PHẨM
THỨ MƯỜI SÁU
BỒ
TÁT
Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: Này Thiện nam tử ! Ánh sáng mặt
trời mặt trăng sáng hơn hết trong các ánh sáng. Ánh sáng
kinh Đại Bát Niết Bàn ưu việt đối với ánh sáng của các
khế kinh. Ánh sáng kinh Đại Bát Niết Bàn chiếu vào tâm khảm
của chúng sanh, thì dầu chúng sanh đó chưa phát tâm Bồ đề,
nhưng kinh Đại Bát Niết Bàn này có thể làm nhân duyên cho
tâm Bồ đề.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Ánh sáng kinh Đại Bát
Niết Bàn chiếu vào tâm khảm của những người phạm tội
tứ trọng, ngũ nghịch và chiếu vào người tu tập các pháp
lành, trì giới thanh tịnh. Hai trường hợp này, đối với
nhân Bồ đề có gì sai khác ?
Phật dạy: Thiện nam tử ! Chỉ trừ hạng nhất xiển đề,
còn những chúng sanh khác được nghe kinh Đại Bát Niết Bàn
đều có thể làm nhân cho Bồ đề, không có gì sai khác. Ví
như một căn nhà tối có đèn, một căn nhà tối không đèn,
khi ánh mặt trời mọc chiếu sáng bình đẳng khắp nơi, bấy
giờ ánh sáng của hai căn nhà như nhau không có hơn kém. Do
nghĩa đó, ánh sáng của kinh Đại Niết Bàn làm nhân Bồ đề
bình đẳng cho tất cả chúng sanh. Bởi lẽ người đã trồng
sâu gốc rễ lành, đã từng cúng dường vô lượng chư Phật
mới được nghe kinh Đại Niết Bàn. Người căn lành kém ít,
phước mỏng không thể nghe được kinh Đại Niết Bàn. Vì
đây là một việc lớn, một nhân duyên trọng đại. Tại
sao ? Tại vì đây chính là kho tàng bí mật rất sâu của chư
Như Lai. Vì Đại Niết Bàn tức là Phật tánh vậy.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Những gì làm nhân Bồ
đề cho người chưa phát tâm Bồ đề ?
Phật dạy: Thiện nam tử ! Nếu có người nghe kinh Đại Niết
Bàn mà chưa phát khởi lòng tin, bỗng bị phải một biến
cố cực kỳ sợ hãi, hoặc sự kiện khổ đau cùng cực, thậm
chí trong cảnh chiêm bao. Trong cơn nguy biến hãi hùng, một
niệm khởi tâm hướng về Tam bảo, nhớ những điều trong
kinh dạy: Phật thường trụ, Pháp thường trụ, Tăng thường
trụ khởi niệm quy y. Nên biết, người này Bồ đề tâm đã
nẩy mọng, nứt mầm, theo thời gian mà thành tựu nhân Bồ
đề, và tương lai người này thẳng tiến trên đường Bồ
tát đạo.
Do nghĩa trên, biết rằng oai thần của kinh Đại Niết Bàn,
làm nhân Bồ đề cho người chưa phát tâm Bồ đề.
Này Thiện nam tử ! Như bầu hư không bỗng nhiên vẩn đục,
cuồn cuộn mây đen kéo đến tuôn mưa, nơi ruộng thấp đồng
bằng, hoa màu, ruộng lúa đượm nhuần tươi tốt, ao hồ đầy
nước, chúng sanh ở những nơi đó đều được lợi ích.
Những nơi đất mô, đồi trọc, đỉnh núi gò cao, dù có mưa
to nước cũng không đọng lại. Kinh Đại thừa Đại Niết
Bàn vi diệu này có thể trưởng dưỡng nhuần khắp chúng
sanh, làm nảy nở tâm Bồ đề. Chỉ có hàng Nhất xiển đề
không nảy nở tâm Bồ đề, không được phần nào lợi ích.
Như hạt giống đã cháy, dù có gặp mưa, cũng không sao nứt
mộng sanh cây. Như núi cao, đồi nỏng không giữ nước, không
thấm nhuần cho ruộng lúa vườn cây được.
Này Thiện nam tử ! Ví như cây bạch đàn, cây trâm bầu, cây
lòng mứt, dầu chặt nhánh, đốn cây, nhưng rồi đâm chồi
mọc lên như cũ, không như cây cau, cây dừa đốn rồi, không
thể mọc lại. Những chúng sanh được nghe kinh Đại Niết
Bàn này dù phạm bốn tội trọng, năm tội vô gián, vẫn có
thể sanh nhân Bồ đề. Hàng nhất xiển đề thì không như
vậy. Dù được nghe kinh Niết Bàn vi diệu cũng không sanh nhân
Bồ đề. Ví như muỗng múc chè, dù trải qua nhiều năm tháng,
chè cũng không làm cho muỗng có vị ngọt.
Này Thiện nam tử ! Ví như Lương y biết rành tám khoa trị
bệnh, có thể trị lành tất cả các bệnh, nhưng không thể
chữa trị cho người quyết định chết. Chư Phật, Bồ tát
có thể cứu độ tất cả chúng sanh có tội lỗi, nhưng không
thể cứu độ cho hạng nhất xiển đề !
Này Thiện nam tử ! Ví như có người ở trong biển lớn, ngồi
thuyền muốn đi qua, nếu xuôi gió thuận buồm thì trong khoảnh
khắc có thể qua được trăm nghìn dặm. Nếu chẳng có gió
thuận buồm xuôi, dầu ngồi thuyền trải nhiều năm tháng
cũng chẳng rời khỏi chỗ cũ, lại còn có lúc thuyền hư,
lái gẫy, chìm đắm mà chết. Chúng sanh ở nơi biển lớn
sanh tử ngu si, ngồi trên thuyền "công đức", nếu gặp gió
mạnh Đại Niết Bàn thì có thể đến bờ giải thoát giác
ngộ nhanh chóng. Bằng chẳng gặp kinh này sẽ phải luân chuyển
mãi trong sanh tử ưu bi, hoặc có lúc phá hư thuyền "công đức",
phải đọa tam đồ: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.
Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: Thiện nam tử ! Theo chỗ biết
của ông: Con rắn khi lột xác, nó có chết chăng ?
_ Bạch Thế Tôn ! Rắn không chết.
_ Này Thiện nam tử ! Như Lai phương tiện thị hiện dứt bỏ
cái thân hòa hợp bất an này, ai có thể nói: Rằng Như Lai
vô thường diệt tận ?
_ Bạch Thế Tôn ! Đúng vậy.
_ Như Lai ở cõi Diêm Phù Đề thị hiện bỏ thân như rắn
kia lột bỏ lớp da già suy thoái cũ. Người có trí nên hiểu
Như Lai thường trụ như rắn kia lột da mà không có chết
!
Này Thiện nam tử ! Ví như người thợ kim hoàn, sử dụng
vàng ròng, làm các món đồ trang sức tùy theo ý mình. Như
Lai ở trong hai mươi lăm cõi, vì hóa độ chúng sanh khỏi dòng
sanh tử, thị hiện các thứ sắc thân tùy ý tự tại. Vì
vậy, Như Lai có đức hiệu VÔ BIÊN THÂN. Dù thị hiện các
thứ sắc thân, nhưng Như Lai vẫn là thường trụ không biến
đổi.
Này Thiện nam tử ! Như cây am la, một năm ba lần biến đổi.
Có lúc trổ bông rực rỡ, có lúc thay lá xanh tươi, có lúc
điêu tàn như khô chết. Nhưng thực ra cây am la không chết.
Như Lai ở trong ba cõi hiện ba thứ sắc thân, tương tợ như
vậy. Có lúc mới giáng sanh, có thời khôn lớn, đến lúc
lại hiện nhập Niết bàn. Dù thấy vậy, nhưng thân Như Lai
không có bị vô thường chi phối.
Ca Diếp Bồ tát tán thán: Lành thay ! Lành thay ! Đúng như lời
Phật dạy: Như Lai thường trụ không biến đổi.
Này Thiện nam tử ! Như Lai có mật ngữ rất sâu khó hiểu,
như TIÊN ĐÀ BÀ là mật ngữ của nhà vua. Mật ngữ TIÊN ĐÀ
BÀ chỉ bốn thứ: Muối, nước, chén và ngựa. Là quan hầu
có trí, đắc lực của vua, phải hiểu rành mật ngữ ấy
trong lúc vua cần:
Lúc
vua muốn rửa tay, gọi "tiên đà bà": dâng nước.
Lúc
vua ăn, gọi "tiên đà bà": dâng muối.
Lúc
vua ăn xong, muốn uống nước, gọi "tiên đà bà": dâng chén.
Lúc
vua muốn du hành, gọi "tiên đà bà" liền đem ngựa dâng vua.
Quan hầu có trí phải rành hiểu ý vua trong mỗi lúc. Hệ kinh
điển Đại thừa cũng có bốn nghĩa "vô thường" như mật
ngữ của nhà vua kia vậy.
Khi nói Như Lai sắp nhập Niết bàn. Người trí nên biết đây
là Như Lai vì người chấp THƯỜNG mà nói, nhằm dạy cho các
Tỳ kheo tu pháp quán VÔ THƯỜNG.
Khi nói chánh pháp rồi sẽ diệt mất. Người trí nên biết
đây là Như Lai vì người chấp LẠC mà nói như vậy, nhằm
dạy các đệ tử tu pháp quán KHỔ.
Có khi Như Lai nói: Nay Như Lai có bệnh và Như Lai đang khổ
tâm, vì tăng chúng bất hòa. Người trí nên biết, đây là
Như Lai vì người chấp NGÃ mà nói như vậy, nhằm dạy các
đệ tử tại gia, xuất gia nên tu tập pháp quán VÔ NGÃ.
Khi Như Lai dạy: Là đệ tử Phật, hãy nên tu tập pháp "quán
KHÔNG". Người trí nên biết đây là Như Lai muốn dạy: GIẢI
THOÁT ĐÍCH THỰC là vượt ra ngoài hai mươi lăm cõi. Do nghĩa
này, cho nên KHÔNG còn gọi là "bất động". Vì tướng giải
thoát không có KHỔ, không có VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ….
KHÔNG ở đây chính là không sắc, không thanh, không hương,
không vị, không xúc. Vì vậy, giải thoát tức KHÔNG. KHÔNG
tức giải thoát.
Cho nên GIẢI THOÁT còn gọi là THƯỜNG TRỤ, THANH LƯƠNG, BẤT
BIẾN.
Đức Phật cũng dạy rằng: Tất cả chúng sanh đều có NHƯ
LAI TÁNH, người trí nên biết đây là Như Lai dạy PHÁP THƯỜNG,
muốn cho các Tỳ kheo tu tập pháp THƯỜNG. Các Tỳ kheo tùy
thuận tu tập như vậy, nên biết người này thật là đệ
tử của Phật, biết rành tạng Như Lai vi mật, như quan hầu
có trí biết rành ý muốn của nhà vua.
Này Thiện nam tử ! Nhà vua kia có mật ngữ như vậy, huống
là Như Lai mà lại không có ! Vì vậy, cho nên giáo pháp vi
mật của Như Lai khó mà biết được. Chỉ có người trí
mới hiểu được rằng Phật pháp rất sâu xa vi diệu, chẳng
phải hạng bạc địa phàm phu trong đời mà có thể hiểu
được dễ dàng !
Này Thiện nam tử ! Ví như cây Ba la xa, cây Ca ni ca, cây A thúc
ca, gặp lúc nắng hạn thì không sanh hoa trái, nhẫn đến các
sinh vật dưới nước, trên đất thảy đều khô héo và chết,
vô phương cứu.
Với kinh Đại Niết Bàn cũng vậy. Sau khi Như Lai diệt độ,
có những chúng sanh phước mỏng đức kém, không nhận biết
được giá trị thậm thâm vi mật của kinh này. Họ không
có lòng tôn trọng trân quí. Vì vậy, phước đức suy mòn
như cây cỏ và sinh vật ở vào thời điểm đại hạn, không
còn khả năng sinh trưởng.
Lúc chánh pháp sắp diệt, bấy giờ có ác hạnh Tỳ kheo chẳng
biết kho tàng bí mật Như Lai, chễnh mảng, biếng nhác, chẳng
đọc tụng thọ trì tuyên dương kinh Đại Niết Bàn, thật
chẳng khác kẻ cướp ngu si, vất bỏ châu báu vàng ròng mà
mang gánh lấy nồi nhôm, chảo sắt, lò đất, quả là bọn
người đáng thương xót và buồn cười.
Chỉ có các Bồ tát, đối với kinh này, không chấp văn tự,
tùy thuận nghĩa chân thật, vì chúng sanh mà giảng nói với
tinh thần vô úy ở giữa cõi đời...
Này Thiện nam tử ! Như đứa gái chăn bò bán sữa, vì muốn
nhiều lợi nên thêm hai phần ba nước vào sữa, rồi bán cho
đứa gái chăn bò khác. Đứa gái chăn bò kia lại thêm hai
phần ba nước, rồi bán lại cho đứa gái ở ngoại thành.
Đứa gái ở ngoại thành này, thêm hai phần ba nước nữa,
rồi lại bán cho đứa gái ở trong thành. Đứa gái này lại
thêm hai phần ba nước rồi đem ra chợ bán. Bấy giờ có người
cần sữa tốt để đãi khách đến chợ để mua. Đứa gái
bán sữa đòi giá đắt. Người mua nói sữa này pha nhiều
nước quá lẽ ra không đến giá đó. Nhưng nay nhằm lúc tôi
phải đãi tân khách nên phải đành mua. Mua xong, đem về nhà
nấu cháo, không có chút mùi sữa nào ! Dù không có chút mùi
sữa nhưng cũng ngàn lần hơn vị chát, vị đắng hoặc hôi.
Vì vị sữa hơn hết trong các vị.
Này Thiện nam tử ! Sau Như Lai nhập Niết bàn chánh pháp chưa
dứt, kinh này sẽ lưu hành rộng rãi ở cõi Diêm Phù Đề.
Lúc bấy giờ có các ác Tỳ kheo sao lược kinh này, thêm bớt
làm mất mùi vị của chánh pháp. Những người này dù đọc
tụng kinh, nhưng lại che dấu chất vị Đại thừa, lọc bỏ
yếu nghĩa thâm mật của Như Lai, đem lời thế gian vô nghĩa,
thêu dệt thêm thắt vào nhằm phục vụ ý đồ lợi dưỡng.
Nên biết, các Tỳ kheo ác, họ là bè đảng của ma. Họ thọ
dụng tám vật bất tịnh, cung phụng đời sống ô trọc khổ
đau, còn tuyên bố phỉnh phờ rộng rãi với người đời:
Rằng Như Lai cho chúng tôi nhận chứa...Như đứa gái chăn
bò pha nhiều nước vào trong sữa. Cũng như vậy, các ác Tỳ
kheo đem lời thế tục xen tạp vào kinh này, làm cho chúng sanh
chẳng được nghe kinh điển chơn chánh, lời nói chơn
chánh, chánh pháp vi diệu của Như Lai để tôn trọng, tán
thán, cung kính cúng dường. Ác Tỳ kheo này, vì lợi dưỡng
mà không lưu truyền rộng rãi kinh này. Dù có lưu truyền cũng
chỉ được chút ít phần chánh pháp, như các đứa gái nọ
xoay vần bán sữa. Để rồi nấu cháo sữa mà không có mùi
vị sữa, của khổ chủ đáng thương kia.
Kinh Đại thừa Đại Niết Bàn này có thể sẽ cũng như vậy,
lần lượt giáo nghĩa sâu xa cũng sẽ mờ nhạt lạt lẽo không
còn khí vị. Dù không khí vị vẫn hơn những kinh điển khác
cả vạn lần, như cháo không mùi sữa vẫn hơn ngàn lần vị
chát, đắng...Vì kinh Đại thừa Đại Niết Bàn là đứng
đầu đối với kinh điển Như Lai dạy cho hàng Thanh văn trong
chín bộ kinh. Như vị của sữa bò hơn hết trong các vị.
Vì nghĩa đó, kinh này tên gọi: ĐẠI THỪA ĐẠI NIẾT BÀN.
Này Thiện nam tử ! Người tiếp nhận vui vẻ tư tưởng kinh
Đại thừa Đại Niết Bàn là người trượng phu có ý chí
trượng phu. Vì kinh này có tướng trượng phu, tức là chỉ
rõ về Phật tánh của mọi người. Người không nhận biết
được Phật tánh của mình, Như Lai nói đây là người không
có nam tánh, không có tướng trượng phu. Trái lại, nếu người
nữ biết rõ mình có Phật tánh. Chính mình đủ tư cách tu
hành thành Phật. Nên biết người đó dù là người nữ mà
Như Lai nói người đó là trượng phu, nam tử !
Kinh Đại thừa Đại Niết Bàn này chứa nhóm vô lượng vô
biên công đức lành, chẳng thể nghĩ bàn, vì kinh này nói
rõ tạng bí mật của Như Lai. Thế nên, người đệ tử Phật
chơn chánh hãy nên siêng năng tu tập kinh này.
Lúc bấy giờ Bồ tát Văn Thù Sư Lợi thưa: Bạch Thế Tôn
! Nay ông Thuần Đà còn có tâm nghi mà chưa dám hỏi Phật.
Ngưỡng mong Như Lai vì ông giảng giải.
Phật dạy: Tâm nghi của Thuần Đà thế nào, hãy trình bày
rõ ra, Như Lai sẽ vì các ông mà dạy rõ !
Văn Thù Sư Lợi thưa: Ông Thuần Đà nghĩ rằng: "NHƯ LAI THƯỜNG
TRỤ" là do sức tri kiến thấy biết được Phật tánh. Nếu
do thấy biết Phật tánh mà được THƯỜNG TRỤ thì lúc trước
chưa thấy biết lẽ ra là VÔ THƯỜNG. Nếu lúc trước là
VÔ THƯỜNG thì lúc sau cũng vô thường. Như những vật trong
đời trước không , nay có, có rồi trở thành không. Những
vật như vậy đều là vô thường. Do nghĩa đó, cho nên có
thể biết: Chư Phật, Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn không sai
khác gì nhau! (ý nói đều vô thường tất cả).
Đức Thế Tôn nói bài kệ rằng:
Trước
có nay không
Trước
không nay có
Không
có nghĩa chơn thực
Ba
đời đều có
Này Thiện nam tử ! Do nghĩa như vậy, chư Phật, Bồ tát Duyên
Giác, Thanh Văn cũng có sai khác, cũng không sai khác.
Văn Thù Sư Lợi vui mừng tán thán: Thật rất thâm sâu ! Đúng
như lời Như Lai dạy. Nay con mới biết rõ chư Phật, Bồ tát,
Duyên giác, Thanh văn cũng có sai khác mà cũng không sai khác.
Ca Diếp Bồ tát bạch: Thế Tôn ! Cúi mong Thế Tôn dạy rõ
về ý nghĩa: Có sai khác và không sai khác ấy, để chúng sanh
được lợi ích, an lạc.
Phật dạy: Thiện nam tử ! Hãy lóng nghe và suy nghĩ chín chắn.
Như Lai sẽ vì ông mà nói nghĩa ấy.
Này Thiện nam tử ! Ví như nhà ông trưởng giả nuôi nhiều
bò sữa đủ các màu lông, sai một người chăn nuôi chăm sóc.
Nhà có việc cần sữa, người chăn nuôi vắt sữa của tất
cả con bò, đựng chung trong một thùng. Người này thấy sữa
đồng một màu trắng, lấy làm lạ, suy nghĩ rằng: Bầy bò
mỗi con đều khác màu nhau, sao sữa của chúng đều đồng
màu ? Người ấy suy gẫm kỹ, và kết luận rằng: tất cả
đều do nhân duyên, phước báu của chúng sanh, khiến cho sữa
kia có cùng một màu, đồng một vị.
Này Thiện nam tử ! Hàng Bồ tát, Duyên giác, Thanh văn đồng
có một Phật tánh như sữa của bầy bò đồng có một màu.
Vì ba bậc người ấy đồng diệt sạch hết phiền não như
nhau. Nhưng các chúng sanh thì nghĩ rằng: Bồ tát, Duyên giác,
Thanh văn ắt phải có sai khác. Lại cũng có hàng phàm phu và
người Thanh văn tự suy nghĩ: Rằng đã có ba thừa, sao lại
không có sai khác ? Rồi trong một phút giây "hốt giác" tuệ
giác phát sanh, người này tự hiểu rằng: Thừa dù có ba,
nhưng tất cả ba thừa đồng một Phật tánh, như người chăn
bò đã hiểu: "màu sữa đồng một, là do nhân duyên phước
báo của chúng sanh !"
Này Thiện nam tử ! Ví như quặng vàng nấu lọc tiêu vong hết
tạp chất, còn lại vàng ròng, thì giá trị của nó không
có thứ kim loại nào bằng. Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ
tát đều thành tựu một mục đích đến: PHẬT TÁNH, vì đoạn
trừ hết phiền não, như quặng vàng loại trừ hết tạp chất
còn lại một tánh chất duy nhất: vàng ròng. Do nghĩa đó,
suy biết tất cả chúng sanh đồng một Phật tánh không có
sai khác.
Ca Diếp Bồ tát bạch: Thế Tôn ! Nếu tất cả chúng sanh đều
có Phật tánh, vậy Phật cùng chúng sanh có gì sai khác ? Vả
lại, nếu tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, vì cớ gì
ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên...hàng A La Hán, nói chung,
đều nhập Niết bàn bậc TIỂU ? Hàng Duyên giác thì nhập
Niết bàn bậc TRUNG. Các hàng Bồ tát thì được nhập Đại
Niết Bàn ? Ba hạng người như vậy, nếu đồng một Phật
tánh cớ sao lại chẳng đồng nhập Đại Niết Bàn vô thượng
như chư Phật Thế Tôn ?
Này Thiện nam tử ! Niết Bàn của chư Phật Thế Tôn, chẳng
phải quả chứng của Thanh văn, Duyên giác đạt đến được.
Do nghĩa đó, cho nên nhập Đại Niết Bàn gọi là THUẦN THIỆN,
cũng gọi là VÔ THƯỢNG NIẾT BÀN. Tiểu và trung hai thứ Niết
bàn này, lúc thế gian trống rỗng, không có Phật ra đời,
người Thanh văn, Duyên giác vẫn có chứng nhập hai thứ Niết
Bàn bậc Tiểu và bậc Trung ấy.
Gọi là có sai khác, vì Niết Bàn bậc Tiểu và bậc Trung,
chưa đủ chất "thuần thiện", cho nên đối với nghĩa Niết
bàn còn có dư thừa (Hữu dư y Niết bàn).
Không sai khác, vì tánh Thanh văn, Duyên giác hay Bồ tát, tương
lai cùng đến một đích: Vô Thượng Niết Bàn, như nước
các dòng: khe, lạch, sông, hồ đều chảy về biển.
Do nghĩa đó, Như Lai nói: Tánh của Tam thừa cũng sai khác,
cũng không sai khác. Bởi vì tánh Thanh văn ví như sữa, Duyên
giác như "ya-ua", Bồ tát như "pho mát", Phật ví như "bơ". Tên
và hương vị khác nhau, nhưng tất cả cùng có tánh dinh
dưỡng và từ chất sữa của một con bò. Riêng tánh của
chúng sanh phàm phu thì vô minh và Phật tánh còn trong thời
kỳ lẫn lộn chưa tách phân rõ ràng hai tướng. Ví như bò
cái mới sanh: máu biến thành sữa, sữa sanh từ máu, máu sữa
chưa có tướng trắng, đỏ phân minh.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Trong thành Câu Thi Na
có gã Chiên đà la tên là Hoan Hỉ. Theo lời Phật dạy: Người
này đã được thọ ký sớm thành Phật, một trong ngàn Phật
ở thế giới Ta bà. Chỉ một lần phát khởi tín tâm mà thành
quả lớn lao như thế ! Cớ sao Như Lai không thọ ký cho Tôn
giả Xá Lợi Phất, Tôn giả Mục Kiền Liên mau thành Phật
đạo ?
Này Thiện nam tử ! Sự thọ ký của Như Lai: Mau thành hay lâu
thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, không có giá trị
hơn kém, cũng không có ý nghĩa hên xui. Có người phát tâm
cầu thành Phật, Như Lai thọ ký cho họ sớm thành. Có hàng
Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, phát nguyện mãi mãi hộ trì
chánh pháp, như ông A Nan chẳng hạn, đã phát nguyện:
"Ngũ
trược ác thế thệ tiên nhập
"
Như nhất chúng sanh vị thành Phật
"Chung
bất ư thử thủ nê hoàn..."
Do nghĩa đó, được thọ ký mau thành Phật không phải là
một cơ may "vinh dự" hay một thành tích đáng "hãnh diện"
như chúng sanh phàm phu lầm tưởng !
Này Thiện nam tử ! Ví như đại thương gia đem ngọc trân
châu ra chợ bán, những đứa ngu si thấy ngọc không biết,
xem rẻ và khinh cười. Thương gia truyền trao, cho biết về
giá trị của ngọc. Bọn ngu nghe càng khinh cười chế diễu,
bảo nhau: Đó không phải trân châu hay pha lê thì có gì gọi
là quí hiếm ! Cũng tương tợ như vậy, hàng Thanh văn, phàm
phu nếu nghe thọ ký mau thành Phật, họ sẽ giải đãi xem
thường, như bọn ngu không biết giá trị của trân châu.
Mặt khác, còn có một sự thật khó nói ra: Đời vị lai có
hàng Tỳ kheo không thể siêng năng tu tập pháp lành. Vì nghèo
cùng khốn khổ mà xuất gia, để mưu cầu lợi dưỡng. Thân
tâm khinh tháo tà mạn, siễm cuống. Hạng người này nếu
nghe Như Lai thọ ký hàng Thanh văn mau thành Phật, họ sẽ cả
cười khinh mạng chê bai. Đây là hạng người phá giới ngụy
tu, thường tự khoe mình chứng thánh, hơn người. Vì lẽ đó,
cho nên Như lai tùy người, tùy nguyện mà thọ ký hoặc mau
hoặc lâu thành Phật đó thôi.
Này Thiện nam tử ! Như Lai vì chúng sanh, làm cha mẹ cho tất
cả chúng sanh, qua các chủng loại, thân hình: hai chân, bốn
chân, nhiều chân, không chân. Hai cánh, bốn cánh, lông mao,
lông vũ...kể cả chúng sanh thủy tộc...Như Lai dùng một âm
thanh vì chúng mà thuyết pháp. Những loài chúng sanh khác nhau
kia đều tự tiếp thu và nhận hiểu qua cái hiểu của chính
mình...và đều tán thán: Như Lai hôm nay vì tôi mà thuyết
pháp. Đó là ý nghĩa "Như Lai là cha mẹ" tất cả chúng sanh.
Này Thiện nam tử ! Như Lai tùy thuận mọi loài khiến cho chúng
sanh an trụ trong chánh pháp. Thuận theo cái thấy biết của
chúng sanh mà thị hiện các hình tướng. Nhưng không vì vậy
mà Như Lai có thêm bớt, sanh diệt...đồng với pháp hữu vi
!
Là đệ tử Phật, không phải hạng sanh manh, người có trí
phải hiểu: NHƯ LAI THƯỜNG TRỤ.
Người mà biết được NHƯ LAI THƯỜNG TRỤ là người từ
lâu đã tu tập kinh Đại Thừa Đại Niết Bàn rồi. Người
này dù là nhục nhãn, Phật nói chính người này đã sử dụng
cái thấy của thiên nhãn . Thấy biết PHẬT THƯỜNG TRỤ,
PHÁP THƯỜNG TRỤ, TĂNG THƯỜNG TRỤ, là cái thấy biết của
Bồ tát hiện ở cõi đời.
TRỰC
CHỈ
Là một Bồ tát, không thể không tu tập kinh Đại thừa Đại
Niết Bàn. Nói cách khác, không biết kinh Đại Niết Bàn, không
tu học theo kinh Đại Niết Bàn thì không có chủng tử Đại
thừa, không có chất liệu Bồ tát, tâm hành Bồ tát không
có thì không là Bồ tát được.
Bởi vì Bồ tát có nghĩa là:
Đại
đạo tâm thành tựu chúng sanh.
Hữu
tình giác.
Giác
hữu tình.
Thế cho nên, nếu không tu học kinh Đại thừa Đại Niết
Bàn thì ba đức tánh của một Bồ tát không do đâu có được.
* Kinh Đại Niết Bàn là kho tàng bí mật của Như Lai,
Phật dạy những điều mà ba bốn mươi năm trước, không
thể đem ra dạy phổ cập cho mọi hạng người. Những giáo
lý:
Phật
tánh thường trụ.
Pháp
tánh thường trụ.
Tăng
tánh thường trụ.
Tam bảo thường trụ là thứ giáo lý trước đây Phật chưa
hề đề cập.
Pháp
thân Như Lai thường trụ.
Niết
bàn thường trụ.
Đó cũng là thứ giáo lý bốn mươi lăm năm trước Như Lai
vẫn cất dấu kín trong kho tàng bí mật cho đến ngày nay.
Sau mấy mươi năm giáo hóa, đào tạo một số người có khả
năng tiếp thu nghe hiểu, tin nhận và tu học giáo lý Đại
thừa phương đẳng, Như Lai mới mở kho tàng bí mật đem nguồn
giáo lý Đại thừa Đại Niết Bàn trao dạy cho những hạng
người chủng tánh Đại thừa, căn cơ Đại thừa, có khả
năng thẳng tiến trên con đường BỒ TÁT HIỆN Ở CÕI ĐỜI.
* Nghe hiểu, tin nhận, dù công hạnh tu tập chưa sâu,
người này đã gieo rắm hạt nhân Bồ đề rồi.
Thậm chí ở vào hoàn cảnh bất đắc dĩ, trong môi trường
hổn loạn khổ đau mà nhớ: Phật thường trụ, Pháp thường
trụ, Tăng thường trụ, khởi một niệm "quay về", coi như
hạt nhân Bồ đề của người này được gieo xuống đất.
Nhân duyên thời tiết thuận lợi, hạt giống ấy sẽ nẩy
mọng lên thành cây.
* Ngược lại, ở kinh Đại thừa Đại Niết Bàn, có
thể nói từ đầu kinh đến chấm dứt lời dạy cuối cùng,
đức Thế Tôn ân cần khuyên răn, nhắc nhở gần như tột
ý cạn lời: Rằng NHẤT XIỂN ĐỀ là một bệnh tật, nếu
mắc phải rồi thì đấng Vô thượng y vương cũng vô phương
cứu chữa.
Vậy, "nhất xiển đề" là ai ?
Nhất xiển đề là người không có đức tin đối với Tam
bảo. Hoặc có đức tin, nhưng đức tin phi chân lý. Không phù
hợp chánh pháp.
Nhất xiển đề đối với nhân Bồ đề, ví như hạt giống
bị rang không còn khả năng nẩy mọng lên cây. Hoặc như hạt
giống gieo trên núi đá, trên đồi cao không có mưa sương
mà bị hạn hán.
Vì vậy, nhân Bồ đề của hạng người nhất xiển đề không
có điều kiện sanh và phát triển. Nhất xiển đề đối với
nhân Bồ đề, kinh thường ví dụ quở trách: "Hạt giống
bị rang, mầm mọng bị thối” !. Do nghĩa đó, người đệ
tử Phật là người hữu duyên, hữu phúc, là người đã từng
gieo sâu hạt giống Bồ đề trong đất tốt, phân hoại, mới
bình an thẳng tiến trên đường giải thoát giác ngộ, chớ
không phải ngẫu nhiên mà có được !
Tuy nhiên, là đệ tử chân chánh của Phật không được hiểu
lầm Phật, phải học và hiểu kỹ đức Bổn sư của mình.
Đức Phật không hề loại bỏ hàng nhất xiển đề ra ngoài
"khả năng thành Phật". Bởi vì lời dạy của Như Lai là chân
lý. Mà chân lý thì không có ngoại lệ đối với bất cứ
ai. Như Lai từng tuyên cáo trước nhân loại: Rằng tẤT CẢ
CHÚNG SANH ĐỀU CÓ PHẬT TÁNH, thì nhất xiển đề cũng được
hưởng quyền lợi PHẬT TÁNH của mình. Do vậy, nhất xiển
đề vẫn có Phật tánh, vẫn có nhân Bồ đề, vẫn có khả
năng thành Phật.
Thực lý mà nói, nhất xiển đề không có cái "tự tánh nhất
xiển đề" riêng để cho một người nào. Lý do trở thành
nhất xiển đề chỉ là người chưa phát khởi đức tin, hoặc
phát khởi đức tin sai đối tượng, đức tin không có chân
lý, trở thành mê tín huyển hoặc, chỉ có huyền thoại mà
không có sự thật. Nhất xiển đề đối với quả giải thoát
giác ngộ của Phật đạo, họ là người gieo lầm giống,
chớ không phải không có hạt giống. Họ gieo giống không
đúng chỗ, không hợp thời và khiến cho hạt giống khô cháy
vì hạn, ung thối vì ngập lụt mà mất đi giống Bồ đề
đấy thôi.
* Là đệ tử Phật hãy tư duy, quán chiếu thấy Như Lai
qua PHÁP THÂN THƯỜNG TRỤ mới gọi là người đệ tử Phật,
thấy được Phật. Thấy Như Lai qua ứng thân thị hiện, là
chưa đích thực thấy Phật Như Lai.
Ứng thân thị hiện đó, kinh Đại Niết Bàn, Phật nói đó
là một trong VÔ BIÊN THÂN của Như Lai. Còn đích thực Như
Lai, phải là CHÂN NHƯ THÂN, bất sanh bất diệt...Đại thừa
Khởi tín luận gọi đó là: "NHẤT PHÁP GIỚI ĐẠI TỔNG TƯỚNG
PHÁP MÔN THỂ". Thế cho nên Như Lai không có già chết. Dù
nhục nhãn của mọi người ai cũng thấy Như Lai có nhập Niết
bàn !
* Nhà vua có mật ngữ "Tiên đà bà". Chỉ một mật ngữ
thôi, thế mà có bề tôi giỏi, nhà vua vẫn toại ý vừa lòng.
Như Lai có bốn mật ngữ: VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ, KHỔ, KHÔNG,
Như Lai cũng cần có những người đệ tử thông minh, trí
tuệ, để tự mình thọ dụng cái thành quả của sự hiểu
biết chân chánh, trong tiến trình tu tập và truyền bá chánh
kiến cho mọi người. Người đệ tử chân chánh của Phật
phải hiểu mật ngữ của Phật. Làm được việc đó Phật
mới an lòng, cũng như nhà vua vừa lòng, có được quan hầu
hiểu rõ mật ngữ của vua.
VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ, KHỔ, KHÔNG là bốn thang thuốc trị bốn
chứng bệnh chấp: THƯỜNG, NGÃ, LẠC, HỮU của chúng sanh
khi còn học lớp "Bán tự giáo".
Khi kiến thức của đệ tử trưởng thành, Như Lai dạy: "bốn
mật ngữ" ấy nay đã lỗi thời, không nên ứng dụng nữa...phải
bỏ nó đi!
Người quí tộc, người trí, uống sữa, người ta uống sữa
nguyên chất, không uống những thứ sữa bị pha loãng. Bởi
lẽ sữa pha loãng chất dinh dưỡng còn lại chẳng được
bao nhiêu, chưa nói: còn có thể bị ngộ độc.
Kinh Đại Thừa Đại Niết Bàn là hệ giáo lý "mãn tự", cô
đọng tất cả nghĩa lý thậm thâm vi diệu trong kinh này, vì
đây là kho tàng bí mật của Như Lai ! Kinh Đại Bát Niết
Bàn là tinh hoa, cốt tủy của tất cả khế kinh, là sữa nguyên
chất đối với tất cả sữa.
Người trí uống sữa Đại Niết Bàn, các thứ sữa khác dù
có đủ, nhưng để cho hạng khách...chịu uống sữa pha...của
cô gái...nọ !
* Hiện tượng thì vô thường, Bản thể thì chân thường.
Hiện tượng là "tướng" tùy duyên. Bản thể là thể "bất
biến". Thể chân thường bất biến duyên khởi sanh ra hiện
tượng tùy duyên. Hiện tượng tùy duyên, mà không bao giờ
tách rời ngoài bản thể bất biến. Cho nên Như Lai dạy:
"Trước
có nay không
"Trước
không nay có"
Ý nghĩ đó của nhiều người nghĩ, không có chân lý. Đó
chỉ là cái thấy thiển cận. Nó như cái thứ "lý lịch trích
ngang". Dựa vào "lý lịch trích ngang" của ai đó để
rồi nhận xét đánh giá tư cách phẩm hạnh đạo đức của
con người đó, chắc chắn là không chính xác, không trung thực
với cái "gen" trong người anh ta vốn có.
Theo giáo lý đạo Phật. Phật dạy: "Ba đời đều có"
Có nghĩa là sự hiện hữu tồn tại khách quan của hiện tượng
vạn hữu, của vũ trụ nhân sinh là hiện hữu tồn tại: VÔ
THỈ VÔ CHUNG. Dựa trên lý lịch trích ngang là hoàn toàn sai
sự thật.
Do nghĩa đó, người trí phải hiểu:
PHẬT THƯỜNG TRỤ. PHÁP THƯỜNG TRỤ. TĂNG THƯỜNG TRỤ. NIẾT
BÀN THƯỜNG TRỤ. Không nghe được vậy, không hiểu như vậy
là hạt giống cháy, mầm thối, trở thành hạng "Nhất xiển
đề".
* Vô Thượng Bồ Đề. Vô Thượng Niết Bàn: Đích đến
là một. Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, ba thừa, hành trình
thì có ba hạng người. Không sai khác khi "đến đích". Có
sai khác trên lộ trình đi. Vì vậy, Như Lai dạy:
Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật "cũng sai khác", mà cũng
"không sai khác". Nhân tu, kẻ tu trước, người tu sau,
kẻ tu cao, người tu thấp. Vì vậy, sự sai khác đó là lý
tất nhiên. Còn PHẬT TÁNH, tất cả mọi người đều có thì
quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là thành quả chung
của những ai đạt đến tột đỉnh cao GIÁC NGỘ thì đương
nhiên thọ dụng như nhau. Vì vậy, Như Lai nói: "cũng không
sai khác".
*
Niết bàn của Thanh văn Tiểu thừa. Niết bàn của Duyên giác
Trung thừa. Niết bàn của Bồ tát Đại thừa Hữu thượng.
Niết bàn của Phật Thế Tôn Vô thượng. Nhìn qua nhục nhãn
ai cũng thấy rõ "giai cấp" tôn ti để rồi hoặc đề bạt
khen thưởng, hoặc cảnh cáo rồi "đì" theo kiểu nhà binh chịu
"hệ thống quân giai" ấy. Mà trái lại, đó là biểu hiện
tánh công bình, dân chủ đạt đến đỉnh cao:
"Làm
theo năng lực, hưởng theo lao động”
Dựa trên khả năng tu hành giác ngộ, giải thoát của mỗi
người. Niết Bàn trong Phật giáo không ai có sẵn để ban
tặng cho ai !
* Việc Như Lai thọ ký, không phải một ân huệ Như lai
ban tặng cho ai, mà là Như lai nói lên một sự thật. Không
phải Như Lai có "thọ ký" ai đó mới được thành Phật. Như
Lai không "thọ ký" thì ai đó tu hành không được thành Phật.
Không phải vậy, Giáo lý của đạo Phật trước sau như một,
phủ nhận cái "tánh thiêng liêng bọt mép" của đấng vô hình
vĩnh cửu không bao giờ hiện thực, không giúp ích được
gì đối với con người và cuộc sống của con người.
Thọ ký của Như Lai, nói lên sự thật dựa trên khả năng,
hành động của con người và Như Lai "tùy thuận" thiện nguyện
của con người ấy mà nói lên sự thật ấy.
* Người tiếp nhận và thâm nhập nguồn giáo lý "nhật
một hoàn chiếu" của kinh Đại thừa Đại Niết Bàn rồi,
vấn đề thành Phật sớm, thành Phật muộn không còn được
đặt ra. Bởi vì, tự biết rõ:
"...Nhật
hành lãnh thượng mạc tầm sơn..."
"...Tùy
sở trụ xứ thường an lạc..."
"...Phật
pháp tại thế gian"
"...Bất
ly thế gian giác..."
"Lô
sơn vân vũ Chiết Giang triều
"Vị
đáo thiên ban hận bất tiêu
"Đáo
dĩ hoàn lai vô biệt sự
"Lô
sơn vân vũ Chiết Giang triều" ./.