PHẨM
THỨ CHÍN
TÀ
CHÁNH
Bồ tát Ca Diếp thưa: Theo lời Phật dạy, người đệ tử
Phật trên đường tu hành nếu lơi cảnh giác có thể nhận
lầm lời nói của ma mà tưởng là lời Phật dạy. Vậy chúng
con phải làm sao để phân biệt được lời Phật và lời
mê hoặc của ma ?
Phật dạy: Sau Như Lai nhập Niết bàn, hậu thế sẽ có ma
ba tuần nhiễu loạn chánh pháp, lập lờ dối hiện hình tướng
sa môn mặc ca sa của Tỳ kheo mà tâm địa là anh thợ săn
đổi lốt. Ma ba tuần giả làm Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà
tắc, Ưu bà di. Nó còn thể hiện hình tướng Tu Đà Hoàn...A
La Hán. Nó cũng hóa làm hình Phật. Chúng tuyên thuyết rộng
rãi rằng: Xưa kia Bồ tát ở cung trời Đâu suất chết rồi
sanh vào hoàng tộc của Tịnh Phạn Vương, thành Ca Tỳ La Vệ.
Nương sự ái dục hòa hợp của cha mẹ mà có thân. Không
bao giờ có người nào sanh trong loài người mà được đại
chúng, người trời cung kính tôn trọng như vậy. Chúng còn
nói xưa kia Phật từng tu hạnh bố thí. Cho cả đầu, mắt,
tay, chân, quốc thành, thê tử nên nay được thành Phật. Vì
vậy, nay được người, trời và đại chúng tôn trọng cung
kính.
Nếu kinh, luật, luận nào nói như vậy là lý lẽ của ma.
Nó lấp liếm, lập lờ nhằm làm chiết giảm giá trị Pháp
thân thường trụ bất sanh bất diệt của Như Lai.
Này Ca Diếp ! Kinh luật luận nào nói Như Lai Chánh Đẳng Chánh
Giác đã thành Phật từ lâu, vì muốn hoá độ chúng sanh nên
nay thị hiện làm Phật, vì tùy thuận thế gian nên thị hiện
có cha mẹ, rồi cũng tùy thuận chân lý tục đế thế gian
cũng nương ái dục hòa hợp của cha mẹ mà được sanh ra.
Kinh luật nói như vậy là đúng lời Như Lai nói. Nếu ai tin
theo lời của ma, những người đó là quyến thuộc của ma.
Người nào nghe lời Phật tùy thuận kinh luật Phật, người
đó là đệ tử Phật, là Bồ tát hiện đời.
Nếu bảo rằng: Không nên tin chuyện Như Lai mới sanh ra, đi
bốn phương mỗi phương bảy bước ? Đó là luận điệu của
ma.
Nếu nói: Như Lai sanh ra, cả tám phương mỗi phương đi bảy
bước, đó là Như Lai phương tiện thị hiện. Đó là kinh
điển, lời Phật nói.
Nếu nói: Sau khi Bồ tát giáng sanh, phụ vương cho người đem
đến miếu thờ trời, tất cả chư thiên thần: Đại tự
tại thiên, Đại phạm thiên...Đế thích....thảy đều chấp
tay lễ chân Bồ tát. Đấy là lời của Phật.
Nếu gạn rằng: Trời sanh trước, Phật sanh sau, cớ sao chư
thiên lễ kính Phật. Lời gạn này là luận điệu của ma
ba tuần.
Nếu chỗ nào nói: Lúc làm Thái tử, vì lòng tham dục Bồ
tát cưới vợ hưởng thọ khoái lạc ở hoàng cung..Đấy là
luận điệu của ma.
Nếu nói: Bồ tát từ lâu xa đã lìa bỏ tham dục vợ con cho
đến sự vui vi diệu của cõi trời Đao lợi như bỏ đàm
mũi, huống là sự vui ngũ dục ở cõi người. Bồ tát cạo
bỏ râu tóc xuất gia hành đạo chỉ là phương tiện thị
hiện. Đấy là lời Phật nói.
Nếu kinh điển nào nói: Tại Kỳ hoàn tịnh xá ở nước Xá
Vệ, do lòng đại từ thương xót chúng đệ tử, đức Phật
cho phép các đệ tử Tỳ kheo nuôi tôi tớ, trâu dê...chứa
vàng bạc châu báu..cho buôn bán gieo trồng...gây dựng sự
nghiệp..Phải biết đấy là lời của ma.
Nếu nói rằng: Tại nước Xá Vệ, nơi tịnh xá Kỳ Hoàn,
trước vua Ba Tư Nặc và Cổ Chi Đức Bà la môn, đức Phật
cấm các Tỳ kheo không được nuôi, chứa tám thứ vật bất
tịnh đã nói trên. Trái phạm các điều này không được
ở trong hàng Tỳ kheo Tăng. Phải đưa ra khỏi đại tăng, như
cỏ mọc trong ruộng lúa cần phải nhổ bỏ. Đấy là kinh
điển Phật nói.
Nếu nói rằng Thái tử là Bồ tát, thị hiện vào miếu thờ
trời, ở trong pháp ngoại đạo xuất gia tu hành, thị hiện
học tất cả oai nghi lễ giáo, biết tất cả văn tự kỹ
nghệ, thị hiện làm bậc tôn quý nhất trong các giai cấp
của xã hội; dù vậy, nhưng Bồ tát chẳng có lòng luyến
ái, như hoa sen không nhiểm nước đục bùn nhơ. Vì độ chúng
sanh, Bồ tát thị hiện tùy thuận thế pháp. Nói những lời
trên là lời Phật. Nói trái lại là lời của ma.
Nếu có người cố chấp chín bộ kinh, không tin kinh điển
Phương Đẳng Đại thừa. Họ cho rằng không phải lời Phật
nói, vì kinh điển của họ không có. Phải biết, người này
có tội. Không phải đệ tử chân chính của Phật.
Nếu sách vở nào nói: Như Lai không phải là kết quả của
vô lượng công đức mà là vô thường biến đổi. Do tu chứng
pháp không nên tuyên nói lý vô ngã không thuận với thế gian.
Đấy là lời của ma.
Nếu nói: Như Lai là bậc Vô Thượng Chánh Biến Tri Giác không
thể nghĩ bàn, là kết quả của vô lượng công đức, là
thường trụ không biến đổi. Đấy là lời Phật.
Nếu có thầy Tỳ kheo đối với đạo giải thoát giác ngộ
không có chứng đắc gì mà dối hiện tướng oai nghi ra vẻ
người chứng đắc và cũng nói được các pháp hơn người.
Người này phạm tội tứ trọng. Như viên đá bẻ hai, không
liền lại được nữa.
Nếu có thầy Tỳ kheo giới đức trong sạch, ít muốn, biết
đủ, ở chốn vắng vẻ, tự tại khinh an. Vua quan gặp cung
kính tôn trọng cho là bậc A La Hán. Rồi ngợi khen rằng: Đại
sư đây trong tương lai sẽ chứng quả Vô thượng Bồ đề.
Thầy Tỳ kheo nghe rồi liền cải chánh: rằng mình chưa chứng
quả Thánh và khuyên vua quan chớ nhận lầm. Nhà vua vẫn cố
kính tin và loan truyền cho mọi người cùng tôn trọng cúng
dường. Đấy là thầy Tỳ kheo thực có giới đức trong sạch
nên có hành động xử sự như thế. Thầy Tỳ kheo này dù
được sự cung kính cúng dường của vua quan, của mọi người
mà không mắc tội tứ trọng. Ai nói Tỳ kheo này tội là lời
xuyên tạc ganh tỵ của ma.
Có thầy Tỳ kheo tuyên thuyết giáo điển Đại thừa thậm
thâm của Phật: Rằng tất cả chúng sanh đều có Phật tánh.
Vì có Phật tánh nên ai cũng có thể dứt trừ vô lượng phiền
não thành bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác; trừ hạng
người Nhất xiển đề. Nếu có người hỏi: Thầy có Phật
tánh chăng ? Có sẽ được thành Phật không ? Thầy Tỳ kheo
đáp: Chính tôi đây có Phật tánh. Còn thành Phật ngang với
địa vị nào, chưa có thể nói quyết định. Bởi vì đến
đỉnh cao của quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác còn
tương quan với nghị lực của con người liên hệ với thời
gian và sức tinh tấn…nữa. Lại có người hỏi Tỳ kheo:
Đại đức không phải Nhất xiển đề chắc chắn được
thành Phật ư ? Thầy Tỳ kheo đáp: Đúng vậy.
Cương vị một thầy Tỳ kheo, xác định kiến giải của mình
như thế đối với giáo nghĩa Đại thừa, thầy Tỳ kheo nầy
xứng đáng là một Bồ tát đệ tử Phật. Nói và hiểu ngược
lại là lời của ma.
Ma vương lại bảo rằng: Không có bốn tội trọng, mười
ba tội tăng tàng, hai tội bất định, ba mươi tội xả đọa,
chín mươi tội đọa, bốn pháp hối quá, trăm pháp phải học,
bảy pháp diệt tránh, nhẩn đến không có tội thô, tội nghịch,
nhất xiển đề. Nếu các Tỳ kheo phạm các tội trên mà phải
đọa địa ngục thì hàng ngoại đạo lẽ ra đều phải được
sanh lên cõi trời, cõi Phật cả. Vì ngoại đạo chẳng có
thọ giới gì nên chẳng có giới gì để phạm. Đó chẳng
qua Như Lai muốn khủng bố người nên nói các điều giới
ấy. Và đấy là các Luật sư vọng nói là lời Phật chế,
kỳ thật không phải Phật chế như thế. Tất cả luận điệu
trên là điển từ của ma.
Người trân trọng giữ gìn giới cấm thân, khẩu, ý sẽ thanh
tịnh, không phạm điều tội lỗi như rùa giấu kín sáu chi.
Nếu có luật sư nói: Giới cấm có phạm cũng chẳng có tội
báo gì ! Người chân chánh đệ tử Phật không thân cận luật
sư ngụy thuyết như vậy. Giới cấm Phật chế ra, giới trọng,
giới khinh mỗi mỗi đều có dị ý, đều có công năng phòng
phi chỉ ác. Nếu phủ nhận công năng giữ giới thì lấy pháp
gì để chỉ ác phòng phi tam nghiệp ?
Trong các kinh điển Như Lai từng dạy: Nếu có phạm giới
trọng cũng như khinh, phải theo luật mà trị tội. Bởi vì,
nếu chúng sanh không giữ gìn cấm giới thì sao có được
Định. Định không có làm sao có Tuệ. Không có tuệ làm sao
thấy được Phật tánh ? Dầu tất cả chúng sanh đều có
Phật tánh nhưng phải có trì giới rồi sau mới được thấy.
Do thấy Phật tánh mà được quả Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác. Trong chín bộ kinh không có Phương Đẳng Đại
thừa cho nên không có nói Phật tánh. Dầu không nói, người
đệ tử Phật có chủng tử Đại thừa phải biết có Phật
tánh. Phật tánh là tánh thanh tịnh vốn có của mọi chúng
sanh.
Người nào nói và hiểu như vậy là đệ tử Phật. Ngược
lại, là quyến thuộc của ma.
Ca Diếp Bồ tát thưa ! Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh
nhưng trong chín bộ kinh chưa từng nghe thấy điều này. Giờ
đây lại nói rằng có thì sao không phạm trong tội tứ ba
la di.
Phật dạy: Này Ca Diếp ! Như lời ông hỏi, trường hợp đó,
không mắc tội tứ ba la di. Ví như có người nói trong biển
cả chỉ có bảy thứ báu, không có tám thứ. Người đó không
có lỗi. Cũng vậy, nếu căn cứ giáo lý của chín bộ kinh
mà nói rằng không có Phật tánh thì không mắc tội. Vì Như
Lai ở trong biển lớn Đại trí, Đại thừa mới nói có Phật
tánh. Với tiểu trí của hàng Nhị thừa họ không thấy biết
nên nói là không Phật tánh, trường hợp đó không bị phạm
tội. Cảnh giới này là chỗ thấy biết của Phật, chẳng
phải hàng Thanh văn Duyên giác biết được.
Này Ca Diếp ! Người không được nghe tạng pháp thậm thâm
bí mật của Như Lai thì làm sao biết có Phật tánh ! Pháp
thậm thâm bí mật của Như Lai, chính là kinh điển Đại Thừa
Phương Đẳng vậy.
Này Ca Diếp ! Các hàng ngoại đạo, hoặc nói ngã thường
còn, hoặc nói ngã đoạn diệt. Như Lai không nói như vậy.
Có nhân duyên Như Lai nói không ngã (vô ngã). Có nhân duyên
Như Lai nói có ngã (hữu ngã). Đấy gọi là Trung đạo.
Nếu có người nói: "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh".
Nhưng vì phiền não che lấp nên không dễ thấy biết. Vì vậy,
muốn thấy biết Phật tánh cần tinh tấn tu tập gột rửa
phiền não sạch hết, Phật tánh sẽ hiện ra. Ai nói lời đó,
không phạm tội ba la di. Không nói như vậy là người có ý
đồ "tự tôn ngầm" mắc tội ba la di (một trong tứ trọng
tội).
Nếu có người nói: "Tôi đã thành Phật, vì tôi có Phật
tánh". Nói như vậy bị phạm tội ba la di. Bởi vì dầu có
Phật tánh nhưng chưa tu tập thiện pháp nên chưa được thấy.
Vì phiền não chưa sạch, Phật tánh chưa hiện ra nên chưa
được nói "Tôi đã thành Phật".
Này Ca Diếp ! Do những nghĩa như vậy, nên Phật pháp rất
sâu xa vi diệu không thể nghĩ bàn.
Ca Diếp Bồ tát thưa: Có vị quốc vương hỏi: "Thế nào là
thầy Tỳ kheo mắc phải tội đại vọng ngữ ?"
Này Ca Diếp ! Phật dạy: Nếu có thầy Tỳ kheo vì cầu lợi,
vì ăn uống làm những việc dua nịnh, gian xảo, dối trá,
lừa gạt, chủ ý làm cho người đời lầm tưởng là bậc
khất sĩ tu hành chân chánh, để có được danh to lợi lớn...và
để cho hàng Ưu bà tắc, Ưu bà di, người đời tưởng mình
là bậc A La Hán, là bậc thánh nhân. Thầy Tỳ kheo làm trò
giả trá đó, thực chất là một kẻ ngu tự dối gạt mình,
tự đánh mất mình chỉ vì cầu nhiều lợi lộc, cầu nhiều
đệ tử xuất gia, tại gia kết làm quyến thuộc. Tỳ kheo
này cầu danh vọng, sự nghiệp, không cầu pháp. Vì ý đồ
đen tối, thường tự bó buộc, giả hiện tướng nói mỹ
miều, dáng đi thanh thản, thế ngồi bệ vệ oai nghiêm...để
cho mọi người trông vào thấy mình là người chứng A La Hán.
Nhờ vậy hàng Ưu bà di, hàng phụ nữ càng thêm cung kính cúng
dường, đậm đà mến tưởng. Nếu có thầy Tỳ kheo hay Tỳ
kheo ni nào làm những điều như vậy thì mắc phải tội Đại
vọng ngữ.
Này Ca Diếp ! Ngược lại việc làm trên, nếu có thầy Tỳ
kheo hay Tỳ kheo ni, vì muốn kiến lập chánh pháp, truyền bá
Đại thừa, tạo nơi yên vắng, tự biết mình chưa phải A
La Hán, nhưng mọi người cứ tự tin tưởng. Họ tưởng mình
là A La Hán thật. Thầy Tỳ kheo này dạy cho các Tỳ kheo, Tỳ
kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di những người có nhiều sai phạm,
củng cố tâm lành phát nguyện trì giới, tu học chánh pháp.
Do vậy, chánh pháp được kiến lập, làm rạng rỡ pháp thậm
thâm vô thượng của Như Lai, phát triển Phương Đẳng Đại
thừa, độ vô lượng chúng sanh. Làm được việc như vậy
là Tỳ kheo tốt, đáng sống đời sống tịch tĩnh vắng vẻ
mà không mắc tội giả trang thiền tướng, dối hiện oai nghi,
phờ phỉnh lừa dối người. Tỳ kheo này có thể nói rộng
trước mọi người : Tôi có Phật tánh. Tôi có kinh điển
gọi là tạng bí mật của Như Lai. Tôi quyết định được
thành Phật. Tôi có thể dứt hết vô lượng phiền não kiết
sử. Rồi vì hàng Ưu bà tắc, Ưu bà di mà tuyên nói: "Tất
cả các vị đều có Phật tánh. Tất cả các vị đều có
cả năng thành Phật. Các vị sẽ được thành Phật". Tỳ
kheo, Tỳ kheo ni nói những lời trên là Tỳ kheo tốt, phát
huy chủng tánh Đại thừa cho mình, cho nhiều người. Tỳ kheo
như thế không mắc tội vọng ngữ trong tứ ba la di mà đây
chính thực là Bồ tát, đệ tử Phật.
Trong Phật pháp, pháp tắc của sa môn phải sanh lòng tôn trọng,
lòng từ bi làm lợi ích chúng sanh. Những tội nhỏ như: Đột
kiết la, thâu lan giá, cũng phải giữ gìn, không nên sai phạm.
Xa lìa rượu thịt, sắc dục lúc tỉnh cũng như lúc mộng
mị chiêm bao. Đi khất thực khi nhận được sự cúng dường
khởi niệm tưởng "bất đắc dĩ" như người ăn thịt con
trong thời đói kém !
Đây là pháp tắc hành đạo của sa môn. Đây là kinh luật
của Phật nói. Thuận theo lời này là Bồ tát. Ngụy biện
ngược lại là lời ma, thuận theo nó là quyến thuộc của
ma.
Nếu có nói: Đức Phật đã tu khổ hạnh, nên cho đệ tử
mình tu khổ hạnh: Như đứng một chân, co một chân. Tay nắm
chặt đưa lên bất động, miệng nhai lá đắng. Nằm lăn lộn
trên tro đất, phân nhơ. Nhịn đói không ăn hoặc ăn phân
bò. Nằm trên than lửa. Tự đốt thân thể. Tự trói cột
tay chân. Nín câm không nói. Hoặc tuyên nói: Như Lai cho phép
đệ tử tự sát bằng nhiều cách: Từ núi cao nhảy xuống.
Nhảy xuống hố thẳm vực sâu. Nhảy từ ngọn cây. Nhảy
vào lửa dữ. Uống thuốc độc. Tự mổ bụng mình. Xông pha
chỗ hiểm nạn...Kẻ nào nói Như Lai chủ trương tu bằng phương
pháp khổ hạnh; nói Như Lai cho phép tự sát bằng mọi hình
thức, đó là lời của ma. Như Lai không bao giờ dạy những
điều phi chân lý cho những ai muốn đi con đường giải thoát
giác ngộ.
Lại này Ca Diếp ! Những người tà kiến họ luyện bùa mê,
ngải lú, sai sử hại người. Những con nhà đồ tể, những
người không căn, hai căn, bất định căn, hoặc lục căn không
đủ Phật không cho xuất gia hành đạo. Kẻ nào nói Như Lai
thâu nhận những người này làm sa môn, cộng trụ với Tỳ
kheo chúng là ma tráo trở. Người đó bản chất quyến thuộc
của ma.
Này Ca Diếp ! Người đệ tử Phật phải nhớ rành rõ về
tám pháp bất tịnh để viễn ly. Phải có chánh niệm nhớ
lời Phật: Là Tỳ kheo "Tam thường bất túc" mới xứng đáng
"thiểu dục đạo nhân". Sống trái tiêu chuẩn đó là lối
sống của ma, dân ma và quyến thuộc của ma.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: Bạch Thế Tôn ! Nay con mới biết
rõ chỗ sai biệt giữa lời Phật nói cùng lời ma nói. Nhơn
đây, con ngộ nhập nghĩa nhiệm mầu sâu xa của Phật pháp.
TRỰC
CHỈ
Tà chánh, cặp phạm trù này phổ biến trong nhiều lãnh vực.
Tùy dân tộc, quốc gia, chế độ, tín ngưỡng, tôn giáo, mà
sự nhận thức đánh giá tà chánh không có khuôn mẫu mực
thước nào làm tiêu chuẩn chung nhất cho tất cả mọi lãnh
vực. Riêng Phật giáo, qua tư tưởng của Tam thừa nhận thức
và đánh giá Tà chánh cũng đã không nhất trí với nhau được.
Thậm chí còn tương phản hoàn toàn trong hệ tư tưởng "Đại
thừa bất cộng pháp" như kinh Đại Bát Niết Bàn là một
nguồn giáo lý chứng minh cụ thể.
Đọc học phẩm TÀ CHÁNH của kinh Đại Bát Niết Bàn phải
sử dụng nhãn quang "Đại thừa bất cộng pháp" mà nhìn thì
mới tiếp thu tốt.
Phải hiểu Phật qua PHÁP THÂN NHƯ LAI là chánh. Hiểu Phật
qua Ứng hóa thân là đã thành quyến thuộc của ma rồi. Phải
hiểu Phật:
"Tỳ
Gia thành lý bất tằng sanh.
Ta
La thọ vương bất tằng diệt" là chánh.
Hiểu Phật nhập diệt tại rừng Ta la song thọ là ma rồi.
Nếu không phải đích thực ma thì cũng là quyến thuộc của
ma.
Như Lai chết từ cung trời Đâu suất, thọ sanh vào hoàng tộc
Tịnh Phạn vương cung. Như Lai tu phước bố thí...mà thành
Phật ! Đó là hiểu biết của ma ! Thọ lượng của Như Lai
"bất khả thuyết, bất khả thuyết vô lượng vô biên A tăng
kỳ kiếp". Đó là cái hiểu của người đệ tử Phật chân
chính.
Thái tử mới sanh ra liền đi mười phương bảy bước. Đó
là lời Phật nói. Việc làm đó có mục đích và ý nghĩa
của nó. Đó là phương tiện của Như Lai. Không tin điều
này là cái hiểu thiển cận của ma, của quyến thuộc loài
ma !
Lý luận rằng: "Trời sanh trước, Phật sanh sau là lý lẽ
thiển cận. Phải hiểu rằng: Các trời đều ở trong tam giới
lục đạo. Vì vậy khi đến miếu thờ trời tất cả đều
cung kính tôn trọng "Ứng thân thị hiện" của Như Lai.
Sanh vào hoàng cung thọ hưởng dục lạc, sau đó Thái tử tu
hành thành Phật. Đó là cái biết thiển cận. Phải hiểu
Như Lai xa lìa ái dục từ vô lượng vô biên..kiếp rồi.
Trên đường tu, lấy tám pháp bất tịnh làm chuẩn. Xa lìa
tám pháp bất tịnh là đi ngược đường lối giải thoát
rồi !
Người khư khư cố chấp giáo lý trong chín bộ kinh, không
tiếp thu tin thuận giáo lý Phương Đẳng Đại thừa là người
tiểu trí. Chỉ bằng lòng xe dê mà không dám thọ dụng xe
trâu trắng to đẹp tuyệt trần mà mình có quyền thọ dụng.
Nói rằng ta là Phật với ý đồ phờ phỉnh lừa dối mê
hoặc nhân tâm, mục đích tham cầu sự nghiệp danh lợi là
tà.
Tuyên bố rộng rãi: Rằng tôi có Phật tánh, tôi sẽ thành
Phật. Mọi người đều có Phật tánh, mọi người tu hành
đều được thành Phật ngoại trừ hạng người "nhất xiển
đề". Người nói được như thế là Bồ tát hiện đời.
Phủ nhận Giới là có tội.Thất tụ Giới Học là nền tảng
của tòa lâu đài Bồ đề vô thượng. Ngũ giới, thập giới,
Bát quan trai giới cũng là những viên đá góp vào xây đúc
nền móng của tòa lâu đài ấy. Phật dạy phải trân trọng
Giới như người trí quý trọng con ngươi của mắt mình. Định
Tuệ có được, do giới mà nên. Bồ Đề vô thượng có được,
do Định và Tuệ.
Phải tu học chân lý TRUNG ĐẠO. Nói NGÃ, cực đoan. Nói VÔ
NGÃ cũng cực đoan. Nói các pháp đoạn diệt, cực đoan. Nói
các pháp thường tại cũng cực đoan. VÔ THƯỜNG THỊ THƯỜNG.
THƯỜNG VÔ THƯỜNG TRUNG. Vô thường là tánh thường của
vạn pháp. Tánh thường của vạn pháp duyên khởi hiện tượng
VÔ THƯỜNG. Bản thể, hiện tượng "bất ly bất tức".
Bồ tát Long Thọ tuyên cáo:
"Chúng
nhân duyên sanh pháp
"Ngã
thuyết tức thị không
"Diệc
vi thị giả danh
"Diệc
thị trung đạo nghĩa.
"Vị
tằng hữu nhất pháp
"Bất
tùng nhân duyên sanh
"Thị
cố nhất thuyết pháp
"Vô
bất thị không giả..."
Người đệ tử Phật phải tập nhìn, tập nghe, tập nhận
thức vạn pháp bằng chân lý TRUNG ĐẠO ấy.
Ngũ
thừa, tam thừa, nhị thừa, nhất thừa là phương tiện của
Như Lai.
Bán
tự giáo. Mãn tự giáo. Chín bộ kinh. Mười hai bộ kinh là
phương tiện của Như Lai.
Tứ
đế, tam đế, nhị đế, đệ nhất nghĩa đế là phương tiện
của Như Lai.
Nhị
thời, tam thời, ngũ thời ..là phương tiện của Như Lai.
Khế
cơ, khế lý. Tứ tất đàn...là phương tiện của Như Lai.
Cho
các Tỳ kheo thọ dụng: Cửu tịnh nhục, ngũ tịnh nhục, tam
tịnh nhục là phương tiện của Như Lai.
Nói
các pháp trên cõi đời: vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh
là phương tiện của Như Lai.
Nói
hiện cõi đời có: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh cũng là phương
tiện của Như Lai.
Nói
vạn pháp là không. Nói vạn pháp là có. Thậm chí có lúc
Như Lai nói tội nặng thành nhẹ, tội nhẹ thành nặng cũng
là phương tiện của Như Lai.
Đệ tử Phật phải hiểu Phật là chánh. Không hiểu Phật
có cao đàm diệu luận, vạn ngữ thiên ngôn đều là TÀ, quyến
thuộc của ma tất./.