PHẨM
THỨ MƯỜI
TỨ
THÁNH ĐẾ
Phật dạy: Này Ca Diếp ! Khổ Thánh Đế là pháp tu để dạy
cho người tu tập pháp Tứ Thánh Đế. Chí như trâu, bò, lừa,
ngựa v.v...chở chuyên cày kéo tận cùng khổ cực nhưng chỉ
có khổ, không phải khổ Thánh đế.
Này Ca Diếp ! Người không biết cảnh giới mầu nhiệm sâu
kín của Như Lai, không biết PHÁP THÂN vi mật thường trụ
của Như Lai, không biết phước đức trí tuệ oai lực của
Như Lai, cho rằng thân Như Lai cũng chỉ là thân tạp thực
như thân của mọi chúng sanh, không có PHÁP THÂN NHƯ LAI nào
nữa. Vì không có mắt trí tuệ nên chánh pháp thấy là phi
pháp. Phi pháp thấy là chánh pháp. Hiểu biết và tu hành như
vậy chỉ có KHỔ, không phải KHỔ THÁNH ĐẾ.
Người biết Như Lai thường trụ không biến hoại hoặc có
người nghe danh tự Như Lai "thường trụ" một lần thôi, họ
được sanh cõi trời. Về sau, khi được giải thoát họ chứng
biết đích thực: Rằng Như Lai thường trụ không biến hoại.
Rồi tự nhủ: Ngày trước ta từng nghe danh tự..."thường
trụ" nay được quả giải thoát mới chứng biết rõ ràng.
Đối với bản thể thanh tịnh pháp thân tỳ lô giá na, không
rõ biết nên luân hồi trong sanh tử ưu bi. Nay mới đích thực
chứng biết bằng cái biết của chính mình.
Phật dạy: Này Ca Diếp ! Người có sự hiểu biết như vậy,
là người đích thực tu tập KHỔ THÁNH ĐẾ. Họ sẽ được
quả báo lớn lao trên bước đường đi tới Đại Niết Bàn.
Người không hiểu biết Pháp thân Như Lai thường trụ, dù
siêng năng tu tập cũng không được lợi ích gì. Đấy gọi
là tu khổ đế, chịu cực khổ, không tương quan gì đến
KHỔ THÁNH ĐẾ của Như Lai dạy.
Này Ca Diếp ! TậpThánh Đế là đối với pháp chân chính
không sanh chơn trí. Tam thường bất túc là cận nhân của
sự giải thoát. Thế mà ở nơi đây thọ tám thứ vật bất
tịnh để tự vui. Ngộ nhận phi pháp cho là chánh pháp. Chánh
pháp cho là phi pháp. Do nhân duyên đó tà pháp có cơ hội thạnh
hành. Chánh pháp ngày càng mai một. Đối với pháp tánh hoàn
toàn mờ mịt như người khiếm thị đi đêm.
Sự thiếu hiểu biết chánh pháp làm cho người tu hành không
có giải thoát mà luôn luôn lăn lộn xuống lên trong vòng luân
hồi sanh tử ưu bi. Phước lạc cõi trời cũng không có cơ
may thọ dụng. Sự hiểu biết nông cạn, làm tổn giảm chánh
pháp của Như Lai. Đó gọi là Tập đế, không phải TẬP THÁNH
ĐẾ. Biết được pháp tánh là thường trụ là biết TẬP
THÁNH ĐẾ.
Phật dạy: Này Ca Diếp ! Diệt Thánh Đế là cách gọi khác
của Niết Bàn. Nói khác đi, Diệt Thánh Đế tức là Niết
Bàn. Do vậy, Diệt Thánh Đế không phải là KHÔNG, rỗng
không như ngoại đạo lầm tưởng. Thế cho nên người ta tu
QUÁN KHÔNG, rồi trụ chấp ở pháp KHÔNG, đó là tu sai lầm
chánh pháp, không phải tu Diệt Thánh Đế. Nếu Diệt Thánh
Đế là KHÔNG, các hàng ngoại đạo cũng tu pháp KHÔNG lẽ
ra họ cũng có Diệt Thánh Đế ? Pháp tu của ngoại đạo họ
QUÁN KHÔNG, rồi trụ chấp ở pháp NGOAN KHÔNG, đó là tu sai
lầm chánh pháp, không phải Diệt Thánh Đế. Ngoại đạo không
hề có Thánh Đế. Thế nên chúng ngoại đạo dù có khổ công
tu luyện nhưng thường ở trong vòng luân chuyển trong tam giới
bất an. Người biết được rằng Diệt Thánh Đế là chân
pháp, không đồng với pháp KHÔNG của ngoại đạo. Đó là
người hiểu được bí mật tạng Như Lai. Người này dầu
chưa thấy, chưa chứng, nhưng đến khi trừ hết phiền não
thì hoát nhiên trong một niệm được tự tại đối với tất
cả pháp.
Lúc bấy giờ quán sát thấy: Tất cả pháp đều là Phật
pháp. Người có nhận thức như vậy, là người thực biết
Diệt Thánh Đế. Nếu hiểu biết sai lầm Diệt Thánh Đế,
có thể rơi vào tánh "ngoan không" của ngoại đạo, không phải
là đệ tử của Như Lai Thế Tôn.
Này Ca Diếp ! Đạo Thánh Đế tức là Phật bảo, Pháp bảo,
Tăng bảo và chánh giải thoát. Có hạng người bạc địa
phàm phu cho rằng: không Phật, không Pháp, không Tăng và không
có chánh giải thoát. Do kiến chấp này (đoạn) nên luân chuyển
trong ba cõi chịu nhiều bức não ưu bi. Nếu người có trí
tuệ nhận biết: Rằng Phật thường trụ, Pháp, Tăng và chánh
giải thoát cũng thường trụ. Nhờ niệm chân chính sanh khởi,
mà hiện đời cũng như hậu thế vô lượng kiếp được quả
báo tự tại đối với các pháp.
Phật dạy: chính như ta đây, trong nhiều kiếp lâu xa do bốn
thứ điên đảo nên phải nhận lấy vô lượng nghiệp quả
xấu. Nay ta đã diệt hết kiến chấp sai lầm điên đảo thành
tựu quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. tức là thành
tựu Đạo Thánh Đế !
Nếu có người tu tập nhận biết rằng Tam Bảo là thường
trụ, chánh giải thoát là thường trụ, người này là đệ
tử của Phật, chân chánh tu tập "Tứ Thánh Đế" pháp của
Phật dạy.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Thế Tôn ! Nay con mới biết: TỨ THÁNH
ĐẾ PHÁP rất sâu xa, mầu nhiệm, con nguyện y giáo phụng
hành.
TRỰC
CHỈ
Giáo lý TỨ ĐẾ trong đạo Phật có nhiều người Phật tử,
thậm chí chưa chánh thức là Phật tử, đọc qua một ít trang
kinh sách Phật, người ta có thể tự cho rằng mình đã biết
đã hiểu giáo lý TỨ ĐẾ rồi. Rằng đó là KHỔ ĐẾ, TẬP
ĐẾ, DIỆT ĐẾ và ĐẠO ĐẾ, đâu có gì lạ !
Đúng ! Nhưng giáo lý Tứ Đế không chỉ có vậy. Giáo lý
TỨ ĐẾ có thể gọi nhiều tên: TỨ ĐẾ. TỨ DIỆU ĐẾ.
TỨ CHƠN ĐẾ. TỨ THÁNH ĐẾ.
Mỗi tên có ý nghĩa khác nhau, vì vậy phải học giáo lý TỨ
ĐẾ qua bốn tên và bốn tầng sâu cạn cao thấp do nhãn quan
của con người, tùy chứng đắc, tùy trình độ căn cơ.
Giáo lý TỨ ĐẾ, Phật thuyết thời pháp đầu tiên sau khi
thành đạo, được Vô Thượng Bồ Đề, Vô Thượng Niết
Bàn dưới cội cây Tất Bát La, dạy cho năm vị Thiện lai
Tỳ kheo, nhóm ông Kiều Trần Như...ở Lộc Giả Uyển. Thời
pháp TỨ ĐẾ này độ cho năm người chứng được quả thánh:
A La Hán quả. Từ đây có được cái từ TAM BẢO TỐI SƠ:
Phật
- Thích Ca Mâu Ni.
Pháp
- Tứ Đế.
Tăng
- gồm năm vị Tỳ kheo: Kiều Trần Như, A Thấp Bệ, Bạt Đề,
Ma Ha Nam và Thập Lực Ca Diếp.
Giáo lý Tứ Đế này Phật dựa trên hiện tượng có sanh có
diệt của vạn pháp chia thành hai phạm trù nhân quả:
Nhân
quả còn ở trong thế gian MÊ mờ: KHỔ ĐẾ, TẬP ĐẾ.
Nhân
quả của người ở trong thế giới tỉnh NGỘ: DIỆT ĐẾ.
ĐẠO ĐẾ.
Đây gọi là SANH DIỆT TỨ ĐẾ. Sanh Diệt Tứ Đế thường
gọi với cái tên TỨ ĐẾ mà thôi.
Dưới nhãn quang của người tu chứng chân lý, có được pháp
nhãn, người ta nhìn và nhận thức KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO
khác hơn người phàm phu nhận thức KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO
theo bài bản của sanh diệt Tứ Đế. Trình độ giác ngộ
chân lý của hạng người này, họ nhìn thấy được bản
chất của KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO vốn là phi bản chất; nghĩa
là nó không có cái thực chất đích thực.
Bởi vì nhận định rằng: Trước sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp thấy chúng là nguyên nhân của KHỔ, do người.
Thấy chúng là những thứ trang trí làm đẹp cho cõi đời,
làm cho cuộc sống đáng sống, cũng do người.
Thế cho nên KHỔ không thực chất để sanh. TẬP, DIỆT, ĐẠO
cũng không thực chất để sanh. Lấy pháp nhãn mà nhìn thì
rõ là Tứ Đế "VÔ SANH".
Đó là chỗ MẦU NHIỆM của giáo lý TỨ ĐẾ, cho nên
có tên: TỨ DIỆU ĐẾ. Tứ Diệu Đế cũng gọi là VÔ SANH
TỨ ĐẾ, từ cơ sở đó.
Bằng cách nhìn khác của con người chứng đạo có được
tuệ nhãn, các ngài thấy rằng KHỔ ĐẾ không phải chỉ có
người nghèo thiếu, đói rách, cực nhọc, vất vả một nắng
hai sương để đổi lấy miếng ăn cái mặc mới là KHỔ.
Người chứng đạo còn thấy tất cả: Quốc vương, Tổng
thống, Bộ trưởng, Đại thần, cán bộ, tam công, bách quan,
vạn dân đều khổ hết. Chẳng qua mỗi địa vị, mỗi đẳng
cấp chịu lấy cách khổ khác nhau mà thôi. Nhìn sâu thực
trạng cuộc sống, hoàn cảnh, môi trường, hành động, thực
hiện...đều có sự vô an bất trắc như luôn luôn rình rập
sẵn sàng đoạn mạng con người ! Vì vậy dưới nhãn quang
của người đạt đạo: khổ nhiều lắm, nhìn đâu cũng có
cái mầm khổ ở trong nội tại: KHỔ ĐẾ VÔ LƯỢNG ! Nhìn
qua khu vực TẬP ĐẾ, DIỆT ĐẾ và ĐẠO ĐẾ, người chứng
đạo cũng thấy rõ tánh chất VÔ LƯỢNG của mỗi đế.
Làm quan, làm vua, làm Tổng Thống ai chẳng nghĩ rằng: mình
đạt đến "vinh quang tột đỉnh" ! Uy quyền cái thế chấn
bị sơn hà ! Có mấy ai ngờ rằng: Vinh quang đó, uy dũng chấn
sơn hà đó có thể làm nên bản án, tù tội cho mình ! Những
người làm nông không phải là nghề tội lỗi, vậy mà có
người làm nông gây cho mình tội lỗi, thậm chí có trường
hợp mất mạng với nhau. Lương y, bác sĩ là nghề nghiẹp
dễ làm việc "độ thế cứu nhơn" vậy mà cũng có bác sĩ,
lương y không làm ra được chút phước đức nào mà còn tạo
ra vô vàn bất thiện nghiệp ! Hàng giáo sĩ, bậc sa môn, đức
giáo chủ..ai cũng những tưởng đó là bậc thánh thiện khả
kính bậc nhất trên đời. Vậy mà đặt trọn niềm tin, gởi
hết lòng tôn kính vào các ngài "thay mặt cõi trên" ấy cũng
cần phải vận dụng "văn tư tu", lấy "tứ y pháp" ra làm chuẩn,
may ra mới khỏi thất vọng và thiệt thòi !
DIỆT ĐẾ và ĐẠO ĐẾ cũng vô lượng. Bởi lẽ người đạt
đạo nhìn đâu cũng thấy Niết bàn. Ở đâu cũng là Niết
bàn. Nhìn đâu cũng là pháp thiện. Ở đâu cũng có thiện
pháp để thực hành, trang nghiêm thế gian. Do vậy, qua cái
thấy biết, nhận thức của người đạt đạo: KHỔ ĐẾ,
TẬP ĐẾ, DIỆT ĐẾ, ĐẠO ĐẾ, đế nào cũng "vô lượng".
Đó là sự thật. Đó là chân lý. Vì vậy có tên gọi "Tứ
chơn đế". TỨ CHƠN ĐẾ tức là VÔ LƯỢNG TỨ ĐẾ vậy.
Dùng Phật nhãn quan sát vũ trụ nhân sanh, PHÁP GIỚI NHẤT
CHÂN, BÌNH ĐẲNG BẤT NHỊ ! Giáo lý TỨ ĐẾ Phật dạy
hơn bốn mươi lăm năm qua, sử dụng Phật nhãn và Phật trí
mà soi rọi thì không có ĐẾ nào !
Phiền
não và Bồ đề không có hai tánh. Phiền não tức Bồ đề.
Sanh
tử và Niết bàn không có hai cảnh. Sanh tử tức Niết bàn.
Khi mê chỉ thấy phiền não, không thấy giác tánh Bồ đề.
Lúc ngộ, Bồ đề giác tánh hiển hiện ra, mê tình tan biến
mất. Tùy thuận chân lý, ngay trong cõi đời sanh tử đã tự
thọ dụng Niết bàn. Không nhận thức giác ngộ chân lý, tự
mình đánh mất Niết bàn mà mình đang thọ dụng. Đó là ý
nghĩa: VÔ TÁC TỨ ĐẾ. Nói cách khác. VÔ TÁC TỨ ĐẾ là
không làm gì hết, không có ĐẾ nào hết. Đối với Phật
nhãn: PHÁP NHĨ NHƯ THỊ. Ai hiểu được chân lý đó mới là
người hiểu biết TỨ THÁNH ĐẾ ở kinh Đại Niết Bàn./.
*****