PHẨM
THỨ MƯỜI BỐN
ĐIỂU
DỤ
Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: Này Ca Diếp ! Có hai giống chim
có cá tánh độc đáo riêng của chúng. Một, tên Ca lân đề.
Một, tên Oan ương. Hai giống chim này lúc bay lúc ở đều
cùng chung chẳng xa rời nhau. Các pháp khổ, vô thường, vô
ngã cũng chẳng rời nhau như vậy.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Thế Tôn ! Các pháp khổ, vô thường,
vô ngã cũng chẳng rời nhau như chim Oan ương, chim Ca lân đề
là thế nào ?
Phật bảo: Này Thiện nam tử ! Pháp khổ khác, pháp lạc khác,
ví như lúa đậu khác với mè bắp. Mè bắp khác với cải
sú, khoai tây, các thứ ấy từ mầm mộng của nó cho đến
lúc trổ lá, lên cây, thành củ, sanh quả, có hạt đều khác
nhau không có tánh đồng nhất. Khi củ, quả, bông, hạt già
chín đến thời kỳ thu hoạch, người thọ dụng được thọ
dụng một tánh đồng nhất "dinh dưỡng" không sai khác. Cũng
vậy, nhìn bên hiện tượng tục đế qua nhục nhãn, người
phàm phu thấy: khổ, vô thường, vô ngã sai khác. Đứng bên
bản thể, chơn đế sử dụng tuệ nhãn mà quan sát thì chỉ
có một tánh đồng nhất: THƯỜNG. Thường là tánh chơn thực,
là thật tánh.
Ca Diếp Bồ tát hỏi: Bạch Thế Tôn ! Tánh chất đồng nhất
là tánh dinh dưỡng của trái hạt, được ví tánh THƯỜNG.
Vậy tánh thường đó có đồng với Như Lai chăng ?
Phật dạy: Thiện nam tử ! Ông không nên dính mắc vào tỷ
dụ. Tất cả các pháp, trừ Phật tánh và Niết bàn, không
có một pháp nào thường hết. Dù có vật cứng chắc như
núi Tu di cũng không thể sánh dụ với Như Lai. Bởi lẽ, khi
kiếp hoại, núi Tu di sụp đổ. Như Lai rồi cũng bị sụp
đổ hư hoại hay sao ? Tánh đồng nhất ví cho tánh thường
đó là mượn cái tỷ dụ chưa đủ sức tỷ dụ để làm
dụ. Người trí, ông nên nương tỷ dụ mà hiểu, đừng để
bị kẹt vào tỉ dụ.
_ Này Thiện nam tử ! Đức Phật dạy: Dù tu theo tất cả khế
kinh, tu hết các môn thiền định, tam muội mà chưa nghe kinh
Đại Thừa Đại Niết Bàn thì đều nói tất cả vô thường.
Người nghe kinh này rồi, dù có phiền não mà như không phiền
não. Sẽ là người lợi ích cho trời, cho người, vì hiểu
rõ chính mình có Phật tánh. Và đương nhiên biết rõ rằng
mọi người cũng có Phật tánh như vậy.
Lại ví như nấu lọc quặng vàng, loại bỏ hết vô minh tạp
chất, còn lại tánh thường: vàng ròng bất hoại. Người
tu theo tất cả khế kinh, học tập tất cả thiền định,
tam muội mà chưa nghe kinh Đại Thừa Đại Niết Bàn, đều
nói tất cả pháp vô thường . Khi được nghe kinh Đại Niết
bàn này rồi, tự sẽ biết rằng mình có khả năng tẩy bỏ
tạp chất vô thường của quặng mỏ và đủ khả năng tích
lũy cái “thường”, cái tánh bất hoại của vàng ròng. Đó
là Phật tánh của chính mình. Sau đó, mình sẽ làm lợi cho
trời, cho người, từ nơi nhận thức Phật tánh THƯỜNG vốn
có của mình.
Này Thiện nam tử ! Ví như nước sông ngòi, lạch suối đều
chảy về biển.Tất cả khế kinh các môn thiền định, tam
muội đều quy về kinh Đại thừa Đại Niết bàn, vì kinh
này chỉ rõ Phật tánh của mọi người một cách khéo léo,
biểu lộ hết bi tâm chí thiết của Như Lai khiến cho người
trí nghe rồi có thể trắc nghiệm và trực nhận được Phật
tánh của mình. Vì vậy, Như Lai nói: Pháp thường khác, pháp
vô thường khác, cho đến pháp ngã, vô ngã....cũng vậy.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Thế Tôn ! Theo chỗ con biết Như Lai
đã lìa hẳn tên độc ưu bi khổ lạc. Phàm có ưu bi khổ
lạc là người, Như Lai thì không phải người. Có ưu
bi khổ lạc là trời, Như Lai thì không phải trời. Có ưu
bi khổ lạc là hai mươi lăm cõi, Như Lai thì không phải hai
mươi lăm cõi hữu lậu. Vậy thì lẽ ra Như Lai không có ưu
bi, vì sao lại nói Như Lai có ưu bi...? Bởi vì, nếu Như Lai
không có ưu bi thì cần chi làm lợi ích chúng sanh, hoằng hóa
Phật pháp. Và nếu không có ưu bi sao lại nói Như Lai bình
đẳng xem chúng sanh như La Hầu La ? Nếu không bình đẳng xem
như La Hầu La thì lời nói Như Lai lìa hẳn ưu bi là hư vọng
!
Phật dạy: Này Thiện nam tử ! Phật pháp sâu nhiệm khó hiểu.
Như Lai không có ưu bi khổ lạc, mà đối với chúng sanh khởi
lòng đại bi, hiện có ưu bi, và coi tất cả chúng sanh như
La Hầu La.
Này Thiện nam tử ! Ví như nhà ảo thuật làm các thứ lâu
đài nhà cửa, bắt, nhốt, mở thả, thậm chí giết người,...rồi
lại hóa ra vàng bạc, chim cá...nhưng tất cả đều không có
tánh chơn thật. Cũng như vậy, Như Lai thị hiện ưu bi...tùy
thuận thế gian mà không có chơn thật. Như Lai đã chứng nhập
Đại Niết Bàn, làm gì còn có ưu bi khổ lạc được nữa
! Nếu người nào nói rằng Như Lai chứng nhập Niết Bàn là
vô thường, nên biết, người đó có ưu bi khổ não. Trái
lại, người nói Như Lai nhập Niết Bàn nhưng Như Lai thường
trụ không có biến hoại. Nên biết, người này không còn
có ưu bi, hàng phàm phu và nhị thừa khó mà biết được !
Bởi vì người bậc hạ biết được pháp bậc hạ, không
biết được pháp bậc trung. Người bậc trung biết được
pháp bậc trung, không biết được pháp bậc thượng. Người
bậc thượng thì biết cả pháp bậc trung và bậc hạ. Do nghĩa
đó, hàng Thanh văn, Duyên giác chỉ biết ngang chừng bậc của
mình. Như Lai thì không như vậy, biết rõ bậc của mình và
biết rõ cả những bậc khác. Vì thế Như Lai được gọi
là bậc vô ngại trí, tùy thuận theo thế gian mà hóa hiện.
Kẻ phàm phu, nhìn Như Lai qua nhục nhãn họ cho là Như Lai có
ưu bi thật. Với căn cơ trình độ ấy mà muốn biết hết
vô ngại trí vô thượng của Như Lai là điều không thể có
được. Do lý lẽ đó, pháp ngã khác, pháp vô ngã khác; pháp
thường khác, pháp vô thường khác, pháp khổ khác, pháp lạc
khác. Đây gọi là ĐIỂU DỤ: Chim oan ương, chim Ca lân đề.
Này Thiện nam tử! Phật pháp cũng dường như hai thứ chim:
Oan ương và Ca lân đề vậy. Mùa thạnh hạ nước dâng lên,
lựa chọn gò nỗng cao làm ổ để cho con chúng ở. Việc đã
ổn rồì, sau đó chúng nó mới trở về chốn cũ mà ưu du
an ổn thong dong ! Như Lai xuất thế giáo hóa làm cho chúng sanh
đều được trụ nơi chánh pháp như chim kia lựa gò cao mà
lót ổ cho con chúng nó ở. Như Lai làm cho chúng sanh đều được
giải thoát, việc làm đã xong, bèn nhập Đại Niết Bàn như
chim kia bay về chốn cũ mà ưu du an ổn.
Này Thiện nam tử ! Như thế đấy, Như Lai gọi là pháp khổ
khác, pháp vui khác. Những hành pháp là khổ. Niết bàn là
vui vi diệu bậc nhất, vì đã phá hoại , tiêu vong hết các
hành pháp rồi !
Ca Diếp Bồ tát thưa: Bạch Thế Tôn ! Tại sao chúng sanh chứng
được Niết bàn gọi là an vui đệ nhất ?
Phật dạy: Thiện nam tử ! Đúng như lời Như Lai đã dạy:
Các hành pháp hòa hợp, gọi là pháp lão tử ưu bi:
Tinh
tấn không phóng dật
Đấy
gọi là cam lộ
Phóng
dật chẳng tinh tấn
Đây
gọi là tử cú
Nếu
người không phóng dật
Thì
được chỗ bất tử
Những
kẻ phóng dật kia
Thường
vướng vào tử lộ.
Phóng dật gọi là pháp hữu vi. Pháp hữu vi là khổ đệ nhất.
Không phóng dật gọi là Niết bàn. Niết bàn, gọi là cam lộ,
an vui đệ nhất.
Thế nào là phóng dật ? Thế nào là không phóng dật ? Hạng
phàm phu không phải thánh, gọi là phóng dật cho nên thường
chịu đựng sự ưu bi lão tử. Bậc thánh nhân xuất thế không
phóng dật, không có ưu bi lão tử, vì chứng nhập Niết bàn
an trú trong thường lạc đệ nhất.
Do nghĩa đó, nên Như Lai nói pháp khổ khác, pháp lạc khác,
pháp vô ngã khác. Người phàm phu, ngoại đạo khó biết, như
người đứng dưới đất, ngước mặt nhìn lên hư không,
chẳng thấy dấu chim bay.
Này Thiện nam tử ! Chúng sanh không có thiên nhãn, sống trong
phiền não vô minh, không tự thấy được Như Lai tánh và người
không có thiên nhãn chẳng biết được chân ngã, vọng chấp
có ngã, cho nên Như Lai bí mật mà nói với chúng sanh về pháp
"vô ngã".
Do các phiền não tạo nghiệp hữu vi. Chính đó là vô thường.
Cho nên, Như Lai nói pháp thường khác, pháp vô thường khác.
Này Thiện nam tử ! Mọi việc xảy ra đều có nhân duyên.
Đối với Như Lai tùy chỗ có chúng sanh đáng được hóa độ,
Như Lai thị hiện thọ sanh ở đó. Dầu thị hiện thọ sanh
nhưng thật không có sanh. Vì vậy nên Như Lai là PHÁP THƯỜNG
TRỤ, như chim Oan ương và chim Ca lân đề...tìm đồi nỗng
cao ráo để làm ổ cho con và vì con !
TRỰC
CHỈ
Điểu dụ mượn hai giống chim: chim Oan ương và chim Ca lân
đề để tỷ dụ. Hai giống chim này lúc ở cũng như khi bay
đi không bao giờ riêng lẽ. Chúng khắn khít nhau không thể
tách rời. Cho nên hễ có con một thì có con hai, con ba, con
bốn. Con bốn không rời con một. Bốn và một không ngoài
nhau.
Chân lý vô ngã, vô thường, khổ và bất tịnh cũng "là" nhau,
"tức" nhau như vậy. Vô ngã tức vô thường, vì là vô thường
cho nên vô ngã. "Vô thường", "vô ngã" tức là "khổ", không
thể nào có vui được. Đã "vô thường", "vô ngã", "khổ"
thì rõ ràng là cái thứ pháp không đem lại sự an ổn khoái
lạc cho ai. Nó là pháp khổ đau, là nguyên nhân khổ đau, nó
"bất tịnh"!
Hễ có một là có bốn. Bốn một không rời nhau, không ngoài
nhau, mà "là" nhau. Như chim Oan ương và chim Ca lân đề ấy.
Trái lại, người đệ tử thông minh của Phật hiểu rõ rằng:
Phật tánh là tánh "thường". Phật tánh là tánh bất
hoại. Tánh bất hoại là "thường'. Có thường tức có an
ổn. Có an ổn là có "lạc". Đã có "thường", có "lạc" thì
có "ngã", có "tịnh". Một là bốn, bốn là một, không
rời nhau, không ngoài nhau mà "là" nhau. Cũng như chim Oan ương
và chim Ca lân đề kia vậy.
* Như Lai hiện sanh ở cõi đời, nhìn bằng nhục nhãn, người
ta thấy Như Lai chẳng có gì khác với phàm phu. Ca Diếp Bồ
tát là người đại diện cho cái thấy đó. Rằng Như Lai có
thể có ưu bi khổ lạc ? Như Lai còn có ưu bi khổ lạc cho
nên Như Lai nhìn thấy cái khổ lạc của chúng sanh, Như Lai
cảm thương. Còn "cảm thương" hay "từ bi" hay ưu ái...gì đó,
thì cũng là một "vấn vương, vương vấn" chưa thoát khỏi
bận bịu buộc ràng !
Người đệ tử thông minh của Phật, phải hiểu cái tỷ dụ:
Chim Oan ương, chim Ca lân đề. Loại chim khôn ngoan tìm gò nỗng,
đến chỗ đất cao chỉ vì con, cho con mà đến. Đến lót
ổ, sắp xếp chỗ ở cho con khỏi sợ nguy hiểm của mùa nước
nổi rồi bay về chỗ cũ mà ưu du an ổn thong dong ! Chim không
hiện diện ở cùng đám con của chúng nhưng không phải là
chim đã chết mà chim ưu du tự tại thong thả nơi chốn cũ
của mình.
Như Lai hiện sanh ở cõi đời, chỉ dạy chân lý vô thường,
vô ngã, khổ, bất tịnh cho hạng người chỉ có khả năng
học lớp "bán tự". Rồi Như Lai cũng dạy: THƯỜNG, LẠC,
NGÃ, TỊNH cho những bậc đại căn chủng tánh Đại thừa.
Xong việc, Như Lai nhập Đại Niết bàn ở rừng Ta la song thọ.
Nhập Đại Niết bàn rừng Ta La Song Thọ qua nhục nhãn của
người bạc địa phàm phu, họ đều thương tiếc, khóc than,
vì họ nghĩ rằng Như Lai đã chết. Người đệ tử thông
minh của Phật, hiểu rõ rằng Như Lai "thường trụ", Như Lai
không có chết mất, chỉ vì sự vắng bóng, không hiện diện
của Như Lai !
* Bắt trói, mở thả, thậm chí giết người bằng kiếm, cắt
đứt bằng cưa mà nhà ảo thuật không có chút đau lòng, không
có khởi niệm oán thù, thương ghét. Người xem ảo thuật
cũng chẳng sợ hãi động tâm, vì kẻ ảo thuật, người xem
ảo thuật đều biết đó là "ảo thuật"! Như Lai đối với
chúng sanh có lúc Như Lai gọi là "thương xót", có lúc Như
Lai gọi là "giáo hóa", có lúc Như Lai gọi là "tế độ", chỉ
là làm cái việc "bắt trói", "mở thả", "chặt đầu", "cưa
cắt" của nhà "ảo thuật" tài ba ấy !
Là đệ tử thông minh của Phật, phải hiểu cho rõ rằng:
NHƯ LAI KHÔNG HỀ THƯƠNG AI !
MẶT TRỜI và ÁNH SÁNG MẶT TRỜI cho tất cả nhân loại mà
KHÔNG HỀ CHO AI HẾT !
* Hành pháp là pháp hữu vi bị chi phối bởi vô thường...cho
nên khổ và bất tịnh.
Niết bàn là vô vi, tánh thanh tịnh bản nhiên đó, bất sanh,
bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, bất
xuất, bất nhập, bất đoạn, bất thường, bất lai, bất
khứ. Niết bàn có đủ tánh chất: THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH,
nếu không gọi đó là: AN VUI ĐỆ NHẤT thì phải gọi đó
bằng gì ? Cho nên Phật dạy người đạt đến Niết bàn là
có được cái AN VUI ĐỆ NHẤT. Người có được Niết bàn
là người xa lìa phóng dật, vượt ra mọi phóng dật của
thân, khẩu, ý. Người có được Niết bàn là người không
còn bị KIẾN HOẶC, TƯ HOẶC, TRẦN SA HOẶC, VÔ MINH HOẶC,
tác động, chi phối, hoành hành.
Do nghĩa đó, Phật dạy: Người có được Niết bàn là có
cái an vui bậc nhất ./.