PHẨM
THỨ HAI MƯƠI BA
SƯ
TỬ HỐNG BỒ TÁT
Bấy giờ đức Phật bảo toàn thể đại chúng : Này ! Các
Thiện nam tử ! NGHI, là pháp chướng đạo, một tâm sở hữu
có công năng đóng bít nẻo Bồ đề Niết bàn của những
người cần tu học đạo giải thoát giác ngộ.
Trên bước đường học đạo, tu đạo, hành đạo các vấn
đề : Có Phật hay không Phật ? Có pháp hay không pháp ? Có
Tăng hay không Tăng ? Có khổ hay không khổ ? Có tập hay không
tập ? Có diệt hay không diệt ? Có đạo hay không đạo ? Có
ngã hay không ngã ? Có thường hay không thường? Có lạc hay
không lạc ? Có tịnh hay không tịnh ? Có thừa hay không thừa
? Có tánh hay không tánh ? Có chúng sanh hay không chúng sanh ?
Có hữu vi hay không hữu vi ? Có vô vi hay không vô vi ? Có chơn
hay không chơn ? Có vọng hay không vọng ? Có nhơn hay không
nhơn ? Có quả hay không quả ? Có tác giả hay không tác giả
? Có nghiệp hay không nghiệp ? Có báo hay không báo ?...Và còn
nhiều hơn thế nữa. Giờ đây đại chúng có thể tùy ý hỏi
ra, Như Lai sẽ giải quyết rõ ràng cho chư liệt vị !
Như Lai không bao giờ có một niệm tự cao, tự đại, nhưng
Như Lai thành thật mà quả quyết rằng: Nếu có hoặc trời
hoặc người, hoặc Sa môn, Bà la môn, hoặc Ma vương, Phạm
thế đến hỏi mà Như Lai không giải đáp được. Bởi vì
Như Lai đã thành tựu NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ rồi.
Bấy giờ trong pháp hội có Bồ tát hiệu Sư Tử Hống đứng
dậy nghiêm chỉnh y phục đảnh lễ Phật chăp tay thưa: Bạch
Thế Tôn ! Con vừa muốn hỏi, đức Thế tôn đại từ mẫn
lại đã hứa cho.
Phật bảo đại chúng rằng: Các vị có mặt trong chúng hội
này đều tôn trọng, tán thán, cúng dường những thứ cần
dùng thượng diệu cho Bồ tát này! Vì Bồ tát này trong quá
khứ trồng sâu thiện căn phước đức nên nay ở trước Phật
và đại chúng đứng ra thưa hỏi. Như sư tử chúa tự biết
sức lực , răng nanh nhọn bén, bốn chân trụ đứng trong hang
động vẫy đuôi gầm ra tiếng vang vọng núi rừng, rồi bước
ra khỏi hang vươn vai, nhìn ngó bốn phương. Lại cất tiếng
rống…một tiếng dài…Sư tử vương làm như vậy nhằm phát
huy và bảo vệ những lợi ích:
Một,
vì muốn răn đe cảnh cáo những loài chẳng phải thiệt sư
tử mà dối hiện sư tử.
Hai,
vì muốn thử nghiệm sức lực mình.
Ba,
vì muốn bảo vệ chỗ ở tịch tịnh.
Bốn,
vì muốn bầy sư tử con biết chỗ nơi.
Năm,
vì muốn đàn sư tử không bị kinh sợ.
Sáu,
vì muốn những kẻ ngủ say sẽ được tỉnh thức.
Bảy,
vì muốn những loài thú "phóng dật" ngáp gió, chuyển vận
toàn thân, rồi bắt buộc phải siêng năng.
Tám,
vì muốn những loài thú khác phải khiếp sợ chầu hầu.
Chín,
vì muốn điều phục đại hương tượng.
Mười,
vì muốn dạy bảo cho con cái.
Mười
một, vì muốn tôn vinh chủng loại của mình.
Tất cả cầm thú: Loài bay, loài chạy, loài bơi lội khi nghe
tiếng rống của sư tử đều sợ hãi rụng rời cơ thể,
kể cả hương tượng cũng khiếp đảm bôn ba mất hết uy
phong bệ vệ của mình; còn nói chi loài chó chóc, cáo chồn
dù có lóc thóc theo đuôi sư tử trăm năm cũng không rống
lên tiếng oai hùng như sư tử được. Nếu là sư tử con,
ba năm tuổi đã có khả năng rống tiếng vang cả núi rừng
như sư tử chúa.
Này Thiện nam tử ! Như Lai chánh biến tri giác, trí tuệ là
nanh vuốt. Tứ như ý túc là chơn. Lục ba la mật là thân.
Thập trí lực là sức mạnh. Đại từ bi là đuôi. An trú
tứ thiền là hàng thanh tịnh; vì chúng sanh mà gầm rống pháp
âm như sư tử, nhằm dẹp phá ma quân, hiển bày trí lực Phật,
mở mang đường lối, làm chỗ nương về cho bọn tà kiến;
vỗ về những hạng người sợ sệt tử sanh; giác ngộ cho
những chúng sanh đang bằng lòng với giấc ngủ vô minh mộng
mị; khiến cho người ác sanh tâm hối hận ăn năn; khai thị
cho chúng sanh biết thế nào là ngoại đạo, thế nào là tà
kiến, đập vỡ ngụy thuyết của hàng ngoại đạo Phú Lâu
Na. Cuối cùng khiến cho người Nhị thừa hối hận nhận biết
kiến thức nông cạn hẹp nhỏ mà phát đại tâm. Chỉ rõ
cho hàng Bồ tát "trụ", "địa" hướng lên vô thượng Phật
đạo. Những công năng và thành tựu như vậy, từ Thánh hạnh,
Phạm hạnh, Thiên hạnh vươn vai mà ra. Vì muốn khiến cho
chúng sanh dẹp bỏ lòng kiêu mạn, sư tử ngáp dài, vì muốn
chúng sanh được từ vô ngại biện, sư tử trụ vững bốn
chân trên đất chắc, vì muốn chúng sanh gìn lòng kiên cố
đối với "tứ ba la di" (giới) nên sư tử rống to.
Sư tử rống biểu trưng "quyết định thuyết": Rằng TẤT
CẢ CHÚNG SANH ĐỀU CÓ PHẬT TÁNH. NHƯ LAI THƯỜNG TRỤ BẤT
BIẾN NHƯ NHƯ.
Này Thiện nam tử ! Hàng Thanh văn, Duyên giác dù gần gũi Như
Lai vô lượng kiếp nhưng không thể là sư tử rống. Thập
trụ Bồ tát nếu tu hành Thánh hạnh, Phạm hạnh, Thiên hạnh,
nên biết rằng đó là sư tử rống !
Đức Phật dạy tiếp: Toàn thể đại chúng nên biết Bồ
tát Sư Tử Hống, nay muốn làm Đại Sư Tử Hống. Đại chúng
nên cúng dường cung kính tôn trọng tán thán.
Bấy giờ Thế tôn bảo Sư Tử Hống Bồ tát: Này Thiện nam
tử ! Ông muốn hỏi điều gì, giờ đây ông có thể tùy ý
nêu ra ?
Bạch Thế tôn ! Bồ tát Sư Tử Hống thưa: Thế nào là Phật
tánh ? Do nghĩa gì mà gọi là Phật tánh ? Nếu chúng sanh có
Phật tánh tại sao lại chẳng thấy được Phật tánh của
tất cả chúng sanh ? Thập trụ Bồ tát trụ những pháp gì
mà chẳng thấy Phật tánh rõ ràng ? Phật thì trụ những pháp
gì mà thấy Phật tánh rõ ràng ? Thập trụ Bồ tát sử dụng
con mắt gì mà thấy Phật tánh chẳng rõ ràng ? Phật Thế
tôn dùng con mắt gì mà thấy Phật tánh được rõ ràng ?
Phật bảo: Này Thiện nam tử ! Lành thay ! Quý hóa thay ! Nếu
có ai vì pháp mà thưa hỏi là người đầy đủ hai thứ trang
nghiêm: Một là trí tuệ. Hai là phước đức. Nếu có Bồ
tát đầy đủ hai thứ trang nghiêm như vậy thì biết Phật
tánh, lại cũng có thể biết Thập trụ Bồ tát dùng con mắt
gì, Phật Thế tôn dùng con mắt gì !
Sư Tử Hống Bồ tát thưa: Bạch Thế tôn ! Thế nào là trí
tuệ trang nghiêm ? Thế nào là phước đức trang nghiêm ?
Này Thiện nam tử ! _Phước đức trang nghiêm là trên nhơn
tu: Bố thí ba la mật. Trì giới ba la mật nhẫn đến Bát nhã
ba la mật. _ Trí tuệ trang nghiêm là nói về quả chứng: Từ
sơ địa đến thập địa.
Lại nữa, phước đức trang nghiêm còn là hữu vi, hữu lậu,
có nhơn quả, chẳng phải là pháp THƯỜNG. Trí tuệ trang nghiêm
là vô vi, vô lậu, vượt ngoài nhơn, quả vì là pháp THƯỜNG
trụ.
Này Sư Tử Hống ! Nay ông đầy đủ hai thứ trang nghiêm ấy
nên ông có thể hỏi diệu nghĩa thẩm sâu. Phật cũng đầy
đủ hai thứ trang nghiêm như vậy cho nên Như Lai sẽ giải
đáp cho ông những diệu lý sâu xa như vậy !
Này Sư Tử Hống ! Pháp giới nhất chân là pháp mà ông phải
học. Rồi tất cả không một, không hai cũng lại là điều
ông và tất cả chúng sanh phải học. Bởi vì thực tánh các
pháp không hai, nhưng không thể nói một. Tại sao vậy ? Tại
vì, "Một" dành chỉ Niết bàn, thường, lạc, ngã, tịnh. "Hai"
để chỉ sanh tử phiền não vô minh.
Do vậy, Như Lai nói: Người hỏi phải có hai thứ trang nghiêm
mới có thể hỏi. Người đáp cũng đầy đủ hai thứ trang
nghiêm mới giải đáp tận tường.
Này Sư Tử Hống ! Ông lại hỏi: "Thế nào là Phật tánh ?"
Ông hãy lóng nghe. Như Lai sẽ phân biệt giải thuyết: Phật
tánh cũng gọi là: "ĐỆ NHẤT NGHĨA KHÔNG”, cũng gọi là
"TRÍ TUỆ".
Đệ nhất nghĩa không có nghĩa là "không" mà "chẳng phải
không". Vô ngã mà ngã, ngã mà vô ngã. Vô thường mà thường,
thường mà vô thường. Vô lạc mà lạc, lạc mà vô lạc.
Tịnh mà bất tịnh, bất tịnh mà tịnh. Thấy được chân
lý đó, là người thấy ĐỆ NHẤT NGHĨA KHÔNG, thấy lý trung
đạo, thấy Niết bàn và là người thấy Phật tánh, đích
thực là người đạt đến tột đỉnh cao Vô thượng Bồ
đề Phật.
Này Thiện nam tử ! Gốc rễ sanh tử có hai thứ: Một, vô
minh. Hai, ái thủ. Giữa hai thứ đó có quả khổ, sanh, già,
bệnh, chết. Đấy cũng gọi là trung đạo.
Kiến chấp của chúng sanh cũng có hai: Một, thường kiến.
Hai, đoạn kiến. Hai thứ kiến chấp như vậy không gọi là
trung đạo. Không thường, không đoạn mới gọi là trung đạo.
Muốn thấy lý trung đạo phải sử dụng quán trí, quán mười
hai nhơn duyên để nhận thức sự vận hành liên tục của
hoặc, nghiệp, khổ…Nhận thức đúng đắn chơn lý, gọi
đó là Phật tánh. Do vậy, Phật tánh và trung đạo không một
cũng không hai.
Này Thiện nam tử ! Phật tánh có nhơn, có nhơn của nhơn.
Có quả, có quả của quả. Nhơn chính là mười hai nhơn duyên.
Nhơn của nhơn là trí tuệ. Quả chính là Vô thượng Bồ đề.
Quả của quả là Vô thượng Đại Niết bàn. Ví như vô minh
là nhơn, hành là quả. Hành là nhơn, thức là quả. Do nghĩa
đó, vô minh cũng là nhơn, cũng là nhơn của nhơn. Thức cũng
là quả, cũng là quả của quả. Phật tánh cũng như vậy.
Do nghĩa đó, vô minh chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng thường,
chẳng đoạn, chẳng một, chẳng hai, chẳng đến chẳng đi,
chẳng nhơn, chẳng quả.
Là
nhơn mà chẳng phải quả, như Phật tánh.
Là
quả mà chẳng phải nhơn, như Đại Niết bàn.
Là
nhơn cũng là quả, như những pháp do mười hai nhơn duyên sanh.
Chẳng phải nhơn, chẳng phải quả ấy chính là Phật tánh.
Phật tánh chẳng nhơn chẳng quả cho nên thường hằng không
biến đổi. Do nghĩa đó, trong kinh Phật nói mười hai nhơn
duyên ý nghĩa rất sâu, không thể thấy biết, không thể nghĩ
bàn là cảnh giới của chư Phật, Bồ tát. Hàng Thanh văn,
Duyên giác không đến được.
Sư Tử Hống Bồ tát: Bạch Thế tôn ! Nếu Phật cùng Phật
tánh không sai khác thì tất cả chúng sanh cần gì phải tu
hành ? Vì biết rằng quả vị Phật mình đã nắm chắc trong
tay.
Phật bảo: Này Thiện nam tử ! Lời ông hỏi không đúng với
sự lý. Phật và Phật tánh dù không sai khác, nhưng chúng sanh
đâu dễ trọn lành. Ví như có người ác tâm muốn hại mẹ,
hại rồi sanh lòng ăn năn. Trước mắt, ba nghiệp dù lành,
nhưng nội tâm người này vẫn là người địa ngục, vì người
này chắc chắn sống trong địa ngục, nên gọi là người
địa ngục.
Do lẽ đó, trong các kinh Phật nói: Nếu thấy người tu hạnh
lành thì gọi là người trời. Thấy người tạo nghiệp ác
thì gọi là thấy địa ngục. Vì chắc chắn họ sẽ thọ
quả báo khổ.
Này Thiện nam tử ! Vì tất cả chúng sanh quyết định được
Vô thượng Bồ đề nên Phật nói tất cả chúng sanh đều
có Phật tánh. Nhưng thật ra, chúng sanh chưa có ba mươi hai
tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp. Do nghĩa đó, mà Như Lai nói
kệ rằng:
Trước
có nay không
Trước
không nay có
Ba
đời có pháp
Nghĩa
này không đúng.
Này Thiện nam tử ! Có ba thứ có: Một, vị lai có. Hai, hiện
tại có. Ba, quá khứ có. Tất cả chúng sanh đang có phiền
não, cho nên không có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ
đẹp. Tất cả chúng sanh đã có dứt trừ phiền não nên hiện
tại được thấy Phật tánh. Do nghĩa đó, Phật thường tuyên
nói: "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh nhẫn đến nhất
xiển đề cũng có Phật tánh".
Nhất xiển đề không có pháp lành. Phật tánh là pháp lành,
vị lai họ sẽ có. Nhất xiển đề đều có Phật tánh, vì
họ quyết định thành Vô thượng Bồ đề. Ví như có người
trong nhà có sữa, có người hỏi: Anh có "bơ" không ? Đáp
rằng: Tôi có. Sữa hiện tại không phải "bơ", do phương tiện
khéo léo chế biến thành "bơ". Chúng sanh cũng vậy, tất cả
đều có tâm. Phàm người có tâm sẽ được thành Vô thượng
Bồ đề. Do nghĩa đó, Phật thường tuyên nói: "Tất cả chúng
sanh đều có Phật tánh".
Này Sư Tử Hống Bồ tát ! Phật tánh cũng gọi là Thủ Lăng
Nghiêm tam muội, tối tôn, tối thượng, như đề hồ đối
với sữa, tô, lạc vậy. Do sức của Thủ Lăng Nghiêm tam muội
mà chư Phật được thường, lạc, ngã, tịnh. Tất cả chúng
sanh đều có tam muội ấy, vì không biết tu hành mà chẳng
được thấy, vì không được thấy cho nên không được thành
Vô thượng Bồ đề.
Này Thiện nam tử ! Phật tánh cũng là sắc, cũng là phi sắc;
cũng là tưởng, cũng là phi tưởng; cũng là một, cũng là
chẳng phải một; cũng là thường, cũng chẳng phải thường;
cũng là đoạn, cũng chẳng phải đoạn; cũng là có, cũng là
không; cũng chẳng phải có, cũng chẳng phải không; cũng là
nhơn, cũng là chẳng phải nhơn; cũng là quả, cũng là chẳng
phải quả; cũng là nghĩa lý, cũng là chẳng phải nghĩa lý;
cũng là danh tự, cũng là chẳng phải danh tự; cũng là lạc,
cũng là khổ, cũng là chẳng phải lạc, chẳng phải khổ;
cũng là ngã, cũng là chẳng phải ngã; cũng là không, cũng
là chẳng phải không.
Này Sư Tử Hống ! Phật tánh "rời" tất cả tướng "là" tất
cả pháp. Phật tánh không ở trong, không ở ngoài cũng không
ở trung gian; vô sở tại, vô sở bất tại !
Này Thiện nam tử ! Phật tánh chẳng phải ngũ ấm, thập nhị
nhập, thập bát giới; chẳng phải trước không nay có; chẳng
phải có rồi trở lại không, từ nhơn lành mà chúng sanh được
thấy. Ví như khối sắt đen, đưa vào lửa đốt thì đỏ,
lấy ra ngoài thì trở lại đen. Màu đen của khối sắt không
ở trong, không ở ngoài, không tìm đâu cho có. Tuy nhiên, do
nhơn duyên mà có. Phật tánh cũng như vậy, lửa phiền não
tắt dứt thì chúng sanh được thấy, được nghe như hạt
giống biến diệt thì mầm mọng mọc lên, nhưng tánh mầm
mọng này chẳng phải ở trong, chẳng phải ở ngoài cho đến
như bông trái cũng vậy, đều theo duyên mà có.
Đại Niết bàn là kết quả của vô lượng công đức duyên
lành; Phật tánh cũng vậy, do gieo trồng vun quén vô lượng
vô biên công đức duyên lành mà được thấy.
Sư Tử Hống Bồ tát thưa: Bạch Thế tôn ! Bồ tát tu hành
tốt, bao nhiêu pháp được thấy Phật tánh mà chẳng rõ rang
? Chư Phật Thế tôn thành tựu bao nhiêu pháp mà được thấy
Phật tánh rõ ràng ?
Phật bảo: Này Thiện nam tử ! Bồ tát tu hành tốt mười
pháp, dù được thấy Phật tánh mà chẳng rõ ràng. Một, thiểu
dục. Hai, tri túc. Ba, tịch tịnh. Bốn, tinh tấn. Năm, chánh
niệm. Sáu, chánh định. Bảy, chánh tuệ. Tám, giải thoát.
Chín, tán thán giải thoát. Mười, dùng Đại Niết bàn giáo
hoá chúng sanh.
Sư Tử Hống Bồ tát thưa: Bạch Thế tôn ! Thiểu dục là
chẳng tham cầu, chẳng cất chứa. Tri túc là lúc được ít
lòng không tiếc hận. Thiểu dục là ít mong muốn. Tri túc
là chỉ vì pháp sự, lòng không sầu hận ưu phiền.
Này Thiện nam tử ! Dục có ba thứ: Một, ác dục. Hai, đại
dục. Ba, dục dục.
Ác
dục là tham muốn địa vị danh vọng hơn người. Muốn làm
thượng thủ trong tăng đoàn để quốc vương đại thần,
nhân dân trăm họ tôn trọng cung kính ta, để cho ta được
nhiều sự nghiệp, lợi dưỡng. Sự đa dục này chỉ là sự
mong muốn nối dòng sanh tử luân hồi cho nên gọi là ác dục.
Đại
dục là mong muốn làm sao cho đại chúng biết rằng ta là người
chứng đắc đạo quả: Sơ trụ…Thập trụ nhẫn đến Vô
thượng Bồ đề. Sự mong muốn này, chỉ vì hư danh và lợi
dưỡng mà không mong cầu thực nghĩa, một sự mong muốn không
bờ mé cho nên gọi là đại dục.
Dục
dục là ước muốn cho mình được sanh làm Phạm thiên, Ma
thiên, Tự tại thiên, Chuyển luân thánh vương, Sát đế lợi,
Bà la môn…Sự ước muốn này, cũng chỉ vì lợi dưỡng,
không có lý tưởng cao đẹp gì khác, đấy gọi là dục dục.
Người không bị ba thứ ác dục này làm hại, gọi là người
thiểu dục. Lại nữa, dục còn gọi là hai mươi lăm cõi.
Hai mươi lăm cõi chính là hai mươi lăm đối tượng "ái" của
con người. Vượt khỏi hai mươi lăm cảnh "sở ái" thì gọi
là thiểu dục. Được an vui, được giải thoát mà không tham
đắm gọi là tri túc. Chẳng cầu sự cung kính của người
khác gọi là thiểu dục. Được cúng dường mà không tích
trữ gọi là tri túc.
Bạch Thế tôn ! Sư Tử Hống thưa: Tịch tịnh là thế nào
?
Phật bảo: Tịch tịnh có hai: Một, tâm tịnh. Hai, thân tịnh.
Thân tịch tịnh là không tạo ba điều ác do thân. Tâm tịch
tịnh là không tạo ba điều ác do ý. Đấy gọi là thân tâm
tịch tịnh.
Thân tịch tịnh thì không gần gũi với bốn chúng, không dự
việc của bốn chúng. Tâm tịch tịnh thì không buông thả
để khởi niệm tham dục, sân nhuế và ngu si. Đấy gọi là
thân tâm tịch tịnh.
Lại có trường hợp: Thân tịch tịnh, tâm không tịch tịnh;
Tâm tịch tịnh, thân không tịch tịnh; có trường hợp thân
tâm không tịch tịnh, cũng có trường hợp thân tâm tịch
tịnh.
Thân tâm đều chẳng tịch tịnh đó là hàng bạc địa phàm
phu và hạng người nhất xiển đề.
Thế nào gọi là tinh tấn ? Nếu có người tu muốn cho thân,
khẩu, ý nghiệp thanh tịnh, xa lìa tất cả hạnh nghiệp bất
thiện mà tu tập tất cả thiện nghiệp. Đấy gọi là tinh
tấn. Người tu hạnh tinh tấn thường giữ chánh niệm, niệm
sáu đối tượng: Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thí và Đệ nhất
nghĩa thiên.
Người có chánh niệm thì cũng có chánh định. Có chánh định
thì quán sát thấy các pháp dường như hư không, cho nên đồng
thời có chánh tuệ. Người có chánh tuệ thì có khả năng
xa lìa tất cả kiết sử phiền não. Do vậy mà có giải thoát.
Người có giải thoát, rồi vì chúng sanh mà tán thán giải
thoát: Rằng giải thoát là thường hằng và không diệt hoại,
không biến đổi, giải thoát chính là Vô thượng Đại Niết
bàn. Niết bàn còn có nghĩa là lửa phiền não đã tắt hết.
Do vậy, Niết bàn cũng gọi là nhà cửa, vì có thể ngăn bít
mưa gió phiền não. Niết bàn còn có nghĩa là cồn bãi, vì
bốn con sông lớn hung bạo chẳng thể chảy trôi: đó là dục
bạo, hữu bạo, kiến bạo và vô minh bạo không xâm lược
sói mòn được. Lại nữa, Niết bàn còn gọi là về đến
chốn, vì được tất cả sự an lạc hoàn toàn trọn vẹn.
Nếu Bồ tát tu tốt mười pháp như vậy thì được thấy
Phật tánh. Tuy nhiên, cái thấy Phật tánh của Bồ tát ấy
chưa rõ ràng.
Này Thiện nam tử ! Do tuệ nhãn mà thấy Phật tánh thì chẳng
được rõ ràng. Dùng Phật nhãn mà thấy thì thấy được
rõ ràng. Vì Bồ đề hành nhơn Bồ đề thì chẳng rõ ràng,
nếu vô hành, vô tác, vô nguyện thì thấy được rõ ràng.
Trụ nơi hạnh thập trụ thì dù thấy mà chẳng rõ ràng, nếu
chẳng trụ, chẳng đi thì thấy Phật tánh được rõ ràng.
Đại Bồ tát vì nhơn trí tuệ mà thấy, nên chẳng thấy rõ
ràng; chư Phật vượt qua nhơn quả, dứt hết nhơn quả cho
nên thấy Phật tánh rõ ràng.
Này Thiện nam tử ! Thấy có hai thứ: Một, mắt thấy. Hai,
nghe thấy. Chư Phật mắt thấy Phật tánh như thấy trái quít
để trên bàn tay. Bồ tát nghe thấy: Rằng "Tất cả chúng
sanh đều có Phật tánh" rồi Bồ tát tin biết chắc thật
bằng tư duy nhận thức của mình, gọi đó là Bồ tát nghe
thấy.
Nếu có Thiện nam tử, thiện nữ nhơn muốn thấy Như Lai phải
tu học mười hai bộ kinh, nên thọ trì, đọc tụng, biên chép,
giảng thuyết.
Sư Tử Hống Bồ tát thưa: Bạch Thế tôn ! Tất cả chúng
sanh muốn biết tâm tướng Như Lai, phải tư duy, quán tưởng
như thế nào, để được biết?
Phật bảo: Này Thiện nam tử ! Tất cả chúng sanh chẳng có
thể biết được tâm tướng của Như Lai, nhưng nếu muốn
quán sát để được biết thì cần có hai nhơn duyên: Một,
mắt thấy. Hai, tai nghe thấy. Nếu thấy thân nghiệp của Như
Lai, đây gọi là mắt thấy. Nếu thấy khẩu nghiệp của Như
Lai, đây gọi là nghe thấy. Nếu thấy sắc mạo tướng hảo
trang nghiêm của Như Lai, tất cả chúng sanh không ai sánh bằng
được, đây là mắt thấy. Nếu nghe pháp âm vi diệu của
Như Lai, không đồng với những âm thanh triền phược của
chúng sanh, đây là nghe thấy.
Giả sử có người tự hỏi: Tại sao Như Lai thọ thân ? Như
Lai thọ thân vì ai hay vô cớ ? Đấy gọi là con mắt thấy.
Nếu quán niệm Như Lai thuyết pháp thế nào ? Vì ai mà thuyết
? Thuyết nhằm mục đích gì ? Đấy gọi là nghe thấy ? Có
người sử dụng những nghiệp ác gia hại Như Lai mà Như Lai
không sân hận. Đây là mắt thấy. Dùng nghiệp ác của miệng
thóa mạ, phỉ báng Như Lai, thế mà Như Lai bất động. Đây
gọi là nghe thấy.
Sư Tử Hống Bồ tát thưa: Bạch Thế tôn ! Vì lẽ gì mà một
thầy Tỳ kheo, một người phát tâm tu hành cần phải thọ
trì cấm giới ?
Phật bảo: Này Thiện nam tử ! Người tu hành, một Tỳ kheo
trì giới là: Vì tâm không hối hận; vì tâm không hận mà
thọ dụng sự an vui; do thọ dụng sự an vui mà xa lìa bức
não; vì xa lìa bức não mà tâm an ổn; do tâm an ổn mà có
thiền định; vì có thiền định mà có tri kiến chơn chánh.
Do có tri kiến chơn chánh mà thấy lỗi quấy, họa hại của
sanh tử. Do thấy lỗi họa sanh tử mà tâm chẳng đắm nhiễm;
vì tâm chẳng đắm nhiễm mà được giải thoát. Do vì giải
thoát mà có Đại Niết bàn vô thượng; vì được Đại Niết
bàn vô thượng mà thể nhập bốn đức: Thường, Lạc, Ngã,
Tịnh. Do thọ dụng đức Thường, đức Lạc, đức Ngã, đức
Tịnh mà vĩnh ly sanh diệt, được bất sanh bất diệt; thể
nhập bất sanh bất diệt là người thấy PHẬT TÁNH. Vì duyên
cớ ấy, mà Bồ tát tu hành tự hay trì giới chín chắn viên
mãn mà không tìm hỏi lý do.
Này Thiện nam tử ! Thầy Tỳ kheo trì giới dù chẳng phát
nguyện cầu tâm không hối hận…cho đến không mong cầu thấy
Phật tánh, nhưng tự nhiên được tất cả. Tại vì Pháp tánh
vốn như vậy.
TRỰC
CHỈ
NGHI là một tâm sở hữu pháp, là một trong sáu món phiền
não căn bản, cũng là một trong năm món tư hoặc. Ở kinh Đại
Niết bàn này, Phật dạy: Nghi là pháp chướng đạo. Sự thật,
nếu phản quan tự kỷ ta sẽ thấy trong cuộc sống ta còn
có vô số điều nghi.
Nghi chướng đạo đó là sự thật. Đại nghi đại ngộ lại
cũng là sự thật. Lợi hại tùy cách ứng dụng
Như Lai viên mãn "nhất thiết chủng trí" cho nên Như lai giải
đáp tất cả nghi vấn bất cứ từ ai. Tuy nhiên, người hỏi
cũng cần biết căn cơ trình độ của mình.
Phước đức là nhân tu. Trí tuệ là quả sở chứng. Phước
đức trang nghiêm là hữu vi. Trí tuệ trang nghiêm là vô vi.
Phước đức trang nghiêm còn nói nhân quả. Trí tuệ trang nghiêm
vượt ra ngoài nhân quả.
Thực tánh của các pháp không hai, nhưng không được nói một.
Bởi vì không có cái tuyệt đối cực đoan. "Tương đối"
là thực nghĩa của hiện tượng vạn pháp. Cái từ "trung đạo"
của Phật giáo dạy cho những người có trí: Rằng phải nhận
thức hiện tượng vạn pháp qua tánh cách "tương đối" của
chính chúng nó.
Hãy tư duy, nhận thức vạn pháp qua trí "bình đẳng tánh",
qua tánh "trung đạo" phi hữu, phi vô, phi thiện, phi ác, phi
nhất, phi dị…Tư duy quán chiếu như vậy, theo Hoa Nghiêm tôn
gọi là "châu biến hàm dung quán".
Phật tánh chỉ là ngôn từ chỉ tánh trong sáng, tánh thanh
tịnh, tánh an lạc không có lẫn lộn tánh hắc ám, vô minh
đau khổ. Cho nên Phật tánh gọi là "đệ nhất nghĩa không".
Đệ nhất nghĩa không cũng chỉ là một cái tên gọi khác
vậy thôi. Đừng hỏi nữa !
Là đệ tử Phật, để tâm học kỹ ba pháp quán niệm tư
duy: "Giả quán". "Không quán" rồi "TRUNG ĐẠO QUÁN". Đó là
quá trình diễn biến theo qui luật "phủ định của phủ định"
của hiện tượng hữu vi vật chất.
Dù có Phật tánh, nhưng nếu không tu hành thiện pháp không
thành Phật được. Ví như vàng trong quặng phải nấu lọc
mới thành vàng ròng.
Nhìn mặt vô vi thực tướng, các pháp ba đời đều không.
Nhìn mặt hữu vi duyên sanh các pháp ba đời đều có. Biết
có là có thế nào ? Biết không là không thế nào ? Đó là
cái biết TRUNG ĐẠO.
Phật tánh rời ngoài tất cả tướng. Phật tánh chính là
tất cả pháp. Phật tánh với hiện tượng vạn pháp không
phải "là" mà không phải "ngoài". Hiểu như thế là hiểu TRUNG
ĐẠO ĐỆ NHẤT NGHĨA trong giáo lý Phật.
Lục dục là dục mà tất cả phàm phu muốn dứt khổ cần
phải xa tránh. Kinh Đại Bát Niết bàn Phật chỉ nói ba dục:
Ác dục, Đại dục và Dục dục. Ba dục này, người cầu
đạo Bồ đề Niết bàn Vô thượng phải xa tránh.
Động cơ sản sanh ba thứ tham dục ấy là: danh vọng, địa
vị, tiền tài, sản nghiệp của thế gian và ngay cả thời
gian gọi là hành đạo, chứng đạo của người tu hành chưa
gặp được "ông chủ" của mình.
Tịch tịnh có: Thân tịch tịnh. Tâm tịch tịnh. Thân tâm
đều tịch tịnh. Thân tâm đều không tịch tịnh. Đó là
những thứ tịch tịnh người hành đạo chú ý quan tâm. Cảnh
tịch tịnh chỉ là một trợ duyên nhỏ, thậm chí rất nhỏ
trên đường tu tịch tịnh. Thấy hoặc nghe những vị "tu hành"
thông cáo với bàn dân thiên hạ rằng: "nhập thất" vĩnh vìễn
hoặc kỳ hạn…tháng…năm…, người trí nghe là biết, biết
rõ những gì trong bụng nhà tu ấy rồi!
Tinh tấn có nghĩa là lưôn giữ gìn thân, khẩu, ý trong sáng,
xa lìa nhiễm ô ba nghiệp. Tư duy chánh niệm: Niệm Phật, pháp,
tăng, giới, thí và đệ nhất nghĩa thiên…
Giới cấm trong đạo Phật không phải là giáo điều chế
ra để bắt buộc ai đó phải tuân theo. Giới ví như nước.
Nước để rửa sạch bụi nhơ. Giới để rửa sạch vô minh
phiền não. Giữ được nhiều giới như người có nhiều nước
sạch. Tắm trong bể nước sạch ắt hẳn bụi nhơ không nhuốm
được.
Có giới là có tất cả pháp lành; cho đến tự có cả Niết
bàn, Phật tánh, Bồ đề vô thượng, không cần truy cứu nguyên
nhơn . /.
*****