MỤC
LỤC
Phần
Duyên Khởi
Phẩm
01: Thần Thông Trên Cung Trời Ðao Lợi
Phẩm
02: Phân Thân Tập Hội
Phẩm
03: Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên
Phẩm
04: Nghiệp Cảm Của Chúng Sanh Ở Cõi Diêm Phù
Phẩm
05: Danh Hiệu Của Ðịa Ngục
Phẩm
06: Như Lai Tán Thán
Phẩm
07: Lợi Ích Cho Cả Kẻ Còn Người Mất
Phẩm
08: Các Vua Diêm La và Quyến Thuộc Khen Ngợi
Phẩm
09: Xưng Danh Hiệu Chư Phật
Phẩm
10: Nhân Duyên và So sánh Công Đức Bố Thí
Phẩm
11t: Địa Thần Hộ Pháp
Phẩm
12: Thấy, Nghe Đều Được Lợi Ích
Phẩm
13: Giao Phó Cho Trời Người
Phần
Phụ Lục
Duyên
Khởi Của Pháp Hội Giảng Kinh
Tất
cả mọi nơi đều là đạo tràng, Pháp Hội, cho nên bất cứ
lúc nào và bất cứ ở đâu, chúng ta cũng đều có thể giảng
Kinh thuyết Pháp, tu tập, hành trì được cả. Mọi lúc đều
có thể tu hành, mọi chốn đều là nơi để dụng công. Tu
hành thì không nên phân biệt nơi chốn, chẳng nên phân biệt
xa gần; đến nơi nào cũng thấy như nhaụ Ngoài ra, cũng không
nên phân biệt về sự tốt xấu của Pháp Hộị Nếu ở bất
cứ nơi nào chúng ta cũng có thể giảng Kinh thuyết Pháp, nghiên
cứu giáo lý Phật Ðà, thì chúng ta sẽ có thể "kết thành
một đoàn, luyện thành một khối." Cho nên, tập được thói
quen đến đâu cũng nghiên cứu Phật Pháp là điều quan trọng
nhất vậy.
Chủ
yếu của việc nghiên cứu Phật Pháp là gì? Ðó là cắt đứt
vọng tưởng, thâu nhiếp thân tâm. Nếu chúng ta không mơ tưởng
về quá khứ, hiện tại hoặc vị lai, mà chỉ một lòng một
dạ nghiên cứu Phật Pháp, thì chúng ta sẽ không còn phiền
não, khổ đau. Tại sao chúng ta có phiền não ? Bởi vì chúng
ta không có được cái nhìn thấu suốt, không nỡ buông bỏ,
cứ cho rằng việc này quan trọng, việc kia cần thiết, do
vậy mà sanh lòng chấp trước. Một khi đã có tâm chấp trước
thì phiền não sẽ theo đó mà nảy sinh. Cho nên, chúng ta nghiên
cứu Phật Pháp thì cần phải dẹp bỏ tâm chấp trước.
Hôm
nay là ngày đầu tiên chúng tôi giảng Kinh ở đây. Sau này,
khi quý vị vào chỗ ngồi thì người hàng sau nên ngồi xen
kẽ đối với người hàng trước, để người trước người
sau đều có thể thấy rõ, khỏi cản trở tầm nhìn của nhau.
Ðó là cách ngồi; còn đứng thì như thế nào ? Cứ hai người
đứng một hàng, hàng này cách hàng kia một khoảng vừa đủ
để có thể cúi lạy được.
Vừa
rồi chúng ta có niệm Lục Tự Ðại Minh Chú (Án Ma Ni Bát
Di Hồng). Bồ Tát Ðịa Tạng rất thích mọi người niệm
chú Lục Tự Ðại Minh này. Nếu quý vị trì niệm Lục Tự
Ðại Minh Chú thì quý vị cầu xin bất cứ điều gì, Bồ
Tát Ðịa Tạng cũng sẽ giúp cho qúy vị được toại nguyện.
Sự cảm ứng linh thiêng của Ngài Ðịa Tạng không thể nào
nói hết được, điều này trong Kinh cũng có đề cập đến.
Vì thế, trong các buổi giảng Kinh, chúng ta đều nên luôn
luôn niệm Lục Tự Ðại Minh Chú. Ðây là một Thần Chú tối
nhiệm mầu; công năng của Thần Chú này thật không thể nghĩ
bàn!
Nhân
duyên của Pháp Hội giảng Kinh Ðịa Tạng lần này cũng khá
đặc biệt. Mùa hạ năm nay tôi mướn căn nhà này để mở
khóa tu học, và dự trù sau khi khóa học viên mãn thì trả
nhà. Ðến khi trả nhà rồi, thì có vài học viên muốn ở
lại tu học tiếp nên phải tự đi tìm thuê phòng tạm trú;
nhưng tìm phòng để thuê là một việc rất vất vả, không
dễ gì kiếm được ngaỵ Cho nên tôi cũng rất "mạo hiểm"
quyết định mướn lại căn nhà này. Sau đó, tôi mời mấy
học viên đó về ở, đồng thời thỉnh bức tượng Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát về đây "sống chung" với mọi người.
Như thế, đại chúng ngày ngày đều có cơ hội lễ bái Bồ
Tát hầu gieo trồng thiện căn, vun bồi cội phước.
Tuy
nhiên, đối với người Mỹ thì Bồ Tát vẫn còn quá xa lạ!
Trước kia họ không biết đến bất cứ một vị Bồ Tát
nào cả, bây giờ lại ở chung một nhà với Bồ Tát, thì
có người lấy làm vui mừng, song cũng có người ngần ngại:
"Ồ! Tượng Bồ Tát này trông giống người thật quá!"; và
sanh ra sợ sệt. Do đó, bây giờ tôi sẽ "giới thiệu" vị
Bồ Tát này với quý vị. Phàm muốn kết bạn với ai, tất
trước hết chúng ta phải tìm hiểu xem người ấy là người
như thế nào; nay vì quý vị muốn "làm quen" với Bồ Tát Ðịa
Tạng nên tôi sẽ giảng Kinh Ðịa Tạng cho quý vị nghe.
Kinh
Ðịa Tạng được xem là một bộ "Hiếu Kinh" của Phật Giáo.
Bồ Tát Ðịa Tạng là một vị Bồ Tát thực hành hiếu đạo,
và là vị Bồ Tát hiếu thảo với cha mẹ nhất. Vì cũng mong
muốn mọi người đều học theo tinh thần hiếu đạo của
Bồ Tát Ðịa Tạng, cho nên hôm nay tôi giảng bộ Kinh Ðịa
Tạng này.
Bây
giờ, chúng ta sẽ tìm hiểu bộ Kinh này dựa trên sáu yếu
tố:
- Thứ
nhất là Nhân Duyên Nảy Sanh Giáo Pháp (Giáo Khởi Nhân Duyên),
tức là nhân duyên, nguyên do có bộ Kinh này.
- Thứ
hai là Phân Loại Theo Tạng Thừa (Tạng Thừa Sở Nhiếp). "Tạng"
là Tam Tạng. "Thừa" là Ðại Thừa và Tiểu Thừa; mà cũng
là Ngũ Thừa - Nhân Thừa, Thiên Thừa, Thanh Văn Thừa, Duyên
Giác Thừa và Bồ Tát Thừa. Như vậy, yếu tố thứ hai là
xét xem Kinh này thuộc về tạng nào trong ba Tạng và thừa
nào trong năm Thừa.
- Thứ
ba là Nêu Rõ Tông Chỉ Kinh (Biện Định Tông Chỉ)
- Thứ
tư là Giải Thích Đề Mục Kinh (Tiêu Thích Danh Đề)
- Thứ
năm là Dịch Giả Truyền Dịch (Truyền Dịch Sử Giả), nói
rõ ai là người lưu truyền, phiên dịch bộ Kinh.
- Và,
thứ sáu là Giảng Giải Kinh Văn (Biệt Giảng Văn Nghĩa), giải
thích ý nghĩa của kinh văn.
I)
Nhân Duyên Nảy Sanh Giáo Pháp (Giáo Khởi Nhân Duyên)
"Giáo
khởi nhân duyên" nghĩa là gì? "Giáo" là lời giáo hóa, dạy
dỗ chúng sinh của các bậc Thánh Nhân. "Khởi" tức là trước
kia vốn không có mà bây giờ lại có, lại nảy sanh rạ "Nhân"
là nhân tố, còn "duyên" là duyên cớ. Thế thì, do nhân duyên
gì mà khởi sanh giáo pháp này ?
Sau
khi thành Phật, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết Pháp ròng
rã suốt bốn mươi chín năm, giảng Kinh tại hơn ba trăm Pháp
Hội, song thủy chung vẫn chưa siêu độ cho Ma-Da Phu Nhân, thân
mẫu của Phật. Ðức Phật Thích Ca vốn được sanh ra từ
cạnh sườn (phía trên bụng) bên trái của thân mẫu, và hạ
sinh Ngài xong thì Ma-Da Phu Nhân qua đời. Sau khi chứng đắc
Phật Quả, Ngài quán xét và biết là Thánh Mẫu đã được
thác sanh lên cõi trời.
Bấy
giờ, lúc đã thuyết xong Kinh Pháp Hoa và trước khi thuyết
Kinh Niết Bàn, Phật Thích Ca nhớ đến mẫu thân nên liền
lên cung trời Ðao Lợi ba tháng để thuyết Pháp cho Thánh Mẫu
nghe. Phật thuyết Pháp gì ở Ðao Lợi Thiên? Phật đã thuyết
Kinh Ðịa Tạng, một bộ kinh dạy về đạo hiếu. Vậy, do
muốn cứu độ từ mẫu nên Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã
lên cung trời Ðao Lợi thuyết giảng Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát
Bổn Nguyện. Ðức Phật vì mẹ mà tuyên thuyết giáo pháp
Kinh Ðịa Tạng; thế thì bộ Kinh này phải chăng rất trọng
yếu ?
II)
Phân Loại Theo Tạng Thừa (Tạng Thừa Sở Nhiếp)
"Tạng"
là Tam Tạng - Kinh Tạng, Luật Tạng, Luận Tạng. "Nhiếp" có
nghĩa là thuộc về. Kinh Tạng thì thuộc về Ðịnh Học, Luật
Tạng thuộc về Giới Học, và Luận Tạng thì thuộc về Huệ
Học. Kinh-Luật-Luận cũng chính là Giới-Ðịnh-Huệ. Bộ Kinh
này thuộc về Kinh Tạng và Luật Tạng vì trong đó có đề
cập đến Giới Luật.
"Thừa"
ở đây chính là Ngũ Thừa. Có người nói là chỉ có Tam Thừa
- Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa và Bồ Tát Thừa - mà thôi;
thế thì Ngũ Thừa là gồm những gì? Là ba Thừa ấy cộng
thêm Nhân Thừa và Thiên Thừa nữa, thì thành năm Thừa. Mỗi
chúng ta đều có nhiều điểm khác biệt nhau; giữa chư Thiên
với nhau cũng có thiên sai vạn biệt; Thanh Văn, Duyên Giác
cũng thế; và Bồ Tát cũng không phải chỉ có một mà là
rất nhiều vị. Vậy, bộ Kinh Ðịa Tạng này thuộc về Nhân
Thừa, Thiên Thừa và Bồ Tát Thừa.
III)
Nêu Rõ Tông Chỉ Kinh (Biện Ðịnh Tông Chỉ)
Bộ
Kinh này lấy gì làm tông chỉ? Tông chỉ của bộ Kinh này
gồm có bốn điều và được bao hàm trong tám chữ "Hiếu
Ðạo, Ðộ Sanh, Bạt Khổ, Báo Ân." Tám chữ này nói lên điều
gì? Ðó là "tinh nghiên hiếu đạo" - đạo lý hiếu thảo với
cha mẹ. Con người nếu biết giữ hiếu đạo thì trời đất
sáng ngời rạng rỡ. Ðiều khiến cho trời đất cảm động
cũng chính là lòng hiếu thảo, nên nói: ""Thiên địa trọng
hiếu, hiếu đương tiên" (trời đất đều xem trọng đạo
hiếu, hiếu là trước nhất).
1)
Hiếu Ðạo. Chữ "hiếu" này vô cùng quan trọng. Chỉ cần
có một chữ "hiếu" là toàn gia được yên vui, êm ấm. Có
câu:
Hiếu
thuận lại sanh con hiếu thuận
(Hiếu
thuận hoàn sanh hiếu thuận tử.)
Nếu
quý vị hiếu thuận với cha mẹ mình thì sau này con cái của
quý vị cũng sẽ hiếu thuận với quý vị. Còn nếu quý vị
không hiếu thảo với song thân, thì con cái của quý vị rồi
cũng sẽ không hiếu thảo với quý vị!
Vì
sao chúng ta phải học cách làm người? Làm người có ý nghĩa
gì? Có người nói rằng: "Tôi làm người một cách hồ đồ
như vầy thì cũng xong thôi!" Nói như thế là không phải! Bổn
phận của kẻ làm người là phải hiếu thảo với cha mẹ,
bởi cha mẹ chính là trời đất, là sư trưởng, và cũng là
chư Phật. Có cha mẹ mới có mình; nếu không có cha mẹ thì
mình không có được thân thể này, mà không có thân này để
tu hành thì mình sẽ chẳng bao giờ thành Phật được cả!
Cho nên, muốn thành Phật thì trước tiên là phải trọn hiếu
với cha mẹ. Vậy, tông chỉ thứ nhất là "Hiếu Ðạọ"
2)
Ðộ Sanh. Tông chỉ thứ hai của bộ kinh này là "Ðộ Sanh."
Thế
nào gọi là "độ sanh"? Từ bờ bên này vượt sang bờ bên
kia, gọi là "độ." Từ sanh tử đến Niết Bàn cũng gọi là
"độ." Từ phiền não mà được Bồ Ðề cũng gọi là "độ."
"Ðộ sanh" ở đây có nghĩa là cứu độ chúng sanh. "Cứu độ
chúng sanh" thì không phải là chỉ cứu một hoặc hai người,
cũng không phải là ba người hoặc năm người. "Ðộ chúng
sanh" là độ thoát tất cả mười hai loại chúng sanh. Phải
phát tâm giáo hóa hết thảy chúng sanh, khiến cho tất cả
chúng sanh đều sớm được thành Phật; như thế mới gọi
là "độ chúng sanh."
3)
Bạt Khổ. Ðây là tông chỉ thứ ba. Bộ Kinh này có công năng
"nhổ sạch khổ não," dứt trừ mọi nỗi khổ của chúng sanh.
4)
Báo Ân. "Báo ân" ở đây chính là báo đáp công ơn sanh thành
dưỡng dục của cha mẹ.
Vậy,
tám chữ "Hiếu Ðạo, Bạt Khổ, Ðộ Sanh, Báo Ân" là tông
chỉ của Kinh Ðịa Tạng. Nếu giảng cặn kẽ thì quá nhiều,
cho nên tôi chỉ đề cập đến những điểm trọng yếu; sau
khi hiểu rõ các ý chính, quý vị sẽ thông suốt được tất
cả.
Nghe
nhắc đến đạo hiếu, có nhiều người liền nghĩ: "Mình
phải về để hầu hạ, báo hiếu cho cha mẹ!" Nhưng về đến
nhà, gặp cha mẹ, thì họ lại chứng nào tật nấy, quên mất
bổn phận hiếu thảo. Vì sao họ quên? Vì họ không hiểu
hiếu đạo chân chánh là như thế nào. Tu học Phật Pháp tức
là chân chánh hiếu thảo vậỵ Chớ nói rằng về nhà quanh
quẩn bên cha mẹ mới là có hiếu, rồi về tới nhà thì lại
quên mất bổn phận hiếu thảo! Qúy vị ở đây nghiên cứu
Phật Pháp, học làm người tốt - điều này đối với thế
giới rất có lợi. Mang lại lợi ích cho thế giới cũng chính
là báo hiếu cha mẹ vậy.
"Hiếu"
được phân làm bốn loại: Tiểu Hiếu, Ðại Hiếu, Viễn
Hiếu và Cận Hiếu.
Thế
nào gọi là "Tiểu Hiếu"? "Tiểu Hiếu" là hiếu đạo trong
phạm vi gia đình, tức là chỉ hiếu thảo với cha mẹ ruột
của mình, chứ không hiếu thảo với tất cả mọi người,
chưa có được lòng hiếu thảo bao la, quảng đại.
"Hiếu
Quảng Ðại" là gì? Ðó chính là Ðại Hiếu - hiếu thuận
với khắp thiên hạ, xem tất cả các bậc cha mẹ trên đời
như là cha mẹ của mình. Ðây gọi là hiếu thuận với tất
cả mọi người. Thế nhưng, Ðại Hiếu vẫn chưa phải là
hiếu thuận chân chánh.
Thế
nào là "hiếu thuận chân chánh"? Chỉ khi nào quý vị thành
Phật mới gọi là có lòng hiếu thảo chân chánh, mới là
"Chân Hiếụ" Ðây là một loại hiếu thảo đích thực, rốt
ráo, vượt hẳn bốn loại hiếu kia. Ðức Phật Thích Ca xưa
kia, mặc dù vua cha không cho phép xuất gia, muốn cầm giữ
Ngài ở mãi trong cung, nhưng Ngài đã trốn khỏi hoàng thành,
lén đi xuất gia tu hành. Sau sáu năm ròng rã tu khổ hạnh trên
ngọn Tuyết Sơn, Ngài đã ngộ Ðạo thành Phật dưới cội
Bồ Ðề. Thành Phật rồi, Ngài đến cung trời Ðao Lợi, vì
mẹ mà thuyết Pháp. Qúy vị xem, đó chẳng phải là chân chánh
hiếu thảo sao?
Thế
nào gọi là "Cận Hiếu"? Noi gương những người con chí hiếu
thời cận đại, học cách hiếu thuận cha mẹ của họ - đó
gọi là "Cận Hiếu". Có câu:
Viễn
hiếu, hiếu muôn đời
Cận
hiếu, hiếu đương thời.
(Viễn
Hiếu, hiệu ư vạn cổ;
Cận
Hiếu, hiệu ư đương thời)
Viễn
Hiếu là gương hiếu thảo được muôn thế hệ truyền tụng
và noi theo; còn Cận Hiếu là sự hiếu thuận đương thời.
Cận Hiếu cũng có thể gọi là Tiểu Hiếu, mặc dù vẫn có
vài điểm bất đồng. Viễn Hiếu là hiếu thuận muôn đời,
điển hình là Nhị Thập Tứ Hiếu (hai mươi bốn gương hiếu
tử) của Trung Hoa. Gương hiếu thảo của họ được muôn
đời truyền tụng, lưu lại tiếng thơm cho hàng vạn thế
hệ sau.
Trong
Nhị Thập Tứ Hiếu của Trung Hoa có một Ðổng Vĩnh. Ðổng
Vĩnh, còn gọi là Ðổng Ảm, là một người con chí hiếu.
Gia đình Ðổng Vĩnh rất nghèo, cảnh nhà thiếu trước hụt
sau; còn hàng xóm của anh ta là Vương Kỳ thì lại rất giàu
có, sung túc. Mẹ của Ðổng Vĩnh nhờ con hiếu thảo nên hồng
hào khỏe mạnh; tuy tuổi đã cao mà vẫn còn linh hoạt và
lúc nào cũng tươi vui. Trong khi đó, mẹ của Vương Kỳ mặc
dù tiền bạc dư dả, ăn toàn những món ngon vật lạ, cao
lương mỹ vị, nhưng lại gầy gò ốm yếu, và trông có vẻ
buồn phiền áo não, chẳng chút vui tươi thanh thản.
Một
hôm, nhân lúc Ðổng Vĩnh và Vương Kỳ đều vắng nhà, bà
mẹ của Vương Kỳ mới sang chơi và hỏi mẹ của Ðổng Vĩnh:
"Bà chị tuổi tác cũng đã cao, cảnh nhà lại thanh bần, chẳng
thuốc thang tẩm bổ, mà sao trông bà lúc nào cũng vui vẻ,
khoẻ mạnh?"
Mẹ
của Ðổng Vĩnh đáp: "Bởi vì con trai tôi rất hiếu thảo.
Nó không dám làm việc gì xấu cả, lại rất thật thà đúng
đắn, cần cù làm việc; cho nên tôi rất hài lòng, không có
điều chi lo nghĩ hoặc buồn bực cả. Có lẽ nhờ tâm trí
thư thái, trong lòng thanh thản, nên thân thể được khỏe
mạnh đấy thôi."
Rồi
bà hỏi lại mẹ của Vương Kỳ: "Nhà bà chị giàu có thế
kia, ăn uống toàn là món ngon vật lạ, mà sao lại gầy ốm
như vậy? Bà chị gầy như cây sậy ấy, có mắc bệnh gì
không?"
Mẹ
của Vương Kỳ thở dài ngao ngán: "Tôi ư? Giàu thì cũng có
giàu đấy, ăn uống thì cũng toàn là những thức ngon lành,
bổ báo; nhưng khổ nỗi lại gặp phải thằng con ngỗ nghịch,
toàn làm những chuyện phi pháp, khiến tôi rất đau lòng. Hôm
nay phạm pháp, ngày mai phạm luật; hôm nay không bị sai nha
truy lùng, thì ngày mai cũng có lệnh của phủ đường đòi
đến tra hỏi. Tôi từ sáng đến tối cứ vì thế mà thấp
thỏm âu lo, thức ăn dù ngon cách mấy cũng nuốt không xuống,
không thấy vui. Bởi suốt ngày cứ rầu rĩ phiền muộn, cho
nên tôi càng ngày càng gầy mòn đấy thôi!"
"Hiếu"
tuy có Viễn Hiếu, Cận Hiếu, Ðại Hiếu, Tiểu Hiếu, nhưng
nếu nói đến sự hiếu thảo chân chánh thì chính là tu hành
để sau này thành Phật vậy. Hôm nay quý vị ở lại nghiên
cứu Phật Pháp, không bỏ về, đó chính là Chân Hiếu vậy.
Chân chánh nghiên cứu, hành trì Phật Pháp mới là sự hiếu
thảo đúng đắn, rốt ráo nhất.
IV)
Giải Thích Đề Mục Kinh (Tiêu Thích Danh Ðề)
Yếu
tố thứ tư là Tiêu Thích Danh Ðề. "Tiêu" nghĩa là gì? "Tiêu"
có nghĩa là giải thích ý văn một cách rõ ràng. "Tiêu thích
danh đề" tức là giải thích tên đề của Kinh.
Tên
của bộ Kinh này là "Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh."
Trong đó, "Ðịa Tạng Bồ Tát" là Nhân (người), "Bổn Nguyện"
là Pháp. Pháp cũng là một thứ "nghiệp." "Bổn nguyện" chính
là "bổn lai hạnh nghiệp" - hành vi và nghiệp sở tạo trong
đời quá khứ. Như vậy, trong bảy loại lập đề, bộ Kinh
này thuộc loại Nhân Pháp Lập Ðề.
Vì
sao gọi là "Ðịa Tạng"? "Ðịa" có nghĩa là đất, và có
công năng sinh trưởng vạn vật. "Tạng" là bảo tạng, tức
là kho báu. Chữ "tạng" này cũng có nghĩa là tàng trữ, cất
giấu. Tất cả kho báu vạn vật, tất cả mọi vật đều
có thể chôn giấu dưới đất. Vị Bồ Tát này giống như
đại địa vậy - có thể sinh trưởng tất cả vạn vật,
lại có vô lượng vô biên kho báu chôn dưới đất mà ai ai
cũng có thể khai quật được. Người nào tin Ngài thì sẽ
có phần trong những kho báu đó. Trong các kho báu này, cái
gì cũng có, ngay cả những thứ quý báu nổi tiếng như kim
cương, vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, .... không thiếu một
thức gì. Nếu qúy vị lấy được một khối kim cương nặng
chừng ba trăm pounds, thì qúy vị sẽ trở thành "đại phú
ông," là người giàu nhất thế giới! Vừa nghe tôi nói tới
viên kim cương "ba trăm pounds" thì có nhiều người phì cười,
cho rằng quá lớn! Thật ra, đó là viên nhỏ nhất trong kho
đấy; còn viên lớn nhất thì e rằng qúy vị nhấc không nổi!
Vì có đủ những mỹ đức kể trên, cho nên vị Bồ Tát này
có danh hiệu là "Ðịa Tạng."
"Bồ
Tát" là tiếng Phạn, có nghĩa là "hữu tình giác," tức là
một người giác ngộ trong hàng ngũ chúng sanh. Lại cũng có
nghĩa là "giác hữu tình," tức là người mà sau khi đã giác
ngộ, liền đem những điều mình đã chứng đắc ra dạy lại,
khiến cho các chúng sanh khác cũng được giác ngộ như mình.
Ðây chính là "tự giác, giác tha" - sau khi tự mình giác ngộ
rồi, thì nguyện cho tất cả chúng sanh cùng được giác ngộ.
Lại cũng có thể gọi là "tự lợi, lợi tha" - chính mình
có được đại trí huệ, bèn nguyện cho tất cả chúng sanh
cũng được đại trí huệ. Có đại trí huệ rồi thì không
còn sự điên đảo nữa.
"Bổn
Nguyện" tức là những thệ nguyện mà Ðịa Tạng Vương Bồ
Tát vốn đã lập từ xưa đến nay, chứ không phải bây giờ
mới lập. "Từ xưa đến nay" tức là từ lúc nào? Là từ
vô lượng kiếp về trước. Trong nhiều đời ở quá khứ,
Ngài đã từng phát lời thệ nguyện này, nên gọi là "bổn
nguyện."
Trong
Thập Nhị Bộ Kinh có phần Bổn Sự, ghi chép những sự việc
xảy ra trong đời quá khứ. Tương tự như thế, "bổn nguyện"
hiện tại của Bồ Tát Ðịa Tạng chính là những thệ nguyện
mà Ngài đã từng phát trong đời quá khứ, chứ không phải
chỉ trong đời này. Trong đời này Ngài chỉ lập lại và
tiếp tục thực hiện các thệ nguyện đó mà thôi. Ngài phát
lời thệ nguyện như thế nào? Ngài nguyện rằng:
"Ðịa
ngục chưa trống không, tôi quyết chưa thành Phật;
Chúng
sinh độ hết rồi, tôi mới chứng Bồ Ðề."
Nếu
tất cả các địa ngục chưa trống không, vẫn còn tội nhân,
thì Ngài cương quyết chưa thành Phật. Chỉ khi nào địa ngục
hoàn toàn trống không, chẳng còn một bóng tội nhân, Ngài
mới thành Phật. Qúy vị nghĩ xem, thệ nguyện này rộng lớn
như thế nào? Ðịa Tạng Vương Bồ Tát phát nguyện: "Tôi
nguyện ở trong địa ngục để tiếp dẫn tất cả ngạ quỷ.
Nếu những ngạ quỷ này một ngày chưa lìa khổ được vui,
thì tôi một ngày chưa thành Phật. Ðợi cho tất cả những
ngạ quỷ trong địa ngục đều được giải thoát, lìa khổ
được vui rồi, thì tôi mới thành Phật."
Chúng
ta thử nghĩ xem, chúng sanh tạo nghiệp thì vô cùng, phiền
não cũng vô tận; thế thì địa ngục làm sao có lúc cùng
tận được? Trừ phi phiền não và nghiệp chướng của chúng
sanh đều tiêu trừ hết, thì may ra địa ngục mới có ngày
trống rỗng. Song le, nghiệp chướng của chúng sanh không thể
tiêu trừ, phiền não cũng chẳng thể đoạn diệt, thì địa
ngục làm sao có thể trống không được?
Hạnh
nguyện của Bồ Tát Ðịa Tạng, theo quan điểm của các triết
gia và khoa học gia hiện nay, phải chăng là một tư tưởng
ngu si nhất và cũng là một hành vi ngu si nhất? Vì sao họ
cho rằng đây là một tư tưởng và hành vi ngu si nhất? Bởi
vì sự việc này vốn không thể nào xảy ra được - địa
ngục không bao giờ trống không cả! Thế thì Ngài Ðịa Tạng
vĩnh viễn không có cơ hội thành Phật sao?
Không
phải vậy! Ðó không phải là một tư tưởng và hành vi ngu
si nhất, mà chính là một tư tưởng và hành vi mang đậm nét
từ bi, đồng thời cũng là một tư tưởng và hành vi vô cùng
hiếu thảo. Vì sao lại nói đó là một tư tưởng và hành
vi chứa đầy lòng hiếu thảo? Bồ Tát Ðịa Tạng, sau khi
quán sát và biết được mẹ mình bị đọa địa ngục, chịu
nhiều thống khổ, bèn đến cầu xin Ðức Phật siêu độ
cho mẫu thân.
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát đích thực là ai? Ngài chính là Tôn Giả
Ma Ha Mục Kiền Liên, nguyện ở trong địa ngục làm Bồ Tát.
Vì sao Ngài muốn làm Bồ Tát ở địa ngục? Bởi vì Ngài
thấu hiểu và cảm thông được mọi đau khổ mà thân mẫu
Ngài đã chịu đựng, nên Ngài liên tưởng: "Nếu mẹ mình
chịu khổ như vậy, thì tất cả những bà mẹ trên cõi đời
này cũng đều chịu khổ như thế!" Cho nên Ngài dùng tâm hiếu
đạo bình đẳng, không phân biệt, mà độ thoát tất cả
chúng sanh trong địa ngục, khiến họ lìa khổ được vui.
Vừa
rồi là nói về "bổn nguyện" của Ðịa Tạng Vương Bồ Tát;
bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu chữ "địa (đất)." "Ðịa"
có mười nghĩa, nhưng mười ý nghĩa này cũng chưa diễn đạt
hết được công năng của "Ðịa," tuy vậy tôi sẽ giảng
sơ lược:
1)
Rộng Lớn (Quảng Ðại). Ý nghĩa thứ nhất là "quảng đại."
Qúy vị thấy Ðất có quảng đại, rộng lớn không? Có lẽ
trong quý vị có người đang nghĩ: "Thầy ơi, Thầy không cần
giảng nữa, ý nghĩa rộng lớn của Ðất ai mà chẳng biết!"
Thì chính vì ai ai cũng biết nên tôi càng cần phải giảng
hơn nữa, để mọi người có thể biết được nhiều thêm
một chút nữa!
2)
Nơi Nương Tựa Của Chúng Sanh (Chúng Sanh Y). Ðất là nơi nương
tựa của mọi chúng sanh; tất cả chúng sanh đều nhờ vào
Ðất mà sinh trưởng. Qúy vị nghĩ xem, có chúng sanh nào mà
chẳng sống nhờ trên Ðất hay không? Thật vậy, không một
chúng sanh nào sống trong hư không cả! Ðó là ý nghĩa thứ
hai của "Ðịa."
3)
Đất Không Ưa Ghét (Ðịa Vô Hảo Ố). Ðất không ưa thích,
cũng chẳng ghét bỏ ai. Ðất không hề phân biệt, lựa chọn:
"Ê, tên chúng sanh này, ta cho ngươi ở chỗ đó. Còn tên chúng
sanh kia, hãy cút đi, ta không thích ngươi!" Bất luận chúng
sanh nào, dù tốt hay xấu, thiện hay ác, dù là cọp, beo hay
hươu, nai... tất cả đều sống trên Ðất, đều nhờ Ðất
mà sinh tồn. Ngoài ra, Ðất không sinh tâm tốt, cũng chẳng
nảy tâm xấu. Có người nói: "Tôi hiểu điều đó - Ðất
hoàn toàn không có tri giác!" Qúy vị cho rằng Ðất không có
tri giác sao? Tri giác của Ðất không phải là điều mà tri
giác chúng ta có thể hay biết được. Ðất cũng có tri giác
của Ðất, và Ðất cũng là một trong những chúng sanh vậy.
4)
Tiếp Thọ Mưa Lớn (Thọ Ðại Vũ). Ðất có thể tiếp thọ
những cơn mưa lớn. Trời mưa lớn cách mấy, Ðất cũng đều
tiếp nhận, hấp thụ được cả.
5)
Sanh Cỏ Cây (Sanh Thảo Mộc). Ðất có thể sản sinh mọi thứ
cỏ, cây.
6)
Chủng Tử Nương Gởi (Chủng Sở Y Ký). "Chủng" là chủng
tử, hạt giống. Tất cả hạt giống đều được vùi trong
lòng đất, cho nên Ðất là nơi ký thác, nương nhờ của mọi
chủng tử.
7)
Sanh Châu Báu (Sanh Chúng Bảo). Ý nghĩa thứ bảy là gì? Ðiều
này lẽ ra không nên nói, vì e rằng nghe xong thì ai nấy đều
đổ xô đi tìm châu báu! Ý nghĩa thứ bảy của Ðất chính
là "sanh chúng bảo"- trong lòng đất có chứa rất nhiều thứ
quý báu.
8)
Sản Sanh Thuốc (Sản Chư Dược). Tất cả mọi dược phẩm,
mọi thứ thuốc, đều do Ðất sản sanh.
9)
Gió Thổi Không Động (Phong Xuy Bất Ðộng). Gió không bao giờ
lay động được Ðất; dù gió lốc mạnh cách mấy cũng chẳng
thể nào thổi Ðất đi được. Thế động đất thì sao? Ðộng
đất không phải là do gió thổi!
10)
Không Sợ Sư Tử Gầm (Sư Tử Hống Bất Kinh). Ðây là ý nghĩa
thứ mười của Ðất. Sư tử gầm lên một tiếng thì muôn
loài đều run sợ, duy có Ðất là chẳng mảy may kinh động.
Trên
đây là mười ý nghĩa của chữ "Ðịa" trong danh hiệu của
Ðịa Tạng Vương Bồ Tát.
Như
vậy, tên của bộ Kinh này thuộc loại Nhân Pháp Lập Ðề,
với "Ðịa Tạng Bồ Tát" là Nhân (người) và "Bổn Nguyện"
là Pháp. Chữ "bổn" này có nghĩa là căn bản (cội gốc),
và cũng có nghĩa là bản lai (vốn sẵn). "Bản lai" và "căn
bản" đều hàm ý "dĩ tiền" (thuở trước); do đó, "Bổn Nguyện"
tức là những thệ nguyện mà Bồ Tát Ðịa Tạng đã lập
từ thuở trước. Kể từ vô lượng kiếp về trước cho đến
nay, đời đời kiếp kiếp Ngài đều phát nguyện chu toàn
hiếu đạo - luôn luôn hiếu thuận với cha mẹ, và sẵn sàng
xả thân để cứu độ họ. Ðây là hạnh nguyện của Bồ
Tát Ðịa Tạng.
"Kinh."
Chữ "Kinh" này đã được giảng nhiều lần rồi, nhưng trong
mỗi Pháp Hội giảng Kinh đều cần phải nhắc lại. Tại
sao? Vì người đã nghe giảng rồi thì đương nhiên hiểu rõ,
còn những người chưa hề nghe giảng tất không sao hiểu được,
cho nên tôi không ngần ngại mà giảng lại lần nữa.
Chữ
"Kinh" có rất nhiều nghĩa. "Kinh" có nghĩa là "kính," tức là
con đường - con đường tu hành. Ai ai cũng có thể đi theo
con đường này cả. Qúy vị muốn thành Phật, tất phải đi
qua con đường tu hành, cho nên con đường này chính là con
đường thành Phật; vì thế mà nói "Kinh" nghĩa là "con đường"
vậy.
"Kinh"
còn có nghĩa là "dây mực" (thằng mặc). Dây mực là gì? Thuở
trước, các thợ mộc của Trung Hoa thường dùng một dụng
cụ gọi là dây mực để vẽ các đường thẳng. Ðó là một
hộp mực, bên trong có để sẵn sợi dây; mỗi khi cần vẽ
đường thẳng, họ kéo sợi dây căng ra, rồi đưa tay búng
nhẹ một cái vào sợi dây, thì sẽ có một đường mực đen
thẳng băng, ngay ngắn in trên mặt gỗ. "Kinh" ví như sợi dây
mực, có thể giúp chúng ta phân biệt tà, chánh.
"Kinh"
cũng có nghĩa là "tràng hoa" (kết man). Tức là dây hoa hoặc
tràng hoa, do dùng dây xâu kết từng đóa hoa lại với nhau
mà thành. Tương tự như thế, "Kinh" kết nối các nghĩa lý
lại với nhau như một tràng hoa vậy.
Ngoài
ra, "Kinh" còn bao hàm bốn ý nghĩa là Quán, Nhiếp, Thường
và Pháp.
1)
Quán. "Quán" tức là quán xuyên (xuyên suốt qua). "Quán xuyên"
cái gì? Ðó là "quán xuyên sở thuyết nghĩa"Ồtrong kinh, các
đạo lý và nghĩa lý tuyên thuyết như có một sợi dây xâu
xuyên qua, không một chi tiết nào bị thất lạc hoặc bỏ
sót.
2)
Nhiếp. "Nhiếp" có nghĩa là thu hút, thâu về; như nam châm
hút sắt cũng gọi là "nhiếp" vậy. "Nhiếp" ở đây là "nhiếp"
cái gì? Ðó là "nhiếp trì sở hóa cơ" - Phật nói Pháp là
để hóa độ chúng sanh tùy theo cơ duyên. Những kinh điển
ghi chép lời Phật dạy có một sức thu hút đối với các
chúng sanh đáng được hóa độ chẳng khác nào đá nam châm
đối với sắt vậy.
Chẳng
hạn hiện nay tôi giảng kinh, qúy vị đến đây nghe giảng,
đó cũng là do bị "thu hút" mà đến. Tại sao qúy vị đến
nghe giảng kinh? Ðó là do tác dụng của "lực" nhiếp trì -
"lực" yếu thì "thu hút" được ít người, "lực" mạnh thì
"thu hút" được nhiều người hơn. Có những người từ Seattle
về tận đây (San Francisco) tham gia Pháp Hội, là cũng do tác
dụng của "lực" nhiếp trì vậy. "Lực" nhiếp trì này tương
tự như sức hút của đá nam châm - đá nam châm hút sắt bằng
một hấp lực chúng ta không thể thấy được, nhưng vô hình
trung nó đã gây tác dụng ảnh hưởng; đó là "nhiếp."
Phật
dùng tâm từ bi đối đãi chúng sanh, còn chúng sanh thì đem
lòng cung kính thờ Phật; đó gọi là Phật "nhiếp thọ" tất
cả chúng sanh.
3)
Thường. "Kinh" còn có nghĩa là "thường," ngụ ý "cổ kim bất
biến" (xưa nay không đổi). "Kinh," một chữ không được bỏ,
một từ không được thêm; chẳng thể tăng, chẳng thể giảm
- do đó gọi là "thường," vĩnh viễn không bao giờ thay đổi.
Qúy vị muốn sửa đổi Kinh ư? Coi chừng bị đọa địa ngục
đấy! Vấn đề ở đây không phải là chuyên chế cường
quyền, mà là vì đạo lý của Kinh giống như sắt vậy, không
thể nào biến đổi.
4)
Pháp. "Kinh" còn có nghĩa là "pháp." Thế nào gọi là "pháp"?
"Tam thế đồng tuân viết pháp" - cả ba đời (quá khứ, hiện
tại, vị lai) đều tuân hành và y theo giáo pháp này mà tu
hành. Ðây là một loại hiến pháp có tính cách vĩnh cửu
chứ không phải chỉ tạm thời.
"Kinh,"
tiếng Phạn là Tu-đa-la (Sutra), dịch sang Trung văn là "khế
kinh."
Ngày
xưa, người Trung Hoa thường dùng khế ước trong việc giao
dịch. Vào thời ấy, khi mua bán sản nghiệp, người ta không
cần phải đến cơ quan chính phủ để làm thủ tục sang tên,
chuyển nhượng chủ quyền tài sản như hiện nay, mà chỉ
cần sự thỏa thuận giữa kẻ mua người bán với nhau là
đủ. Như mua bán ruộng đất chẳng hạn, sau khi viết giao
ước trên tấm giấy, họ gấp tờ giao ước lại, dùng kéo
cắt thành hai mẩu dài ngắn không đều nhau, rồi chia cho đôi
bên, mỗi người giữ một mẩu - người bán nói: "Thế là
xong, từ nay sở đất này thuộc về ông!"; người mua xác
nhận: "Vâng, sở đất này bây giờ là của tôi." Thế đến
khi cần thì lấy gì làm chứng cứ? Họ chỉ cần lấy hai
mẩu giấy so le nọ của bên mua và bên bán ráp lại với nhau;
nếu ăn khớp, vừa vặn, không sai lệch một mảy may, tức
là "khế" (hợp) vậy.
Thế
thì, "khế kinh" nghĩa là gì? "Khế kinh" là:
Trên,
hợp giáo lý chư Phật,
Dưới,
hơp căn cơ chúng sanh
(Thượng,
khế chư Phật chi lý,
Hạ,
khế chúng sinh chi cơ.)
Kinh
thì tương hợp với giáo lý của chư Phật, mà giáo lý của
chư Phật chính là tâm của chư Phật, cho nên cũng là khế
hợp với tâm của chư Phật vậy. Ngoài ra, Kinh cũng khế hợp
với cơ nghi của chúng sanh.
Thế
nào gọi là "cơ nghi của chúng sanh"? Hãy lấy tất cả các
loài thảo mộc trên mặt đất này làm tỷ dụ cho cơ năng
của chúng sanh chúng ta. Khi trời mưa, vạn vật đều được
tưới nhuần và tùy theo nhu cầu mà hấp thụ một lượng
nước thích ứng - cây to thì hút nhiều nước, cây nhỏ thì
hút ít nước hơn, như cỏ thì chỉ cần đủ để xanh tươi,
hoa chỉ cần đủ để óng mượt. Mỗi loài đều được thấm
nhuần rất bình đẳng; đó gọi là "khế cơ" - thích hợp
với cơ năng của chúng sanh. Tương tự như thế, "Kinh" ví
như nước mưa rưới đều khắp tất cả cỏ cây, vạn vật.
Vậy,
"khế chúng sanh chi cơ" là thế nào? Tức là khéo hợp với
căn cơ của chúng sanh, hễ chúng sanh cần bao nhiêu thì liền
được bấy nhiêu. Như bây giờ tôi giảng bộ Kinh này, ai
nghe cũng được mở mang kiến thức, trí huệ gia tăng - người
thông minh thì được thêm một chút trí huệ, mà kẻ tối
dạ cũng được thêm một chút trí huệ - nói chung, tùy theo
căn cơ, ai ai cũng được một sự lợi ích tương ứng. Thế
còn những người không có thiện căn thì sao? Họ sẽ không
đón nhận thứ "mưa" Pháp này, vì thế mà không đạt được
sự lợi ích. Cho nên, mỗi người đạt được sự lợi ích
tùy theo khả năng thích ứng của cá nhân mình. Ðó gọi là
"khế chúng sanh chi cơ."
Trên
đây chỉ là tóm lược ý nghĩa của chữ "Kinh," nếu giảng
rộng ra thì còn rất nhiều.
Ðịa
Tạng Vương Bồ Tát đời đời kiếp kiếp đều rất hiếu
thảo với cha mẹ, cho nên trong Phật Giáo, Kinh Ðịa Tạng
được xem là một bộ kinh về đạo hiếu. "Hiếu" là gốc
của con người. Con người nếu không hiếu thảo với cha mẹ,
tức là trọn một đời chưa làm tròn được trách nhiệm
của kẻ làm người. Vì sao? Cha mẹ sinh ra ta, nuôi nấng ta,
nếu ta được khôn lớn mà không biết báo đáp công ơn sinh
thành dưỡng dục, tức là ta chưa chu toàn nghĩa vụ làm người
vậy.
Ðức
Khổng Tử luôn đề xướng Hiếu Ðạo, do vậy trong Kinh Hiếu
có đoạn:
Trọng
Ni ở Hạnh Ðàn, có Tăng Tử theo hầu. Khổng Tử nói: "Này
Tăng Sâm, các đấng Tiên Vương nhờ có chí đức và yếu
đạo mà thiên hạ thuận hòa, dân chúng yên vui, trên dưới
không oán ghét nhau. Ông có biết thế chăng?"
Tăng
Tử đứng dậy thưa: "Sâm này không thông minh, làm sao biết
được?"
Khổng
Tử nói: "Hiếu là gốc của đức, cũng là chỗ sanh ra giáo.
Ông hãy ngồi xuống, Ta sẽ nói cho ông nghe. Thân thể, tóc,
da là cha mẹ ban cho, nên chẳng dám hủy hoại; ấy là khởi
đầu của đạo hiếu. Lập thân hành đạo, lưu danh cho hậu
thế, hiển vinh cho cha mẹ; đó là làm tròn đạo hiếu. Hiếu,
bắt đầu ở việc phụng dưỡng cha mẹ, phụng sự quốc
trưởng, và sau cùng là lập thân vậy."
Ðây
là một mẩu đối thoại giữa Ðức Khổng Phu Tử và học
trò là Tăng Tử, luận về đạo hiếu. Khổng Tử lúc bấy
giờ đương ở Hạnh Ðàn, và Tăng Tử cũng ở đó để hầu
hạ Khổng Tử. Tăng Tử là học trò của Khổng Tử, học
trò thì phải hầu hạ thầy; bởi Khổng Tử đã từng giảng
rằng: "Chúng ta không chỉ hiếu thảo với cha mẹ, mà còn
phải hiếu thảo với các bậc sư trưởng nữa." Cho nên, Khổng
Tử cần làm việc gì thì Tăng Tử đều đỡ đần hoặc làm
thay cho thầy; như muốn uống trà thì Tăng Tử liền rót trà
bưng tới...
"Tiên
Vương" tức là "cổ thánh tiên vương" - những bậc vua hiền
nhân, đức độ thời xưa của Trung Hoa. "Chí đức" có nghĩa
là đức hạnh lớn nhất, đã lên đến cực điểm. "Yếu
đạo" tức là đạo lý quan trọng, thiết yếu nhất. Như vậy,
Ðức Khổng Tử muốn hỏi ông Tăng Tử (Tăng Sâm) rằng các
vị vua thuộc hàng Thánh Nhân ngày xưa đều có đức hạnh
cực lớn, lại hiểu được đạo lý quan trọng nhất; bá
tánh nhờ áp dụng đạo lý đó mà trên thuận dưới hòa,
không còn tranh chấp; nhưng chẳng rõ ông Tăng Tử đã biết
đạo lý đó chưa.
Khi
ấy, ông Tăng Tử liền đứng dậy và thưa với Khổng Tử
rằng: "Tăng Sâm không được thông minh. Con là một kẻ ngu
muội, kém cỏi, thì làm sao biết được? Con thực không biết
điều đó."
Khổng
Tử lại nói rằng thân thể, tóc, da này của chúng ta là do
cha mẹ ban cho, đều nhờ cha mẹ mà có được, vì thế chúng
ta không nên tùy tiện hủy hoại; và đó chính là bước khởi
đầu của đạo hiếu.
Có
một số người Mỹ hiểu lầm về đạo hiếu; hiểu lầm
như thế nào? Họ nói là ở Trung Hoa có ông Khổng Phu Tử
dạy học trò rằng: "Thân thể, tóc, da là cha mẹ ban cho, nên
chẳng dám hủy hoại; ấy là khởi đầu của đạo hiếu."
Rồi từ đó xuất hiện những kẻ hippy - tóc không cắt, mặt
không rửa, râu không cạo...; họ ngụy biện rằng rửa mặt
là làm hại da dẻ, cạo râu cắt tóc là làm tổn thương râu,
tóc... và như thế là bất hiếu!!! Ðây là một tư tưởng
vô cùng sai lầm, một sự ngộ nhận hết sức tai hại! "Chẳng
dám hủy hoại" không có nghĩa là chúng ta đừng cắt tóc để
khỏi tổn thương thân thể hoặc đừng tắm rửa để khỏi
tổn hại đến da, mà ý nói là chớ nên hủy hoại thân thể
của mình một cách phi lý! Cắt tóc chẳng qua là một tập
tục của thời đại, mọi người cũng nên tùy theo thời đại
mà cắt tóc đàng hoàng.
Hiện
nay có một số người hippy muốn "thay đổi thời đại," đi
hút thuốc phiện, ma túy..., và nói rằng những thứ ấy đều
không làm tổn thương thân thể. Những độc phẩm này giết
chết không biết bao nhiêu tế bào trong cơ thể, làm cho con
người trở thành suy nhược, sức khỏe bị sút giảm. Ðó
đúng là hủy hoại thân thể, song họ không chịu nhìn nhận,
lại khăng khăng nói là mình hiếu thảo! Họ chẳng đoái hoài
tới cha mẹ, xem như cha mẹ mình đang ở tận trên chín tầng
mây, hoặc xa tít cả mười vạn tám ngàn dặm! Thậm chí nếu
có hỏi họ: "Cha bạn là ai? Mẹ bạn họ gì?" thì họ đều
ngẩn người, chẳng nhớ ra được, mặc dù miệng lúc nào
cũng huênh hoang là mình đang thực hành đạo hiếu của người
Trung Hoa! Như thế là hoàn toàn sai lầm, cần phải sửa đổi
chiều hướng suy nghĩ cho đúng đắn. Qúy vị nói mình vì
hiếu thảo nên không cắt tóc, song từ sáng đến tối cứ
làm điều xằng bậy, thậm chí cướp bóc hoặc làm chuyện
bất lương; thế thì rốt cuộc qúy vị sẽ đi về đâu? Rủi
ro bị bắn chết một cách oan uổng thì mới thật là bất
hiếu! Nếu cứ cướp giật, phạm pháp, hoặc là bắn cảnh
sát, hoặc là bị cảnh sát bắn chết; thì như thế có phải
là "chẳng dám hủy hoại; ấy là khởi đầu của đạo hiếu"
hay không?
Cho
nên, tôi hy vọng ở quốc gia này, ai nấy đều vào khuôn phép,
tuân theo pháp luật, sửa đổi những thói quen không tốt,
và chớ nên sanh tâm oán hận. Chúng ta phải thận trọng gìn
giữ thân tâm, ở bất cứ nơi nào cũng đều làm những việc
hữu ích cho nhân loại, đất nước, thế giới; chứ không
nên mang lại tai hại, thảm họa. Ðây là điều mong mỏi của
tôi.
Nếu
mọi người đều không muốn làm việc khó nhọc, cũng chẳng
thích làm việc sản xuất, thì tương lai đất nước chắc
chắn sẽ không được tốt đẹp. Cho nên chúng ta, những người
hiện đang học Phật Pháp, đều nên tích cực đóng góp công
sức để giúp thế giới, giúp nhân loại. Hãy tự nêu gương
sáng, làm người gương mẫu, để ảnh hưởng xã hội, cảm
hóa nhân tâm, khiến mọi người đều trở nên hiền hòa,
thánh thiện. Ðó chính là trách nhiệm của Phật giáo đồ
chúng ta vậy.
Nước
Mỹ xưa nay vốn có nhiều chế độ rất tốt, đặc biệt
là về phương diện giáo dục. Ngành giáo dục ở Mỹ hiện
rất phổ cập và đang trên đà phát triển mạnh mẽ, hơn
hẳn các quốc gia khác, nên có thể làm gương cho toàn thế
giới. Duy có một điều là nếu mọi người còn biết hiếu
thảo với cha mẹ nữa, thì quốc gia này chắc chắn càng tốt
đẹp hơn nhiều. Có câu :
Bậc
quân tử vun trồng nơi gốc, gốc vững thì Ðạo nảy sanh.
Hiếu
và đễ, ấy là gốc làm người chăng?
(Quân
tử vụ bổn, bổn lập nhi Ðạo sanh.
Hiếu
đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bổn dư?)
Người
quân tử phải tìm cho được chỗ gốc, nếu gốc được bồi
đắp vững vàng thì Ðạo sẽ nảy sanh; vậy cái "gốc" ấy
là gì? Ðó là "hiếu" và "đễ" - hiếu thuận với cha mẹ,
kính mến bậc huynh trưởng. Ðối với anh chị thì phải giữ
hòa khí, không gây gỗ, không ẩu đả nhau; đó gọi là "đễ."
Hai chữ "hiếu, đễ" này là căn bản, là "gốc" của con người.
Nếu mọi người đều tìm được "gốc," ai nấy đều biết
hiếu thuận cha mẹ, kính trên nhường dưới, thì thế giới
sẽ vô cùng tốt đẹp.
Nếu
qúy vị có lòng hiếu thảo thì qúy vị sẽ không làm chuyện
phi pháp, không để cho cha mẹ phải phiền lòng. Mà, nếu biết
tôn trọng, tuân thủ luật pháp quốc gia, thì qúy vị sẽ
là những công dân lương thiện, gương mẫu. Nếu toàn thể
dân chúng trong nước đều trở thành những công dân tốt
của quốc gia, thì cũng có thể nói rằng đó là những công
dân tốt của toàn thế giới. Như vậy có nghĩa là qúy vị
đang dẫn dắt tất cả nhân loại trên toàn thế giới hướng
về con đường tươi sáng, tốt đẹp. Cho nên, trước tiên,
mọi người cần phải biết hiếu thảo với cha mẹ. Nếu
con cái không hiếu thuận phụng dưỡng cha mẹ, thì cha mẹ
sanh con ra để làm gì?
Cha
mẹ sinh con ra, khó nhọc nuôi con khôn lớn nên người; nhưng
đến khi được mười tám tuổi thì con cái lại "tung cánh
bay xa," rời khỏi mái ấm gia đình, chẳng đoái hoài đến
cha mẹ. Rồi đến khi cha mẹ già yếu thì phải lủi thủi
vào sống trong viện dưỡng lão. Ở đó, tuy nói là có chính
phủ bảo trợ, song chẳng có chút thâm tình ruột thịt; phải
sống lẻ loi trơ trọi, côi cút hẩm hiu như không người thân
thích. Nếu may mắn có được con cái hiếu thảo, hết lòng
chăm sóc phụng dưỡng, thì bậc làm cha làm mẹ cũng thấy
an ủi lúc tuổi già bóng xế. Bằng trái lại, thì chỉ nuôi
con cho khôn lớn để rồi chúng lại tản mác bay đi như bầy
chim sẻ khi đã đủ lông đủ cánh, mà cũng chẳng biết chúng
bay về nơi đâu!!!
Sách
có câu:
Dê
con qùy bú, quạ con mớm mồi nuôi mẹ.
(Dương
cao quỳ nhũ, ô nha phản bô.)
Quạ
con khi khôn lớn thì biết đi kiếm mồi mang về nuôi quạ
mẹ, mãi cho đến khi nào quạ mẹ bình phục, có thể bay lượn
trở lại được mới thôi; cho nên người Trung Hoa gọi quạ
là loài "chim hiếu" (hiếu điểu). Dê con lúc bú sữa mẹ thì
hai chân trước đều quỳ xuống. Cho nên, con người nếu không
hiếu thảo với cha mẹ thì chẳng bằng loài quạ và dê! Nói
như thế không phải là trách móc bất cứ người nào, mà
chỉ để nêu lên một đạo lý mà ai ai cũng cần phải biết.
Hơn nữa, người biết hiếu thảo với cha mẹ thì thường
được gặp những sự cảm ứng linh thiêng, mầu nhiệm. Cảm
ứng như thế nào ư?
Ở
Trung Hoa có lưu truyền câu chuyện "Quách Cự Chôn Con." Vì
sao Quách Cự phải chôn con? Quách Cự vốn là người nghèo
khổ; hai vợ chồng có được một mụn con, lại còn mẹ già
cần phụng dưỡng. Mẹ ông vì tuổi già, răng rụng hết,
nên không ăn cơm được, thường ngày chỉ uống sữa của
người con dâu, vợ của Quách Cự. Thế nhưng, sau khi sinh thêm
đứa con thì người con dâu không thể nào có đủ sữa cho
cả bà lẫn cháu được, cho nên bà phải chịu đói mà cháu
cũng chẳng được no. Quách Cự nghĩ tới nghĩ lui, không biết
nên giải quyết như thế nào mới phải - nếu để dành sữa
cho mẹ già thì con thơ sẽ chết vì khát sữa; nhưng nếu chỉ
dành sữa cho con thì mẹ già đành phải chịu đói!
Vốn
là một người con chí hiếu không ai bằng, Quách Cự bàn với
vợ: "Vợ chồng ta hãy còn trẻ, sau này vẫn có thể có thêm
con được. Bây giờ chúng ta bỏ đứa con này để lo phụng
dưỡng mẹ già trước. Mẹ nay tuổi hạc đã cao, chẳng còn
ở với chúng ta được bao lâu nữa; chúng ta cần phải săn
sóc, hầu hạ mẹ cho chu đáo." Vợ Quách Cự mặc dù không
đành đoạn bỏ con, nhưng vì hiếu đạo nên phải dằn lòng,
cố nén đau thương, nói rằng: "Vâng, mình nói cũng phải!"
Thế
là, sau khi bàn bạc, hai vợ chồng Quách Cự liền chuẩn bị
mang con đến một nơi hoang vắng, xa thành phố để chôn. Cả
hai vợ chồng vốn cưng chìu, nâng niu đứa bé như một báu
vật, nhưng nay lại phải đành lòng đem con đi chôn sống!
Thế nhưng, khi họ đào hố thì lạ thay, đào lên toàn là
vàng với bạc, và trên những thoi vàng, thoi bạc ấy đều
có dòng chữ "Trời ban cho hiếu tử Quách Cự."
Quách
Cự vì nghèo khổ nên bất đắc dĩ phải đem con đi chôn,
bây giờ vàng thoi bạc nén đầy dẫy, cho nên không cần phải
chôn con nữa. Ðây là một công án mà ở Trung Hoa ai cũng biết
cả. Ở Trung Hoa có rất nhiều người tuy không phải là tham
lam, muốn được phát tài, song do biết đạo hiếu rất quan
trọng, nên hầu như ai ai cũng hết lòng hiếu thảo.
V)
Dịch Giả Truyền Dịch (Truyền Dịch Sử Giả)
Yếu
tố thứ năm là Dịch Nhân (Truyền Dịch Giả), tức là giới
thiệu người có công phiên dịch bộ Kinh.
Về
dịch giả của Kinh Ðịa Tạng, thì có sách chép là do Tam
Tạng Pháp Sư Pháp Ðăng phiên dịch. Pháp Sư Pháp Ðăng vốn
là người Trung Hoa, khoảng đời nhà Hậu Trần. Tuy nhiên,
phần lớn các sách lại chép rằng Kinh Ðịa Tạng là do Tam
Tạng Sa Môn Thật-Xoa Nan-Ðà (Siksananda), người xứ Vu Ðiền
(Khotan), phiên dịch vào đời nhà Ðường của Trung Hoa.
Vào
đời Ðường, có một quốc gia tên là Vu Ðiền, nằm khoảng
phía trên vùng biên giới của tỉnh Vân Nam ngày nay.
"Vu
Ðiền" là tiếng Phạn, dịch là "Ðịa Nhũ," nghĩa là "đất
có sữa chảy ra." Xuất xứ của cái tên này nghe như chuyện
thần thoại, chuyện thần thoại ấy như thế nào? Tên ngày
xưa của nước này là gì thì chúng ta không thể nào tra cứu
được nữa. Chỉ biết tương truyền rằng, khi xưa, thuở
chưa mang tên Vu Ðiền, nước này có một ông vua vì chưa có
con trai nối dõi bèn đến một ngôi miếu nọ để cầu tự.
Kết quả là có một đứa bé được sinh ra từ trán của
tượng Thần miếu. Qúy vị nghĩ rằng có chuyện đó hay không?
Ðứa bé nọ không chịu bú sữa, bất kể là sữa mẹ hay
sữa bò. Về sau, trên mặt đất bỗng xuất hiện một vật
hình thù giống như cái vú và có sữa chảy ra; đứa bé chỉ
chịu bú thứ sữa ấy. Vì thế, từ đó quốc gia này có tên
là "Vu Ðiền," tức "Ðịa Nhũ Quốc." Qúy vị nghĩ xem, đó
có phải là thần thoại không?
Như
vậy, tại nước Ðịa Nhũ (Vu Ðiền) ấy có một vị Tam Tạng
Sa Môn tên là Thật Xoa Nan Ðà. "Sa Môn" là tiếng Phạn và
có nghĩa là "cần tu Giới Ðịnh Huệ, tức diệt Tham Sân Si";
đồng nghĩa với từ ngữ "Sa Di." "Cần tu," tức là siêng năng
cần mẫn, không biếng nhác. Qúy vị chớ cho rằng ngủ nhiều
là tốt. Ngủ nhiều thì có thể qúy vị cảm thấy khỏe khoắn
về thể xác; song đối với Pháp thân thì không ích lợi gì
cả. Cho nên, cần phải siêng năng tu tập Giới Ðịnh Huệ,
hăng hái dẹp trừ Tham Sân Si.
"Thật
Xoa Nan Ðà" là tiếng Phạn, dịch ra Trung văn là "Hỷ Học."
Vị Sa Môn này không lười biếng, Ngài rất hoan hỷ và rất
thích học Phật Pháp, học Chú Lăng Nghiêm, Chú Ðại Bi cũng
như nhiều kinh điển khác, cho nên Ngài có tên là Thật Xoa
Nan Ðà.
"Dịch"
tức là phiên dịch; trong trường hợp này là phiên dịch từ
Phạn văn sang Trung văn. "Dịch" cũng có nghĩa là hoán đổi;
hoán đổi cái gì? Ðó là chiếu theo nguyên bản bằng tiếng
Phạn mà chuyển đổi thành tiếng Trung Hoa. Dưới triều đại
nhà Chu của Trung Hoa, có một chức quan đặc trách về ngôn
ngữ của bốn phương. Ở phương Bắc, chức quan này được
gọi là "Dịch," nghĩa là vị quan trông coi việc phiên dịch;
cho nên về sau người ta đều gọi phiên dịch là "dịch."
VI)
Giảng Giải Kinh Văn (Biệt Giải Văn Nghĩa)
Yếu
tố thứ sáu là Biệt Giải Văn Nghĩa. "Biệt" là phân biệt;
"giải" là giải thích; "văn" là kinh văn; và "nghĩa" là ý nghĩa.
Vậy, đây là phần giải thích ý nghĩa của kinh văn.
Source:
http://www.dharmasite.net/