PHẨM
THỨ HAI MƯƠI
PHẠM
HẠNH
Phật bảo: Này Ca Diếp Bồ tát ! Đại Bồ tát tu Đại thừa
Đại Niết Bàn đứng vững trong bảy pháp lành, Bồ tát đó
sẽ đầy đủ Phạm hạnh:
Một,
biết pháp
Hai,
biết nghĩa
Ba,
biết thời
Bốn,
biết tri túc
Năm,
biết mình
Sáu,
biết người
Bảy,
biết tôn ty.
* Thế nào là biết pháp ? Bồ tát biết mười hai bộ kinh
gọi là Bồ tát biết pháp. Đây là mười hai bộ kinh:
1.
Trường hàng (Tu đa la)
2.
Trùng tụng (Kỳ da)
3.
Cô khởi (Dà đà)
4.
Thí dụ (A ba đà na)
5.
Nhân duyên (Ni đà na)
6.
Tự thuyết (Ưu đà na)
7.
Bổn sanh (Xà đà dà)
8.
Bổn sự (Y đế mục đà)
9.
Vị tằng hữu (Vị tằng hữu)
10.
Phương quảng đại thừa (Tỳ Phật lược)
11.
Nghị luận (Ưu ba đề xá)
12.
Thọ ký (Thọ ký)
1.
Thế nào là Trường hàng ?
Từ "Như thị ngã văn" cho đến câu "hoan hỉ phụng hành" bằng
toàn bộ văn xuôi của bộ kinh đó, gọi là thể văn Trường
hàng.
2. Thế nào là Trùng tụng ?
Xưa Phật tại thế nói thời pháp TỨ ĐẾ cho Đại chúng
nghe. Sau thời pháp đó, những người có khả năng tiếp thu,
nhưng vắng mặt. Họ hỏi đại chúng: Vừa rồi Như Lai đã
dạy những gì cho Đại chúng ? Đức Phật và Đại chúng tùy
nghi tóm lược cho họ bằng bài kệ: Lệ như:
Ta
xưa cùng các ông
Chẳng
thấy bốn chân đế
Nên
phải lưu chuyển mãi
Trong
biển khổ sanh tử
Nếu
thấy được bốn đế
Thì
diệt được sanh tử
Sanh
tử đã hết rồi
Chẳng
thọ thân ngũ ấm
3. Thế nào là Cô khởi ?
Trừ thể văn Trường hàng và thể văn Trùng tụng, những
bài kệ hoặc bốn câu, hoặc tám câu có ý nghĩa độc lập,
gọi là thể văn Cô khởi. Lệ như:
Các
điều ác chớ làm
Vâng
làm các điều lành
Lóng
sạch tâm ý mình
Đấy
lời dạy của Phật
4. Thế nào là Thí dụ ?
Lệ như kinh Pháp Hoa, Phật nói: Chưa ra khỏi thế giới Dục
lạc, thế giới vật chất và thế giới siêu hình thì không
thể có an lành giải thoát mà luôn luôn bị bức bách hiểm
nguy, đau khổ như ở trong tòa nhà sắp sập đổ, lửa cháy
và vô số hổ lang, ác thú, trùng độc ăn nuốt hãm hại.....
5. Thế nào là Nhân duyên ?
Nhân duyên tức là do có duyên cớ nào đó, đức Phật vì
ai đó mà dạy bảo: Lệ như: Đức Phật nói kinh Thủ Lăng
Nghiêm, do ông A Nan lâm nạn Ma Đăng Già...
Vì chàng thanh niên nước Xá Vệ giăng lưới bắt chim mà đức
Phật nói bài kệ:
Chớ
khinh tội nhỏ
Cho
là không họa
Giọt
nước dầu nhỏ
Lần
đầy lu lớn !
6. Thế nào là Tự thuyết ?
Lệ
như trường hợp: Vào một buổi xế chiều đức Phật nhập
thiền định thuyết pháp yếu, độ chư thiên. Các Tỳ kheo
nghĩ ngợi: Giờ này Thế Tôn đang làm gì? Sau khi Phật xuất
định dùng tha tâm trí, tự nói với các Tỳ kheo: Rằng hàng
chư thiên thọ mạng của họ rất dài......
Rồi
một hôm nọ, đức Phật muốn khai thị pháp môn "Kiến tánh
thành Phật".
Trước
đại tăng câu hội đức Phật tự bảo ông Xá Lợi Phất..."Tùng
thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ hữu thế giới
danh việt Cực lạc. Kỳ độ hữu Phật hữu hiệu A Di Đà
kim hiện tại thuyết pháp..." và đức Phật tự giới thiệu
pháp tu hướng về tịnh độ....
7. Thế nào là Bổn sanh ?
Lệ
như Phật nói: Này các Tỳ kheo ! Lúc ta xuất thế những điều
ta nói, ta dạy cho các chúng sanh gọi là "giới kinh".
Lúc
đức Câu Lưu Tôn Phật xuất thế lời Phật dạy gọi là
"cam lộ".
Lúc
đức Phật Câu Na Hàm Mâu Ni xuất thế lời Phật dạy gọi
là "pháp cảnh"
Lúc
đức Phật Ca Diếp xuất thế lời Phật dạy gọi là "phân
biệt không"....
8. Thế nào là Bổn sự ?
Lệ
như Phật nói: Này các Tỳ kheo ! Xưa kia ta đã từng là một
khổ hạnh tiên. Vì khổ hạnh ta cam chịu sự thách thức xẻo
mũi, cắt tai......
Có
kiếp ta vì ham mộ chánh pháp Đại thừa, phải đổi thân
mạng bằng nửa bài kệ tám chữ.
Có
kiếp ta đã từng là nai, là gấu, là thỏ, chồn...Rồi có
lúc ta là quốc vương, là Sa môn, Bà la môn....
9. Thế nào là Vị tằng hữu ?
Lệ
như câu chuyện: Bồ tát mới sanh không ai đỡ dắt mà tự
đi mỗi phương bảy bước.
Lệ
như: con vượn bưng bát mật dâng cúng Như Lai
Lệ
như: chó cổ trắng đến bên Phật nghe pháp...
Như
Phật lúc mới sanh vào thiên miếu làm cho thiên tượng đứng
dậy bước xuống đảnh lễ.....Những chuyện lạ như vậy
đều là văn thể VỊ TẰNG HỮU, Như lai sử dụng.
10.
Thế nào là Phương quảng ?
Phương quảng tức hệ giáo lý Đại thừa liễu nghĩa. Lệ
như đức Phật nói: "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh".
"Tất cả chúng sanh đã thành Phật". "Pháp giới nhất chân".
Không phải chỉ có "vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh",
mà còn có "THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH" trong pháp giới bất
nhị nhất chân ấy.
11. Thế nào là Nghị luận ?
Lệ như những bài kinh mà đức Phật cần luận bàn, giảng
giải, dùng nhiều ngôn từ, mượn nhiều thí dụ để cụ
thể hóa vấn đề, để chứng minh tánh thực tiễn của sự
kiện đưa đối phương đến chỗ không thể phủ nhận sự
thật được.
12. Thế nào là Thọ ký ?
Thọ ký là đức Phật nói trước một sự thật sắp đến
của các đệ tử, do tâm hành, do phước đức trí tuệ của
họ làm, qua cái nhìn của Phật nhãn. Lệ như đức Phật nói:
Ông Xá Lợi Phất sau này sẽ thành Phật hiệu là....Ông Đề
Bà Đạt Đa sẽ thành Phật hiệu là THIÊN VƯƠNG NHƯ LAI đủ
mười đức hiệu.
Bồ tát biết rõ mười hai bộ kinh như vậy gọi là Bồ tát
biết pháp.
* Bồ tát như thế nào gọi là biết nghĩa ?
_ Nếu Bồ tát đối với tất cả ngữ ngôn văn tự biết
rộng, biết sâu sắc ý nghĩa chứa đựng bên trong gọi là
biết nghĩa.
* Bồ tát như thế nào gọi là biết giờ ?
_ Bồ tát biết những giờ như vậy có thể tu chỉ, những
giờ như vậy có thể tu quán, những giờ như vậy có thể
tu tịch tĩnh thiền na. Những giờ như vậy có thể đọc tụng
thọ trì và những giờ như vậy có thể bố thí, trì giới
và quán chiếu Bát Nhã Ba La Mật......
* Bồ tát như thế nào gọi là tri túc ?
_ Đối với thức ăn, đồ mặc, đồ dùng, thuốc men, không
cầu thừa thãi. Đi đứng, nằm ngồi, chừng hạn không được
buông lung.
* Bồ tát như thế nào gọi là biết mình ?
_ Bồ tát biết rằng ta đức tin sâu sắc. Có giới, có đa
văn, có tàm quí, có chánh niệm, có định và xả như vậy....
* Bồ tát như thế nào gọi là biết người ?
_ Khi tiếp xúc Bồ tát sẽ biết ngay rằng: Đó là Sát đế
lợi, đó là Bà la môn. Căn tánh của người đó thuộc Tiểu
thừa, Trung thừa, Đại thừa. Người cư sĩ này có thể độ
được hay không độ được ? Muốn độ hạng người nào
phải vận dụng nói pháp gì...!
* Bồ tát như thế nào gọi là biết người bậc tôn bậc
ty ?
Người
có hai hạng: Một, có tín tâm là người lành. Hai, không có
tín tâm là người không lành.
Người
lành có hai hạng: Một, người chịu nghe pháp. Hai, người
không chịu nghe pháp.
Người
nghe pháp có hai hạng: Một, lóng lòng nghe rồi suy gẫm. Hai,
không lóng lòng nghe, không suy gẫm.
Người
nghe suy gẫm có hai hạng: Một, suy gẫm đúng rồi thực hành.
Hai, chẳng suy gẫm, chẳng thực hành.
Suy
gẫm thực hành có hai hạng: Một, cầu quả Thanh văn không
lợi ích nhiều người được. Hai, cầu Đại thừa làm cho
nhiều người được lợi ích an vui.
Một trong hai hạng người trên đó, hạng tích cực gọi là
người lành, hạng tiêu cực gọi là chẳng lành.
Này Thiện nam tử ! Các châu báu, như ý bảo châu tốt đẹp
và quý hơn hết. Trong các vị, vị cam lồ hơn hết. Bồ tát
ở trong hàng trời người là bậc hơn hết không gì so sánh
được.
Đó là bậc Đại Bồ tát tu hành Đại Thừa Đại Niết Bàn
an trú bảy pháp lành. Bồ tát an trú bảy pháp lành này thì
được đầy đủ PHẠM HẠNH.
Này Thiện nam tử ! Lại nữa, Từ, Bi, Hỉ, Xả cũng được
gọi là PHẠM HẠNH.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Theo con nghĩ: Người
tu hạnh "từ" dứt được sân nhuế, người tu lòng "bi" cũng
có thể dứt được sân nhuế thì cần chi phải có bốn vô
lượng tâm. Xét theo ý nghĩ đó, lẽ ra chỉ cần ba vô lượng
tâm là đủ !
Bạch Thế Tôn ! Lòng từ có ba đối tượng duyên: Một, duyên
chúng sanh. Hai, duyên pháp. Ba, duyên không. Lòng bi, lòng hỉ,
lòng xả cũng có ba đối tượng duyên như vậy. Nếu theo nghĩa
này thì lẽ ra chỉ có ba không cần có bốn.
Duyên chúng sanh là duyên nơi thân ngũ ấm của chúng sanh, thường
mong muốn cho chúng sanh được vui.
Pháp duyên là duyên vào vật chất, vào những gì thuộc ngã
sở hữu "chúng sanh cần dùng đem ra ban pháp cho họ, khiến
họ được bằng lòng.
Không duyên là duyên Như Lai. Lòng từ phần nhiều duyên chúng
sanh nghèo cùng phước đức trí tuệ. Như Lai Thế Tôn lìa
hẵn sự nghèo cùng ấy, thường thọ dụng an vui đệ nhất.
Nếu duyên chúng sanh thì không thể duyên Phật. Duyên pháp
cũng vậy. Do nghĩa đó, duyên Như Lai gọi là duyên KHÔNG.
Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: Chư Phật Như Lai vì chúng sanh
giảng nói pháp yếu. Lời của Phật bí mật không phải ai
cũng có thể hiểu ý. Tùy căn cơ, chủng tánh, hoàn cảnh,
sự kiện mà có lúc Như Lai nói một: nhân duyên. Có lúc nói
hai: nhân và quả. Có lúc nói ba: phiền não, nghiệp và khổ.
Có lúc nói bốn: vô minh, hành, sanh và lão tử...và có lúc
nói cả mười hai nhân duyên, như lần nọ ở thành Vương
xá, Phật vì ông Ca Diếp...nói vô minh nhẫn đến....sanh, lão
tử.
Này Thiện nam tử ! Vấn đề có thể một, vì tùy căn tánh
chúng sanh, Như Lai nói ra nhiều. Vấn đề nhiều, với trí
lực Phật, Như Lai có thể diễn nói thành một. Những phương
tiện như vậy, Như Lai có chủ trương. Đó là hạnh thâm mật
của Như Lai chẳng nên sanh nghi.
Như Lai có phương tiện lớn: Vô thường nói thường, thường
nói vô thường. Khổ nói lạc, lạc nói khổ. Vô ngã nói ngã,
ngã nói vô ngã. Bất tịnh nói tịnh, tịnh nói bất tịnh...
Này Thiện nam tử ! Vì điều phục chúng sanh Như Lai vận dụng
ngôn từ như vậy mà không hề có hư vọng.
Do nghĩa đó, cho nên Vô lượng tâm phải đủ bốn mà không
được bớt còn ba.
Này Thiện nam tử ! Bồ tát tu tâm từ phải là tâm từ đàn
ba la mật; nếu không vậy, là tâm từ của Thanh văn. Nhẫn
đến Bát Nhã Ba La Mật, cũng vậy. Nếu tâm từ chẳng lợi
ích cho vô lượng chúng sanh là tâm từ của Thanh văn. Nếu
tâm từ mà không được mười trí lực và bốn vô sở úy
của Phật, nên biết, đó là tâm từ của hàng Thanh văn.
Này Thiện nam tử ! Tâm từ: Vừa "có" vừa "không", chẳng
phải có, chẳng phải không, tâm từ như vậy chẳng phải
hàng Thanh văn, Bích chi Phật nghĩ bàn đến được. Tâm từ
duyên chúng sanh chẳng thể nghĩ bàn thì duyên pháp cũng chẳng
thể nghĩ bàn và duyên Phật tánh (KHÔNG) cũng chẳng thể nghĩ
bàn.
Này Thiện nam tử ! Người tu tâm từ sẽ thành tựu vô lượng
công đức. Cũng như người tu theo kinh Đại thừa Đại Niết
Bàn này, cũng thành tựu vô lượng vô biên công đức.
Này Thiện nam tử ! * Trước đây, Đề Bà Đạt Đa cùng vua
A Xà Thế cấu kết âm mưu hãm hại Như Lai. Lúc đó ta cùng
tăng đoàn vào thành Vương xá thứ lớp khất thực. Vua A Xà
Thế thả voi say để hại ta cùng tăng đoàn. Voi say đã dẫm
đạp chết cả hàng trăm người rồi. Say mùi máu, voi
vốn hung tợn. Nó nhắm ngay tăng đoàn của ta, hùm hổ chạy
thẳng đến. Các Tỳ kheo chưa ly dục kinh sợ chạy tứ tán,
chỉ mình A Nan ở lại với ta. Lúc đó nhân dân trong thành
Vương xá lớn tiếng kêu khóc: "Hôm nay, Như Lai Thế Tôn bị
hại rồi ! Cớ sao đấng Chánh Giác vô thượng lại bị diệt
mất, oan uổng vội vàng như vậy ? Còn Điều Đạt thì đắc
ý hớn hở: "Sa môn Cù Đàm bị hại chết thì ta không còn
mối lo. Kế của ta rất hay, ta đã toại nguyện !"
Này Thiện nam tử ! Vì muốn hàng phục voi say, ta liền nhập
TỪ TÂM TAM MUỘI, ta xòe bàn tay chỉ hướng vào voi. Năm đầu
ngón tay ta hiện năm sư tử. Voi say thấy sư tử sợ quá phẩn
tiểu vãi ra, rạp mình mọp xuống, kính lễ dưới chân ta.
Này Thiện nam tử ! Năm đầu ngón tay ta lúc đó thật không
có sư tử. Do sức thiện căn tu hành TỪ TÂM làm cho voi say
được điều phục.
* Câu chuyện giữa đường, ta vì năm trăm lực sĩ, lấy ngón
chân cái hất tảng đá to tung lên cao. Ta lấy tay hứng tảng
đá và bóp nát thành bụi...rồi sau đó ta nói pháp yếu khiến
họ phát tâm Bồ đề.....
Thực ra lúc đó, Như Lai chẳng lấy ngón chân hất đá lên
cao, cũng chẳng hứng bắt, bóp đá nát ra thành bụi, ráp lại,
mà đó là do sức thiện căn của TÂM TỪ làm cho bọn lực
sĩ thấy như vậy.
* Câu chuyện Trưởng giả Lưu Chí có ác ý bêu xấu tăng đoàn
nhằm cô lập Như Lai với nhân dân trong thành Thủ Ba La, Nam
Thiên trúc. Họ bày mưu lấp suối, đốn rừng, ngăn thành,
bế cửa.....nhưng rồi suối vẫn trong, rừng vẫn rậm, cổng
vẫn mở, mọi việc như không có gì. Như Lai và tăng đoàn
không hề bị cô lập, cũng chẳng bị trở ngại gì do sự
sắp xếp có ác ý của nhóm Ni Kiền Tử, dưới sự chỉ đạo
của Trưởng giả Lưu Chí. Thực ra, lúc đó Như Lai không có
vận dụng sức "biến hóa", "thần thông" gì hết. Mà đó là
do sức thiện căn tu TÂM TỪ khiến cho nhân dân thành Thủ
Ba La và bọn Ni Kiền Tử thấy như vậy....
Bồ tát tu tập tâm BI, tâm HỈ, tâm XẢ cũng đem lại sự
an lạc cho chúng sanh như vậy.
Này Thiện nam tử ! Luận về "vô lượng" là không thể nghĩ
bàn cho nên công hạnh của Bồ tát cũng không thể nghĩ bàn,
công hạnh của Phật cũng không thể nghĩ bàn.
Thiện nam tử ! Bồ tát tu TỪ, BI, HỈ, XẢ tứ vô lượng
tâm rồi, được trụ bậc ĐẠI TỪ BI, có lòng thương xót
bình đẳng đối với tất cả chúng sanh như cha mẹ thương
con một.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Con không dám nghi lời
Phật nói, nhưng con chưa hiểu ý kín nhiệm nào mà Như Lai
xưa kia tu Bồ tát đạo, khi làm vị quốc vương đã từng
xuống lệnh giết hại vị Bà la môn mà trước đó nhà vua
trọng kính như "bậc thầy". Và nhân duyên gì, giết hại như
vậy mà chẳng đọa vào địa ngục ?
Nếu bình đẳng xem tất cả chúng sanh như con một, cớ sao
đức Phật quở trách nặng lời: Rằng Đề Bà Đạt Đa là
ngu si không biết hổ thẹn, thọ dụng của bố thí không trong
sạch như đàm mũi mà người ta hỉ nhổ ra. Lời trách nặng
nề ấy, khiến cho Đề Bà Đạt Đa sanh lòng oán hận đến
nỗi hại thân Phật chảy máu, rồi Phật lại huyền ký: Đề
Bà Đạt Đa sẽ đọa địa ngục chịu khổ một kiếp.
Bạch Thế Tôn ! Những lời như vậy, làm sao chẳng trái nghịch
với ý nghĩa Như Lai đã dạy ở trên ?
Này Thiện nam tử ! Ông không nên gạn như vậy, không nên
tỏ ý nghi ngờ lời của Như Lai nói. Từ vô lượng kiếp,
Như Lai thực hành Lục ba la mật mới viên mãn Vô thượng
Bồ đề. Cho nên giả sử mặt trời dù sanh tuyết, mặt trăng
có thể sanh lửa, Như Lai cũng không có tạo nguyên nhân phiền
não, đau khổ cho chúng sanh. Giả sử đá có thể nổi, rong
có thể chìm, muối chua, chanh mặn, Như Lai cũng không tạo
nhân duyên phiền não đau khổ cho chúng sanh.
Bồ tát thực hành Lục ba la mật một con kiến, con muỗi còn
không giết hại. Luận về bố thí, là bố thí mạng sống,
vật thực, đồ dùng khiến cho chúng sanh an vui. Xưa kia lúc
ta tu nhân, thực hành Bồ tát hạnh, ta là vị quốc vương
ra lệnh giết người dòng Bà la môn nhằm chận đứng dòng
sanh tử đọa đày của họ trong vô lượng đời mà giết.
Động cơ giết chết người Bà la môn phát xuất bởi lòng
thương mà không hề có ác tâm. Ví như cha mẹ có con khờ,
vớ nhằm trái độc, ăn vào có thể chết. Biết nguy hiểm
tánh mạng con mình, cha mẹ liền đánh, thậm chí đánh thật
đau. Đánh con như vậy, không do ác tâm mà là thương con, muốn
con được an ổn sống lâu !
Đại Bồ tát cũng vậy, vì hộ trì chánh pháp, nếu có chúng
sanh hủy báng Đại thừa, dùng roi gậy để trị hoặc giết
chết. Đó là vì muốn chúng sanh chừa bỏ nguyên nhân đọa
lạc cảnh giới khổ đau mà tu dưỡng pháp lành.
Này Thiện nam tử ! Giả như có người đào đất, cắt cỏ,
đốn cây, bằm chặt tử thi. Mắng chửi đánh đập tử thi.
Ý ông hiểu thế nào ? Do nghiệp duyên ấy, người đó có
bị đọa địa ngục chăng ?
Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Theo con hiểu người
đó phải đọa địa ngục. Bởi vì con nhớ trước đây Phật
thuyết pháp cho hàng Thanh văn: Rằng "dù đối với cây cháy
trụi cũng không nên sanh lòng ác, vì tất cả chúng sanh do
lòng ác mà phải đọa địa ngục".
Đức Phật khen: Lành thay ! Ca Diếp ! Đúng như lời ông nói.
Phải khéo thọ trì.
Nếu nhân ác tâm phải đọa địa ngục, lúc ra lệnh giết
vị Bà la môn ấy Bồ tát thật không có ác tâm. Vì Bồ tát
đối với loài bò, bay, trùng, kiến cũng còn hộ mạng cho
chúng, còn có lòng thương xót cho chúng được an ổn. Do nghĩa
đó, Bồ tát khi giết chết Bà la môn, phát xuất từ thiện
tâm, nhằm cắt đứt chuỗi dài tội lỗi đọa lạc bởi hạt
giống "nhất xiển đề" của họ.
* Này Thiện nam tử ! Ông nói rằng Như Lai cớ chi mắng nặng
lời: Rằng Đề Bà Đạt Đa ngu si ăn nước miếng của người....Ông
không nên hỏi như vậy. Chư Phật Thế Tôn phàm nói ra điều
gì đều có dị ý, người thường không thể nghĩ bàn. Có
những ngôn từ nhu nhuyến người đời mến ưa, nhưng phi thời,
phi pháp, không lợi ích, Phật vẫn không nói. Hoặc có những
lời thô vụng hư vọng, phi thời, phi pháp chẳng lợi ích,
người chẳng ưa thích đức Phật cũng chẳng nói.
* Này Thiện nam tử ! Trước đây có một lần ta đi ngang qua
thôn Khoáng Dã. Ở rừng đó có một quỉ thần tên là Khoáng
Dã. Quỉ này ăn thuần máu thịt, thường giết hại người
để làm thức ăn của nó. Mỗi ngày, trong thôn Khoáng Dã nhân
dân phải nộp cho nó một người. Nghe biết việc này, ta tìm
gặp Quỉ, nói pháp yếu để cải hóa cho nó. Nó hung bạo,
ngu si không lãnh thọ giáo pháp. Ta liền hóa thân thành Đại
lực quỉ làm rúng động cung điện của nó. Quỉ Khoáng Dã
bèn huy động quyến thuộc và bộ hạ kéo ra định chống
cự thô bạo với ta. Nhưng chúng vừa thấy ta liền run sợ
ngã lăn xuống đất ngất xỉu như người chết rồi. Ta khởi
lòng từ bi lấy tay xoa vào người chúng nó. Chúng tỉnh dậy,
cảm kích nói: Hôm nay may mắn được sống lại. Vị Đại
thần vương này có oai đức lớn, có tâm từ bi tha tội lỗi
của tôi. Quỉ Khoáng Dã khởi tâm lành kính tin nơi ta. Ta hiện
trở lại thân Như Lai vì bọn họ nói pháp yếu cho các quỉ
thần kia thọ giới bất sát. Cũng trong ngày này, thôn Khoáng
Dã có ông nhà giàu đến lượt phải chết. Người trong thôn
đem ông nộp cho quỉ. Quỉ thọ giới bất sát, không
ăn huyết nhục nữa bèn đem cúng thí cho ta. Ta thọ lãnh và
đặt cho ông này cái tên Thủ trưởng giả. Bấy giờ quỉ
Khoáng Dã bạch ta rằng: Thế Tôn ! Con và quyến thuộc của
con chỉ nhờ huyết nhục mà sống, nay thọ giới bất sát,
chúng con biết lấy gì để sống được ? Ta bảo bọn chúng
rằng: Từ nay trở đi Như Lai sẽ bảo hàng Thanh văn đệ tử
tùy nghi chỗ nào có Phật pháp lưu hành, có tăng đồ hiện
trú đều phải cúng thí đồ ăn uống cho các ngươi.
Này Thiện nam tử ! Do nguyên nhân đó, ta chế nội qui Tăng
đoàn: Từ nay, chỗ nào có Tăng chúng hiện trú, đến giờ
thọ thực, phải cúng thí cho quỉ Khoáng Dã, nhằm thực hiện
lời hứa của đức Thế Tôn.
Này Thiện nam tử ! Như Lai vì muốn điều phục chúng sanh
nên thị hiện những phương tiện như vậy. Chẳng phải có
ý làm cho ai đó sanh lòng sợ hãi.
* Có lần nọ, ta dùng cây đánh quỉ hộ pháp.
* Có lần ta đang đi trên một ngọn núi, quỉ Dương Đầu
ngạo mạn, ta xô quỉ té xuống núi.
* Một lần nọ, ta xô quỉ Di Hầu từ ngọn cây té rơi xuống
đất.
* Một lần khác chế phục voi Hộ tài bằng cách cho voi thấy
năm sư tử. Có lúc ta lại sai thần Kim Cang khủng bố ngoại
đạo Tát Giá ni Kiền Tử.
* Có lần ta lấy kim đâm thân của quỉ Tiễn mao.
Dù ta làm những việc như vậy, nhưng cũng chẳng làm cho các
quỉ thần kia đến phải chết mà mục đích muốn khiến cho
họ an trú nơi chánh pháp, nên thị hiện những việc như vậy.
Này Thiện nam tử ! Trước kia sự thật đức Phật chẳng
mắng nhiếc Đề Bà Đạt Đa, như nhiều người nghe hiểu.
Còn Đề Bà Đạt Đa cũng chẳng ngu si ăn nước miếng của
người, cũng chẳng đọa A tỳ ngục một kiếp, cũng chẳng
phá hoại chúng tăng, chẳng làm thân Phật chảy máu. Đề
Bà Đạt Đa cũng chẳng trái phạm bốn tội trọng, chẳng
hủy báng kinh điển Đại thừa. Đề Bà Đạt Đa cũng
chẳng phải Nhất xiển đề, chẳng phải Thanh văn, chẳng
phải Bích Chi Phật.
Này Thiện nam tử ! Đề Bà Đạt Đa không phải cảnh giới
của Thanh văn, Duyên giác biết được. Duy có chư Phật với
Phật mới thấy biết được thôi ! Vì thế nay ông chẳng
nên gạn: "Cớ gì Như Lai quở mắng làm nhục Đề Bà Đạt
Đa" ! Đối với cảnh giới của chư Phật, ông chớ nên có
lòng nghi như vậy.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Mía nấu nhiều lần
thì có nhiều thứ vị. Nghe Phật nói pháp nhiều lần, được
nhiều pháp vị. Đó là xuất gia vị, ly dục vị, tịch diệt
vị, đạo vị. Lại như vàng ròng, đốt đập nhiều lần
thì càng tinh thuần sáng sạch, giá trị càng tăng, được
trời người quí chuộng. Như Lai cũng vậy. Trân trọng thưa
hỏi liền được nghe thấy nghĩa thú sâu xa vi diệu, khiến
cho người tu hành dễ phấn khởi phát tâm Vô thượng Bồ
đề. Do vậy, Phật được người, trời tôn trọng kính tin
cúng dường.
Ca Diếp Bồ tát hỏi: "Bạch Thế Tôn ! Nếu Đại Bồ tát
tu tập tâm Từ, Bi, Hỉ thì được bậc CON MỘT. Còn lúc tu
tâm XẢ thì được bậc gì ?
Phật bảo ? Lành thay ! Lành thay ! Ca Diếp ! Ông khéo biết
thời tiết! Ta vừa muốn nói, thì ông lại thưa hỏi !
Này Thiện nam tử ! Đại Bồ tát lúc tu tập tâm XẢ thì được
BÌNH ĐẲNG KHÔNG, như ông Tu Bồ Đề đã được. Đại Bồ
tát trụ bậc BÌNH ĐẲNG KHÔNG thì chẳng thấy có cha mẹ,
anh em, chị em, họ hàng, quyến thuộc, kẻ thân, người không
thân, kẻ oán, người thương.....Cho đến không có ngũ ấm,
lục nhập, thập nhị xứ, thập bát giới; không thấy tướng
nhân, ngã, chúng sanh, thọ mạng. Tất cả pháp đều như hư
không. Do thấy như vậy, nhận thức như vậy, tâm Bồ tát
BÌNH ĐẲNG NHƯ HƯ KHÔNG. Vì Bồ tát khéo tu tập VẠN PHÁP
GIAI KHÔNG.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Thế Tôn ! Sao gọi là không ?
Thiện nam tử ! Nói là không, tóm lược có:
Nội
không.
Ngoại
không.
Nội
ngoại không.
Hữu
vi không.
Vô
vi không.
Vô
thỉ không.
Tánh
không.
Vô
sở hữu không.
Không
không.
Đệ
nhất nghĩa không.
Đại
không.
Bồ tát quán nội không như thế nào ?
Đại Bồ tát quán "nội pháp" KHÔNG, nghĩa là không người
thân, không kẻ oán, không thương, không ghét, không ngã, không
nhân, không chúng sanh, không thọ mạng, thậm chí quán cha mẹ
cũng một lòng trọng kính như mọi người. Phật tánh, Pháp
tánh, Tăng tánh dù có, nhưng chẳng phải nội cũng chẳng phải
ngoại, vì là tánh thường trụ không biến đổi cho nên không
lệ thuộc KHÔNG hay CHẲNG KHÔNG.
Ngoại không cũng như vậy. Nghĩa là Bồ tát quán thấy không
có ngoại pháp.
Nội ngoại không cũng vậy. Nội pháp đã không thì ngoại
pháp cũng không. Nhưng Phật tánh, Pháp tánh, Tăng tánh thì
không lệ thuộc bởi các KHÔNG.
Hữu vi không, nghĩa là tất cả các pháp hữu vi thảy đều
không. Bao gồm hết nội không, ngoại không, nội ngoại không.
Thường, Lạc, Ngã, Tịnh không. Chúng sanh, thọ mạng không.
Nói chung, tất cả các pháp do duyên sanh đều không.
Vô thỉ không là thế nào ? Bồ tát quán thấy sanh tử vô
thỉ không tịch. Thường, Lạc, Ngã, Tịnh cũng không tịch,
không có biến đổi. Phật tánh, vô vi pháp cũng đều không
tịch như vậy. Đấy gọi là quán Vô thỉ không.
Tánh không là sao ? Bồ tát quán tất cả pháp bổn tánh vốn
không. Ấm, nhập, xứ, giới; thường, vô thường; khổ, lạc;
ngã, vô ngã; tịnh, bất tịnh; tất cả pháp tìm rốt ráo
chẳng thấy bản tánh. Quán chiếu như thế gọi là "tánh không
quán".
Thế nào gọi là vô sở hữu không ? Như người không con cô
độc một mình. Như nhà trống không, không có cái gì. Như
người nghèo cũng không hề có tài sản.....Đấy gọi là Bồ
tát quán vô sở hữu không.
Đệ nhất nghĩa không, Bồ tát quán như thế nào ?
Bồ tát quán rằng: Ví tự thân, nhãn căn của tự thân, lúc
sanh ra không từ đâu đến, lúc diệt mất không đi đến đâu.
Trước không, nay có. Có rồi lại không. Suy cho cùng tột thật
tánh của nó "không có gì". Không tự thân, không nhãn căn,
không có chủ thể tồn tại. Thân vô tánh, nhãn căn vô tánh.
Tất cả pháp cũng vô tánh như vậy. Có nghiệp, có báo, không
thấy tác giả. Tư duy, quán chiếu như vậy gọi là Bồ tát
quán ĐỆ NHẤT NGHĨA KHÔNG.
Không không là thế nào ? Không không là chỗ mịt mù mờ tịt
của ngoại đạo, là chỗ mà Thanh văn, Duyên giác vẫn mê
mờ. Hàng Bồ tát thập trụ nhận biết một phần ít như
vi trần đối với đại địa. Đó là vấn đề "có, không",
"không phải có, không phải không", “cũng có, cũng không",
"cũng không phải có, cũng không phải không". Thứ không càn
loạn bất tử ấy !
Thiện nam tử ! Đại không, Bồ tát quán như thế nào ?
Đại không tức là Bát Nhã Ba La Mật. Hành thâm Bát Nhã Ba
La Mật, Bồ tát chiếu kiến ngũ uẩn giai không, thấy rõ thật
tướng vạn pháp. Đại Bồ tát thành tựu Đại không sẽ
được trụ bậc HƯ KHÔNG ĐẲNG.
Này Thiện nam tử ! Nay Như Lai ở trong Đại chúng nói những
nghĩa không như vậy, có mười hằng hà sa Đại Bồ tát được
trụ bậc HƯ KHÔNG ĐẲNG. Đại Bồ tát trụ bậc HƯ KHÔNG
ĐẲNG này, ở trong tất cả pháp không bị trở ngại, không
bị câu chấp, buộc ràng, tâm không mê muội. Do vậy, gọi
là HƯ KHÔNG ĐẲNG.
Này Thiện nam tử ! Bồ tát trụ bậc Hư không đẳng này,
đối với tất cả pháp đều thấy, đều biết. Biết tánh,
tướng, nhân duyên, quả báo. Tâm, cảnh, thiện ác, chân vọng,
chánh, tà, sở cầu, sở đắc....trì, phạm, thừa, giáo, uế
tịnh...những pháp như vậy, Bồ tát biết hết và thấy hết.
Biết rõ nhân nào, kết quả nào. Đâu là chánh nhân, đâu
là tà nhân. Đâu là chân lý, đâu là phi chân lý. Gì là tà
kiến, gì là chánh kiến. Ngoại đạo là thế nào? Không ngoại
đạo là thế nào? Đối với người phát tâm tu hành: Tà chánh,
chân ngụy, đại tiểu, thiên viên. Bồ tát trụ bậc hư không
đẳng đều thấy biết, vì Bồ tát thành tựu tứ vô ngại
trí: Pháp vô ngại, nghĩa vô ngại, từ vô ngại và lạc thuyết
vô ngại. Thành tựu tứ vô ngại trí, Bồ tát vận dụng nhiều
phương tiện trong sự nghiệp độ sanh, khéo diễn nói chân
lý "đệ nhất nghĩa không", đối với chân lý này, hàng Thanh
văn, Duyên giác không thể diễn nói được.
TRỰC
CHỈ
Một Bồ tát có phạm hạnh đầy đủ cần có trí tuệ hiểu
biết nhiều mặt: biết pháp, biết nghĩa, biết thời, biết
tri túc, biết mình, biết người, biết tôn ti.
Biết pháp là phải tu học mười hai bộ kinh. Mười hai lối
hành văn mà đức Phật vận dụng ngôn từ diễn đạt qua
những thể tài ấy. Ở thể pháp một người viết văn người
ta cũng phải sử dụng ngòi bút qua nhiều thể loại trong một
tác phẩm, một áng văn hay. Người ta vẫn dùng ngòi bút tả
cảnh, tả người, tả tình, tả tâm sự nhớ thương,
tả mây, tả gió....Rồi ký sự, lý luận, rồi hiển dụ,
ẩn dụ, hoán dụ v.v...nhờ vậy mà người đọc dễ hiểu,
dễ nhận những gì mà tác giả muốn truyền đạt, gởi gắm
cho độc giả qua ngòi bút của mình.
Đức Phật vận dụng mười hai "bộ kinh" nhằm giới thiệu
cách diễn đạt văn tự ngữ ngôn qua các thể văn mà mỗi
thể văn có công dụng thâm thúy riêng của nó.
_ Thể tài THỌ KÝ không thể đem tâm hồn đơn giản, dùng
ý thức hời hợt mà hiểu được. Bộ môn VỊ TẰNG HỮU
lại càng ẩn mật sâu sắc hơn nhiều.
_ Đức Phật khi mới sanh ra có hoa sen hiện lên đỡ chân.
Rồi ngài đi bảy bước, đi khắp mười phương đều bước
trên hoa sen như vậy. Tại sao Thái tử không bước đi trên
thứ hoa nào khác có được không ? Tại sao Thái tử chỉ đi
mỗi phương bảy bước ? Nếu đi sáu bước hay tám bước
thì sự thể sẽ ra sao ?
"Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn..." có lý nào một
đức Phật tương lai lại đề cao bản ngã của mình và cái
ngã của vạn pháp ?
_ Vấn đề sanh ngang hông khi Thái tử chào đời, có cần phải
sử dụng huyền thoại để nâng cao giá trị cho đức
Thế Tôn sau này ?
_ Chuyện tiền thân bố thí tài vật rồi bố thí cả vợ
con.
_Chuyện tiền thân "vị pháp" chỉ cần nửa bài kệ tám chữ
mà đổi bằng sanh mạng của mình....
Như Lai đã từng bảo: Như Lai vô số phương tiện, thường
vận dụng vô số nhân duyên, vô số thí dụ, vô số ngôn
từ miễn là đạt mục đích "lợi lạc quần sanh".
Do ý nghĩa đó, một Bồ tát muốn viên mãn phạm hạnh phải
quán triệt thâm nghĩa, mật nghĩa, huyền nghĩa của mười
hai bộ kinh, gọi là Bồ tát biết pháp.
* TỨ VÔ LƯỢNG TÂM của một đấng Thế Tôn, trình độ giác
ngộ giải thoát của ông Ca Diếp lẽ ra không nên đề cập
gạn hỏi và đề nghị thêm bớt. Bởi trí tuệ của Như Lai
Thế Tôn chỉ có Phật với Phật mới biết nhau. Như Lai vô
số phương tiện, tùy nhân duyên, chủng tánh, căn cơ, Như
Lai có thể nói một thành nhiều. Có lúc nói nhiều thành một
mà vẫn đem lại sự an lạc, lợi ích chúng sanh; vì vậy,
tất cả ngôn từ giáo hóa của chư Phật đều không có hư
vọng.
* TỨ VÔ LƯỢNG TÂM, từ, bi, hỉ, xả của Như Lai đạt đến
đỉnh cao ba la mật. Chỉ một tâm TỪ thôi đã thành tựu
công đức không thể suy lường. Ác tâm của Đề Bà Đạt
Đa, không hại được Phật; voi say hung hăng cũng không hại
được Phật....
Với nhóm lực sĩ 500 người, đức Phật lúc đó cũng chẳng
trổ tài lấy ngón chân hất tảng đá, cũng chẳng dùng tay
bóp nát tảng đá để chinh phục...
Với nhóm gia nô của trưởng giả Lưu Chí rêu rao, bêu xấu,
lấp suối, phá rừng, nhằm cô lập và gây khó khăn cho Phật
và tăng đoàn. Do thế lực của từ tâm rốt cuộc đâu vào
đấy, Phật không hề bị hại bởi những ác tâm kia.
Lời dạy của Như Lai trước sau như một. Cùng một việc
làm, một lời nói, một ý niệm mà có thể là thiện cũng
có thể là ác; có thể là phước mà cũng có thể là tội.
Đến như giết chết một mạng người, mà Như Lai dạy việc
làm đó không bị đọa địa ngục, ấy mới lạ kỳ. Rồi
có lúc Như Lai dạy: Chẳng những không nên đốn cây, phát
cỏ, khai hoang, thậm chí đối với cây trơ trụi không nên
sanh lòng ác, vì chúng sanh DO LÒNG ÁC mà phải đọa ĐỊA NGỤC.
"Khởi ác tâm sanh lòng ác; tức thì, ngay nơi đó là đã đọa
địa ngục rồi. Bởi vì bấy giờ tâm thanh tịnh an lạc bị
cặn cáu vô minh phiền não ô trược nổi lên làm vẫn đục
đi rồi. Sở dĩ người phàm phu không thấy mình "đọa địa
ngục" vì người ta đã quen sống với những chiếc áo vô
minh đau khổ bẩn thỉu màu xanh cứt ngựa đã quen rồi, có
bôi vào một vệt mực đen, một vết sơn hay gáo nước bùn
nhơ, người ta vẫn thấy bình thường không có gì đáng quan
tâm đến những lẻ tẻ tầm thường ấy. Nhưng với những
người sang trọng quí phái, mặc bộ quần áo thơm nước hoa
hảo hạng, trắng như bông bưởi buổi ban mai thì những vết
đỏ, vệt đen kia quả là không chấp nhận được.
* Bồ tát tu ba thứ vô lượng tâm: TỪ, BI, HỈ, sẽ an trụ
địa vị CON MỘT, nghĩa là vị Bồ tát ấy là con một của
chư Phật và ngược lại với tất cả chúng sanh, bằng một
cái nhìn, một tấm lòng, Bồ tát xem bình đẳng như CON MỘT.
* Tu XẢ tâm thành tựu, Bồ tát trụ bậc HƯ KHÔNG ĐẲNG.
Ôi ! Vô cùng tuyệt diệu. HƯ KHÔNG ĐẲNG ! Vạn pháp bình
đẳng như hư không ! Thế là NHƯ HUYỂN TAM MA ĐỀ đây rồi
! "NHƯ HUYỂN TAM MA ĐỀ ĐÀN CHỈ SIÊU VÔ HỌC" đây rồi !
Trụ bậc HƯ KHÔNG ĐẲNG sẽ có tất cả những tri kiến của
Phật có !...TỨ VÔ NGẠI GIẢI....TỨ VÔ SỞ ÚY...THẬP TRÍ
LỰC. LỤC BA LA MẬT. THẬP BÁT BẤT CỘNG PHÁP...và có cả
BỒ ĐỀ, NIẾT BÀN VÔ THƯỢNG !
******
--------------------------------------------------------------------------------
PHẨM
THỨ HAI MƯƠI
PHẠM
HẠNH
(tiếp
theo A)
* ĐẮC VÀ VÔ SỞ ĐẮC LÀ TIÊU CHUẨN MỘT THƯỚC ĐO CỦA
MỘT ĐỊA VỊ.....
Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu Bồ tát được
tứ vô ngại trí hóa ra Bồ tát còn có sở đắc sao ?
Phật khen: Lành thay ! Điều Như Lai sắp nói thì ông lại hỏi.
Này Ca Diếp ! Bồ tát vô sở đắc mới được tứ vô ngại
trí, nếu Bồ tát có ý niệm sở đắc thấy mình có sở đắc
thì không thể có được tứ vô ngại trí, vì Bồ tát ấy
thường quay cuồng trong bốn thứ điên đảo, luôn bị chướng
ngại, làm sao có được vô ngại trí.
Vô sở đắc gọi là tuệ giác. Hữu sở đắc gọi là vô
minh. Bồ tát dứt hết vô minh u tối, tuệ giác phát sinh cho
nên Bồ tát vô sở đắc.
Vô sở đắc cũng gọi là Đại Niết Bàn. Bồ tát an trú trong
Đại Niết Bàn, không phân biệt, chấp thủ tánh tướng của
vạn pháp. Có sở đắc là có hai mươi lăm cõi. Bồ tát dứt
hết hai mươi lăm cõi được Đại Niết Bàn. Vì vậy, Bồ
tát là bậc vô sở đắc và chỉ có bậc vô sở đắc mới
có được "Tứ vô ngại trí". Do vậy, Ca Diếp, ông không nên
gạn rằng: Bồ tát được "Tứ vô ngại trí" là "có sở đắc"!
* ĐỆ NHẤT NGHĨA ĐẾ LÀ TÊN KHÁC CỦA ĐẠO BỒ ĐỀ VÀ
NIẾT BÀN.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Thế Tôn ! Đệ nhất nghĩa đế cũng
gọi là ĐẠO, cũng gọi Bồ đề và cũng là tên khác của
Niết bàn, hóa ra Bồ đề, Niết bàn và Đạo là vô thường,
vì là pháp trước không, nay mới có. Nếu Bồ đề, Niết
bàn và Đạo là pháp vốn có, là thường thì lẽ ra không
thể chứng, không thể đắc, ví như hư không.
Bạch Thế Tôn ! Luận về Bồ đề, Niết bàn và Đạo cũng
vậy, nó chẳng phải vật chất, cũng chẳng phải chẳng vật
chất. Nó chẳng dài, chẳng ngắn, chẳng cao, chẳng thấp,
chẳng vuông, chẳng tròn, chẳng nặng, chẳng nhẹ, chẳng phải
xanh, chẳng vàng, chẳng đỏ, chẳng trắng, chẳng có sanh,
chẳng diệt, chẳng đến, chẳng đi, chẳng có, chẳng không,
chẳng lúc còn, chẳng lúc mất....cớ sao Như Lai nói là có
thể "chứng được" Đạo, Bồ đề và Niết bàn ?
Phật dạy: Lành thay ! Ca Diếp ! Đạo hay Bồ đề, Niết bàn
cũng vậy, đều có hai mặt: Một là thường, hai là vô thường.
Đạo của ngoại đạo gọi là vô thường, đạo của nội
đạo gọi là thường. Bồ đề của Thanh Văn, Duyên Giác vô
thường, Bồ đề của Bồ tát, của Phật là thường.
Đạo, Bồ đề, Niết bàn đều là pháp thường. Tất cả
chúng sinh bị vô minh phiền não che đậy, tuệ nhãn không phát
huy công dụng nên không thể thấy được. Các chúng sinh muốn
được thấy cần siêng tu giới, định, tuệ. Do mãnh lực
của giới, định và hào quang của vô lậu tuệ mà thấy Đạo,
mà chứng được Bồ đề, Niết bàn. Kỳ thật, Đạo, Bồ
đề, Niết bàn không phải mới có, mới sanh ra. Do nghĩa đó,
Bồ đề, Niết bàn và Đạo không phải là cái có thể nắm
lấy được. Dù nó không hình sắc để nắm bắt, để cân
lường, để trông thấy nhưng có công dụng cụ thể rõ ràng.
Tâm chúng sanh cũng vậy, dù chẳng phải vật chất, chẳng
có hình tướng ngắn dài, rộng hẹp, vuông tròn; chẳng phải
màu sắc xanh, vàng, đỏ, trắng; chẳng phải buộc, chẳng
phải mở; chẳng phải là cái có thể phủ nhận rằng: không.
Do nghĩa đó, có lần Phật vì ông Tu Đạt Đa nói rằng: Này
Trưởng giả ! Tâm ví như vua trong một quốc thành. Tất cả
sinh hoạt của triều đình nghiêm minh hay bê bối tùy thuộc
sự điều khiển, ở mệnh lệnh của vua. Nếu trưởng giả
chẳng giữ gìn tâm thì chẳng giữ gìn được thân và miệng.
Chẳng khéo giữ gìn thân miệng nên chúng sinh phải sa vào
ba đường ác. Nếu giữ gìn thân miệng tốt, chúng sanh sẽ
được phước báo trời người và Bồ đề, Niết bàn gọi
đó là được chứng quả chân thật. Đạo cũng như vậy,
cũng là có, cũng là thường. Nếu không có làm sao dứt được
phiền não và người dứt hết phiền não gọi bằng gì ? Bồ
đề, Niết bàn, Đạo là pháp có thật, nên tất cả Bồ tát
thấy biết rõ ràng.
Này Ca Diếp ! Luận về thấy, có hai cách: Một, thấy dáng
mạo. Hai, thấy đích thực rõ ràng.
* Thế nào là thấy dáng mạo ? Chẳng hạn như thấy khói đằng
xa gọi rằng thấy lửa nơi đó, dù không thấy lửa nhưng
chẳng phải hư vọng. Thấy sừng trâu thập thò bên lùm lau
sậy xa xa bèn nói là thấy trâu. Dù không thấy trâu, nhưng
chẳng phải hư vọng. Như thấy cây mọc chồi non, bèn nói
là thấy nước, dù chẳng thấy nước, nhưng cũng chẳng phải
hư vọng. Như thấy người nữ thai nghén bèn nói là thấy
dục, dù không thấy dục nhưng không phải là hư vọng. Như
thấy thân nghiệp và khẩu nghiệp, bèn nói là thấy tâm, dù
chẳng thấy tâm, nhưng cũng chẳng phải hư vọng. Thấy như
vậy gọi là thấy dáng mạo.
* Thế nào là thấy đích thực rõ ràng ? Như trường hợp
mắt trông thấy vật sắc. Mắt thấy vật sắc là thấy đích
thực rõ ràng. Như người có mắt sáng tự xem trái quít để
trên bàn tay. Đại Bồ tát thấy Đạo, thấy Bồ đề, Niết
bàn rõ ràng cũng như vậy. Dù rõ như vậy, nhưng Bồ tát vẫn
không có tướng thấy. Do nghĩa đó, trước đây Như Lai bảo
Xá Lợi Phất: Rằng tất cả những gì sa môn, Bà la môn, Phạm
thiên, ma vương, phàm phu hiểu, thấy, biết, Phật và Bồ tát
cũng đều hiểu, thấy, biết. Những điều tất cả hạng
người trên không hiểu, thấy, biết, Phật và Bồ tát đều
hiểu, thấy, biết. Những điều người thế gian biết, thấy,
hiểu, Phật và Bồ tát cũng đều biết, thấy, hiểu. Những
điều người thế gian không biết, không thấy, không hiểu,
họ không tự biết là họ không biết, không thấy, không hiểu.
Như Lai thì tất cả đều biết, đều thấy, đều hiểu mà
Như Lai không tự nghĩ rằng ta biết, thấy và hiểu hết. Bởi
vì nếu còn có tướng thấy, biết, hiểu thì vướng phải
"Tri kiến lập tri", không còn là Phật và Bồ tát mà gọi
đó là phàm phu.
* Ca Diếp Bồ tát thưa: Có lần Phật bảo Xá lợi Phất: Những
điều thế gian biết ta cũng biết, những điều thế gian không
biết ta cũng biết. Lời dạy đó có ý nghĩa như thế nào
?
Phật bảo: Người thế gian chẳng biết, chẳng hiểu Phật
tánh; cũng chẳng biết bốn điên đảo, chẳng hiểu ba mươi
bảy phẩm trợ đạo, chẳng hiểu biết mười hai nhân duyên,
chẳng hiểu gì là lục độ với Vô thượng Bồ đề, Vô
thượng Niết bàn, họ như kẻ sanh manh đối với cảnh sắc
mùa xuân muôn hồng nghìn tía.
Người thế gian thường biết qua chấp chược sai lầm. Họ
tôn thờ "đấng" Phạm thiên, Tự tại thiên, Bát tí thiên,
tánh, thời, vi trần, pháp, phi pháp, chủ tạo vật, chung, thỉ
của thế gian, vướng chấp hai bên đoạn, thường và cho rằng
trời phi tưởng, phi phi tưởng là Niết bàn. Tầm hiểu biết
của người thế gian không vượt qua ngần ấy chuyện.
Bồ tát thì xa lìa những chấp mắc sai lầm hư vọng, tu học
Đại Niết bàn, nhận rõ Bồ đề Niết bàn vô thượng.
Bấy giờ Ca Diếp Bồ tát nói kệ tán thán Phật:
Kính
lạy đấng Đại bi
Nay
con quy y Phật
Phật
khéo nhổ tên độc
Có
tôn hiệu Đại y vương
Lương
y trị lành bệnh
Bệnh
có thể tái phát
Bệnh
vô minh phiền não
Rễ
sanh tử của chúng sanh
Như
Lai Đại y vương
Trị
bệnh chúng sanh lành
Dứt
hẳn không tái phát
Cam
lộ của Thế Tôn
Chúng
sanh được thọ dụng
Vượt
ra sanh diệt tưởng
Như
Lai vì con một
Diễn
nói Đại Niết bàn
Chúng
sanh nhận thức rõ
Diệt,
diệt sanh, sanh diệt.
Nói kệ xong, Ca Diếp thưa: Như lời Phật nói: Tất cả những
người thế gian đối với chân lý, với chánh pháp họ thường
ở trong mê mờ, không thấy, không biết, không hiểu, còn Bồ
tát thì thường thấy, biết và hiểu. Chúng con muốn biết
rõ hơn lời dạy của Phật. Thấy, biết, hiểu của Bồ tát
và không thấy, không biết, không hiểu của người thế gian,
sai khác ở chỗ nào ?
Phật dạy: Những người nghe kinh Đại Niết Bàn, không kính
tin, không phát tâm Vô thượng Bồ đề là người không thấy,
không biết, không hiểu. Không hiểu rằng mình có Phật tánh,
gọi là người thế gian, cũng gọi là phàm phu. Những người
nghe kinh Đại Niết Bàn, sanh lòng kính tin, phát tâm Vô thượng
Bồ đề, cầu Vô thượng Niết bàn, đó gọi là hạng người
thấy, biết và hiểu. Hiểu rằng ta có Phật tánh, ta sẽ thành
Phật, ta có Vô thượng Niết bàn. Đó gọi là người thấy,
biết và hiểu. Hạng người này không gọi phàm phu mà Như
Lai gọi họ là Bồ tát trên đời. Rồi Bồ tát này tự nghĩ:
Ta kích khởi thân tâm tu trì tịnh giới. Do nhân duyên đó
Bồ tát đời đời sanh vào cảnh giới đức cũng được luôn
luôn thanh tịnh. Do giới đức thanh tịnh nên không tà kiến,
không nghi lầm, không kiêu mạn. Vì có chánh tri kiến cho nên
không bao giờ Bồ tát có ý nghĩ Như Lai rốt ráo nhập Niết
bàn theo nghĩa đoạn diệt ! Bồ tát đã có giới thanh tịnh
cho nên có định. Do tu thiền định cho nên thường ở trong
chánh niệm, thường ức niệm tư duy rằng: TẤT CẢ CHÚNG
SANH ĐỀU CÓ PHẬT TÁNH.
GIỚI thanh tịnh, ĐỊNH đã có. Đỉnh cao của ba môn vô lậu
học là TUỆ. Bồ tát tu tuệ, không chấp trong thân có ngã,
trong ngã có thân. Tự thân là ngã. Bồ tát tu tập giới, định,
tuệ thanh tịnh rồi, bốn thứ gió điên đảo không làm lay
động.
Sự thấy, biết, hiểu như vậy, người thế gian không thể
có được.
Lại nữa, Bồ tát thấy, biết, hiểu rằng giới cấm mà mình
thọ trì bền chắc không lay động thì tâm không hối hận.
Vì không hối hận nên tâm vui mừng. Vì vui mừng nên tâm được
thỏa thích. Vì thỏa thích nên tâm an ổn. Vì an ổn nên được
chánh định vô động. Vì chánh định vô động nên được
tri kiến chân thật. Vì được tri kiến chân thật nên nhàm
lìa sanh tử. Vì nhàm lìa sanh tử nên có được giải thoát.
Vì có được giải thoát nên thấy rõ Phật tánh.
Đấy là chỗ thấy, biết, hiểu của Bồ tát. Những thấy,
biết, hiểu của thế gian thì trái lại. Vì giới của thế
gian lập ra để mong cầu pháp "có", củng cố "hữu vi". Vì
củng cố hữu vi nên có tâm hối hận. Vì hối hận không
có tâm vui mừng....Cho đến không thấy Phật tánh, không hiểu
Niết bàn. Giới của thế gian phàm phu là thế đó !
Này Ca Diếp! Bồ tát có tịnh giới thanh tịnh, vì chẳng muốn
sanh lòng không hối hận mà lòng không hối hận tự nhiên
sanh; như người có gương sáng trước mặt dù không muốn
thấy mặt mà mặt mình tự hiện; như nhà nông gieo giống
ở ruộng tốt, dù không mong chờ mầm mọng mọc lên mà mầm
mọng tự mọc. Lại cũng như ngọn đèn dù không có ý mong
cầu diệt trừ bóng tối mà bóng tối tự mất. Người xinh
đẹp thấy diện mạo mình sanh tâm vui mừng, người trí giữ
tịnh giới, biết giới đức mình thanh tịnh cũng sanh tâm
vui mừng, do vậy không có hối hận. Trái lại, người phá
giới, biết giới của mình không thanh tịnh lòng không vui
mừng được, như người tàn tật xấu xa thấy diện mạo
mình lòng rất buồn bã hận tủi thân mình.
Bồ tát tu trì tịnh giới đem lại kết quả: Một là vui mừng.
Hai là thỏa thích. Không làm các điều ác có được tâm vui
mừng. Biết giới của mình thanh tịnh tâm được thỏa thích.
Lúc quán sát thấy được chân tướng sanh tử, gọi là vui
mừng. Lúc nhận thức được Niết bàn và đi vào Niết bàn
gọi là thỏa thích. Viễn ly pháp thế gian gọi là vui mừng.
Thực chứng pháp bất cộng gọi là thỏa thích.
Bồ tát tu học Đại Niết Bàn, do giới thanh tịnh nên thân,
khẩu, ý tam nghiệp thanh tịnh, xa lìa mọi lỗi lầm. Vì tam
nghiệp không lỗi lầm nên cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc,
biết, lục căn của Bồ tát xúc đối với lục cảnh sắc,
thanh, hương, vị, xúc pháp không sanh niệm xấu ác ưu phiền.
Vì không niệm ưu phiền, xấu ác nên tâm an ổn. Vì an ổn
nên được chánh định. Vì được chánh định nên sự thấy
biết đúng như thật (thông qua trí tuệ). Vì thấy biết như
thật nên nhàm lìa sanh tử. Vì nhàm lìa sanh tử nên được
giải thoát. Vì có giải thoát nên thấy Phật tánh. Vì thấy
Phật tánh nên được Niết bàn. Đó là kết quả tu trì tịnh
giới của Bồ tát, mà giới của thế gian không thể có được.
Này Ca Diếp ! Sự thành tựu lớn lao ấy của Bồ tát, bởi
vì khi tu tịnh giới, Bồ tát sử dụng thất thánh tài, viễn
ly ngũ cái, trừ bỏ thập sử, phủi giũ thập triền, dứt
hết lục nghi, thanh tịnh ngũ căn, chứng nhập ngũ nhãn. Bồ
tát hằng an trú trong lục niệm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng, niệm giới, niệm thí và niệm đệ nhất nghĩa thiên.
Bồ tát có những đức hạnh tinh tấn ưu việt hơn người
thường. Vì vậy, những thấy biết của Bồ tát, người thế
gian không thể thấy biết được.
Này Thiện nam tử ! Người đệ tử của Phật không quan niệm
rằng: thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng thuyết mười
hai bộ kinh cùng với thọ trì đọc tụng giảng thuyết kinh
Đại Niết Bàn công đức ngang nhau. Quan niệm như vậy là
không đúng, vì kinh Đại Niết Bàn là tạng bí mật của chư
Phật Thế Tôn, lý thú không thể nghĩ bàn.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Theo con hiểu kinh Đại Niết bàn sâu
xa vi diệu không thể nghĩ bàn, Phật, Pháp, Tăng cũng không
thể nghĩ bàn. Bạch Thế Tôn, do nghĩa gì mà Bồ tát lại
cũng được gọi là không thể nghĩ bàn ?
Phật bảo: Đại Bồ tát không đợi ai giáo hóa mà có thể
tu tự phát Bồ đề tâm. Đã phát tâm rồi tự siêng năng
tinh tấn. Giả sử gặp phải cảnh ngộ có thể nguy hiểm
tánh mạng cũng không thối thất tâm Bồ đề. Vì Vô thượng
Bồ đề không tiếc thân mạng. Do vậy mà Bồ tát là hạng
người không thể nghĩ bàn.
Lại nữa Bồ tát thấy rõ sanh tử có vô lượng tội lỗi
khổ đau mà hàng Thanh Văn, Duyên giác thì không thể thấy
biết. Dù thấy biết tội lỗi khổ đau, nhưng vì chúng sanh,
nguyện ở cõi đời hóa độ cho họ. Còn chúng sanh thì ở
trong sanh tử khổ đau mà chẳng sanh tâm nhàm lìa. Do vậy mà
Bồ tát được gọi là hạng người không thể nghĩ bàn.
Này Thiện nam tử ! Đại Bồ tát trong vô lượng kiếp thường
quán sát sanh tử vô thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh, rồi
vì chúng sanh giảng thuyết thường, lạc ngã, tịnh. Dù diễn
thuyết như vậy nhưng không rơi vào tà kiến. Vì vậy, Bồ
tát là người không thể nghĩ bàn. Ví như người vào nước,
nước không trôi; vào lửa, lửa không cháy, Đại Bồ tát
cũng như vậy, dù ở trong sanh tử nhưng không bị sanh tử
não hại. Do vậy, gọi Bồ tát là người không thể nghĩ bàn
!
Này Thiện nam tử ! Con người có ba hạng: thượng, trung và
hạ.
_ Hạng người bậc hạ, lúc nhập thai coi như mình bị giam
hãm vào chỗ tối tăm dơ bẩn, mất hết tự do sầu khổ;
lúc xuất thai có cảm tưởng như ra khỏi chỗ ngục tù giam
hãm....
_ Hạng người bậc trung khi nhập thai không xem là nơi giam
hãm khổ đau mà tự thấy như mình dạo chơi nơi một cảnh
trí có nhà cửa, có cỏ cây, có suối chảy...phù hợp cho
một cuộc sống bình thường.
_ Còn hạng người bậc thượng thì vượt khỏi hai ý niệm
trên. Bồ tát tự xem như mình vào cung điện lộng lẫy nguy
nga, có vườn cây mát mẻ, có dị thảo kỳ hoa, có ao, có
suối, có chim hót, có muôn thú vui đùa, một quang cảnh thanh
bình êm đềm....Khi Bồ tát xuất thai cũng thấy mình trong
môi trường an lành tiêu sái ấy. Lúc Bồ tát nhập thai, trụ
thai, xuất thai đều tự biết và còn biết mình sẽ làm gì
đối với sự lợi ích cho chúng sanh. Cho nên dù ở trong thai
cũng như khi xuất thai không hề có niệm tham, sân, si. Do vậy,
gọi Bồ tát là hạng người không thể nghĩ bàn !
Bồ tát với tâm, xa lìa sát sanh, trộm cướp và dâm hạnh;
Với khẩu, xa lìa vọng ngữ, ỷ ngữ, lưỡng thiệt ngữ và
vô nghĩa ngữ; với ý, xa lìa tham dục, sân nhuế và vô minh.
Dù xa lìa như vậy mà không có ý tưởng xa lìa, vì Bồ tát
biết rằng nghiệp bất thiện kia không có tự tánh chân thật.
Do vậy, Bồ tát được gọi là người không thể nghĩ bàn
!
Này Ca Diếp ! Trí tuệ của Bồ tát không thể phá vỡ được,
lửa không cháy được, nước không trôi được; trí tuệ
ấy không có cái để sanh, không có lão, không có bệnh, không
có tử được. Trí tuệ Bồ tát vượt ngoài dị diệt và
không bị chi phối bởi sự thành trụ hoại không; vị trí
của Bồ tát không phải hữu vi pháp mà có công năng hóa giải
những nguyên nhân bất thật hữu vi hữu lậu. Do vậy, Bồ
tát là hạng người không thể nghĩ bàn !
Ca Diếp Bồ tát thưa: Nay con mới biết rõ Đại Bồ tát là
hạng người không thể nghĩ bàn ! Phật, Pháp, Tăng, kinh Đại
Niết Bàn và người thọ trì Bồ Đề Niết Bàn đều chẳng
thể nghĩ bàn !
Ca Diếp Bồ tát thưa: Con đã từng nghe Phật nói: Chánh pháp
của Phật Ca Diếp xưa kia tồn tại ở đời có bảy ngày
rồi diệt. Tại sao chánh pháp lại cũng bị diệt ? Đức Phật
Ca Diếp xưa kia có kinh Đại thừa Đại Niết bàn này không
? Kinh Đại Niết bàn là "tạng bí mật" của chư Phật Như
Lai mà cũng bị diệt sao ?
Phật bảo: Trước kia ta đã có nói, chỉ có Đại Trí Văn
Thù mới hiểu ý nghĩa này ! Nay ta sẽ nói lại, Ca Diếp, ông
hãy lóng lòng mà nghe: Pháp của chư Phật có hai loại: Một
là thế pháp. Hai là đệ nhất nghĩa pháp.
Thế
pháp có hoại diệt. Đệ nhất nghĩa pháp không hoại diệt.
Vô
thường, vô ngã, vô lạc, vô tịnh là pháp có hoại diệt.
Thường, lạc, ngã, tịnh là pháp không hoại diệt.
Pháp
của Nhị thừa thọ trì tu học là pháp có hoại diệt, pháp
của Bồ tát thọ trì tu tập thì không hoại diệt.
Ngoại
pháp thì có hoại diệt, nội pháp thì không hoại diệt.
Pháp
hữu vi có hoại diệt, pháp vô vi thì không hoại diệt.
Pháp
"có được" thì có hoại diệt, pháp "không được" thì không
hoại diệt.
Pháp
thuộc mười một bộ kinh thì có hoại diệt. Pháp Phương
đẳng Đại thừa thì không hoại diệt.
Nếu ngày nào hàng đệ tử Phật thọ trì, đọc tụng, biên
chép, giảng thuyết cung kính, cúng dường, tôn trọng tán thán
kinh Phương đẳng Đại thừa, nên biết đó là thời kỳ Phật
pháp hưng thạnh không thể nói là hoại diệt được !
Này Ca Diếp ! Kinh Đại Niết bàn là chân lý, là tạng bí
mật của chư Như Lai, là pháp thường hiện hữu không biến
đổi, sao ông lại hỏi rằng đức Phật Ca Diếp có kinh này
chăng ? Ông cũng nên biết: chánh pháp của Phật Ca Diếp cũng
không tồn tại bảy ngày rồi diệt như ông hiểu. Chẳng qua
là căn tánh của chúng sanh thời đó định tuệ viên mãn,
tự sống trong chánh pháp Đại thừa, do vậy giáo lý của
mười một bộ kinh không còn chỗ dùng nữa. Còn như giáo
lý Đại thừa Niết bàn cũng chẳng cần nhọc sức triển
khai. Ví như người đầy đủ sức khỏe cơ thể tươi nhuận
thì dù lương dược có giá trị bậc trung hay lương dược
thượng đẳng tột cùng quý giá, cũng chẳng đem ra dùng vào
chỗ nào được. Nói khác đi, chánh pháp thời Phật Ca Diếp
không có chỗ dùng không phải pháp của Phật Ca Diếp ngắn
số, tồn tại có bảy ngày !
Này Thiện nam tử ! Chỉ có thời nào mà chúng sanh đối với
các pháp:
Vô
thường tưởng là thường, chân thường tưởng vô thường.
Vô
ngã tưởng ngã, chân ngã tưởng vô ngã.
Khổ
tưởng lạc, lạc tưởng khổ.
Bất
tịnh tưởng tịnh, chân tịnh tưởng bất tịnh.
Diệt
tưởng bất diệt, bất diệt thấy diệt.
Tội
thấy phi tội, phi tội thấy tội.
Khổ
thấy phi khổ, phi khổ thấy khổ.
Tập
thấy phi tập, phi tập thấy tập.
Diệt
thấy phi diệt, phi diệt thấy diệt.
Đạo
thấy phi đạo, phi đạo thấy đạo.
Phi
Bồ đề thấy Bồ đề, Bồ đề thấy phi Bồ đề.
Thế
đế cho là đệ nhất nghĩa đế, đệ nhất nghĩa đế cho
là thế đế.
Lời
Phật nói cho là lời ma, lời ma nói cho là lời Phật....
Ở vào thời kỳ như thế, Phật mới đem kinh Đại Niết bàn
ra nói. Giáo hóa chúng sanh.
Này Thiện nam tử ! Thà nói vòi con muỗi hút nước tột đáy
biển chớ chẳng nên nói chánh pháp của Như Lai diệt. Thà
nói lấy dây buộc gió mạnh vào cây; thà nói dùng miệng thổi
bay núi Tu di; thà nói sen mọc trong lò lửa; thà nói có thể
làm cho mặt trăng nóng, làm cho mặt trời lạnh chớ không
nên nói chánh pháp của chư Như Lai diệt.
Này Thiện nam tử ! Lúc Phật ra đời, chứng được vô thượng
Bồ đề rồi nhưng hàng đệ tử chưa có người hiểu Đại
thừa sâu sắc, đức Phật bèn nhập Niết bàn, chánh pháp
của đức Phật đó gọi là chẳng ở lâu nơi đời. Nếu
có hàng đệ tử hiểu thấu nghĩa Đại thừa sâu sắc, Phật
dầu nhập Niết bàn, nhưng chánh pháp vẫn ở lâu nơi đời.
Nếu Phật ra đời chứng Vô thượng Bồ đề rồi, trong hàng
đệ tử dầu có người hiểu nghĩa Đại thừa sâu sắc mà
không có bạch y cư sĩ đàn việt kính tin tôn trọng Phật
pháp, khi Phật nhập Niết bàn chánh pháp của đức Phật đó
chẳng gọi là ở lâu nơi đời. Nếu có hàng bạch y cư sĩ
đàn việt kính tin tôn trọng Phật pháp, Phật dầu nhập Niết
bàn chánh pháp của Phật vẫn gọi là ở lâu nơi đời.
Nếu Phật ra đời chứng Vô thượng Bồ đề, có các đệ
tử hiểu nghĩa Đại thừa sâu sắc, có hàng bạch cư sĩ đàn
việt hết lòng tôn trọng kính tin Phật pháp mà các đệ tử
thuyết pháp lại vì danh lợi không vì cầu Niết bàn, đức
Phật nhập diệt rồi, chánh pháp của đức Phật đó cũng
không trụ lâu ở đời. Trái lại, hàng đệ tử Phật thuyết
pháp vì cầu Niết bàn, cầu chứng Bồ đề vô thượng, không
tham danh lợi, Phật dầu nhập diệt, nhưng chánh pháp vẫn
ở lâu nơi đời !
TRỰC
CHỈ
ĐẮC và VÔ SỞ ĐẮC là tiêu chuẩn, một thước đo
của một địa vị trên đường giải thoát giác ngộ. Vô
sở đắc mới có khả năng đắc tất cả. Hữu sở đắc,
chỉ được trong phạm vi một cái gì có tánh cách cục bộ
mà thôi. Bồ tát vô sở đắc mới có được Tứ vô ngại
trí, Tứ vô ngại giải, Tứ vô ngại biện tài.
Đệ nhất nghĩa đế là tên khác của Đạo, của Bồ đề,
Niết bàn. Chân lý ĐỆ NHẤT NGHĨA ĐẾ là chân lý "ly ngôn
tuyệt tướng" lẽ ra không thể nói. Đệ nhất nghĩa đế
mà còn diễn đạt bằng ngôn từ, ngoài trí tuệ biện tài
vô ngại của Bồ tát, Phật, hàng Thanh văn, Duyên giác đã
không có phần tham dự, nói chi hạng người bạc địa phàm
phu !
Bồ đề, Niết bàn, Đạo là pháp vốn có, nó hiện hữu chân
thường. Phàm phu, ngoại đạo không thể thấy, biết và hiểu.
Vì họ không biết tu giới, định, tuệ, không có tuệ nhãn,
không thể thấy, biết, hiểu Bồ đề, Niết bàn và cũng không
thể biết gì là Đạo, như những kẻ sanh manh không thấy
biết sắc màu rực rỡ của hoa lá dưới ánh sáng ấm áp
của cảnh sắc trời xuân.
Người học đạo, hành đạo phải khéo giữ cái tâm. Tâm
dù không thấy, không nắm bắt rờ mó được nhưng thân, miệng
thổ lộ, hành động nói năng thiện ác đều do tâm điều
khiển. Vì vậy, Duy thức học gọi nó là TÂM VƯƠNG.
Là chân lý thì nghĩ ngợi không đến được, ngôn ngữ diễn
đạt càng xa rời sự thật. Cho nên sự thấy biết của Bồ
tát là "tuyệt tướng ly ngôn". Bồ tát thấy, biết, hiểu
tất cả mà như không thấy, không biết, không hiểu. Thấy
biết bằng cái tánh "như thị" không xen tri kiến của mình
vào.
Thế gian ngoại đạo thường sống trong tà kiến. Họ chấp
thường, chấp đoạn. Họ có khuynh hướng tín ngưỡng: Đa
thần, Nhất thần. Đa thần chỉ là sản phẩm của những
tâm hồn yếu đuối không có khả năng tự lực tự cường,
cam tâm tì thiếp:
"Nghìn
trùng nhờ bóng tùng quân.
Tuyết
sương che chở cho thân cát đằng"