PHẨM
THỨ MƯỜI BA
VĂN
TỰ
Đức Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: Phật có thể sử dụng nhiều
ngôn ngữ, văn tự, kể cả những dị luận chú thuật như
các hàng ngoại đạo và còn có khả năng siêu việt ngoại
đạo nữa.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Thế Tôn sử dụng văn tự như thế
nào ?
Phật dạy: Văn tự căn bản của Như Lai sử dụng có: bán
tự và mãn tự. Ngoài ra đối với hàng bạc địa phàm phu
còn có một thứ văn tự nữa, gọi đó là vô tự. Vận dụng
văn tự giáo hóa chúng sanh, ban đầu Như Lai sử dụng bán
tự, để ghi nhận những sự kiện có thật trên cõi đời
như sách vở, dị luận, chú thuật, văn chương và các âm.
Phàm phu đọc, học bán tự căn bản sẽ biết được những
gì chánh pháp, những gì chẳng phải chánh pháp.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Bán tự Thế Tôn dạy có ý nghĩa thế
nào ?
Phật dạy: Bán tự có mười bốn âm:
A.
A giọng ngắn. A giọng dài.
Y.
Y giọng ngắn. Y giọng dài.
Ưu.
Ưu giọng ngắn. Ưu giọng dài. Yên. Đa. Phao. Am. Á. Ca. Khư.
Dà.
Mười bốn âm là căn bản của bán tự, để diễn đạt nghĩa
lý chơn phi chơn trên đường đến đích: Đại Niết Bàn.
TỰ có nghĩa: Đích đến, Niết bàn.
Hít thở không khí cong lưỡi lượn theo chiều, tác động
vào răng nướu, thanh theo giọng mũi, giọng răng để giải
bày ý nghĩa. Có tiếng ngắn, tiếng dài, giọng cao, giọng
thấp khác nhau.
Âm thanh phát ra chủ yếu có: Rằng. Nga. Giá. Xa. Xà. Thà. Nhã.
Tra. Trạch. Trà. Tô. Noa. Đa. Tha. Đà. Đạn. Na. Ba. Phả. Bà.
Phạm. Ma. Gia. Ra. Là. Hoa. Sa. Sá. Ta. Ha. La. Lô. Lưu. Lư. Lâu.
Văn tự và âm thanh có khả năng diễn đạt và chứa đựng
những cú nghĩa:
A:
Tam bảo thường trụ, rắn chắc như kim cương không thể phá
hoại.
AA:
Như Lai thường trụ, thân Như Lai không có tiết ra những thứ
bất tịnh, vì thân Như Lai không do huyết nhục tạo tác mà
hình thành. Thân Như Lai không phải do cửu khiếu, thất huyệt
hòa hợp nương gá mà có.
AA:
Có nghĩa A xà lê là người mô phạm được người đời tôn
trọng, vì là người thiểu dục tri túc. Người có thể cứu
độ chúng sanh vượt ra biển khổ tử sanh trong ba cõi...
Y:
Phật Pháp Tăng là tánh thanh tịnh trong sáng như mặt trăng
tròn. người đệ tử Phật phải biết việc nên làm, việc
không nên làm. Phải phân biệt thế này lời Phật nói, thế
kia lời ma nói. Người đệ tử Phật dứt bỏ tật đố như
nhà nông dọn sạch cỏ rác ruộng vườn để cho hoa màu thêm
tươi tốt.
ƯU:
Kinh Đại Niết Bàn là kinh tối thượng đối với các kinh.
Như Lai Tánh, hàng Thanh văn, Duyên giác chưa từng nghe biết.
Bồ tát nghe và lãnh thọ kinh này là người tối tôn đối
với đại chúng. Trái lại, người không tiếp nhận còn chê
bai Như Lai Tánh là người mê mờ không trí tuệ, đánh mất
nhân bản của mình, rất đáng thương xót. Họ không có cơ
hội trông thấy kho tàng bí mật Như Lai. Họ không thể tiếp
nhận thế nào là NGÃ, thế nào là VÔ NGÃ, thế nào là PHÁP,
thế nào là PHI PHÁP.
YÊN:
là mật khẩu của Phật tánh Niết Bàn
DÃ:
nói về tam nghiệp thân, khẩu, ý của Như Lai, nhất cử nhất
động đều lợi ích cho tất cả chúng sanh.
Ô:
chứa đựng ý nghĩa phiền não nhiễm ô. Như Lai thì dứt hết
những phiền não nhiễm ô ấy.
PHAO:
bao quát hết ý nghĩa Đại thừa và ý nghĩa của mười bốn
âm. Kinh Đại Niết Bàn cũng vậy, bao quát hết ý nghĩa vi
mật của các kinh luận khác.
AM:
chứa đựng ý nghĩa thanh tịnh. Ngăn dứt hành vi tích lũy
tám pháp bất tịnh. Xem thường hoặc vứt bỏ vàng bạc châu
báu như vứt bỏ tăm xỉa răng trong tay.
Á
có nghĩa thù thắng. Kinh Đại Niết Bàn hơn hết trong các
kinh.
CA:
chứa đựng ý nghĩa từ bi. Đối với chúng sanh xem như con
một của mình. Bình đẳng làm lợi ích, tốt đẹp cho tất
cả.
KHƯ:
có ý nghĩa là bạn chẳng lành, ô trược. Không có khả năng
tiếp nhận kho tàng bí mật của Như Lai.
DÀ:
có nghĩa kho tàng bí mật của Như Lai. Trong đây chỉ dạy
tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
RẰNG:
chứa ý nghĩa Như Lai thường hằng không biến hoại.
NGA:
diễn đạt ý tất cả hành pháp đều là tướng bị bại
hoại.
XA:
Như Lai ví như cây lọng lớn, che mát tất cả chúng sanh.
XÀ:
nói lên tánh giải thoát không có tướng già.
THÀ:
diễn đạt tánh phiền não rậm rạp như lùm rừng.
NHÃ:
nhận rõ tánh chơn thật không hư của trí tuệ đối với
sự nhận thức pháp tánh.
TRA:
chỉ rõ tánh tham, sân, si là ba mũi tên độc, người trí cần
xa lánh.
TRẠCH:
người nghe được kinh Đại Niết Bàn như đã được nghe
và thọ trì tất cả Kinh Đại thừa rồi !
Văn tự là phương tiện cụ thể hóa ý thức tư duy trừu
tượng. Âm thanh là công cụ diễn đạt những ý tứ văn tự
chuyển tải ở trong. Những VĂN TỰ và ÂM THANH như vậy có
thể làm cho tam nghiệp chúng sanh được thanh tịnh. Tuy nhiên,
Phật tánh của chúng sanh không phải nhờ văn tự rồi sau
đó mới được thanh tịnh. Bởi vì Phật tánh vốn thanh tịnh
nên dù hòa hợp trong ngũ ấm, lục nhập, thập nhị xứ, thập
bát giới, nhưng không bị đồng hóa bởi ấm, nhập, xứ,
giới. Vì vậy đối với Phật tánh, tất cả chúng sanh nên
quy y. Các Bồ tát hành sử theo Phật tánh, tùy thuận Phật
tánh, nhìn xem chúng sanh bình đẳng không có sai khác.
Vì vậy, bán tự giáo là căn bản tất cả kinh, sách, ký luận,
văn chương..Mặt khác, bán tự giáo lại cũng là thứ văn
tự, âm thanh, ngôn thuyết chứa đựng vô lượng vô biên phiền
não.
Trái lại, âm thanh, ngôn thuyết của mãn tự chứa đựng tất
cả thiện pháp, chuyên chở con người đến bờ giải thoát,
giác ngộ.
Đâu là ranh giới để biết thế nào là bán tự, mãn tự
? Ví như ở đời, người chưa đủ tư cách con người hoàn
thiện, người ác, gọi là "bán nhơn". người đầy đủ tư
cách, người thánh thiện, gọi là "mãn nhơn".
Tất cả kinh sách, ký luận, ngôn thuyết, văn tự Như Lai đều
vận dụng hành sử trong việc giáo hóa chúng sanh. Như Lai nói
giáo lý bán tự, nhưng Như Lai có chánh giải thoát, Như Lai
xa rời tất cả danh tự cho nên đối với tất cả pháp Như
Lai không bị chướng ngại, không nhiễm thấm, dính mắc; Như
Lai được chơn giải thoát. Người hiểu được như vậy là
người hiểu VĂN TỰ của Như Lai nói.
Người mà không tiếp thu nổi "mãn tự", chạy theo nghĩa lý
"bán tự", người này sẽ không có khả năng biết được
NHƯ LAI TÁNH (Phật tánh).
Trong giáo lý Như Lai dạy, ngoài hai nguồn giáo lý "bán tự"
và "mãn tự" còn có thứ văn tự vô văn, đó là VÔ TỰ.
Thế nào là VÔ TỰ ? Người gần gũi kẻ bất lương, tu tập
pháp bất chánh, bất thiện, gọi là tu học VÔ TỰ. Thành
phần vô tự giả sử có tu tập được pháp lành, nhưng cũng
không thể hiểu Như Lai thường hay vô thường, hằng hay phi
hằng. Đối với pháp và tăng cũng vậy. Họ không thể biết
thế nào là lời ma, thế nào là lời Phật. Người như thế
là người chạy theo VÔ TỰ.
Này Ca Diếp ! Người chạy theo VÔ TỰ, vĩnh viễn xoay vần
trong ba cõi, qua lại trong sáu đường, không có ngày an ổn.
Bán tự là con đường giải thoát nửa vời, hàng Thanh văn
đi theo con đường này.
Là Bồ tát phát tâm Đại thừa, cầu quả giác ngộ, giải
thoát vô thượng phải tu học MÃN TỰ.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Thế Tôn ! Chúng con phải khéo tu học
tự số. Nay con gặp được bậc Đạo sư vô thượng. Con đã
lãnh thọ những lời dạy bảo ân cần của Như Lai.
Phật khen: Lành thay ! Người ưa thích chánh pháp, muốn đến
tột đỉnh cao của giải thoát giác ngộ phải tu học như
vậy.
TRỰC
CHỈ
VĂN TỰ là ký hiệu để cụ thể hoá âm thanh. Âm thanh là
biểu hiện để diễn đạt ý tưởng của tâm tư, của nhận
thức. Ngữ ngôn là phương tiện để chuyển đạt ý tưởng
nhận thức cho đồng loại với nhau trong cuộc sống.
Do nghĩa đó, cuộc sống của loài người, quốc gia nào, chủng
tộc nào trên toàn thế giới hay nói rộng ra, trong mười phương
thế giới cũng đều có những thứ phương tiện tối cần
thiết ấy. Hòa mình trong cuộc sống của nhân loại, Như Lai
cũng không ngoại lệ, mặc dầu Như Lai thừa hiểu chân lý:
"NHẤT THIẾT CHƯ PHÁP TÙNG BẢN DĨ LAI, LY VĂN TỰ TƯỚNG,
LY NGÔN THUYẾT TƯỚNG, LY TÂM DUYÊN TƯỚNG, TẤT CÁNH BÌNH
ĐẲNG, BẤT KHẢ PHÁ HOẠI, DUY THỊ NHẤT TÂM, CỐ DANH CHƠN
NHƯ". Mã Minh Đại Sĩ, đệ tử của Như Lai, sau Phật mấy
trăm năm còn phát kiến cái chân lý cao ngút tận trời xanh
ấy. Vậy mà trên hành trình giáo hóa chúng sanh, Như lai sử
dụng VĂN TỰ, ÂM THANH, NGÔN NGỮ, há chẳng phải là phương
tiện trong phương tiện của bậc giác ngộ chí tôn vô thượng
đó sao ?
Nhận thức được mật ý của Như Lai, người đệ tử thông
minh của Phật, không cần đặt vấn đề mười bốn "âm",
ba mươi mốt thanh ấy thuộc về thứ văn tự gì trong những
văn tự cổ kim của nhân loại.
Đừng tìm hiểu VĂN TỰ, ÂM THANH của phẩm kinh Đại Niết
Bàn này theo cách định nghĩa của học vị thế gian, phí công
vô ích. Văn tự mà Như Lai dụng ý dạy cho chúng sanh hậu
thế có ba loại, tùy căn cơ chủng tánh, khả năng, nghị lực
của chính mình mà mình thọ dụng sự giải thoát giác ngộ
cho chính mình. Ba loại văn tự đó là:
Mãn
tự
Bán
tự
Vô
tự
Có khả năng tu học Mãn tự là hàng Bồ tát, quả vị chứng
đắc của họ tột đỉnh giải thoát giác ngộ: Đó là quả
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Có khả năng tu học Bán tự thôi, đích đến tột cùng chỉ
là: quả A La Hán, Bích Chi Phật.
Hạng người sống với Vô tự là hạng người không biết
gì về Phật, Pháp, Tăng tam bảo. Họ vĩnh viễn trôi lăn,
lặn hụp, chìm nổi trong ái hà thiên xích lãng, trong khổ
hải vạn trùng ba của tam giới, tứ sanh và lục đạo!
Bởi vì VÔ TỰ là gì ? Vô tự chỉ cho những hạng người
không có hạt giống Phật, hạng Nhất xiển đề, cho nên không
có phút giây ngừng đau khổ bởi vô minh, dục vọng hoành
hành.
Học BÁN TỰ là những người dựa trên giáo lý Tứ Đế,
Thập Nhị Nhân Duyên để mà tu học. Vì vậy, đích đến
của hạng người này là quả vị Tiểu thừa và Trung thừa:
A La Hán và Bích Chi Phật.
Trọn cuộc hành trình giáo hóa chúng sanh, bốn mươi chín năm
đằng đẵng, nhằm một mục đích, một bi nguyện là truyền
trao MÃN TỰ GIÁO cho hàng đệ tử ưu tú của mình, vì chỉ
có hàng đệ tử này mới giữ gìn gia nghiệp Đại thừa Pháp
Bảo của Như Lai. Chỉ có hàng Đại thừa chủng tánh đó
mới tiếp thu nổi nguồn tư tưởng:
PHẬT
THƯỜNG TRỤ. PHÁP THƯỜNG TRỤ. TĂNG THƯỜNG TRỤ. GIẢI THOÁT
THƯỜNG TRỤ. NIẾT BÀN THƯỜNG TRỤ./