THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 .....................................
Luận
....
Giảng Giải Kinh
 ..............................
ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG
Từ phẩm I đến phẩm XXIII
Pháp Sư Thích Từ Thông
PHẨM THỨ HAI MƯƠI HAI

QUANG MINH BIẾN CHIẾU 
CAO QUÝ ĐỨC VƯƠNG BỒ TÁT

     Bấy giờ Thế Tôn bảo Bồ tát Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương rằng: 

     Này Thiện nam tử! Nếu có Đại Bồ tát tu hành theo kinh Đại Niết bàn thì được năm thứ công đức mà hàng  Thanh Văn, Bích Chi Phật không có. Vì công đức này không phải trong, không phải ngoài, không phải có tướng, không phải không tướng, không phải thế pháp,không phải ngoài thế pháp:

Một, nghe những điều chưa được nghe.
Hai, nghe rồi làm nên lợi ích chúng sanh.
Ba, nghe rồi dứt tâm nghi ngờ, do dự.
Bốn, nghe rồi trí tuệ sáng suốt, chánh trực vô tư.
Năm, nghe rồi rõ biết tạng bí mật của Như Lai. 

     1. Những gì chưa nghe nay được nghe?

      Nghĩa là Bồ tát sẽ học được giáo pháp vi mật rất sâu: Biết được TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐỀU CÓ PHẬT TÁNH. Phật, Pháp, Tăng không có sai khác. Tánh tướng Tam bảo vốn thường, lạc, ngã, tịnh. Tất cả chư Phật không vĩnh diệt nhập Niết bàn. Niết bàn của chư Như Lai không phải có, không phải không; không phải hữu vi, không phải vô vi; không phải hữu lậu, vô lậu; không phải sắc, phi sắc; không phải danh, phi danh; không phải tướng, phi tướng; chẳng phải thường, phi thường; chẳng phải đoạn, phi đoạn; chẳng phải quá khứ, vị lai, hay hiện tại; chẳng phải ấm, nhập, xứ, giới, chẳng phải chẳng ấm, nhập, xứ giới; chẳng phải thập nhị nhân duyên, chẳng phải phi thập nhị nhân duyên. Những pháp sâu mầu như vậy, từ trước chưa nghe nay được nghe.

     Còn nữa, tất cả sách vở của ngoại đạo dị thuyết của Phệ Thế Sư, của Tỳ Đà La, của Ca Tỳ La v.v..tu học kinh này có thể nhận biết sự sai lầm của họ, rồi có thể tổng hợp nhận hiểu ý thú của mười hai bộ kinh như người cầm gương sáng sẽ thấy rõ sắc diện của mình. Bồ tát cầm gương Đại Niết bàn sẽ thấy rõ nghĩa lý sâu mầu của kinh điển Đại thừa. Ví như mặt trời mọc có vô lượng ánh sáng soi rõ chỗ u ám của các hang núi động sâu, khiến cho mọi người nhìn được xa, thấy được rộng. Huệ nhật thanh tịnh Đại Niết bàn này chiếu rõ chỗ sâu thẳm của Đại thừa làm cho hàng Nhị thừa xa thấy Phật đạo.

     2. Nghe rồi làm lợi ích thế nào ?

     Bồ tát nghe kinh này, chỉ biết mình có Phật tánh, nhưng chưa được thấy Phật tánh; nghe mà thọ trì đọc tụng, biên chép, vì người giảng thuyết thì mới thấy được Phật tánh.

     Bồ tát nghe kinh Đại Niết bàn, biết pháp, biết nghĩa, rõ ràng, cho nên đối với Sa môn, Bà la môn, chư thiên, ma vương trong thế gian đều có sức tự tin "vô sở úy"; bởi vì với nghĩa lý sâu mầu của mười hai bộ kinh phân biệt diễn nói trước đại chúng không có sai lầm. Đó là công đức: nghe rồi làm lợi ích.

(2/11/03 Băng 127)

     3. Nghe kinh Đại Niết bàn dứt tâm nghi thế nào ?

     _ Nghi có nghi danh tự và nghi nghĩa lý. Nghe, chỉ dứt nghi danh tự. Tư duy ý nghĩa, dứt được nghi nghĩa lý. Ngoài hai thứ nghi trên, nghi còn có đa dạng khác nữa khiến cho người học đạo, hành đạo có thể nghi:

     Nghi Phật nhập Niết bàn vĩnh diệt hay không vĩnh diệt ? Phật thường trụ chăng ? Phật có chơn lạc chăng ? Phật có chơn ngã chăng ?

     Lại nghi: Quả Thanh Văn có hay không có ? Quả Duyên giác có hay không có ? Phật thừa có hay không có ? Người nghe kinh dứt được các nghi; người tư duy tu tập, giảng thuyết thì mới biết rõ tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.

     Này Thiện nam tử ! Không nghe kinh Đại Niết bàn, tất cả những vấn đề trên, họ đều nghi. Do nghi, tâm không có chánh kiến, họ mất hết công đức lành.

     Còn nữa ! Thiện nam tử ! Người nghi lại nghi rằng: 

     _ Sắc ấm là ngã ? Hay thọ, tưởng, hành, thức là ngã ?

     _ Năng kiến là ngã ? Hay ngã là năng kiến ?

     _ Thọ, tưởng, hành, thức là năng kiến ? Hay ngã là năng kiến ?

     _ Sắc uẩn thọ báo ? Hay ngã thọ báo ?

     _ Thọ, tưởng, hành, thức thọ báo ? Hay ngã thọ báo ?

     _ Sắc uẩn đến đời khác ? Hay ngã đến đời khác ?

     _ Thọ, tưởng, hành, thức đến đời khác ? Hay ngã đến đời khác ?

     _ Những pháp sanh tử có thỉ có chung ? Hay là vô thỉ vô chung ?

     Rồi lại nghĩ rằng: Hạng người nhất xiển đề phạm tứ trọng tội, ngũ nghịch tội, bất tín nhân quả, phỉ báng đại thừa, hạng người này có Phật tánh hay không có Phật tánh ?

     Người nghe kinh này dứt hết các điều nghi như vậy.

(9/11/03 Băng 128)

  4. Người nghe rồi trí tuệ chánh trực, sáng suốt vô tư

     Còn nữa ! Có người nghĩ rằng:

     _ Thế gian này có ngằn mé ? Hay không có ngằn mé ?

     _ Có thập phương thế giới ? Hay không có thập phương thế giới ?

     Người nghe kinh này dứt được hết các điều nghi như vậy, được gọi là người có trí tuệ chánh trực không tà vạy. Trái lại người có tâm nghi thì chỗ nhận thức không chánh đáng, gọi là phàm phu. Hàng Thanh Văn, Duyên giác chỗ thấy biết của họ còn chưa được gọi là chánh trực. Vấn đề vô thường, vô ngã, khổ, bất tịnh hữu lậu pháp của thế gian. Thường, Lạc, Ngã, Tịnh vô lậu pháp của xuất thế gian.

     Thường, Lạc, Ngã, Tịnh vô lậu pháp của Như Lai, phàm phu, Thanh Văn, Duyên giác thấy biết điên đảo, không được gọi là chánh trực.

     Hàng Thanh Văn, Duyên giác đối với bát tướng thành đạo của Phật họ thấy: Bồ tát từ trời Đâu Suất hóa hiện ngự trên bạch tượng giáng trần vào thai mẹ tại thành Ca Tỳ La. Cha hiệu là Tịnh Phạn, mẹ là Ma Da. Ở thai đủ mười tháng sanh ra. Lúc sanh ra chân chưa đến đất thiên đế đưa tay đỡ. Nan Đà Long Vương, Bạt Nan Đà Long Vương phun nước tắm...Đại thần vương Ma Ni Bạt Đà cầm lọng báu đứng hầu phía sau. Địa thần hóa hoa sen đở chân. Bồ tát đi qua bốn phương đều bảy bước. Lúc đến thiên miếu các thiên tượng đều đứng dậy tiếp nghinh. Tiên A Tư Đà hai tay bồng xem tướng. 

     Xem xong tiên nhơn buồn khổ, thương phận mình sắp chết chẳng được thấy ngày Bồ tát thành Phật. Lớn lên đến thầy học sách sử, học toán số, học bắn cung, cởi ngựa, binh thơ, đồ sấm các nghề nghiệp. Ở trong thâm cung vui cùng sáu muôn thể nữ. Ra ngoài thành dạo chơi đến vườn Ca Tỳ La. Dọc đường gặp người già, người bệnh, người chết và gặp thầy Sa môn mặc pháp phục đi bên đường. Khi trở về cung thấy các thể nữ hình mạo như đảy đựng thịt xương, xem cung điện chẳng hơn bãi tha ma, mồ mả. Nhàm chán cảnh mong manh tạm bợ...nửa đêm vượt thành xuất gia, đến chỗ các đại tiên nhơn Uất Đà Dà, A La La...nghe giảng nói về "thức vô biên xứ" và "phi tưởng phi phi tưởng xứ". Nghe rồi tư duy quán chiếu, Bồ tát biết những pháp đó chưa ra khỏi sự chi phối của vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh, và...chưa ra khỏi cái vòng lẩn quẩn của sanh tử khổ đau ! Rồi Bồ tát bỏ nơi đó mà đi. Đến Tuyết Sơn, ngồi dưới cội cây tu khổ hạnh sáu năm. Sau đó, biết khổ hạnh không phải chánh nhơn để được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bồ tát bèn đến sông A nậu bạt đề (Ni liên) tắm rửa. Sau đó thọ nhận bát sửa của cô gái chăn bò cúng dường. Ăn xong tinh thần sảng khoái, sinh lực vượng hồi, đi đến cội cây Tất bát la trải cỏ an nhiên tĩnh tọa...cho đến ngày nọ vào lúc minh tinh xuất hiện, đại phá ma quân, được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Rồi trước hết, đến thành Ba la nại, chuyển pháp luân...và rốt sau, tuổi già sức yếu bèn đến thành Câu thi na này mà nhập Niết bàn. Những điều thấy biết như vậy gọi là chỗ thấy biết không trung thực của hàng Thanh Văn, Duyên Giác.

     Này Thiện nam tử ! Đại Bồ tát nghe và lãnh thọ kinh Đại Niết Bàn này thì dứt trừ được những điều thấy biết như vậy. Nếu biên chép, đọc tụng, tư duy, rồi vì người diễn thuyết thì được trí tuệ chánh trực không tà vạy.

     Này Thiện nam tử ! Đại Bồ tát tu hành theo kinh Đại Niết bàn, biết rõ: vô lượng kiếp nhẫn nay, Bồ tát không từ trời Đâu suất giáng trần vào thai mẹ…nhẫn đến trụ ở thành Câu thi na, rừng Ta la song thọ nhập Niết bàn. Đấy mới là chỗ thấy biết chánh trực của Đại Bồ tát.

(16/11/03 Băng 129)

  5/ Nghe rồi rõ biết tạng bí mật của Như Lai.

      Thấy biết chánh trực tức là biết nghĩa thâm mật của Như Lai. Biết nghĩa thâm mật của Như Lai tức là biết rõ Đại Niết Bàn, biết rõ chúng sanh đều có Phật tánh. Do vậy, chúng sanh dứt trừ tội tứ trọng, ngũ nghịch, hoán cải tánh nhất xiển đề. Đại Bồ tát còn biết rõ chúng sanh thật không có ngã, nhưng nghiệp quả đời vị lai không mất; dù biết năm ấm hiện tại dứt hết nhưng nghiệp thiện ác thì không mất; dù biết có các hành nghiệp, nhưng không có tác giả; dù có chỗ đến, nhưng không có người đi; dù có trói buộc, nhưng không có người trói; dù có Niết bàn, nhưng không có người nhập diệt. Đấy gọi là nghĩa bí mật rất sâu.

     Cao Quý Đức Vương Bồ tát: Bạch Thế Tôn ! Theo tôi hiểu: "Được nghe những điều chưa được nghe" như lời Phật nói, tôi nghĩ rằng lời đó chưa trọn nghĩa ! Bởi vì pháp nếu có, lẽ ra quyết định có. Pháp nếu không, lẽ ra quyết định không. Nếu không thì lẽ ra chẳng sanh. Nếu có thì lẽ ra chẳng diệt. Cũng như nghe là nghe; không nghe là không nghe, sao lại nói rằng nghe những sự việc chưa nghe ! Ví như người đi, nếu đã đến thì chẳng đi, nếu đi thì chẳng đến. Cũng như đã sanh thì chẳng sanh; chẳng sanh thì chẳng sanh. Đã được thì chẳng được; chẳng được thì chẳng được; Nghe rồi thì chẳng nghe, chẳng nghe thì chẳng nghe !

     Bạch Thế Tôn ! Nếu chưa nghe mà được nghe thì tất cả chúng sanh chưa có Bồ đề, lẽ ra cũng có. Người chưa được Niết bàn, lẽ ra cũng được. Người chưa thấy Phật tánh, lẽ ra cũng được thấy. Thế nhưng tại sao nói rằng bậc thập trụ Bồ tát dù thấy Phật tánh nhưng chưa được rõ ràng ?

     Bạch Thế Tôn ! Nếu chẳng nghe mà được nghe thì xưa kia đức Như Lai từ ai mà được nghe để rồi thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ? Và, nếu đức như Như Lai chẳng nghe kinh Đại Niết Bàn mà vẫn thấy Phật tánh thì tất cả chúng sanh chẳng nghe kinh này, lẽ ra cũng được thấy Phật tánh !

     Bạch Thế Tôn ! Phàm những gì thuộc sắc thì có thể thấy được hoặc chẳng thấy được. Thanh cũng vậy, hoặc nghe, hoặc có thể không nghe. Kinh Đại Bát Niết Bàn chẳng phải sắc, chẳng phải thanh sao Như Lai lại nói là có thể thấy, nghe ?

(23/11/03 Băng 130)

     Bạch Thế Tôn ! Quá khứ đã qua, chẳng thể nghe; vị lai chưa đến cũng chẳng thể nghe; hiện tại lóng nghe, chẳng có thể nghe. Nghe rồi qua mất cho nên cũng chẳng có thể nghe. Kinh Đại Bát Niết Bàn này chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện tại, nếu chẳng đúng thời thì không thể nói. Nếu chẳng nói thì chẳng thể nghe, cớ sao Như Lai nói Bồ tát tu kinh Đại Niết Bàn này được nghe những điều chưa nghe ?

    Phật bảo: Lành thay ! Này Thiện nam tử ! Nay ông đã nhận thức tốt như chỗ thấy biết của hàng thập trụ Bồ tát: Rằng tất cả pháp như huyển, như mộng, như Càn thát bà thành, như dương diệm, như ba tiêu, như bào ảnh, chẳng chắc thật, chẳng phải ngã, chẳng phải mệnh, chẳng có khổ vui chân thật !

    Khi bấy giờ trước đại chúng thoạt có ánh sáng chiếu đến bao trùm, bầu không gian trở nên huyền ảo lung linh. Ánh sáng chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng mà thấy xanh, vàng, đỏ, trắng. Không phải sắc chất, không phải ánh sáng mà thấy như sắc chất, như ánh sáng. Thấy mà như chẳng phải thấy, chẳng phải thấy mà thấy. Đại chúng gặp ánh sáng này thân tâm thư thái như người nhập định Sư tử vương.

    Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi: Bạch Thế Tôn ! Ai phóng ánh sáng này?

    Đức Như Lai yên lặng không đáp.

    Ca Diếp Bồ tát hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ tát: Nhơn duyên gì mà có ánh sáng này chiếu đến đại chúng ?

    Văn Thù Sư Lợi Bồ tát yên lặng không đáp.

    Vô Biên Thân Bồ tát lại hỏi Ca Diếp Bồ tát: Ai phóng ánh sáng này? Có duyên cớ gì chăng, thưa Bồ tát !

    Bồ tát Ca Diếp yên lặng không đáp.

    Tịnh Trụ Bồ tát lại hỏi Vô Biên Thân Bồ tát: Duyên cớ gì trong đại chúng có ánh sáng này ? Thưa Bồ tát !

    Vô Biên Thân Bồ tát cũng yên lặng không đáp.

    Lần lượt đến năm trăm vị Bồ tát xoay vần hỏi nhau, nhưng không một ai giải đáp.

    Bấy giờ, đức Thế Tôn hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ tát: Duyên cớ gì trong đại chúng đây  có ánh sáng này ?

    Văn Thù Sư Lợi thưa: Bạch Thế Tôn ! Ánh sáng này gọi là trí tuệ. Trí tuệ là pháp thường trụ không có nhơn duyên. Ánh sáng này cũng gọi là Đại Niết Bàn. Đại Niết Bàn là pháp thường trụ không có nhơn duyên. Ánh sáng này là đại từ, đại bi, là pháp môn niệm Phật, là đạo bất cộng với Thanh văn, Duyên Giác, là  pháp thường trụ không có nhơn duyên, cớ sao hôm nay Như Lai lại hỏi nhơn duyên ?

     Phật bảo: Này Văn Thù Sư Lợi ! Ông nên dùng thế đế mà giải đáp, không nên dùng đệ nhất nghĩa đế đối với đại chúng trong lúc này !

    Nghe lời Phật, Đại trí Văn Thù Sư Lợi thưa:

    _ Bạch Thế Tôn ! Từ đây qua phương Tây, cách hai mươi hằng sa thế giới, có một thế giới tên là Bất động, quốc độ thuần là thất bảo hợp thành, trang nghiêm, thanh tịnh, cỏ cây hoa lá tươi thắm hương vị thơm ngon. Ai ngửi được hương, nếm được vị, thân tâm khinh an khoan khoái như nhập đệ tam thiền. Ở đây không có ba đường ác, không có người nhất xiển đề, không có người tham dục, sân nhuế, và phiền não vô minh, phóng dật. "Thế giới" Bất động không tùy thuộc ánh sáng của "thái dương hệ" như cõi Ta bà của đức Phật Thích Ca. Ở đây khó có hạng người bạc địa phàm phu, toàn là Bồ tát Đại sĩ thần thông tự tại, phước đức trí tuệ rộng lớn, thường trụ trong tam muội, trong chánh pháp Đại thừa.

(30/11/03 Băng 131)

    Đức Mãn Nguyệt Quang Minh Như Lai thuyết giảng cho đại chúng nghe kinh Đại Niết Bàn. Đức Mãn Nguyệt Quang Minh Như Lai giảng đến đoạn: "Bồ tát tu học kinh Đại Niết Bàn được cái lợi thù thắng, nghe những điều chưa được nghe" ở các kinh khác. 

    Khi bấy giờ Lưu Ly Quang Bồ tát cũng gạn hỏi Mãn Nguyệt Như Lai như Cao Quý Đức Vương Bồ tát gạn hỏi Thế Tôn hiện tại. Đức Mãn Nguyệt Quang Minh bảo Lưu Ly Quang Bồ tát  rằng: Phương Tây cõi bất động này, cách hai mươi hằng hà sa cõi Phật có quốc độ Ta bà. 

    Cõi Ta Bà đủ các trược ác, gò nỗng, hầm hố, gai góc, sạn sỏi, suối sông trắc trở, nơi nơi hiểm họa bất an. Chúng sanh can cường nan điều nan phục. Phép nước, luật vua, ít người thanh liêm minh bạch; nhiều kẻ gian tham, độc ác; chiến tranh không ngớt, nội loạn, ngoại xâm, tương tàn, tương sát. Sanh, lão, bệnh, tử, ưu bi, khổ não triền miên. thành, trụ, hoại, không liên tục. Cõi Ta Bà có đức Phật Thích Ca Mâu Ni đủ mười đức hiệu, hiện ở thành Câu Thi Na, trong rừng Ta La song thọ, vì đại chúng diễn thuyết kinh Đại Niết Bàn, hiện có Bồ tát tên Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương đem câu hỏi đó hỏi đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hiện giờ đức Phật đó đang sẽ giải đáp.  Lưu Ly Quang Bồ tát, ông nên mau qua đó để được nghe.

    _ Bạch Thế Tôn ! Lưu Ly Quang Bồ tát vâng lời đức Mãn Nguyệt Quang Minh Như Lai, cùng tám muôn bốn ngàn đại Bồ tát sắp đến đây. Do nhân duyên đó mà hiện điềm này. Đó là duyên cớ có ra ánh sáng rực rỡ hôm nay !

    Khi bấy giờ Lưu Ly Quang Bồ tát cùng tám muôn bốn ngàn đại Bồ tát tùy tùng mang theo các thứ hương hoa, phan lọng, chuỗi ngọc, trân châu, kỷ nhạc....đồng đến rừng Ta La Song thọ, thành Câu Thi Na, đầu mặt đảnh lễ dưới chân Phật và dâng các phẩm vật cúng dường Phật, cung kính đi nhiễu ba vòng rồi ngồi qua một phía.

    Bấy giờ đức Phật hỏi Lưu Ly Quang Bồ tát: "Lưu Ly Quang ! Ông vì đến mà đến hay vì chẳng đến mà đến ?

    _ Bạch Thế Tôn ! Đến cũng chẳng đến; chẳng đến cũng chẳng đến.

    Tôi quan sát nghĩa này, đến cũng chẳng đến đều không có đến. Bởi vì các hành pháp nếu là thường, cũng chẳng đến. Nếu là vô thường cũng chẳng có đến.

    Nếu người thấy chúng sanh có định tánh thì thấy có đến và chẳng đến. Tôi thấy chúng sanh chẳng có định tánh cho nên không có đến cùng chẳng đến. 

    Người có kiêu mạn thấy có đi có đến. Người không kiêu mạn thấy chẳng có đi, chẳng có đến.

    Người có chấp lấy tạo tác thấy có đi có đến. Người không chấp tạo tác, thấy không có đi, không có đến.

    Nếu thấy Như Lai nhập Niết bà, thấy có đi, có đến.

    Người thấy Như Lai nhập Niết bàn không vĩnh diệt, thấy không đi, không đến.

    Người không nghe biết Phật tánh, thấy có đi có đến. Người nghe biết Phật tánh, thấy không đi không đến. 

    Nếu thấy hàng Thanh Văn, Bích Chi Phật, thường, lạc, ngã, tịnh thì có đi có đến.

    Nếu biết hàng Tiểu thừa, Trung thừa ấy không thường, lạc, ngã, tịnh thấy không đi, không đến.

    Nếu thấy Như Lai không thường, lạc, ngã, tịnh thấy có đi có đến.

    Biết Như Lai là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh thì thấy không đi không đến.

    Bạch Thế Tôn! Xin để việc đó lại. Nay tôi có điều muốn hỏi, xin Như Lai thương xót dạy cho !

(7/12/03 Băng 132) 

     Phật bảo: Thiện nam tử ! Sở cầu của ông đúng lúc, tùy ý ông hỏi, Như Lai sẽ chỉ dạy cho ông. Chư Phật khó gặp như hoa Ưu đàm, pháp Phật khó nghe, trong mười hai bộ kinh, bộ Phương đẳng đại thừa càng khó nghe hơn, phải chuyên tâm lóng nghe, khéo tư duy mà lãnh thọ.

    Lưu Ly Quang Bồ tát thưa: Thế tôn ! "Đại Bồ tát tu hành kinh Đại Niết Bàn, nghe được những điều từ trước chưa từng được nghe", là thế nào?

        Đức Phật khen: Lành thay ! Lưu Ly Quang ! Ông muốn hiểu cùng tột biển Đại thừa Đại Niết Bàn là rất tốt; lại gặp Phật, bậc có thể giải thuyết cho ông mọi yêu cầu tri kiến. Phật là lương y có thể nhổ tên độc nghi ngờ của ông. Phật là ngọn đuốc tuệ soi sang. Phật tánh của ông cho ông được thấy. Ông muốn qua sông lớn sanh tử, Phật là thuyền trưởng, hải đạo sư. Lòng ông tham của báu chánh pháp, Phật có nhiều chánh pháp lại hay bố thí. Ông nên lóng nghe, khéo suy nghĩ !

    Này Thiện nam tử ! Khi nghe pháp rồi phải sanh lòng kính tin tôn trọng. Đối với chánh pháp chớ tìm bới chỗ lỗi. Chớ phân biệt dòng họ tôn ty, quí tiện của pháp sư. Sau khi nghe pháp chớ sanh lòng kiêu mạn. Đừng vì sự cung kính, danh dự, lợi dưỡng, phải vì sự lợi ích chúng sanh truyền đăng, tục diệm, xiển dương chánh pháp. Đừng nghĩ rằng nghe chánh pháp trước độ mình, sau mới độ người; trước giải thoát mình, sau mới giải thoát cho người; trước tự được Niết bàn, sau sẽ giúp cho người được Niết bàn. Nên khởi tâm niệm bình đẳng đối với Phật, Pháp, Tăng. Trong sanh tử phải thường quán niệm là oan nghiệp đại họa. Với Đại Niết bàn luôn khởi quán niệm: thường, lạc, ngã, tịnh. Trước vì người, sau vì mình. Nên vì Đại thừa, đừng vì Nhị thừa. Khởi tâm vô trụ đối với tất cả pháp. Khởi tâm viễn ly tất cả pháp tướng. Thường trụ trong quán niệm: biết pháp và thấy pháp.

    Này Thiện nam tử ! Ông có thể hết lòng nghe pháp như vậy, đấy gọi là "được nghe những điều chưa  nghe" !

    Này Thiện nam tử ! Nghe có bốn cách: 

Một, chẳng nghe mà nghe
Hai, chẳng nghe mà chẳng nghe
Ba, nghe mà chẳng nghe
Bốn, nghe mà nghe.

    Vấn đề sanh cũng có bốn cách như vậy:

Một, chẳng sanh mà sanh
Hai, chẳng sanh mà chẳng sanh
Ba, sanh mà chẳng sanh
Bốn, sanh mà sanh

    Cũng như vấn đề vừa nói: Chẳng đến mà  đến, Chẳng đến mà chẳng đến. Đến mà chẳng đến. Đến mà  đến

    Bạch Thế Tôn ! Bồ tát Lưu Ly Quang hỏi: Thế nào là chẳng sanh mà sanh ?

    _ Phật bảo: An trụ bên Thế đế, thị hiện tướng xuất thai. Đấy là chẳng sanh mà sanh.

    Hỏi: Thế nào chẳng sanh mà chẳng sanh ?

    Đáp: Đại Niết bàn không có tướng sanh. Đấy là chẳng sanh mà chẳng sanh.

    Hỏi: Thế nào là sanh mà chẳng sanh ? 

    Đáp: Cứ theo Thế đế, lúc Bồ tát hiện tướng nhập thai và trụ thai, gọi đó là sanh mà chẳng sanh.

    Hỏi: Thế nào là sanh mà sanh ?

    Đáp: Tất cả phàm phu "sanh mà sanh". Vì phàm phu sanh tử, tử sanh không có tận cùng. Bồ tát bậc tứ trụ trở lên "sanh mà chẳng sanh", vì sanh mà tự tại.

    Thiện nam tử ! Nội pháp đã vậy. Ngoại pháp cũng như vậy: Chưa sanh mà sanh. Chưa sanh mà chưa sanh.  Sanh mà chưa sanh. Sanh mà sanh.

     _ Như hạt giống đủ nước, phân và chăm sóc, nhưng mầm mọng chưa nẩy lên. Trường hợp này gọi là : "chưa sanh mà sanh". 

    _ Như hạt giống hư, lại không có nước, phân và nhân công chăm sóc, đây gọi là "chưa sanh mà chưa sanh".

    _ Như mầm mọng đã mọc, mà thiếu điều kiện để sanh trưởng, đây gọi là "sanh mà chưa sanh".

    _ Như mầm sanh chồi tược phát triển, gọi đây là "sanh mà sanh". Tất cả ngoại pháp hữu lậu nhiếp thuộc phạm trù "sanh mà sanh" như vậy.

(14/12/03 Băng 133) 

     Này Lưu Ly Quang Bồ tát! Tự tánh các pháp mầu nhiệm. Văn tự ngôn thuyết, như ngón tay chỉ trăng, mà ngón tay không bao giờ là trăng được. Vì thế, các vấn đề : "Sanh mà sanh", "Chẳng sanh mà chẳng sanh" . v.v..những đạo lý đó "bất khả thuyết", không thể nói phô mà có thể tột cùng! Tột cùng và khả thuyết, khi nào có đầy đủ nhân duyên. Thế nào là đầy đủ nhân duyên ? Nghĩa là người nói và người nghe căn cơ phù hợp, chủng tánh tương đồng.

    Lưu Ly Quang cùng tám muôn bốn ngàn Đại Bồ Tát nghe pháp này rồi, thân tâm khinh an như mình được bay bổng lên hư không, rơi rụng hết những gì trần cấu, đồng chấp tay cung kính thưa:

   _ Bạch Thế Tôn ! Chúng con nhờ Như Lai Thế Tôn ân cần dạy bảo kinh Đại Niết bàn nầy mà chúng con tỏ ngộ ý nghĩa "Nghe những điều chưa nghe", và hiểu rõ ý nghĩa "Chẳng sanh mà sanh",..."Chẳng sanh mà chẳng sanh"...của các pháp.

    _ Bạch Thế Tôn ! Lưu Ly Quang thưa: Trong hội này hiện có Bồ tát Vô Úy muốn hỏi, xin Như Lai vì ông mà dạy bảo !

    Phật bảo: Thiện tai! Tùy ý thưa hỏi, Như Lai sẽ tùy nghi mà giải đáp.

    Bồ tát Vô Úy và tám muôn bốn ngàn Bồ tát tùy tùng, nghiêm chỉnh y phục, quì gối chấp tay thưa: 

   _ Bạch Thế Tôn ! Chúng sanh cỏi Ta bà muốn sanh sang thế giới Bất Động kia phải tu nhơn địa gì, hành hạnh nghiệp chi để được sanh sang thế giới Bất động ? Bồ tát cõi kia tu trí tuệ thế nào mà khi nghe kinh Đại thừa Đại Niết Bàn thậm thâm vi diệu mà thấu hiểu rõ ràng và tâm đắc nhanh chóng như vậy ?

   Đức Thế Tôn nói kệ đáp:

Không giết hại chúng sanh
Giữ gìn các giới cấm
Thọ trì pháp chư Phật
Được sanh cõi Bất Động

Không trộm cắp của người
Thường tu hạnh "ban cho"
Tạo trụ xứ tu hành
Được sanh cõi Bất Động

Trong sạch không tà hạnh
Vợ chồng sống tiết độ
Lòng hướng thượng: viễn ly
Được sanh cõi Bất Động

Trực diện cảnh mưu sinh
Đắc thất lòng dặn lòng
Giữ lời không vọng ngữ
Được sanh cõi Bất Động

...........................................
………………………………

Ham mộ kinh điển này
Đem thân hoặc của cải
Cùng hoằng dương chánh pháp
Được sanh cõi Bất Đông

    Bồ tát Vô Úy thưa: Nay tôi và các Bồ tát đây đã biết những công đức và nghiệp nhơn được sanh sang thế giới Bất Động. Bạch Thế Tôn ! Cao Quý Đức Vương Bồ tát có lòng thương rộng lớn với tất cả chúng sanh, trước đã thưa hỏi mà Như Lai giải đáp chưa trọn. Mong Như Lai thương xót giải thuyết trọn nghĩa hơn, ngõ hầu lợi ích cho Bồ tát, cho nhơn thiên bát bộ...

    Phật bảo Cao Quý Đức Vương Bồ tát: Lành thay ! Cao Quý Đức Vương ! Ông hãy lóng nghe Như Lai sẽ vì ông phân biệt giải thuyết:

Vì có nhân duyên, nên nói: Chẳng đến mà chẳng đến.
Vì có nhân duyên, nên có thể nói: Chẳng đến mà đến.
Vì có nhân duyên nói: Đến mà chẳng đến.
Vì có nhân duyên, nên nói: Đến mà đến.

    Thiện nam tử ! Gì là đến ? Gì là chẳng đến ?

(21/12/03 Băng 134)

     Chẳng đến mà chẳng đến, đây là chỉ cho hạng người cực bất thiện. Họ có thể tạo tứ trọng, ngũ nghịch, nhất xiển đề, phỉ báng Đại thừa kinh điển. Hạng người này không còn có cơ hội thấy biết sự an lạc giải thoát của Niết bàn là gì. Đây là hạng người "Chẳng đến được Niết bàn và chẳng bao giờ đến (niết bàn).

    Trái với hạng người trên, họ xa lìa bất thiện nghiệp. Họ có Niết bàn. Họ xa lánh môi trường tứ trọng, ngũ nghịch, nhất xiển đề, phỉ báng Đại thừa kinh điển. Họ không van xin, khấn nguyện được Niết bàn, mà Niết bàn tự hiển hiện. Đây gọi là "chẳng đến mà đến" (đến ở đây là đến Niết bàn). 

    Đối với hai mươi lăm cõi, Thanh Văn, Duyên giác, Bồ tát ba hạng người này đã dứt hết nghiệp nhơn tam giới, lẽ ra không phải đến tam giới, nhưng vì bản nguyện độ sanh mà đến tam giới. Đối với ba bậc này gọi là " đến mà chẳng đến (đến ở đây là đến hai mươi lăm cõi).

    Với hai mươi lăm cõi, phàm phu, Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm vì còn kiến tư hoăc, không ra khỏi tam giới mà còn phải luân chuyển lâu dài trong hai mươi lăm cõi cho nên gọi họ là người "đến mà đến".

    Phật bảo: Thiện nam tử! Nghe điều chưa nghe cũng như vậy. Có: Chẳng nghe mà nghe. Chẳng nghe mà chẳng nghe. Nghe mà chẳng nghe. Nghe mà nghe.

   "Chẳng nghe mà nghe". Đây là chỉ cho Đại Niết bàn, bởi vì Niết bàn chẳng phải pháp hữu vi; vì Niết bàn không phải âm thanh; vì Niết bàn vượt ngoài ngôn từ có thể nói phô. Vì vậy Niết bàn không phải đối tượng nghe. Tuy nhiên, cũng có thể nghe danh từ..."Niết bàn" vẫn có thể nghe: "Thường, lạc, ngã, tịnh" bốn đức Niết bàn. Do vậy: "chẳng nghe mà nghe"!

    Cao Quý Đức Vương Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Như lời Thế Tôn dạy: Đại Niết bàn chẳng thể nghe. Rồi Thế Tôn lại nói có thường, lạc, ngã, tịnh có thể nghe !

    Bạch Thế Tôn ! Được Niết bàn là sau khi họ dứt sạch phiền não thì gọi là người được Niết bàn. Nếu người chưa dứt sạch phiền não thì không tìm đâu có được Niết bàn. Bạch Thế Tôn ! Vậy thì Niết bàn trước không mà nay có, người thế gian họ gọi như thế là pháp vô thường. Bởi vì, có rồi trở lại hoại diệt, ví như cái bình bát, cái ấm chè .v.v...Niết bàn trước không nay có đồng như pháp vô thường. Vậy do nhân duyên gì Thế Tôn nói Niết bàn có thường, lạc, ngã, tịnh ?

    Bạch Thế Tôn ! Phàm thứ gì, pháp nào do nhân duyên có, đều là vô thường. Niết bàn có, do tu hành ba mươi bảy phẩm trợ đạo, bốn vô lượng tâm, sáu ba la mật, phát khởi tam tâm, lục niệm, quán tưởng…bạch cốt, vi trần…mà được. Do vậy, biết rằng Niết bàn cũng là pháp vô thường.

    Bạch Thế Tôn ! Phàm thứ gì gọi là có, đều vô thường. Niết là có, cho nên đúng lý mà nói, thì Niết bàn vô thường. Ở trong kinh A hàm và các kinh Phật thường nói: "Thanh văn, Duyên giác, chư Phật là những địa vị có Niết bàn". Do nghĩa ấy, biết rằng Niết bàn là pháp vô thường.

    Bạch Thế Tôn ! Pháp có thể thấy, là pháp vô thường. Ngày trước Phật nói: Người dứt hết phiền não thì thấy được Niết bàn. Do vậy, Niết bàn là vô thường, vì Niết bàn là pháp có thể thấy. Vả lại, nếu Niết bàn thường, tại sao kẻ được người không ? Trong khi hư không thường, thì mọi người sanh trong hư không được thọ dụng bình đẳng ? Bởi lẽ đó, Niết bàn lẽ ra chẳng phải thường !

    Bạch Thế tôn ! Trong Niết bàn có danh tự: "thường, lạc, ngã, tịnh" lẽ ra chẳng gọi là pháp thường !

    Phật bảo: Này, Cao Quý Đức Vương Bồ tát ! Niết bàn không phải trước không nay có. Nếu Niết bàn trước không nay có thì đó không phải là pháp vô lậu, thường trú. Niết bàn thường trú, cho nên dù có Phật xuất thế hay không, tánh tướng Niết bàn vẫn thường trú. Chúng sanh bị phiền não vô minh che lấp không thấy rồi cho là không có Niết bàn. Đại Bồ tát sinh hoạt trong giới, định, tuệ tam nghiệp thanh tịnh phiền não không có cơ hội phát sanh bèn được thấy Niết bàn. Do vậy, Niết bàn là pháp thường trụ, không phải trước không, nay có. Ví như dưới đáy giếng, trong một căn nhà tối có các thứ châu báu người người cũng biết là có, nhưng vì tối nên không thấy. Người có trí thắp đèn sáng lớn soi rọi, thấy châu báu rõ ràng.  Qua sự việc ấy, người trí ắt chẳng nghĩ rằng châu báu kia trước không mà nay có. Đại Niết bàn cũng vậy, trước vốn có, chẳng phải trước không nay mới có.

(28/12/03 Băng 135) Băng 136 - Tất niên

    Này Cao Quý Đức Vương, ông nói Niết bàn do tu hành trau dồi mà được, cho nên Niết bàn là vô thường, nghĩa này không đúng. Bởi vì Niết bàn là là "thể", chứ không phải tướng và dụng. Thể Niết bàn không sanh, không diệt, không đến, không đi, không ác, không thiện, không thật, không hư, không ba đời: Quá khứ, hiện tại, vị lai; không màu sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng....; không kích thước: dài ngắn, rộng hẹp, vuông tròn; không qui mô: cao, thấp....chẳng phải nhân, chẳng phải quả, chẳng phải ngã, chẳng phải ngã sở. Niết bàn không có ở đâu mà không đâu chẳng có. Do những nghĩa như vậy, cho nên Niết bàn là thường, không biến đổi, không hư hoại. Chỉ có người tu tập pháp lành vô lượng kiếp thì mới thấy được Niết bàn thôi. Ví như thềm lục địa nước Việt Nam, mỏ dầu hỏa đã có từ lâu lắm rồi thế mà người thường không ai biết, chỉ có người trí, kỹ sư địa chất, nhà khoa học, họ thấy biết có dầu và khai thác làm giàu cho xứ sở. Niết bàn cũng lại như vậy !

    Này Thiện nam tử ! Ông nói vì nhơn duyên nên pháp Niết bàn lẽ ra vô thường, nghĩa này không đúng. Bởi vì nhơn, xét ra có nhiều thứ, đại lược dễ nhận, có năm nhơn:

Một, sanh nhơn
Hai, hòa hợp nhơn
Ba, trụ nhơn
Bốn, tăng trưởng nhơn
Năm, viễn nhơn

    Sanh nhơn: Như hạt giống cỏ cây, như nghiệp phiền não của con người.

    Hòa hợp nhơn: Như pháp lành hợp tâm lành. Pháp ác hợp với tâm ác. Pháp vô ký hợp với tâm vô ký.

    Trụ nhơn: Như nhờ đất mà núi rừng sông suối...có chỗ đứng vững. Nhờ cột trụ mà nóc, mái nhà thành tựu...

    Tăng trưởng nhơn: Như do thực phẩm, y phục...mà con người tăng trưởng tồn sanh. Do nước, phân, chăm sóc mà hạt giống cỏ cây sum sê phát triển, do thiện hữu tri thức mà đạo tâm, đạo hạnh, đạo lực, đạo quả ngày thêm thắng tấn viên thành.

    Viễn nhơn: Như quốc pháp nghiêm minh, thì người dân trong nước được an ninh không bị trộm cướp. Nhờ ánh sáng mặt trời mà lá cây được xanh, hoa hồng được đỏ...Vô tình chúng sanh là viễn nhơn của hữu tình chúng sanh và ngược lại.

    Thiện nam tử ! Đại Bát Niết Bàn không phải do năm thứ nhơn ấy làm ra, cho nên không vô thường.

    Ngoài năm thứ nhơn vừa nói, còn có hai thứ nhơn dành để cho người có tu tập tư duy mới nhận biết rõ ràng: 

Một, tác nhơn.
Hai, liễu nhơn.

    Như người thợ gốm và khí cụ của người thợ gốm để làm thành chén, dĩa, ấm chè....gọi là tác nhơn.

    Như đèn đuốc soi sáng, khiến cho người ta thấy vật trong hang động tối, gọi đó là liễu nhơn.

    Thiện nam tử ! Tác nhơn không làm ra được Đại Niết Bàn. Liễu nhơn làm hiển lộ Đại Niết Bàn. Do vậy, Đại Niết Bàn là pháp thường trú, bất sanh, bất diệt, hiện hữu và tồn tại vô khứ vô lai !

TRỰC CHỈ

    * Học tu theo kinh Đại Thừa Đại Niết Bàn có những công đức thù thắng mà người chưa học không có.

   * Một, "nghe những điều chưa được nghe". Bởi vì kinh Đại Niết bàn là kinh Đại thừa trong Đại thừa, chứa đựng tạng bí mật của Như Lai, những lời dạy sau rốt, để rồi không còn gì để nói nữa.

    * Biết TẤT CẢ CHÚNG SANH ĐỀU CÓ PHẬT TÁNH không dễ biết, không phải nghe rồi ai cũng biết. Thậm chí người ta nói được: Rằng "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh", người ta có thể nói tới nói lui, lặp đi lặp lại suốt quãng đời mình, nhưng không mấy người thực biết, vì không thực biết nên không bao giờ "được gặp" đối diện với Phật tánh dù chỉ một lần trong cuộc đời trên dưới trăm năm sinh hoạt ! Người thực biết, thực nghe PHẬT TÁNH vốn có của mình, người ta "gặp", thường "đối diện" và thường "đàm thoại" với Phật tánh là chuyện có thật. Chuyện có thật nhưng không phải ai cũng nghe và cũng có thể biết ! Cũng như có người nói nước đen xì xì và hôi hoắc của con kinh Nhiêu Lộc, trong đó có nước sạch uống được. Đó là chuyện có thật, nhưng với lũ trẻ con, chúng không nghe biết điều ấy. Chỉ có người trí nghe biết sự thật đó , là sự thật.

(8/2/04 Băng 137)

    * "Phật, Pháp, Tăng không có sai khác". Đây là điều chưa được nghe ở các kinh khác. Bởi vì chỉ có kinh Đại Niết Bàn, đức Phật mới dạy rõ: Phật tánh và Pháp tánh danh ngôn tuy hai mà nghĩa lý có một. Cũng như lửa là một, tùy chất đốt mà lửa có tên khác. Tăng tánh là tánh hòa hợp. Phật tánh tức là pháp tánh. Pháp tánh tức là Phật tánh. Tánh trung hòa hỗn hợp hai chân lý kia tức là tăng tánh. Cho nên, "Tăng tánh" không phải lá tánh của một ông sư, của sa môn, bà la môn nào ! Đấy là "nhất thể tam bảo" ở kinh Đại Niết bàn !

    Rồi: Vấn đề Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Vấn đề chư Phật không vĩnh diệt nhập Niết bàn. Vấn đề Niết bàn của chư Phật, cảnh giới ấy thật hay hư ? Cảnh giới ấy sanh ra sao ? Diệt lúc nào ? Niết bàn là pháp hữu vi hay vô vi? Rồi vấn đề Phật giáo và ma giáo muốn phân biệt phải y cứ vào đâu!...tất cả những điều khó hiểu chưa được nghe. Bồ tát tu học Đại thừa Đại Niết bàn, sẽ được nghe. Đó là cái lợi thứ nhất "nghe những điều chưa nghe".

    * Học tu kinh Đại Niết Bàn mới có khả năng làm nên lợi ích cho chúng sanh chân chánh, thiết thực. Bởi vì tu học theo kinh Đại Niết bàn là nghe giáo lý thậm thâm mà trước đây, trong mười bộ kinh Như Lai chưa chỉ dạy. Thế cho nên phải trải qua tu học kinh Đại Niết bàn Bồ tát mới có được ý nghĩ đúng chân lý, lời nói đúng chân lý và việc làm lợi ích chúng sanh không lệch mục tiêu chơn lý.

    * Trong cuộc sống bình nhật của con người, đa số người ta tự tin rằng: mình đã "an tâm" trong mọi vấn đề, "bằng lòng" với cái hiểu biết vốn có qua giáo dục tự nhiên của truyền thống gia đình, qua sự đào tạo của trường lớp trong xã hội. Cái vốn tri thức đó, đủ đem lại cho con người tiền tài, danh vọng, sự nghiệp và hạnh phúc rồi, không nghi ngờ gì nữa !

(15/2/04 Băng 138)

    Bằng trí quang nhận thức xa rộng, người trí biết rằng cái nhận thức bình nhật của con người, còn nhiều điều chưa giải đáp được, giáo lý đạo Phật gọi đó là NGHI. Nghi là một thứ "tâm sở hữu pháp", một thứ "phiền não căn bản", một trong những chất liệu buộc ràng, kềm hãm chúng sanh không vượt ra ba cõi được.

     Thử hỏi: Có bao nhiêu người biết được:

Chúng sanh có Phật tánh hay không có Phật tánh ? 
Niết bàn là gì ? 
Niết bàn có hay không có ? 
Cái gì làm ra Phật tánh và cái gì làm ra Niết bàn ? 
Thường, lạc, ngã, tịnh có thật không ? 
Con người từ đâu tới ? 
Con người chết đi về đâu ?
Ngã là gì ?
Vô ngã là gì ? 
Làm sao biết tất cả pháp vô ngã ?....
Rồi, Phật là người thế nào ? Trời ở xa bao nhiêu kilômét ?

     Bồ tát tu học kinh Đại Niết bàn sẽ thấy hết, biết hết, không còn những mối nghi ngờ hoang mang bất ổn nữa !

    (22/02/04 Băng 139)

    * "Nghe được những điều chưa nghe". Giải tỏa hết những gút thắt "nghi ngờ". Biết hết những gì chưa biết. Vì vậy, người tu học Đại thừa Đại Niết bàn có được TRÍ TUỆ CHÁNH TRỰC, tức là thứ trí tuệ rời xa hết thảy tà kiến của thường tình.

    * Kho tàng bí mật của Như Lai là nguồn giáo lý đệ nhất nghĩa mà bốn mươi chín năm giáo hóa rày đó mai đây, đức Phật chưa đem ra dạy. Nay, tại Ta La song thọ, thành Câu thi na, trước giờ phút nhập Đại Niết bàn mới đem ra dạy vẽ cho chúng sanh rằng:

_ "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh".

_ "Niết bàn Như Lai nhập không đồng nghĩa như sự vĩnh biệt ra đi".

_ Mỗi chúng sanh đều có khả năng hóa giải diệt trừ tội cấu của mình, dù là tội "tứ trọng", "ngũ nghịch".

_ "Hạng người "nhất xiển đề cũng có thể thành Phật..."

     Những giáo lý Đại thừa của Đại thừa như vậy, Như Lai dấu kín chưa hề sử dụng đem ra dạy bảo cho ai. Thời pháp rốt sau, trước khi nhập Đại Niết bàn, với hàng đại đệ tử căn cơ thuần thục, Đại thừa chủng tánh đã nở hoa kết trái, Như Lai bèn đem "phấn Đại thừa của Đại thừa tung hê trước gió, hoa trái của cây Đại thừa "thụ phấn" sung mãn ở rừng Ta La song thọ thành Câu thi na ngày ấy !

    * Đọc câu chuyện Lưu Ly Quang Bồ tát và đoàn tùy tùng từ thế giới Bất Động đến thế giới Ba bà, sự việc xảy ra na ná giống như sự việc Diệu Âm Bồ tát vãng lai ở phẩm Diệu Âm trong kinh Pháp Hoa. Sự kiện này nhằm dạy cho Phật tử chân lý: "Phật Phật đạo đồng", "Dị khẩu đồng âm" của ba đời chư Phật. Lời dạy của một đức Phật này cùng với lời dạy của ba đời chư Phật trong mười phương không khác. Đã là chân lý, thì Phật nào nói ra cũng vậy thôi !

(29/02/04 Băng 140)

    * Đến hay không đến. Đi hay không đi. Có đến hay không đến. Có đi hay không có đi. Sanh mà không sanh. Sanh mà sanh v.v...là những vấn đề "bất khả thuyết", nghĩa là không thể nói trọn nghĩa được. Bởi vì mỗi vấn đề, mỗi sự việc, nó chỉ đúng với sự việc đó, ở trong thời điểm đó, môi trường, hoàn cảnh đó mà nó không đúng cho mỗi lúc, mỗi nơi, mỗi sự việc. Đó là lý do người đệ tử Phật phải học thông thuộc về THỪA, THỜI, CƠ, GIÁO, và TỨ TẤT ĐÀN mới có thể hiểu không sai lầm ý Phật trong suốt hành trình đức Phật hóa đạo chúng sanh.

    * Điều kiện sanh sang thế giới Bất Động, cũng cùng một nguyên tắc chung mà chư Phật đã nhất trí với nhau là phải tu:

Giới, định, tuệ tam vô lâu học.
Văn nhi tu, tư nhi tu, tam tuệ học.
Thân, khẩu, ý, tam nghiệp thanh tịnh.
Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, để tâm quán niệm.
Tứ nhiếp pháp, ứng dụng lợi sanh.
Thập nhị nhân duyên, thường quán chiếu.
Lục độ thực hành, để trau dồi bồi dưỡng cho phước trí nhị nghiêm…

    (7/3/04 Băng 141) 

     Tất cả hiện tượng vạn pháp đều gọi là "hữu vi". Hữu vi là pháp do duyên sanh, pháp có tác nhơn. Do vậy, chúng là những pháp "trước không nay có". Thế cho nên pháp hữu vi có sanh, có diệt, chúng là pháp vô thường.

    * Niết bàn là pháp vô vi, không có tác nhơn cho nên Niết bàn là pháp bất sanh, bất diệt, Niết bàn là pháp thường. Khi nào con người không còn vô minh, phiền não, hoặc nghiệp thì Niết bàn thể hiện tự nhiên vô tác. Cho nên Phật dạy cho Bồ tát Lưu Ly Quang: Niết bàn do LIẼU NHƠN mà hiện, Niết bàn không do "tác nhơn". Vì vậy, Niết bàn là THƯỜNG.

    * Hư không xét ra cũng có bốn đức: THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH, tương tợ bên thế giới VÔ TÌNH. Thường, lạc, ngã, tịnh bốn đức Niết bàn bên thế giới HỮU TÌNH, con người cảm nhận, thọ dụng cái đức tánh: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh ấy. Cho nên chỉ có người không còn vô minh phiền não mới thọ dụng được Niết bàn thôi, không đồng với tính tương tợ của hư không vô tri vô giác./.
 

PHẨM THỨ HAI MƯƠI HAI

QUANG MINH BIẾN CHIẾU 
CAO QUÝ ĐỨC VƯƠNG BỒ TÁT
(TIEP THEO A)

(14/3/04 Băng 142)

    Cao Quý Đức Vương Bồ Tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Hành Bồ tát hạnh bố thí như thế nào gọi là bố thí ba la mật nhẫn đến trí tuệ ba la mật ? Và, như thế nào không gọi là ba la mật ? Thế nào là Niết bàn và Đại Niết bàn?

(21/3/04 Băng 143)

     Phật dạy: Này Thiện nam tử ! Bồ tát tu Đại thừa hạnh, bố thí mà chẳng nghe cái từ bố thí, chẳng thấy của cải vật dụng bố thí, chẳng thấy người thọ thí là hạng người nào, màu da, chủng tộc, giai tầng xã hội nào. Tu tập trì giới…cho đến trí tuệ cũng vậy. Tu mà chẳng nói tu, chẳng nghe tu, chẳng thấy tu. Tu tập trong chánh niệm "tu vô tu tu" thì gọi là ba la mật.

     Bồ tát tu Đại Niết bàn, biết và thấy rõ pháp giới, tất cả đều không có thật. Bồ tát thấy biết rõ: tất cả pháp như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ, như điện, như càn thát bà thành, như ba tiêu, như dương diệm, thủy trung nguyệt v.v…Bồ tát thấy biết rõ: Thực tướng của vạn pháp là : không, vô tướng, vô tác. Nó không có hòa hợp, không có tướng giác tri. Đấy gọi là Bồ tát an trú trong "thật tướng". Bấy giờ Bồ tát tự biết đấy là bố thí, đấy là ba la mật, nhẫn đến đấy là trí tuệ, đấy là ba la mật.

     Đại Bồ tát đối với tiền tài sự nghiệp thường có chánh niệm tư duy, của cải thuộc năm nhà: Một, vua quan tịch thu. Hai, cướp trộm cưỡng đoạt. Ba, lũ lụt cuốn trôi. Bốn, hỏa hoạn cháy hết. Năm, con hư phá tổ nghiệp. Do thường tư duy như vậy, Bồ tát phát tâm bố thí. Bố thí không đợi người xin, không cầu phước báo, không hy vọng đáp đền ơn nghĩa, chẳng nhớ, chẳng thấy việc làm bố thí của mình. Bố thí như vậy, gọi là "tam luân không tịch". Bố thí như vậy gọi là ba la mật, nhẫn đến tu trí tuệ ba la mật cũng vậy: “Năng sở song vong”, gọi là trí tuệ ba la mật !

     Trái lạị, Bồ tát vì tiếng tăm, vì danh dự tông tộc, vì cầu phước báo nhân thiên, vì hơn người, vì thân tình cảm mến, hy vọng nghĩa trả ơn đền…Bố thí như vậy chỉ là sự trao đổi lợi lộc, như trồng cây lấy bông trái, nuôi bê để bán bò.. động cơ đó, việc làm như vậy không ba la mật.

     Đại Bồ tát làm việc bố thí quan niệm rằng: Hạnh thí chỉ là một phương tiện trên con đường hành Bồ tát đạo, đừng xem đó là việc quan trọng, hay công đức lớn lao mà xem nó như một tử thi, người sắp chết đuối miễn cưỡng phải ôm… để lội; như lỗ hố xí vì muốn vượt khỏi giam hãm mà người trí mượn đó để chui ra, như người muốn lành bệnh mà phải uống thuốc có chất dơ, hôi đắng…Nhờ quán chiếu tư duy như vậy mà Bồ tát thành tựu bố thí ba la mật…cho đến trí tuệ ba la mật một cách nhẹ nhàng….Những nghĩa lý như vậy các kinh khác Như Lai chưa nói rõ. Đấy là tu học kinh Đại Niết bàn nghe những điều chưa nghe.

     Cao Quý Đức Vương thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu Nhất xiển đề có Phật tánh, sao gọi họ là những người sống trong địa ngục ? Bọn họ nếu có Phật tánh, sao lại nói Nhất xiển đề không có thường, lạc, ngã, tịnh ? Người dứt mất căn lành gọi là Nhất xiển đề, lúc dứt căn lành tại sao lại Phật tánh không dứt ? Nếu Phật tánh chẳng dứt sao lại gọi họ là Nhất xiển đề ?

(28/3/04 Băng 144)

     Phật khen: Lành thay ! Lành thay ! Cao Quý Đức Vương ! Ông vì lợi ích chúng sanh, vì sách tấn các Bồ tát mà hỏi Phật những điều như vậy. Ông đã gần gũi vô lượng chư Phật quá khứ, thành tựu công đức trí tuệ thậm thâm mới có thể hỏi Như Lai như vậy. Người, trời, sa môn, Bà la môn chưa có ai có thể biết những diệu nghĩa sâu xa đó. Vậy ông hãy lóng nghe.

     Này Cao Quý Đức Vương ! Tất cả các pháp đều không có tánh cố định, cho nên Nhất xiển đề cũng không có tánh cố định. Vì không có tánh cố định cho nên Nhất xiển đề có thể thành Phật. Căn lành thì có thể dứt mất mà Phật tánh thì không dứt.

     Bởi vì căn lành có hai thứ: trong và ngoài, mà Phật tánh thì không phải trong, không phải ngoài nên không bị dứt. Căn lành lại có hai thứ: Hữu lậu và vô lậu; Phật tánh chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu nên không bị dứt . Nếu những thứ bị dứt thì có thể trở lại được. Nếu không trở lại được thì không gọi là dứt. Dứt rồi trở lại được gọi là Nhất xiển đề. Phạm tội tứ trọng, ngũ nghịch, hủy báng Đại thừa cũng chẳng cố định như vậy. Vì nếu cố định thì những hạng người này vĩnh viễn không có cơ hội được Vô thượng Bồ đề. Sắc, thanh, hương, vị, xúc nhẫn đến vô minh, ấm, nhập, xứ, giới, hai mươi lăm cõi, bốn loại sanh….tất cả pháp đều không có tướng cố định.

    Tánh tướng của tất cả đều như ảo, như mộng, như bào, như ảnh, như lộ, như điện….bọn tiểu nhi thiểu trí cho mộng ảo là thật, người trí biết rõ không thật. Hàng phàm phu, Thanh văn, Bích chi Phật, đối với vạn pháp thấy có tướng cố định. Bồ tát chư Phật thấy tất cả pháp không có tướng cố định.

     Tuy nhiên, này Cao Quý Đức Vương ! Nhìn bên tục đế, hữu vi thì tất cả pháp "bất định”, nhưng nhìn bên chơn đế vô vi vẫn có: chơn thường, chơn lạc, chơn ngã, chơn tịnh, bốn tánh thực có của Niết bàn.

     Này Cao Quý Đức Vương ! Hôm nay Như Lai ở trong rừng Ta la song thọ, thị hiện nằm dựa trên giường sư tử sắp nhập Niết bàn, làm cho người trời bát bộ lo lắng chuẩn bị đồ khâm liệm Như Lai. Hàng Thanh văn đệ tử đều cho rằng Như Lai sẽ nhập Niết bàn. Sự thực Như lai chẳng vĩnh diệt nhập Niết bàn như phàm phu, thiên long, bát bộ chúng tưởng. Bởi Như Lai là thể như như bất động, Như Lai thường trú không có biến dịch, cho nên Như lai nhập Niết bàn không vĩnh diệt.

(4/4/04 Băng 145)

     Trong thế gian có bốn loại thiên: 

Một, thế gian thiên, như các vị quốc vương, tổng thống, những người có phước báo, đầy đủ vật chất cần dùng…

Hai, sanh thiên, do dụng công tu tập, cải tạo hoàn cảnh, lập chí hướng thượng như: Tứ thiên vương thiên nhẫn đến phi tưởng phi phi tưởng thiên. 

Ba, tịnh thiên, những người được chứng đạo quả trong từng phần như: Tu đà hoàn, A la hán, Bích chi Phật. 

Bốn, đệ nhất nghĩa thiên, những bậc thấy chân lý, hiểu rõ thực tướng của các pháp là vô tướng, như bậc thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng và thập địa.

     Như Lai thì không đồng với những hạng trời ấy, cho nên Như Lai không phải quốc vương cho đến không phải đệ nhất nghĩa thiên. Mặc dù vậy, nhưng chúng sanh cũng gọi Phật là thiên trung thiên. Do vậy, Như Lai chẳng phải là thiên mà cũng chẳng phải là chẳng phải thiên. Rồi với loài người, A tu la, địa ngục, quỉ, súc sanh cũng vậy, Như Lai không phải là các loài đó. Nhưng Như Lai cũng không phải là không phải các loài đó. Như Lai chẳng phải là pháp, là vô tình chúng sanh, nhưng Như Lai cũng chẳng phải là chẳng phải pháp. Như Lai chẳng phải màu sắc xanh, vàng đỏ trắng, nhưng Như Lai cũng chẳng phải là chẳng phải xanh vàng đỏ trắng. Như Lai không phải kích thước dài, ngắn, rộng, hẹp, vuông tròn, nhưng Như Lai không phải là không kích thước dài, ngắn, rộng hẹp, vuông, tròn…..(11/4/04 Băng 146)còn nhiều lắm, nói mãi nói hoài cũng không đủ ngôn thuyết và thời gian để nói, Cao Quý Đức Vương, ông nên tư duy như vậy, quán chiếu như vậy mà thọ trì. Như Lai là thể chơn như, như như bất động. Thể này hiện hữu và tồn tại vô thỉ vô chung. Nó ly tất cả tướng, nó là tất cả pháp !

     Này Cao Quý Đức Vương ! Như Lai nói rõ thêm cho ông và tất cả chúng sanh biết: Như Lai không phải thế gian thiên, vì Như Lai không ở địa vị quốc vương. Từ vô lượng kiếp, Như Lai đã bỏ ngôi quốc vương, nhưng hiện nay Như Lai sanh trong nhà vua Tịnh phạn, thành Ca Tỳ la; vì vậy Như Lai chẳng phải là chẳng quốc vương.

     Như Lai chẳng phải là thiên sanh thiên, vì Như lai đã rời bỏ vượt ra ba cõi từ lâu rồi, nhưng Như Lai từ Đâu suất thiên giáng thần cõi Diêm phù đề, cho nên Như Lai chẳng phải là chẳng thiên sanh thiên.

     Như Lai chẳng phải Tu Đà hoàn, nhẫn đến Bích Chi Phật, nên Như Lai chẳng phải Tịnh thiên, nhưng đối với tâm pháp bất tịnh trong cõi đời chẳng làm hoen ố, nhiễm ô Như Lai được, ví như hoa sen xanh không ô nhiễm bởi nước đục bùn đen, cho nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải Tịnh thiên.

     Như Lai không phải là thập trụ Bồ tát…cho nên Như Lai chẳng phải nghĩa thiên, nhưng Như Lai thường tự trụ mười tám nghĩa không, cho nên Như Lai không phải là không phải nghĩa thiên.

     Như Lai chẳng phải là người, vì vô lượng kiếp Như Lai đã lìa quả báo người, nhưng Như Lai giáng sanh thành Ca Tỳ la vệ nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải người.

     Như Lai chẳng phải là Quỉ, vì chẳng não hại tất cả chúng sanh, nhưng Như Lai có lúc dùng thân quỉ để giáo hóa chúng sanh, cho nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải Quỉ.

     Như Lai chẳng phải là địa ngục, quỉ và súc sanh, vì từ lâu Như Lai đã xa lìa ác nghiệp, ác nhân trong ba đường, nhưng Như Lai cũng thọ thân trong đời để giáo hóa chúng sanh, cho nên Như lai chẳng phải là chẳng phải địa ngục, súc sanh và quỉ.

     Như Lai chẳng phải chúng sanh, vì từ lâu đã xa lìa tánh chúng sanh, nhưng Như Lai diễn thuyết việc của chúng sanh, nên Như Lai chẳng phải là chẳng chúng sanh.

     Như Lai chẳng phải là pháp, vì các pháp mỗi mỗi có tướng riêng. Như Lai chỉ có một tướng; nhưng Như Lai là pháp giới, là pháp thân cho nên cũng chẳng phải là chẳng phải pháp.

     Như Lai chẳng phải là sắc, vì Như Lai không nhiếp thuộc vào mười thứ sắc pháp, nên Như Lai chẳng phải sắc, nhưng thân Như Lai có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, cho nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải sắc.

     Như Lai không phải cao, vì lìa ngoài sắc tướng đối đãi; nhưng người thế gian không thấy được vô kiến đảnh của Như Lai, cho nên Như Lai không phải là không cao.

     Như Lai không phải thấp, vì từ lâu Như Lai đã lìa khỏi kiêu mạn; nhưng vì độ trưởng giả Cu Sư La Như Lai hiện thân ba thước cho nên Như Lai chẳng phải là chẳng thấp.

     Như Lai chẳng phải là tướng, vì từ lâu xa lìa các tướng; nhưng Như Lai biết rõ tất cả các tướng cho nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải tướng.

     Như Lai không phải là tâm, vì rỗng rang như hư không, nhưng Như lai đủ mười trí lực, biết rõ tâm chúng sanh cho nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải tâm.

     Như lai chẳng phải hữu vi, vì có thường, lạc, ngã, tịnh, nhưng Như Lai thị hiện có đến, có đi, có ngồi nằm, cũng thị hiện có Niết bàn cho nên chẳng phải vô vi.

     Như Lai chẳng phải thường, vì có thân phần đoạn, vì có phân biệt, vì có nói năng, vì có họ tên, vì có cha mẹ, có nơi chỗ, có bốn oai nghi, cho nên Như lai chẳng phải là thường, nhưng Như Lai là vô sanh, cho nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải thường.

     Như Lai chẳng phải huyễn hóa, vì dứt sạch tâm luống dối từ lâu, nhưng có lúc Như Lai hóa một thân thành vô lượng thân, vô lượng thân hiện thành một thân, có thể xuyên qua vách, qua núi, qua sông, hòa vào hư không, nước lửa mà vẫn an nhiên tự tại ; có lúc Như Lai hóa hiện thân nam, thân nữ v.v…vì thế Như Lai cũng chẳng phải là chẳng phải huyển hóa.

     Trong rừng Ta la song thọ, nơi thành Câu thi na này, Như Lai thị hiện nhập Niết bàn, cho nên Như Lai cũng chẳng phải là tướng cố định. Do vì Như Lai có thường, lạc, ngã, tịnh cho nên Như Lai chẳng phải là chẳng phải cố định.

(18/4/04 Băng 147) 

     Như Lai chẳng phải hữu lậu, vì đã dứt hết ba thứ hoặc: Một, Dục lậu: những thứ phiền não cõi dục, trừ vô minh. Hai, Hữu lậu: Tất cả phiền não cõi sắc và vô sắc, trừ vô minh. Ba, Vô minh lậu: vô minh trong tam giới. Vì thế, Như Lai chẳng phải hữu lậu.

(2/5/04 Băng 148)

     Tất cả chúng sanh hữu lậu phàm phu đối với đời vị lai họ “man man tiền lộ” “NGHI VÕNG TRÙNG TRÙNG. Họ nghi rằng:

Đời vị lai sẽ còn thân hay không còn ?
Đời quá khứ thân vốn có hay vốn không ?
Đời hiện tại, thân này từ đâu, do gì có ?
Nếu có ngã thì ngã là sắc hay chẳng phải sắc ?
Ngã ấy là tưỏng hay chẳng phải tưởng ?
Thân này thuộc về cái khác sanh ? 
Thân này có mạng hay không có mạng ?
Thân cùng mạng thường ư ? Vô thường ư ?
Thân cùng mạng do tự tại thiên tạo ư ?
Thời tiết tạo ư ?
Vô nhơn tạo ư ?
Thể tánh tạo ư ?
Vi trần tạo ư ?
Pháp cùng phi pháp tạo ư ?
Sĩ phu tạo ư ?
Phiền não tạo ư ?
Cha mẹ tạo ư ?
Ngã ở trong thân hay ở trong mắt ?
Ngã khắp thân hay chẳng khắp thân ?
Ngã từ đâu đến rồi ngã sẽ đi đâu ?
Thân ta đời trước là ai ?
Nếu làm việc sát sanh có tội hay không tội ?
…Cho đến điều răn thứ năm, uống rượu có tội hay không tội ?

     Còn vô số điều nghi chấp mơ hồ không quyết đoán như vậy, che đậy làm u tối tâm tánh chúng sanh. Do nghi chấp sai lầm sanh ra sáu thứ quan niệm:

Quyết định có ngã.
Quyết định không ngã.
Ngã chấp là ngã.
Ngã chấp là không ngã.
Không ngã thấy là ngã.
Ngã thấy không ngã.

     Những quan niệm như vậy đều gọi là tà kiến. Như Lai thì đã dứt hẳn cội gốc tà kiến hữu lậu như vậy, cho nên Như Lai chẳng phải hữu lậu. Đại Bồ tát tu thánh hạnh Đại Niết bàn cũng dứt được những hoặc lậu như vậy, chư Phật thường không rời thánh hạnh cho nên tất cả chư Phật đều là vô lậu.

     Này Cao Quý Đức Vương ! Phàm phu không khéo thu nhiếp năm căn nên ba thứ lậu tác động hoành hành, nghiệp ác kéo lôi đến chỗ chẳng lành. Ví như ngựa bất kham tánh hung hăng, có thể làm cho người cỡi ngựa đến chỗ hiểm nạn. Người không khéo thu nhiếp năm căn cũng như vậy, có thể xa rời pháp lành, gần gũi pháp ác và sống với pháp ác. Lại ví như voi dữ, chưa điều phục, người cỡi nó không thể theo ý muốn, voi có thể đưa người xa lìa thành ấp đến nơi rừng sâu, núi rậm. Không khéo thu nhiếp năm căn, có thể đưa người xa rời thành ấp Niết bàn, đến nơi rừng rậm ưu bi sanh tử. Ví như tôi nịnh bảo vua làm ác, như đứa con hư chẳng nghe lời dạy của mẹ cha, sư trưởng; người không khéo nhiếp năm căn, nó sẽ khiến người làm điều ác chẳng thuận pháp lành.

     Phàm phu chẳng nhiếp thủ ngũ căn, thường bị địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh tàn hại , như giặc cướp tàn hại người lành.

     Phàm phu chẳng nhiếp thủ ngũ căn, chạy theo ngũ dục, như người chăn trâu không khéo giữ, để trâu phá hại lúa mạ.

     Phàm phu chẳng nhiếp thủ ngũ căn, thường ở trong ba cõi, chịu nhiều khổ não. Đại Bồ tát tu thánh hạnh Đại Niết bàn thường khéo nhiếp thủ ngũ căn, dứt trừ tham dục, sân nhuế, ngu si, kiêu mạn, nghi ngờ để được thành tựu viên mãn pháp lành.

     Người khéo nhiếp thủ ngũ căn thì cũng nhiếp thủ được tâm, nếu nhiếp thủ được tâm thì cũng nhiếp thủ ngũ căn, ví như người bảo hộ quốc vương cũng tức là bảo hộ quốc gia; bảo hộ quốc gia tức là bảo hộ quốc vương vậy !

     Đại Bồ tát nếu được nghe kinh Đại Niết bàn thì được trí tuệ, khi có được trí tuệ ắt sẽ có chánh niệm. Ngũ căn không tán loạn, Bồ tát thường ở trong môi trường sinh hoạt niệm tuệ tác động hổ tương. Ví như người chăn giỏi , trâu vừa sút dây đi ăn lúa mạ của người thì liền bắt lại. (9/5/04 Băng 149) Nhờ niệm tuệ mà Bồ tát chẳng thấy tướng ngã, tướng ngã sở hữu, tướng nhơn, tướng chúng sanh và tướng thọ mạng, mà thấy tất cả pháp đồng một “pháp tánh" . Vì thế Bồ tát không khởi tâm tham đắm luyến ái.

     Đại Bồ tát tu học kinh Đại Niết bàn chẳng chấp đắm tướng chúng sanh mà hiện làm trò pháp tướng, ví như thợ vẽ dùng các thứ màu vẽ thành các hình tướng hoặc nam, hoặc nữ, hoặc trâu, hoặc ngựa…Phàm phu không trí tuệ thấy vậy cho rằng có tướng nam, nữ thật, thợ vẽ thì biết rõ chẳng có nam nữ…Cũng vậy, vì có niệm tuệ nên Đại Bồ tát đối với tướng sai khác của các pháp thấy là một tướng, chẳng thấy có tướng chúng sanh…Đại Bồ tát tu hành kinh Đại Niết bàn khéo quan sát pháp tướng, khi thấy tướng nam nữ niệm tuệ vững vàng đoan chánh không có lòng đắm nhiễm ái luyến.

     Đại Bồ tát tu học kinh Đại Niết bàn, biết rõ ngũ dục chỉ đem lại cho người nhận nó cái vui hư ảo, như chó gặm xương khô, như người cầm lửa đi ngược gió, như rắn độc đựng trong tráp, như chiêm bao lượm được trái cây trên đường, như ảnh đẹp của người mẫu, như vẽ trong nước, như dệt hết đường canh, như tử tội dắt ra pháp trường, như chiếc áo "soa rê" trong ngày vu qui của cô gái, như nữ trang mượn tạm. Bồ tát quán sát ngũ dục có nhiều lỗi ác mong manh như vậy. 

     Đại Bồ tát quán sát chúng sanh, vì sắc, thanh, hương, vị, xúc mà vô lượng kiếp đến nay chịu nhiều khổ não. Nhìn bằng Phật nhãn, mỗi chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, xương tàn dồn lại chất cao hơn Hy mã lạp sơn; bú sữa mẹ nhiều như nước bốn biển; nước mắt khóc người thân: cha mẹ, anh em, chồng vợ…chẳng kém nước đại dương. Ba đường ác: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh từng qua lại xuống lên vô lượng kiếp. Quả đất này vò viên bằng quả nho còn có thể dễ hết, si mê và luân hồi sanh tử khó biết điểm tận cùng. Quán sát tư duy như vậy, Bồ tát không dễ dui niệm tuệ, không để mất niệm tuệ. Ví như một vận động trường đông đảo hàng chục vạn người , nhà vua truyền lệnh cho một tội nhân: hãy bưng một chén dầu đầy, nâng cao ngang tầm mũi đi qua giữa đám đông kia, không được làm đổ, nếu đổ rơi một giọt sẽ bị tội chết. Vua lại sai một quan nhân cầm kiếm theo sau, nếu thấy dầu đổ, chém ngay tức khắc. Vì sợ chết, tội nhân kia hết lòng gìn giữ chén dầu, đi qua khỏi đám đông mà chẳng đổ rơi một giọt. Cũng vậy, Đại Bồ tát ở trong sanh tử chẳng mất niệm tuệ nên dầu thấy ngũ dục mà tâm không tham luyến. Lúc bấy giờ ngũ căn của Bồ tát được thanh tịnh, vì ngũ căn thanh tịnh nên giữ gìn giới cấm đầy đủ mà không thấy khó khăn. Phàm phu ngũ căn chẳng thanh tịnh, không khéo giữ gìn nên gọi là căn lậu. Bồ tát đã dứt hết ái nhiễm nên là vô lậu. Như Lai dứt sạch cội gốc vô minh nên vượt ngoài lậu và vô lậu.

     Đức Phật dạy tiếp: Cao Quý Đức Vương ! Ta chẳng thấy trong mười hai bộ kinh có kinh nào dạy vẻ tu tập xa lìa ác lậu rốt ráo như kinh Đại Niết bàn.

     Kinh Đại Niết bàn có vô lượng công đức lớn lao như vậy, nếu người nào thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng thuyết nghĩa lý của kinh, người ấy đích thực là đệ tử lớn của Phật, là người mà Phật thường thấy, thường nhớ, là người biết rõ Phật chẳng vĩnh viễn nhập Niết bàn, người này ở chỗ nào là có Phật cùng ở chung chỗ đó và Phật thường xuyên nhận sự cúng dường tôn quý vô giá của người ấy !

     Này Cao Quý Đức Vương ! Ta nhớ về quá khứ vô lượng vô số kiếp thuở đó quốc độ hiệu Ta bà, Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni đầy đủ mười đức hiệu, vì hàng Đại chúng tuyên thuyết kinh Đại Niết bàn. Thuở đó ta được nghe kinh này qua các người bạn nói lại. Nghe rồi lòng ta vui mừng, muốn sắm phẩm vật cúng dường Phật, nhưng vì quá nghèo không tiền và cũng không có một vật gì đáng giá. Ta tự đem thân đi bán, nhưng vì bạc phước, chẳng ai chịu mua. Buồn tủi trở về giữa đường ta gặp một người, bèn đem tâm sự ấy tỏ bày. Người ấy bảo ta: "Nếu ông bằng long làm theo điều tôi yêu cầu, tôi sẽ mua với giá năm đồng tiền vàng".

     Người ấy có bệnh lạ, y sĩ chế thuốc mỗi ngày cần có ba lạng thịt người . Ta vui lòng nhận lời yêu cầu của người kia và ngược lại ta yêu cầu người kia hãy trả cho ta tiền trước, sau bảy ngày ta sẽ đến thực hiện lời giao ước. Người ấy bằng lòng, nhưng chỉ cho một ngày, vì bệnh của người gấp phải dùng thuốc. Sau khi lãnh tiền, ta liền đến chỗ Phật đãnh lễ dưới chân Phật rồi đem hết năm đồng tiền vàng dâng cúng Phật. Cúng dường xong, ta lóng lòng nghe Phật giảng kinh Đại Niết bàn. Lúc đó, tâm trí ta quá tối, nghe mà chẳng tiếp thu được nghĩa lý sâu mầu, ta chỉ thọ trì một bài kệ:

(16/5/04 Băng 150)

Như Lai chứng Niết bàn
Dứt hẳn đường sanh tử
Nếu người hết lòng nghe
Thường được vui vô thượng

     Ta được nghe và thọ trì bài kệ ấy, sau đó dầu mỗi ngày ta phải chịu cắt lấy ba lạng thịt nơi thân, nhưng nhờ định tâm trong sáng, chuyên niệm bài kệ mà ta chẳng lấy làm đau đớn nhiều. Công việc cắt thịt, chế thuốc, chữa bệnh trong một tháng trôi qua, người bệnh này đã được lành. Nhờ niệm lực tinh tấn dũng mãnh "vị pháp vong xu" mà thân ta không suy yếu rồi từ từ bình phục. Thiện nguyện đã thành ta liền phát tâm Vô thượng Bồ đề, nguyện đời vị lai được thành Phật hiệu THÍCH CA MÂU NI.

     Này Cao Quý Đức Vương ! Do công đức của một bài kệ ấy mà ta ngày nay được thành Phật, ở trong đại chúng, ta tuyên thuyết kinh Đại Niết bàn này !

     Này Cao Quý Đức Vương ! Kinh Đại Niết bàn có những công đức không thể nghĩ bàn. Đấy là tạng bí mật rất sâu của chư Phật. Do vậy, người thọ trì sẽ dứt được những ác lậu như: voi ác, ngựa ác, trâu ác, chó ác, rắn độc, gai gốc, gộp cao, biển bão, nước xoáy; người ác, cõi nước ác, thành ác, nhà ác, thầy bạn ác….Nói bao quát: Những gì là nguyên nhân của ác lậu thì Bồ tát viễn ly; những gì không phải ác lậu thì Bồ tát không viễn ly. Nếu pháp nào có thể làm tăng thêm ác lậu thì viễn ly, pháp không tăng thêm ác lậu thì chẳng viễn ly. Viễn ly không có nghĩa là phải cầm dao, chặt chém, đánh đập, cũng không phải chửi mắng, chuốc oán, gây thù để làm điều kiện viễn ly mà Bồ tát sử dụng trí tuệ phương tiện để viễn ly. Viễn ly vì muốn thêm lớn pháp lành, tiêu hao pháp ác mà Bồ tát tu tập viễn ly. Bồ tát quán sát thân tướng của mình như ghẻ nhọt, như ung thư, như chạm phải tên độc, như gan nhiễm siêu vi B. Thấy rằng: Thân là cội gốc sanh ra tất cả pháp thiện ác. Dầu biết thân là nguyên nhân khổ, là bất tịnh, nhưng Bồ tát vẫn bồi dưỡng mà không hủy hoại thân. Bồi dưỡng mà không tham ái, không xem trọng, không hủy hoại, nhưng không đồng nghĩa “úy tử tham sanh” ! Bồi dưỡng thân chính là Bồ tát vì pháp, vì Đại Niết bàn, vì Bồ đề vô thượng, vì thường, lạc, ngã tịnh, vì nhất thiết chủng trí, vì ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, vì vai trò của pháp vương vô thượng đối với chúng sanh. Đại Bồ tát thường phải bảo trọng thân thể mình để xiển dương chánh pháp kinh Đại Niết bàn thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng thuyết, tư duy nghĩa lý thậm thâm vi diệu của kinh này. Do vậy, Bồ tát được viễn ly tất cả hoặc lậu ác pháp. Giống như người muốn qua sông phải khéo giữ gìn thuyền bè, người đi đường xa khéo giữ gìn ngựa hay, như nhà nông khéo giữ gìn nước phân, giống tốt, như người vì của cải nuôi dưỡng "gác dan", như vì an ninh quốc phòng mà dưỡng nuôi quân sĩ,….Bồ tát dầu thấy biết thân này đầy dẫy khổ đau, bất tịnh, nhưng vì muốn thọ trì kinh Đại Niết bàn, nên vẫn giữ gìn và bồi dưỡng nó.

     Đại Bồ tát xem voi ác cùng bạn ác đồng nhau, bởi vì làm hại thân mình. Suy nghĩ tột cùng, bạn ác đáng sợ hơn là voi ác, vì voi ác làm hại được thân mà không hại tâm, bạn ác thì hại cả thân lẫn tâm. Voi ác chỉ làm hại một thân, bạn ác có thể làm tan hoại thân hôi nhơ; bạn ác có thể làm tan hoại cả tịnh thân và tịnh tâm. Voi ác có thể làm hại nhục thân, bạn ác làm hại đến pháp thân. Bị voi ác giết chết chẳng sa ba đường ác, bị bạn ác giết chết sa rớt ba đường ác. Voi ác chỉ là kẻ thù của thân, bạn ác là kẻ oan thù của pháp lành. Do vậy, Bồ tát thường nắm giữ chánh niệm và một lòng viễn ly bạn ác.

     Do viễn ly bạn ác mà Bồ tát xa lìa các lậu, còn Như Lai thì viễn ly các lậu từ bao giờ đến bây giờ.

     Ác lậu của phàm phu thường xuyên biểu hiện qua thân khẩu ý, bởi một động lực: “Vì ta, cho ta, của ta". Tất cả những đồ cần dùng: ẩm thực, y phục, ngọa cụ, y dược,…những thứ phục vụ cho ăn, mặc, ở, ngủ….vì tham muốn, tìm cầu không