PHẨM
THỨ HAI MƯƠI MỐT
ANH
NHI HẠNH
Lúc bấy giờ Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: Này thiện nam tử!
Như Lai muốn cho các Bồ tát nghe về Anh Nhi Hạnh. Anh Nhi Hạnh
là hạnh nết của trẻ hài nhi miệng còn thơm sữa. Hài nhi
này không thể đứng dậy đi tới đi lui nói chuyện. Như Lai
cũng vậy, Như Lai không thể khởi dậy, vì Như Lai trọn vẹn
chẳng khởi các pháp tướng. Như Lai cũng không thể đứng
dừng, vì Như Lai chẳng chấp thủ tất cả pháp. Như Lai không
thể có đến, vì thân Như Lai chính là pháp thân chẳng có
lay động. Như Lai cũng không thể đi, vì Như Lai đã đến
Đại Niết bàn rồi. Như Lai không thể nói, vì Như Lai dù
nói pháp cho tất cả chúng sanh nhưng thật ra chẳng nói gì.
Bởi vì pháp có cái để nói thì đó là pháp hữu vi. Như
Lai không ngôn ngữ, như anh nhi ngôn ngữ chưa rõ, dù có ngôn
ngữ, thật ra không ngôn ngữ. Ngôn ngữ chưa rõ chính là bí
mật của chư Phật. Dù chư Phật có nói nhưng chúng sanh cũng
chẳng hiểu, nên gọi là không ngôn ngữ.
Như anh nhi gọi tên những đồ vật chẳng duy nhứt, vì chưa
biết rõ tên nhưng không phải nhân nơi đây mà được biết
đồ vật. Cũng như vậy, tất cả chúng sanh chủng loại địa
phương, ngôn ngữ chẳng đồng, Như Lai phương tiện thuận
theo ngôn ngữ của họ, cũng làm cho các chủng loại nhân đó
mà được hiểu biết.
Anh nhi có thể nói được tiếng đơn, cũng vậy, Như Lai nói
chữ cái. Như nói "bà", "hòa". "Hòa" là hữu vi. "Bà" là vô
vi. Vì thế mà tỷ dụ Anh nhi. Rồi Như Lai nói "Hòa" là vô
thường. "Bà" là thường. Như Lai nói thường, chúng sanh nghe
rồi, người muốn cầu pháp thường họ dứt được vô thường,
đấy gọi là Anh nhi hạnh.
Anh nhi hạnh cũng chẳng biết khổ vui, ngày đêm, cha mẹ, thân
sơ, thương ghét, ân oán...Cũng vậy, Đại Bồ tát vì chúng
sanh nên chẳng nghĩ đến khổ vui, không câu nệ ngày đêm,
không phân biệt thân sơ cha mẹ. Cũng như vậy, đại Bồ tát
vì chúng sanh nên chẳng để ý khổ vui, không phân biệt ngày
đêm, tâm bình đẳng lợi ích chúng sanh không có tưởng thân
sơ sai khác.
Anh nhi cũng không thể tạo tác việc lớn, việc nhỏ. Cũng
vậy, Bồ tát chẳng tạo nghiệp sanh tử (việc lớn). Bồ
tát cũng không bao giờ thối thất tâm Bồ đề tu hạnh Thanh
văn (việc nhỏ).
Anh nhi hạnh lúc kêu khóc, cha mẹ lấy lá dương vàng mà bảo
rằng: nín đi đừng khóc ! Vàng đây mẹ cho con ! Anh nhi thấy
lá dương vàng bằng lòng tưởng là vàng thật, bèn thôi không
khóc nữa. Trâu gỗ, ngựa gỗ, xe gỗ, người gỗ, Anh nhi cũng
tưởng là người, ngựa, xe, trâu thật liền chẳng khóc nữa.
Do vì chẳng phải trâu, ngựa, xe người thật mà tưởng là
người, xe, ngựa, trâu thật...mà gọi là Anh nhi.
Phương tiện của Như Lai cũng vậy, nếu có chúng sanh muốn
tạo tội ác, Như Lai vì họ mà nói có cõi Đao Lợi Thiên,
là cõi trời rất đẹp đẽ, an vui và tự tại...Chúng sanh
nghe có cõi an vui, đẹp đẽ nghĩ mình sẽ được thỏa thích
bèn sanh lòng ham muốn, thôi không làm điều tội ác nữa mà
siêng năng thực hành những nghiệp lành. Nhưng thật ra cõi
trời Đao Lợi vẫn là sanh tử, tử sanh, chẳng phải thật
cảnh an vui tự tại.
Nếu có chúng sanh nhàm khổ sanh tử, Như Lai vì họ nói hạnh
của Nhị thừa, nhưng thật ra quả Nhị thừa chẳng phải
tột đỉnh chân thật, bởi vì hàng Nhị thừa còn thấy lỗi
sanh tử, còn thấy vui Niết bàn, còn quan niệm tu hành và không
tu; có chứng hay không chứng như Anh nhi kia đối với vật
chẳng phải vàng mà tưởng là vàng thật.
Như Lai ở trong chỗ bất tịnh mà nói là tịnh mà Như Lai
không có hư vọng, và Như Lai thật chứng đệ nhất nghĩa
đế, Như Lai đứng trên quan điểm đệ nhất nghĩa đế mà
dạy vẽ chúng sanh.
Còn nữa, với chúng sanh mê mờ ấu trĩ như Anh nhi, đối với
phi đạo mà tưởng là chân đạo, Như Lai cũng nói phi đạo
là đạo, nhưng phi đạo thật không có đạo, vì có thể làm
chút ít nhân duyên sanh ra đạo, nên Như Lai nói phi đạo là
đạo.
Lại nữa, qua cái nhìn Phật nhãn, Như Lai biết rõ chúng sanh
tướng, nhưng thật ra không có tướng chúng sanh. Nếu Như
Lai nói không, không chúng sanh thì tất cả chúng sanh sẽ đọa
vào tà kiến. Do vậy, nên Như Lai nói có chúng sanh, những
người đối với chúng sanh tưởng là chúng sanh thì không
thể phá tướng chúng sanh. Nếu có người ngay nơi chúng sanh
tướng mà phá được tướng chúng sanh, thì người này được
Đại Niết Bàn. Do được Đại Niết Bàn nên chẳng còn kêu
khóc nữa.
Này Thiện nam tử ! Nếu có người thọ trì, đọc tụng, biên
chép, giảng thuyết năm hạnh này, nên biết người này quyết
định sẽ được năm hạnh như vậy.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: Thế Tôn ! Theo như chỗ tôi hiểu,
y cứ theo lời Phật dạy thì tôi cũng quyết định sẽ được
năm hạnh này.
Đức Phật nói: Này Thiện nam tử ! Chẳng riêng gì ông được
năm hạnh như vậy mà trong hội này có chín mươi ba vạn người
đồng được năm hạnh như ông vậy.
TRỰC
CHỈ
* Anh nhi hạnh có nghĩa là nết hạnh của hài nhi. Ở phẩm
hai mươi mốt này, Như Lai mượn cái nết hồn nhiên ngây thơ
không biết đắn đo, không có ý tham cầu lấy bỏ, thân sơ
thương ghét dùng để ví cái hạnh từ, bi, hỉ, xả ba la mật,
bình đẳng tế độ chúng sanh qua nguồn giáo lý "Ưng vô sở
trụ" của đạo Phật.
* Anh nhi có thấy, có nghe, có ngửi, có nếm, có xúc và có
biết, nghĩa là Anh nhi vẫn có đủ LỤC CĂN.
* Lục căn của Anh nhi xúc đối với lục cảnh, nhưng tâm
cảnh như như bất động. Thấy mà như chẳng thấy gì, nghe
rồi nói...mà chẳng nói gì và chẳng có gì nói được "bất
khả đắc". "Bất khả đắc" là một ngôn từ thuộc loại
ngôn từ vi diệu trong kho tàng bí mật của Như Lai !
* Khổ do điên đảo mộng tưởng. Không điên đảo mộng tưởng
thì không khổ. Khổ không có thì không có cái gọi là vui,
mà chỉ có "tịch tĩnh".
"...Nhập
thâm sơn trụ lan nhã
"...Sầm
ngâm u thúy trường tòng hạ
"...Khuých
tịch an cư thật tiêu sái!"
(Chứng Đạo Ca- Huyền Giác)
* Sử dụng cái thấy bình đẳng: "Pháp giới nhất chân" "vô
tự tánh", Như Lai ví mình là Anh nhi.
* Sử dụng cái thấy sai biệt: "Pháp giới trùng trùng duyên
khởi" "Hữu chủng tánh", Như Lai lại ví mình với vai trò
cha mẹ của Anh nhi. Như Lai rõ là người "nhất thiết trí",
là đấng "vô thượng Bồ đề".
* Vì người trí bậc trung, bậc hạ, Như Lai nói "vạn pháp
có", "Thế giới chư Phật trong mười phương có" !
* Với người trí bậc thượng, Như Lai cho biết: "chỉ có
một thể tịch diệt chân như bất nhị".
" Niết
bàn sanh tử đẳng không hoa"