.
Bấy
giờ, Ðức Như Lai mỉm cười, phóng ra trăm ngàn muôn ức
vầng mây sáng rỡ lớn. Khi ấy, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
mỉm cười - không phải cười lớn mà là cười chúm chím
- và phóng ra hàng trăm ngàn vạn ức đám mây sáng to lớn.
Kinh
văn:
...như
là vầng mây sáng Ðại Viên Mãn, vầng mây sáng Ðại Từ
Bi, vầng mây sáng Ðại Trí Huệ, vầng mây sáng Ðại Bát
Nhã, vầng mây sáng Ðại Tam Muội, vầng mây sáng Ðại Kiết
Tường, vầng mây sáng Ðại Phước Ðức, vầng mây sáng Ðại
Công Ðức, vầng mây sáng Ðại Quy Y, vầng mây sáng Ðại
Tán Thán. Ðức Phật phóng ra không thể nói hết vầng mây
sáng rỡ như thế...
Lược
giảng:
Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni phóng ra trăm ngàn vạn ức vầng mây sáng
to lớn. Trăm ngàn vạn ức vầng mây này bao gồm rất nhiều
chủng loại, song ở đây chỉ nêu ra mười loại tiêu biểu
cho Thập Thừa Quán Pháp và Thập Pháp Giới mà thôi.
Vậy,
lúc bấy giờ, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni phóng ra các vầng
mây sáng như là:
1)
Vầng mây sáng Ðại Viên Mãn. Loại mây sáng này biểu thị
Phật Ðạo chiếu soi khắp cả Pháp Giới. "Viên mãn" tức
là tròn đầy, trọn vẹn - khắp mọi nơi, không một nơi nào
dù nhỏ như hạt bụi mà không được áng mây quang minh này
giọi ánh sáng tới. Tận hư không, khắp Pháp Giới, nơi nơi
đều được bao phủ bởi đám mây sáng này. Vậy, vầng mây
sáng Ðại Viên Mãn tiêu biểu cho Phật Ðạo viên mãn.
2)
Vầng mây sáng Ðại Từ Bi. Ðây là tiêu biểu cho Bồ Tát
Ðạo. Lòng "từ" có thể ban vui; tâm "bi" có thể diệt khổ
- con đường mà các vị Bồ Tát đeo đuổi chính là ban phát
niềm vui cho chúng sanh và giúp chúng sanh dứt trừ mọi khổ
não. Chúng sanh thích niềm vui gì thì chư Bồ Tát ban cho niềm
vui đó - thích ngọt cho ngọt, muốn chua cho chua.
Thuở
xưa, Bồ Tát Phổ Hiền đã từng giữ nhiệm vụ Hành Ðường
trong chùa. Hành Ðường là thế nào? Ðó là lo việc lấy thêm
cơm hoặc thức ăn cho người xuất gia trong lúc họ thọ trai.
Thông thường, khi người xuất gia thọ trai thì có một người
túc trực bên cạnh để giúp họ bới cơm và thức ăn vào
bát; ăn hết thì đưa bát cho người ấy để lấy thêm. Khi
giữ nhiệm vụ này, Bồ Tát Phổ Hiền thường mang theo bên
mình những chai lọ lỉnh kỉnh đựng đủ loại gia vị để
nêm thêm vào thức ăn cho vừa khẩu vị của mỗi người -
hễ ai muốn ngọt hơn thì Ngài cho thêm đường, thích chua
hơn thì Ngài cho thêm giấm, thích cay hơn thì Ngài cho thêm
ớt...
Tuy
nhiên, có khi Ngài vừa rót thêm giấm cho người thích ăn chua
thì người ấy lại phàn nàn: "Ô hay, tôi không thích chua quá;
tại sao ông lại thêm nhiều giấm đến thế?" Hoặc có người
muốn cay hơn nữa, nhưng Ngài vì ngại rằng nếu cay quá thì
khó ăn nên chỉ đưa thêm một chút ớt mà thôi, thì người
đó lại cằn nhằn: "Thêm một chút nữa! Sao ít quá vậy?"
Ðó gọi là:
“Bồ
Tát Phổ Hiền khó thể thỏa măn ư muốn của chúng sanh.”
(Phổ
Hiền Bồ Tát nan măn chúng sanh nguyện!)
Cho
nhiều th́ chê dư, cho ít th́ chê thiếu - quư vị xem, thật
là rắc rối, phức tạp! Cho nên, làm Bồ Tát không phải là
chuyện dễ!
Khổng
Phu Tử của Trung Hoa có nói rằng:
“Người
nữ và kẻ tiểu nhân đều khó đối phó,
Gần
th́ khinh lờn, xa th́ óan trách.”
(Duy
nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dă.
Cận
chi, tắc bất tốn; viễn chi, tắc oán.)
Người
nữ và kẻ tiểu nhân đều khó đối phó. Tại sao lại khó?
Vì nếu quý vị gần gũi, dễ dãi với họ, thì họ khinh lờn,
không để ý đến lý lẽ và không giữ phép tắc; còn nếu
quý vị xa cách, nghiêm nghị với họ thì họ lại oán ghét,
hờn trách. Cho nên, ứng phó với họ không phải là chuyện
dễ. Khổng Tử có lẽ đã từng trải, giàu kinh nghiệm về
mặt này, cho nên mới thốt ra những lời xác đáng như thế!
Bồ
Tát đối xử với chúng sanh cũng vậy - quá tốt hoặc quá
tệ thì đều không hợp với Trung Ðạo. Cho nên, Phổ Hiền
Bồ Tát cũng khó mà làm cho chúng sanh được vừa ý, hài lòng.
Thực hành hạnh Bồ Tát là điều không phải dễ - mình sốt
sắng lo cho người ta, nhưng họ lại không chịu "biết đủ"!
Tóm
lại, Ðại Từ Bi Quang Minh Vân là biểu thị cho Bồ Tát Ðạo.
3)
Vầng mây sáng Ðại Trí Huệ. Vầng mây này biểu thị cho
Duyên Giác Ðạo. Duyên Giác là những bậc nhờ tu pháp Thập
Nhị Nhân Duyên mà thành Ðạo; và như thế, cần phải có
Ðại Trí Huệ. Các ngài quán sát Thập Nhị Nhân Duyên, thấu
triệt đạo lý sanh diệt, biết rõ vạn vật thảy đều tự
sanh tự diệt; rồi hoát nhiên được tỏ ngộ, từ Phật tánh
sẵn có bèn nảy sanh một thứ trí huệ chân chánh. Do đó,
đám mây sáng Ðại Trí Huệ này là tiêu biểu cho Duyên Giác
Ðạo.
Thập
Nhị Nhân Duyên tức là mười hai cái nhân duyên níu kéo nhau:
Vô Minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh
Sắc duyên Lục Nhập, Lục Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ,
Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh,
Sanh duyên Lão, Tử. Ðây gọi là"thuận sanh môn" (lưu chuyển
môn - sự xoay vần).
Còn
"hoàn diệt môn" (diệt trừ trở lại) tức là: Vô Minh diệt
thì Hành diệt, Hành diệt thì Thức diệt, Thức diệt thì
Danh Sắc diệt, Danh Sắc diệt thì Lục Nhập diệt, Lục Nhập
diệt thì Xúc diệt, Xúc diệt thì Thọ diệt, Thọ diệt thì
Ái diệt, Ái diệt thì Thủ diệt, Thủ diệt thì Hữu diệt,
Hữu diệt thì Sanh diệt, Sanh diệt thì Lão, Tử diệt.
Như
vậy, nếu phá trừ được vô minh thì tất cả đều không
nảy sanh. Bậc Duyên Giác quán sát đến điểm này liền phá
bỏ vô minh trước nhất. Bởi tất cả đều từ vô minh mà
ra, cho nên một khi vô minh đã bị phá hủy thì trí huệ chân
chánh sẽ nảy sanh.
4)
Vầng mây sáng Ðại Bát Nhã. "Bát Nhã" tức là trí huệ, và
gồm có ba loại là Văn Tự Bát Nhã, Thực Tướng Bát Nhã
và Quán Chiếu Bát Nhã. Bậc Thanh Văn dựa vào Văn Tự Bát
Nhã mà sanh khởi Quán Chiếu Bát Nhã, rồi do Quán Chiếu Bát
Nhã mà đạt đến Thực Tướng Bát Nhã, và vì đã đạt đến
Thực Tướng Bát Nhã cho nên chứng được quả vị A La Hán.
Vậy,
đám mây sáng Ðại Bát Nhã là tiêu biểu cho Thanh Văn Thừa.
5)
Vầng mây sáng Ðại Tam Muội. "Tam Muội" là tiếng Phạn, Trung
Hoa dịch là Ðịnh. Thiên nhân (người ở cõi trời) tu hành
bậc thượng phẩm của Thập Thiện thì có được thứ định
lực này, chứng đắc Tứ Thiền Bát Ðịnh (bốn Thiền, tám
Ðịnh).
Tứ
Thiền là bao gồm Tứ Thiền Thiên, Tam Thiền Thiên, Nhị Thiền
Thiên và Sơ Thiền Thiên. Sơ Thiền gọi là Ly Sanh Hỷ Lạc
Ðịa, Nhị Thiền gọi là Ðịnh Sanh Hỷ Lạc Ðịa, Tam Thiền
gọi là Ly Hỷ Diệu Lạc Ðịa ("ly hỷ" tức là rời bỏ sự
vui vẻ, sung sướng), và Tứ Thiền gọi là Xả Niệm Thanh
Tịnh Ðịa.
Lại
còn có Tứ Không Xứ - Không Vô Biên Xứ Thiên, Thức Vô Biên
Xứ Thiên, Vô Sở Hữu Xứ Thiên, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Xứ Thiên. Như vậy, hợp lại gọi chung là Tứ Thiền Bát
Ðịnh. Chư thiên ở đây đều có Ðịnh lực, và đều tu
bậc thượng phẩm của Thập Thiện. (Thập Thiện gồm có
thượng phẩm, trung phẩm và hạ phẩm.) Họ nhờ thọ Tam Quy
và trì Ngũ Giới cho nên được sanh lên cõi trời.
6)
Vầng mây sáng Ðại Kiết Tường. Vầng mây này tiêu biểu
cho Nhân Ðạo (cõi người). Con người, ai ai cũng muốn mọi
sự được kiết tường. Người Trung Hoa thường dùng hai chữ
này đi đôi với nhau - "kiết" là may mắn thuận lợi,"tường"
là điềm lành - nói chung là chỉ sự tốt đẹp. Những chúng
sanh tu bậc trung phẩm của Thập Thiện, thọ Tam Quy, trì Ngũ
Giới, thì được sanh vào cõi người.
7)
Vầng mây sáng Ðại Phước Ðức. Ðây là biểu thị Tu-La
Ðạo (cõi A-tu-la). A-tu-la có lúc ở cõi trời, có lúc ở nhân
gian, trong loài súc sanh hoặc trong đường ngạ quỷ. Nói chung
thì A-tu-la cũng có phước đức lớn; cho nên vầng mây sáng
này soi chiếu cõi A-tu-la.
8)
Vầng mây sáng Ðại Công Ðức. Ðây là biểu thị Súc Sanh
Ðạo (cõi súc sanh). Ðức Phật phóng vầng mây sáng Ðại
Công Ðức này khiến cho tất cả nghiệp tội của loài súc
sanh đều tiêu trừ, và tương lai có thể lìa khổ, được
vui.
9)
Vầng mây sáng Ðại Quy Y. Ðây là biểu thị cho Ngạ Quỷ
Ðạo (cõi quỷ đói). Ðức Phật phóng vầng mây sáng này
khiến cho tất cả ngạ quỷ đều bỏ ác theo thiện, sửa
đổi lại chính mình cho tốt, và cùng nhau phát tâm quy y Tam
Bảo. Quỷ cũng có thể được quy y Tam Bảo.
10)
Vầng mây sáng Ðại Tán Thán. Ðây là biểu thị cho Ðịa
Ngục Ðạo. Ðức Phật phóng vầng mây sáng này với lòng
khen ngợi. Những chúng sanh ở chốn địa ngục trông thấy
vầng mây sáng này thì đều lìa khổ được vui, sửa sai hướng
thiện, phát Bồ Ðề tâm.
Mười
vầng mây sáng này tiêu biểu cho cơ nghi của chúng sanh trong
Thập Ðạo, tức là mười nẻo đường hoặc mười cõi giới.
Ðức Phật Thích Ca Nâu Ni phóng ra nhiều đám mây sáng như
vậy, khiến cho chúng sanh trong mười Pháp Giới đều phát
tâm tu hành để sớm thành Phật Ðạo.
Ðức
Phật phóng ra không thể nói hết vầng mây sáng rỡ như thế
- sau khi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã phóng ra những vầng
mây sáng kỳ diệu không tả xiết này, thì thế nào?
Kinh
văn:
...rồi
lại phát ra các âm thanh vi diệu, như là tiếng Ðàn Ba La Mật,
tiếng Thi Ba La Mật, tiếng Sằn Ðề Ba La Mật, tiếng Tỳ
Ly Da Ba La Mật, tiếng Thiền Ba La Mật, tiếng Bát Nhã Ba La
Mật, tiếng Từ Bi, tiếng Hỷ Xả, tiếng Giải Thoát, tiếng
Vô Lậu...
Lược
giảng:
Rồi
Ðức Thế Tôn lại phát ra các âm thanh vi diệu. Phật phát
ra không phải chỉ một loại mà là vô số loại âm thanh.
"Vi" là êm dịu, nhỏ nhẹ - âm thanh không ầm ĩ chói tai, mà
rất là hài hòa, dịu dàng."Diệu" là thánh thót, trong và rõ
- giọng nói của Phật rất thánh thót, vi diệu.
Phật
chỉ dùng một thứ âm thanh để thuyết pháp, nhưng bất cứ
loại chúng sanh nào nghe thấy cũng đều hiểu được cả;
thậm chí những người tuy khác quốc gia, bất đồng ngôn
ngữ, cũng có thể hiểu được như nhau. Mặc dù Phật chỉ
nói bằng một thứ tiếng, nhưng người Nhật nghe thì hiểu
đó là tiếng Nhật, người Anh nghe thì hiểu đó là tiếng
Anh, người Pháp nghe thì hiểu đó là tiếng Pháp, người Tây
Ban Nha nghe thì hiểu đó là tiếng Tây Ban Nha... Tuy rằng ngôn
ngữ mỗi nước mỗi khác nhau, nhưng tất cả đều hiểu được
tiếng của Phật mà không cần phải phiên dịch. Cảnh giới
của Phật vốn không thể nghĩ bàn; cho nên nói:
“Phật
chỉ dùng một loại âm thanh để thuyết pháp
nhưng
mọi loài chúng sanh đều hiểu được.”
(Phật
dĩ nhất âm diễn thuyết Pháp,
Chúng
sanh tùy loại các đắc giải.)
"Âm"
nghĩa là gì? Chữ"âm" ở đây có thể giảng là đồng nghĩa
với chữ"ẩm," tức là"uống." Vì sao gọi là"uống"? Bởi
âm thanh ấy"rót" thẳng vào lòng quý vị, khiến quý vị nghe
và hiểu thông suốt, chẳng khác nào"uống" từng lời vậy.
Chữ
"âm" này lại cũng có thể giảng theo nghĩa của chữ "ẩn,"
tức là "ẩn giấu." Bởi âm thanh thì có lớn có nhỏ, khi
vang khi bặt, chẳng khác nào lúc ẩn lúc hiện, cho nên gọi
là "ẩn." Ðức Phật có cảnh giới không thể nghĩ bàn - Pháp
âm của Ngài, chúng sanh nghe nhận đều không giống nhau. Người
này nghe ra là thứ tiếng này, người khác nghe ra là thứ tiếng
khác. Thật ra thì vốn chỉ là một loại âm thanh mà thôi,
nhưng chúng sanh vì chủng loại bất đồng, nên cái "nghe" cũng
có sự khác biệt.
Âm
thanh của Phật có thể truyền đi bao xa? Tôn Giả Mục Kiền
Liên, vị đệ tử thần thông bậc nhất của Phật, đã thí
nghiệm bằng cách dùng thần thông hướng về Hằng hà sa số
thế giới ở phía đông để nghe xem âm thanh của Phật truyền
đi được bao xa. Vượt qua Hằng hà sa số thế giới như thế
mà Tôn Giả vẫn nghe được âm thanh của Phật rõ mồn một
như đang đối diện với Ðức Phật vậy; cho nên âm thanh
của Phật thật không thể nghĩ bàn.
Lúc
bấy giờ Ðức Phật phát ra rất nhiều loại âm thanh chứ
không phải chỉ có một loại; vậy thì tổng cộng có bao
nhiêu loại?
Như
là tiếng Ðàn Ba La Mật. "Ðàn" là Ðàn-na (Dana), và vốn là
tiếng Phạn; Trung Hoa dịch là "bố thí." Bố thí, trước kia
giảng nhiều lần rồi. Bố thí thì gồm có tài thí, pháp
thí và vô úy thí. Mặc dù mọi người đều hiểu rồi, nhưng
nay giải thích cặn kẽ hơn về ý nghĩa của"bố thí."
Bố
thí mà không chấp trước ở tướng bố thí thì mới là sự
bố thí chân chánh. Bố thí mà có sự chấp tướng thì quả
báo sẽ là sanh về cõi trời; còn bố thí mà không chấp tướng
thì được quả báo thuộc loại vô lậu. "Không chấp tướng"
tức là tuy có hành động song trong lòng không so đo, nhớ nghĩ
đến. Ví dụ như mình bố thí cho ai đó một số tiền, thâm
tâm liền nghĩ: "A! Thế là phen này mình làm được một việc
thiện, tương lai mình sẽ được hưởng phước báo!" Luôn
suy nghĩ, tính toán như vậy thì rốt cuộc lại không được
phước báo; cho dù có được phước báo đi chăng nữa thì
cũng chỉ là sanh lên cõi trời mà thôi, chứ không thể hưởng
được thứ phước báo vô lậu.
Phải
như thế nào mới gọi là bố thí không chấp tướng? Phải
đạt đến cảnh giới "tam luân thể không" - không có năng
thí (người cho), không có sở thí (vật đem cho) và cũng không
có thọ giả (người nhận).
Thế
nào gọi là "năng thí"? Thế nào gọi là "sở thí"?" Năng thí"
tức là bố thí mà còn có cái "ngã," không quên được cái"tôi."
Ví dụ cứ nhớ rằng: "Mình đã cúng dường một số tiền
để xây chùa, đúc tượng Phật, in kinh điển"; rồi sanh tâm
chấp trước. Chấp trước như thế nào? Cứ nghĩ rằng mình
là người có khả năng bố thí, cứ thấy mình là người
đã dám xuất ra năm vạn đồng để cúng dường! Ðó là "năng
thí."
"Sở
thí" tức là những thứ được mang ra bố thí. Như nghĩ rằng:
"Mình đã bỏ ra năm vạn đồng để làm việc bố thí. Mình
đã cúng dường tiền bạc để cất chùa, in kinh, tạc tượng.
Mình đã làm công quả, tạo được công đức. Mình có góp
phần bố thí. Mình là kẻ có công bố thí, có đem của cải
ra bố thí."
Có
năng thí và sở thí rồi, tất phải có "thọ giả," tức là
người thọ nhận của đem cho, thì mới hoàn tất sự bố
thí.
"Thọ
giả" thì có năng thọ và sở thọ. Thế nào gọi là "năng
thọ"? Chẳng hạn có một người xuất ra năm vạn đồng bố
thí cho tôi, thì tôi chính là "năng thọ" - kẻ thọ nhận;
còn số tiền mà tôi thọ nhận từ người ấy chính là"sở
thọ."
Không
có năng thí thì cũng không có sở thí. Ðã không có năng thí,
sở thí, thì cũng không có năng thọ, sở thọ - tức là không
có thọ giả - đó gọi là "tam luân thể không." Cho nên,
bố thí mà không chấp trước vào tướng bố thí thì mới
gọi là sự bố thí "tam luân thể không."
"Ba
La Mật (paramita)" là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là "đáo bỉ
ngạn" (đến bờ bên kia), và cũng là "bỉ ngạn đáo." "Ðáo
bỉ ngạn" là nói theo ngữ pháp của tiếng Trung Hoa; còn "bỉ
ngạn đáo" là nói theo ngữ pháp của tiếng Phạn (Ấn Ðộ)
và tiếng Anh, có hơi khác với văn phạm của Trung văn. Vậy,
"đáo bỉ ngạn" và "bỉ ngạn đáo," nói tóm lại là "đáo"
cái "bỉ ngạn" nào?
Đến
bờ bên kia (Đáo bỉ ngạn) ngụ ư rằng tất cả những việc
mà chúng ta làm đă thành công rồi, chúng ta đă đạt mục
đích, đă thực hiện được điều ḿnh hằng mong muốn. Ví
dụ, hiện nay chúng ta muốn chấm dứt sự sanh tử, th́ đối
với chúng ta, sanh tử là “bờ bên này” (thử ngạn), c̣n
Niết Bàn là “bờ bên kia” (bỉ ngạn). Như thế, từ bờ
sanh tử bên này mà vượt qua được con sông phiền năo, tới
được bờ Niết Bàn bên kia, gọi là “đến bờ bên kia”
(đáo bỉ ngạn).
Chúng
ta từ thế giới này muốn đến thế giới Thường Tịch Quang
của Phật, nếu bây giờ khởi hành thì đến khi tới nơi,
cũng gọi là "đáo bỉ ngạn." Từ bờ bên này của phàm phu
mà sang đến bờ bên kia của Thánh nhân, chứng được Thánh
quả, cũng gọi là "đáo bỉ ngạn." Trước kia chúng ta chưa
thông hiểu Phật Pháp, nay lại hiểu rõ Phật Pháp, tức là
chúng ta cũng"đáo bỉ ngạn" vậy.
Tuy
nhiên, "đáo bỉ ngạn" thì có "bỉ ngạn rốt ráo" và "bỉ
ngạn không rốt ráo." Thế nào là "bỉ ngạn rốt ráo"? Thế
nào là "bỉ ngạn không rốt ráo"? Phàm phu chúng ta nếu chứng
đắc Sơ Quả tức là đến được "bờ bên kia" của Sơ Quả
chứ chưa đến được "bờ bên kia" của Nhị Quả. Chứng
đắc Nhị Quả tức là đến "bờ bên kia" của Nhị Quả,
chứ chưa đến được "bờ bên kia" của Tam Quả. Chứng đắc
Tam Quả tức là đến được "bờ bên kia" của Tam Quả. Chứng
đắc Tứ Quả tức là đến được"bờ bên kia" của Tứ Quả,
chứ vẫn chưa đến được "bờ bên kia" của Bồ Tát. Chứng
đắc tri kiến và trí huệ của Bồ Tát tức là đến được"bờ
bên kia" của Bồ Tát, chứ chưa phải là của chư Phật. Phải
chứng được Phật Quả thì mới là đạt đến cái "bỉ ngạn
rốt ráo," và đó cũng chính là cái "bỉ ngạn" cuối cùng.
Cho
nên, ý nghĩa của ba chữ "đáo bỉ ngạn" vô cùng thâm áo.
Nay tôi chỉ giảng sơ lược đạo lý này, sau khi hiểu rõ
ý nghĩa của từ ngữ "đáo bỉ ngạn" rồi, quý vị hãy suy
rộng ra, bổ sung thêm, để đạt đến chỗ rốt ráo của
"bờ bên kia." Nói như vậy cũng có nghĩa là tuy tôi giảng
rất ít, song quý vị có thể dựa vào những đạo lý tôi
giảng mà suy rộng, bổ túc, triển khai vấn đề cho bao quát
hơn; như thế thì tôi chỉ giảng một mà quý vị có thể
lãnh hội được mười hoặc trăm.
Ngoài
ra, như bây giờ bắt đầu giảng kinh, hai tiếng đồng hồ
sau thì giảng xong, đó là "đáo bỉ ngạn," là "Ba La Mật"
- buổi giảng kinh đã"đáo bỉ ngạn" vậy. Lại nữa, từ
lúc bắt đầu giảng câu"như thị ngã văn," có thể nói là
chúng ta còn ở"thử ngạn" (bờ bên này); đến khi giảng xong
câu "giai đại hoan hỷ, tín thọ nhi khứ," là chúng ta đã
"đáo bỉ ngạn" - sang đến bờ bên kia rồi. Tóm lại, làm
việc gì mà thành công, đạt mục đích rồi, thì đó là "đáo
bỉ ngạn." Quý vị hiểu thấu suốt từ ngữ "đáo bỉ ngạn"
này, tức là quý vị cũng "đáo bỉ ngạn" vậy. Mục đích
tối hậu của chúng ta là thành Phật, chứng được A Nậu
Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề, đắc quả Vô Thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác, thì mục đích đó cũng chính là "bỉ ngạn" của
chúng ta vậy.
Tiếng
Thi Ba La Mật. "Thi" là tiếng Phạn, nói đầy đủ là "Thi La"
(Sila); Trung Hoa dịch là "thanh lương." "Thanh" là thanh tịnh,
trong sạch; "lương" là lương sảng, mát mẻ. Vậy, "thanh lương"
có nghĩa là vừa sạch sẽ vừa mát mẻ; ngụ ý rằng chẳng
những không có phiền não mà còn được thoải mái, thanh thản
nữa.
"Thi
La" còn được dịch là "phòng chỉ" (ngăn dứt). Mỗi quốc
gia đều có dự bị quân đội, để phòng khi nước khác không
giữ quy củ, xâm lấn đất nước mình, thì mình có binh lính
sẵn sàng để chống cự; đó gọi là "quốc phòng" - sự phòng
bị của quốc gia. Gia đình có sự phòng bị của gia đình,
mỗi cá nhân đều có sự phòng bị của riêng mình. Ở đây
là nói về sự phòng bị của mình đối với chính mình.
Thế
nào gọi là "phòng chỉ"? Ðó là "phòng bị" mà"đình chỉ."
Phòng bị việc gì? Tức là đề phòng tất cả điều ác,
đình chỉ tất cả việc ác, tuyệt đối không làm điều
ác. Và, đó chính là:
.”Chớ
làm các việc ác,
Vâng
làm mọi việc lành.”
(Chư
ác mạc tác,
Chúng
thiện phụng hành.)
Khi
xưa có một cư sĩ đến xin một vị Ḥa Thượng giải thích
cho ông biết Phật Pháp là ǵ. Ḥa Thượng đáp: " Chư ác
mạc tác, chúng thiện phụng hành."
Vị
cư sĩ liền nói: "Bạch Ḥa Thượng, điều tôi muốn biết
là Phật Pháp. C̣n chuyện 'chư ác mạc tác, chúng thiện phụng
hành,' th́ đứa bé lên ba cũng biết được, sao Ngài lại
bảo đó là Phật Pháp?"
Ḥa
Thượng đáp: "Tuy đứa bé ba tuổi hiểu được, nhưng ông
già tám mươi không làm được!"
"Chớ
làm các việc ác” (Chư ác mạc tác) " Chư ác" tức là tất
cả mọi cái ác, mà cũng là một trong những việc ác. Chữ
"chư" này là chỉ số nhiều, mà cũng có thể hiểu là một.
Ví dụ, quư vị làm được một việc ác thứ nhất tất sẽ
làm được việc ác thứ hai, làm việc ác thứ hai rồi quư
vị sẽ làm việc ác thứ ba, làm việc ác thứ ba rồi tất
quư vị sẽ không ngần ngại mà làm việc ác thứ tư, cho
đến cả trăm ngàn vạn điều ác - như thế, tất cả đều
khởi sự từ con số một, từ một việc ác ban đầu mà sinh
sôi nảy nở rồi tích lũy dần dần. Giống như trái núi,
quư vị thấy to lớn như vậy, nhưng thực tế nó được kết
thành từ những hạt bụi nhỏ, vô số hạt bụi kết tụ
lại h́nh thành một ḥn núi. Cho nên quư vị nói "nhiều,"
nhưng "nhiều" rốt cuộc là bao nhiêu? Không có số lượng
nhất định! Thế th́ chi bằng cứ nói là "một," như vậy
c̣n dễ hiểu hơn!
V́
thế, ngay cả một việc ác cỏn con cũng không nên làm; đó
chính là "chớ làm các việc ác" vậy. Nếu như nói "chớ làm
các việc ác," e rằng có người lại nghĩ: "Đó là nói không
nên làm nhiều việc ác, c̣n một việc ác này thôi th́ đâu
phải là nhiều, ḿnh có làm cũng chẳng sao!" Cho nên, ở đây
tôi nhấn mạnh là một việc ác c̣n không nên làm, huống
hồ là nhiều việc ác! Nhiều th́ càng không nên làm. Vậy,
điều trọng yếu nhất, vi diệu nhất là một việc ác cũng
không làm!
“Vâng
làm mọi việc lành “ (Chúng thiện phụng hành). "Chúng" là
nhiều; đồng nghĩa với chữ "chư." " Vâng làm mọi việc lành
" nghĩa là tất cả mọi việc thiện, bất kể là lớn hay
nhỏ, chúng ta đều nên làm, chẳng nên bỏ sót một việc
nào. Cho dù là chuyện nhỏ nhặt, nhưng miễn là việc tốt
th́ cũng nên làm. Bằng không, nếu bỏ qua, th́ sẽ bị thiếu
một việc thiện nhỏ đó, mà như thế th́ không thể gọi
là "mọi việc lành " được! "Chúng" là toàn thể đại dụng,
trọn vẹn, không thiếu một chút ǵ. Do đó, không thể nói
rằng: "Tôi chỉ làm việc thiện này thôi; tôi không thích
làm việc thiện kia!" Làm thiện sự th́ dù nhiều hay ít, dù
lớn hay nhỏ, chúng ta cũng đều nên làm tất cả.
Còn
đối với việc ác thì hoàn toàn trái ngược - việc ác, bất
kể là lớn hay nhỏ, nhiều hay ít, chúng ta đều tuyệt đối
không nên phạm. Nếu quý vị làm điều ác bất chấp lớn
nhỏ, như thế là điên đảo đấy! Cho nên, sở dĩ vị Hòa
Thượng này nói: "Tuy đứa bé ba tuổi hiểu được, nhưng
ông già tám mươi không làm được," là vì chúng ta làm mà
chưa đạt tới chỗ viên mãn.
"Thi
La" còn có nghĩa là Giới - Giới Luật. Khi Ðức Phật sắp
nhập Niết Bàn, ngài A Nan thỉnh vấn bốn điều, và một
trong bốn điều ấy là khi Phật còn tại thế thì chúng đệ
tử thờ Phật làm Thầy, vậy sau khi Phật nhập Niết Bàn
rồi thì phải tôn ai làm Thầy. Bấy giờ, Ðức Phật dạy
rằng: "Chúng đệ tử xuất gia phải lấy Giới làm Thầy!"
Những giới luật ấy chính là "chớ làm các việc ác, vâng
làm mọi việc lành," và cũng chính là "chỉ ác, phòng phi"
- ngăn dứt điều ác, đề phòng việc quấy. Cho nên Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni nói Thi La Ba La Mật.
"Giới"
là tối trọng yếu, là quan trọng nhất. Bố thí là vấn đề
quan trọng nhất trong việc tu hành, mà trì Giới lại cũng
là vấn đề quan trọng nhất. Sao có nhiều vấn đề "quan
trọng nhất" vậy? Trong Phật Pháp không có thứ nhì, mà toàn
là thứ nhất, bất cứ pháp nào cũng đều là thứ nhất cả!
Có
người hỏi tôi: "Phật Pháp có tám vạn bốn ngàn pháp môn,
vậy pháp môn nào là đệ nhất, cao nhất, vi diệu nhất?"
Quý vị đoán tôi trả lời như thế nào? Tôi nói: "Phật Pháp
có tám vạn bốn ngàn pháp môn, thì có tám vạn bốn ngàn
pháp môn là đệ nhất, là số một, không có pháp môn nào
là hạng nhì cả!" Vì sao tôi nói như vậy? Tám vạn bốn ngàn
pháp môn là để đối trị tám vạn bốn ngàn tật bệnh của
chúng sanh. Mỗi chúng sanh đều mắc một chứng bệnh khác
nhau, thế thì, pháp môn nào trị lành được bệnh của người
nào, thì pháp môn ấy là hạng nhất đối với người đó
vậy!
Thí
dụ như các dược phẩm, có thứ thì trị nhức đầu, có
thứ thì trị đau cổ, hoặc đau mắt, đau tai, nhức răng,
sổ mũi..., có thứ thì trị các chứng bệnh khác trong cơ
thể; vậy quý vị nói thứ thuốc nào là hay nhất, là số
một? Nếu nói rằng thuốc nhức đầu là số một còn thuốc
đau mắt là số hai, tức là sai lầm! Quý vị mắc chứng nhức
đầu, uống thuốc đau đầu vào thì hết nhức, thì thuốc
ấy là số một; quý vị bị bệnh đau mắt, uống thuốc đau
mắt rồi thì hết đau, thì thuốc này cũng là số một vậy.
Loài
người chúng ta đều có "bệnh" tham, sân, si; nếu quý vị
hiểu Phật Pháp rồi trị được "bệnh" tham trong tâm mình,
thì pháp môn trị tâm tham ấy là đệ nhất; nếu quý vị
hiểu Phật Pháp rồi trị được "bệnh" sân, thì pháp môn
trị tâm sân ấy là đệ nhất; và nếu quý vị hiểu Phật
Pháp rồi dứt trừ được lòng si mê, thì pháp môn trị tâm
si ấy là đệ nhất. Chúng sanh có tám vạn bốn ngàn thói
hư tật xấu, Phật bèn giảng nói tám vạn bốn ngàn pháp
môn để đối trị những thói hư tật xấu ấy. Hễ pháp
môn nào trị dứt được bệnh của quý vị thì pháp môn ấy
là số một; bằng không thì không gọi là số một được.
Do đó, tám vạn bốn ngàn pháp môn đều là tám vạn bốn
ngàn pháp môn thuộc loại số một cả!
Kinh
Kim Cang dạy:"Pháp đây bình đẳng, không có cao thấp." Ðã
không có cao thấp cho nên tôi nói cả tám vạn bốn ngàn pháp
môn đều là số một, là đệ nhất, quý vị bảo như thế
có phải là Phật Pháp không?
Tôi
giảng kinh không giống như các người khác - như "chư ác mạc
tác," thì chữ "chư" phải giảng là "nhiều," không thể nào
là "một" được! Tôi thì khác! Tôi áp dụng ngữ pháp của
tiếng Anh, đảo ngược lại để truy tìm từ đầu. Bởi tôi
không biết về số học, con số nhiều quá làm tôi không biết
đâu vào đâu nữa. Liệu mình không theo kịp, tôi bèn quày
trở lại để đón đầu. Thí dụ có người chạy rất nhanh,
người đó quẹo, tôi cũng quẹo, cứ thế mà chạy theo người
ấy. Song người ấy chạy quá nhanh, biết mình không thể nào
bắt kịp được, tôi bèn quay đầu chạy ngược hướng lại
tức thì đón được anh ta! Quý vị xem, tôi giảng Kinh cũng
theo phương thức ấy - số mục quá nhiều, đếm không nổi,
do vậy tôi nói là"một" cho đơn giản. Như thế, chẳng những
tôi mà ngay cả đứa trẻ con cũng có thể hiểu được! Ðó
là cách giảng của tôi!
"Thi
La Ba La Mật." "Thi La" là trì Giới. Người trì Giới thì rất
nhiều, nhưng người mà tôi muốn nói đến chính là Ðạo
Tuyên Luật Sư. Ðạo Tuyên Luật Sư là một vị Pháp Sư trì
Giới nghiêm minh bậc nhất và nghiên cứu Giới Luật cao thâm
nhất ở Trung Hoa. Ngài do trì Giới tinh nghiêm mà khiến cho
chư thiên cảm động và hằng ngày đến dâng cơm cúng dường;
vì thế Ngài thọ dụng thức ăn của cõi trời chứ không
phải của nhân gian. Trong các Tổ Sư ở Trung Hoa từ trước
đến nay, chỉ có Ðạo Tuyên Luật Sư được thọ hưởng
sự cúng dường của chư thiên, và việc này ai ai cũng rõ
biết.
Giới
Luật thì chuyên nói về giới tướng, giới pháp và oai nghi
- ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh. Ba ngàn oai nghi này từ
đâu mà có? Từ Tứ Ðại Oai Nghi - đi, đứng, nằm, ngồi
- đi cũng phải có oai nghi, ngồi cũng phải có oai nghi, đứng
cũng phải có oai nghi, và nằm cũng phải có oai nghi:
Đi
như gió
Đứng
như tùng
Ngồi
như chuông
Nằm
như cung
(Hành
như phong,
Lập
như tùng,
Tọa
như chung,
Ngọa
như cung.)
" Đi
như gió " tức là đi như làn gió. Gió này hoàn toàn không
phải là gió lốc, cũng chẳng phải là cuồng phong. Đi mà
hấp tấp như chạy, tất không là gió lốc th́ cũng thành
cuồng phong. Người xuất gia khi cất bước phải khoan thai
như làn gió nhẹ, chỉ dịu dàng thổi lướt qua, không làm
xao động mặt nước; tuy rằng có gió song không làm dậy sóng.
"Đứng
như tùng" tức là đứng th́ thân phải thẳng như cây tùng,
không nên ngoẹo đầu ngoẹo cổ, dáng vẻ ủ rủ chẳng có
chút tinh thần, giống như chưa tỉnh ngủ vậy. Phải đứng
cho ngay, thẳng người lên; khi đi th́ đừng lúi húi khom lưng
c̣ng cổ, cũng đừng gằm đầu cúi mặt! Tuy nhiên, không nên
cúi đầu tức là phải ngẩng đầu, nhưng ngẩng lên quá cũng
không đúng, mà phải ngẩng một cách tự nhiên. Đây là nói
về cách đứng, một trong bốn đại oai nghi.
Ngoài
ra, khi đi th́ không nên nh́n đông nh́n tây, cũng đừng dáo
dác trông trước trông sau! Quư vị lơ láo nh́n ngó như thế
mà cảnh sát trông thấy th́ sẽ nghĩ: " A! Tên này khả nghi
quá, hắn định dở tṛ trộm cướp ǵ đây. Hắn ŕnh xem
có ai ở nhà không để đột nhập đấy mà!" và liền chú
ư đến quư vị. Cho nên, đừng nh́n ngang liếc dọc, chớ
dáo dác ḍm ngó!
"