PHẨM
THỨ NĂM
KIM
CANG THÂN
Đức Phật bảo: "Này Ca Diếp Bồ tát ! Thân Như Lai là thân
thường trụ, thân bất hoại, thân kim cang, chẳng phải thân
tạp thực. Thân Như Lai đích thực phải là PHÁP THÂN".
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn ! Những thân của
Phật nói con đều chẳng thấy. Con chỉ thấy thân vô thường
bại hoại, thân vi trần, tạp thực thôi. Vì rằng Như Lai
sắp nhập Niết bàn".
Phật dạy: Này Ca Diếp ! Chớ cho rằng thân Như Lai vô thường
bại hoại như thân phàm phu.
Ca Diếp ! Ông nên biết ! Thân Như Lai vô lượng vô số kiếp
hằng hữu, luôn luôn hiện hữu, không có trong các cụm từ:
tiêu tan bại hoại, mục nát, diệt vong. Vì thân Như Lai không
có tướng đến, tướng đi, tướng ngồi, tướng nằm, tướng
co, tướng duỗi....Thế cho nên, thân Như Lai không phải là
thân tạp thực. Như Lai chẳng phải thân mà là thân. Thân
Như Lai chẳng sanh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch, không
có lúc thêm lên, chẳng có lúc bớt xuống, không có lúc ra,
chẳng có lúc vào. Thân Như Lai không phải hữu vi, chẳng phải
vô vi, chẳng phải nghiệp quả, không rời nghiệp quả. Chẳng
phải ngũ uẩn, không rời ngũ uẩn, chẳng phải thất đại,
cũng không ngoài thất đại.Chẳng phải tâm vương, chẳng
phải tâm sở, không ngoài tâm vương, tâm sở. Thân Như Lai
bình đẳng hiện hữu mọi chốn mọi nơi mà cũng không trụ
ở một chốn nơi nào. Vì thân Như Lai không phải là sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp. Như Lai không phải nhãn, nhĩ,
tỷ, thiệt, thân, ý, cũng không phải không nhãn, không nhĩ,
không tỷ, không thiệt, không thân, không ý. Thân Như Lai không
phải nhãn thức, cho đến không phải ý thức, nhưng cũng không
xa lìa sáu thức ấy. Thân Như Lai vô sở trụ mà trụ tất
cả chỗ, không tướng mạo mà đủ tất cả đức tướng
trang nghiêm.
Như Lai cứu độ cho tất cả chúng sinh được giải thoát
mà không cứu độ một chúng sinh nào. Như Lai thương tất
cả chúng sinh mà không thương một chúng sinh nào. Thân Như
Lai thành tựu vô lượng vô biên công đức vi diệu như vậy.
Thân của Như Lai không ai biết, không ai chẳng biết, vì thân
Như Lai không phải không gian, không rời ngoài không gian, không
phải thời gian cũng không ngoài thời gian. Thân của Như Lai
là PHÁP THÂN, là BIẾN NHẤT THIẾT XỨ. Thế cho nên nói Như
Lai nhập Niết bàn, kỳ thực Như Lai chẳng nhập Niết bàn.
PHÁP THÂN NHƯ LAI thành tựu công đức vi diệu thậm thâm
vô thượng...
_ Này Ca Diếp ! Chỉ có Như Lai mới biết. Chẳng phải hàng
Thanh Văn, Duyên Giác biết được.
_ Này Ca Diếp ! Chơn thân của Như Lai có công đức như vậy,
làm gì có các bịnh hoạn khổ đau, mong manh tạm bợ chẳng
bền chắc như đồ gốm chưa hầm ! Như Lai thị hiện có các
sự khổ là vì muốn điều phục các chúng sinh.
Nay ông phải biết thân Như Lai là thân Kim Cang. Ông phải chuyên
tâm tu tập suy nghĩ nghĩa ấy, chớ nghĩ như Lai là thân tạp
thực. Ông cũng nên vì mọi người mà giảng nói: Rằng thân
Như Lai là "Pháp thân".
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Như Lai thành tựu công đức
như vậy, thì làm gì có chịu sự vô thường bại hoại, tử
biệt sinh ly như hạng phàm phu !". Từ nay, con phải thường
suy nghĩ thân của Như Lai là Pháp thân thường trụ, là giải
thoát thân. Con sẽ nói rộng nghĩa ấy cho nhiều người khác
cùng nghe biết.
_ Kính bạch Thế Tôn ! Con chưa rõ vì nguyên nhân gì mà Pháp
thân của Như Lai là thân Kim Cang bất hoại ?
Phật dạy: "Này Ca Diếp ! Vì vô lượng kiếp tu nhân hộ trì
chánh pháp mà được thành tựu thân Kim Cang thường trụ bất
hoại này.
Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: "Nếu có Tỳ kheo tùy ở chỗ nào,
nuôi thân vừa đủ, đọc tụng kinh điển, tư duy tọa thiền,
thường giảng nói về: phước đức của sự tu hạnh trì
giới, bố thí....ít muốn, biết đủ....
Dầu hay thuyết pháp như vậy mà không thể tuyên thuyết pháp
Đại thừa, không có đồ chúng Đại thừa, không hàng phục
được kẻ tà kiến. Tỳ kheo này không đem lại lợi ích cho
mình và cũng chẳng đem lại lợi ích cho chúng sinh. Phải biết
Tỳ kheo này dầu có giữ gìn phạm hạnh, trông có vẻ thanh
tịnh mà thực chất hạng người này chẳng nếm được hương
vị giải thoát giác ngộ của Đại thừa.
Nếu có Tỳ kheo nuôi thân vừa đủ, giữ gìn cấm giới đã
thọ, có thể giảng rộng giáo lý Đại thừa trong chín bộ
kinh, để lợi ích an lạc các hạng chúng sinh, rằng: Trong
kinh Niết bàn, đức Phật bảo các Tỳ kheo chẳng được chứa
nuôi tôi tớ, trâu bò, dê lợn. Phải răn trị vị Tỳ kheo
nào chứa nuôi những vật bất tịnh ấy. Như Lai ở trong các
kinh đã từng dạy Tỳ kheo nuôi chứa những vật phi pháp,
các quốc vương cứ theo luật pháp mà trừng trị bình đẳng
như mọi công dân trong xã hội.
Thầy Tỳ kheo tuyên thuyết những lời như trên đây, có thể
bị những kẻ phá giới nghe được, oán giận, thậm chí hãm
hại giết chết vị pháp sư này. Dầu bị giết chết nhưng
vị pháp sư này được xem là bực trì giới lợi mình lợi
người. Do duyên cớ ấy nên Như Lai cho phép vua quan, cư sĩ
hộ trì người thuyết pháp. Nếu ai muốn được hộ trì chánh
pháp phải nên tu học như vậy.
Này Ca Diếp ! Đời quá khứ vô lượng vô biên kiếp, nơi
thành Câu Thi Na có Phật ra đời hiệu Hoan Hỉ Tăng Ích Như
Lai, đủ mười đức hiệu. Lúc ấy, cõi nước rộng lớn
tốt đẹp giàu có, nhân dân an lạc đầy đủ ấm no. Phật
Hoan Hỉ Tăng Ích trụ thế rất lâu. Cơ duyên đã mãn, Phật
nhập Niết Bàn nơi rừng Ta La. Sau khi Phật Hoan Hỉ Tăng Ích
nhập Niết Bàn, chánh pháp còn ở đời vô lượng ức năm,
lúc còn lại bốn mươi năm cuối cùng, có một Tỳ kheo trì
giới hiệu là Giác Đức có đông đồ chúng. Tỳ kheo Giác
Đức hay tuyên thuyết chín bộ kinh. Rằng ở trong các kinh
Như Lai dạy các Tỳ kheo không được chứa nuôi tôi tớ, trâu
bò, heo dê...những vật phi pháp. Các Tỳ kheo phá giới nghe
được đem lòng oán ghét và hãm hại Giác Đức. Quốc vương
Hữu Đức nghe được việc ấy, vì hộ pháp, nhà vua liền
đến đấu chiến với bọn phá giới. Nhờ đó mà pháp sư
Giác Đức khỏi nạn. Nhà vua bị thương nặng. Pháp sư Giác
Đức liền khen vua rằng: "Lành thay ! Nay vua là người hộ
pháp, đời nay, đời sau, thân vua sẽ là vô lượng pháp khí".
Vua nghe lời ấy lòng rất vui mừng. Vì vết thương trầm trọng,
nhà vua băng hà và thọ sanh vào thế giới của đức Phật
A Súc, làm vị đệ tử thứ nhứt. Những người theo vua chiến
đấu hoặc tùy hỉ đều được không thối chuyển tâm Bồ
đề. Sau khi chết họ cũng được sanh về nước của Phật
A Súc. Pháp sư Giác Đức khi báo mãn, thọ chung cũng sanh về
cõi ấy làm đệ tử thứ hai trong chúng Thanh văn.
Này Ca Diếp ! Quốc vương trước kia là tiền thân của ta
đây, Pháp sư Giác Đức là tiền thân của Phật Ca Diếp.
Nếu lúc chánh pháp sắp diệt phải nên hộ trì như vậy.
Người hộ pháp được vô lượng quả báo, vì thế nên nay
Như Lai được nhiều tướng tốt để tự trang nghiêm, thành
tựu "pháp thân Kim Cang bất hoại".
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Bạch Thế Tôn ! Thân chơn thường
của Như Lai cũng như khắc chạm vào đá".
Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: Vì nhơn duyên như vậy nên Tỳ
kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di phải siêng năng hộ
trì chánh pháp, hộ pháp được quả báo rộng lớn vô lượng.
Này Ca Diếp ! Vì những cớ ấy nên hàng Ưu Bà Tắc v.v...phải
cầm binh khí ủng hộ vị Tỳ kheo trì pháp như nhà vua hộ
trì pháp sư Giác Đức. Thế cho nên Như Lai dạy: Vì chánh
pháp Đại thừa, người sư sĩ không cần thọ trì ngũ giới
bằng tâm kiến thủ tầm thường ! Nếu trụ tâm kiến thủ
để thọ trì ngũ giới thì không phải là người tu học Đại
thừa, làm giảm sút cái nhân TRƯỜNG THỌ, KIM CANG BẤT HOẠI.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Nếu chư Tỳ kheo làm bạn với
hàng Ưu Bà Tắc cầm binh khí như vậy là hợp với lời Phật
dạy hay không hợp ? Làm như vậy trì giới hay phạm giới
?"
Phật nói: "Ông chớ nói những người ấy là phạm giới.
Sau khi ta nhập Niết bàn, đời trược ác, cõi nước nhiễu
loạn, trộm cướp dấy lên, nhân dân đói khổ. Có người
vì khổ nên phát tâm xuất gia, người như vậy đáng được
gọi là người cư sĩ trọc. Hạng trọc ấy, thấy Tỳ kheo
thanh tịnh giữ gìn giới hạnh, đầy đủ oai nghi, hộ trì
chánh pháp, họ bèn xua đuổi hoặc âm mưu giết hại.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Nếu như vậy, Tỳ kheo trì giới
hộ trì chánh pháp làm thế nào đi vào tụ lạc, thành ấp
giáo hóa mọi người ?"
Phật nói: "Vì vậy nên Như Lai cho phép Tỳ kheo trì giới cùng
làm bạn với hàng cư sĩ cầm khí giới. Trong trường hợp
trên đây, các quốc vương, đại thần, trưởng giả, Ưu Bà
Tắc vì hộ pháp mà cầm binh khí. Như Lai gọi họ là người
trì giới. Dầu cầm binh khí nhưng chẳng nên giết chết người.
Được như vậy gọi là người trì giới bậc nhất.
Người giảng rộng kinh điển Đại thừa phải là người
xa rời lợi dưỡng, không tham muốn công danh, không đam mê
sự nghiệp, không đua đòi vật chất, không cầu phú quý vinh
hoa, không thân cận vua quan, không lân la đàn việt. Người
giảng rộng Đại thừa phải là người đầy đủ oai nghi,
điều phục những kẻ bất chánh hủy phạm giới luật. Hạng
người như vậy, đáng được gọi là bậc thầy trì giới
hộ pháp, là chơn thiện tri thức của chúng sanh.
Này Ca Diếp ! Nếu có Tỳ kheo vì cầu lợi mà thuyết pháp
cho người, đồ chúng quyến thuộc của Tỳ kheo này cũng bắt
chước thầy mà cầu lợi, Tỳ kheo này được xem là người
phá hoại chúng Tăng.
Này Ca Diếp ! Tăng chúng có ba hạng: Một là phạm giới tạp
Tăng. Hai là ngu si Tăng. Ba là thanh tịnh Tăng.
Hạng
phạm giới tạp Tăng thì dễ dàng bại hoại rồi tự diệt
vong.
Hạng
thanh tịnh Tăng trì giới, lợi danh không làm hư đốn họ
được.
Hạng
ngu si Tăng dù có thiểu dục tri túc, thậm chí khổ hạnh,
cũng không hưởng được hương vị an lạc giải thoát của
Đại thừa.
Thế nào là phạm giới tạp Tăng ? Thầy Tỳ kheo dầu giữ
gìn giới cấm, vì cầu lợi cùng với người phạm giới ở
chung, gây dựng sự nghiệp chung, đây gọi là người phạm
giới cũng gọi là tạp Tăng.
Thế nào là ngu si Tăng ? Giả sử có Tỳ kheo trụ nơi A Lan
Nhã nhưng tâm trí đần độn. Dầu có tu hạnh thiểu dục
tri túc, nhưng đến ngày thuyết giới, ngày tự tứ không biết
thế nào đúng pháp, thế nào phi pháp. Đây gọi là hạng ngu
si Tăng.
Thế nào là thanh tịnh Tăng ? Các thầy Tỳ kheo Tăng không
bị các ma làm nhiễu loạn, có thể điều phục hai bộ chúng
trên làm cho an trụ trong chánh pháp. Đây là bậc đại sĩ
Hộ pháp.
Người khéo trì luật vì muốn điều phục lợi ích chúng
sinh, rõ biết hành tướng hoặc khinh hoặc trọng của giới
luật mà không câu chấp nhỏ nhen.
Thế nào là điều phục lợi ích chúng sinh ? Nếu là Bồ tát
vì giáo hóa chúng sinh có thể vào xóm làng mà chẳng cần
thời hay phi thời. Thậm chí có thể đến nhà góa phụ, dâm
nữ sống chung mà không bị nhiễm ô phạm hạnh. Đây gọi
là hạng đại sĩ điều phục lợi ích chúng sinh. Hàng Thanh
văn chủng tánh, thì không nên làm việc có tính mạo hiểm
này.
Này Ca Diếp ! Phật pháp mầu nhiệm vô lượng vô biên chẳng
thể nghĩ bàn. Như Lai cũng chẳng thể nghĩ bàn.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Đúng như lời Phật dạy, Phật
pháp mầu nhiệm vô lượng vô biên chẳng thể nghĩ bàn. Vì
thế, nay con biết rõ: Như Lai là thường trụ, chẳng biến
đổi, chẳng hư hoại. Nay con khéo học và cũng sẽ giảng
rộng cho nhiều người về nghĩa ấy".
Phật khen Ca Diếp: "Lành thay ! Lành thay ! Thân Như Lai là thân
Kim Cang bất hoại. Bồ tát phải khéo học như vậy, thấy
như vậy là thấy chơn chánh. Biết như vậy là biết chơn
chánh. Nếu có thể thấy biết như vậy là thấy được thân
Kim Cang bất hoại của Phật!
TRỰC
CHỈ
"Vân
hà đắc TRƯỜNG THỌ
KIM
CANG BẤT HOẠI THÂN"
Ý hỏi rằng:
Phải
làm gì để được THÂN TRƯỜNG THỌ ?
Phải
làm gì để có THÂN KIM CANG BẤT HOẠI ?
Học phẩm TRƯỜNG THỌ thứ tư, người đệ tử Phật sáng
mắt ra và nhận thức rõ về giá trị của danh từ TRƯỜNG
THỌ, qua lời Như Lai Thế Tôn dạy cho Bồ tát Ca Diếp.
Bồ tát Ca Diếp còn muốn tìm hiểu nguyên nhân nào hun đúc
thành tựu cái quả THÂN KIM CANG BẤT HOẠI ?
"Vân
hà đắc TRƯỜNG THỌ
KIM
CANG BẤT HOẠI THÂN ?"
Người Đại thừa, chủng tánh Đại thừa đọc hai câu đó,
cảm nghe vừa sung sướng, vừa ngậm ngùi, nao nao, man mát trong
lòng, vừa khởi niệm tri ân Bồ tát Ca Diếp, tri ân đức
Phật tận đáy lòng thâm sâu vô lượng.
Không có hai câu hỏi đó, người Đệ tử Phật không có cơ
hội hiểu rõ PHÁP THÂN PHẬT. Người Đệ tử Phật,
thông thường chỉ thấy Phật, nghe Phật và biết Phật qua
ỨNG THÂN duyên khởi, qua thân tướng của Thái tử Tất Đạt
Đa, Thích Ca Mâu Ni Phật.
Đến như hạng người chứng quả Thanh văn, La Hán, thậm chí
các Bồ tát Đăng địa mà sự hiểu biết của các vị về
PHÁP THÂN PHẬT vẫn lờ mờ. Lờ mờ cho đến lúc trở thành
"Kim Cang đạo hậu" mới thôi.
"Nhược
dĩ sắc kiến ngã
Dĩ
âm thanh cầu ngã
Thị
nhơn hành tà đạo
Bất
năng kiến Như Lai"
Bài kệ cô khởi Phật dạy ở kinh Kim Cang ấy, cho biết rằng:
Là đệ tử Phật mà chưa học hiểu PHÁP THÂN PHẬT, dù người
đó có tu hành cần khổ thế nào cũng chỉ là người tà đạo.
Người đó không phải đệ tử Phật, vì chưa hề quen biết
Như Lai, Phật bao giờ.
Học
về TRƯỜNG THỌ, là học PHÁP THÂN PHẬT hằng hữu, hiện
hữu, tồn tại về mặt THỜI GIAN và học chân lý hun đúc
tạo thành cái quả TRƯỜNG THỌ , bất sanh, bất diệt... ấy.
Học
KIM CANG BẤT HOẠI THÂN là học rộng về NHƯ LAI PHÁP THÂN:
hằng hữu, hiện hữu, tồn tại về mặt KHÔNG GIAN. Rằng
thân Như Lai vượt ngoài các từ ngữ: tiêu tan, bại hoại,
hư nát, diệt vong...Rằng thân Như Lai không có sinh, diệt,
đến, đi, còn, mất. Không có đi, đứng, nằm, ngồi...Rằng
thân Như Lai bình đẳng hiện hữu mọi chốn, mọi nơi mà
Như Lai không trụ một chốn nơi nào...
Rằng
thân Như Lai không phải núi sông, đất liền, trời mây, trăng
nước, cỏ cây, hoa lá. Thân Như Lai không phải động vật,
thực vật, khoáng vật. Nhưng thân Như Lai không rời ngoài
núi sông, đất liền, trời mây, trăng nước, cỏ cây, hoa
lá. Thân Như Lai cũng không tách rời ngoài động vật, thực
vật và khoáng vật trong vũ trụ vô biên vô cùng vô cực.
Thân Như Lai là TẤT CẢ PHÁP. Vì thế, cho nên gọi là PHÁP
THÂN (Ly nhật thiết tướng, tức nhất thiết pháp).
Học
KIM CANG BẤT HOẠI THÂN tức là học về PHÁP THÂN PHẬT thường
trụ bên mặt không gian vậy.
Hộ
trì chánh pháp ĐẠI THỪA là NHÂN, mà KIM CANG BẤT HOẠI là
QUẢ.
Không tư duy, không quán chiếu, không tu tập, không thực hành,
không sống trong chánh pháp ĐẠI THỪA thì không hiểu biết
chân lý: THẤT ĐẠI DUYÊN SINH, THANH TỊNH BẢN NHIÊN của hiện
tượng vạn pháp.
Tánh
GIÁC chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân GIÁC, thanh tịnh bản nhiên,
châu biến pháp giới.....
Tánh
SẮC chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân SẮC, thanh tịnh bản nhiên,
châu biến pháp giới.....
Tánh
THỦY chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân THỦY, thanh tịnh bản nhiên,
châu biến pháp giới.....
Tánh
HỎA chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân HỎA, thanh tịnh bản nhiên,
châu biến pháp giới.....
Tánh
PHONG chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân PHONG, thanh tịnh bản nhiên,
châu biến pháp giới.....
Tánh
KIẾN giác minh, kiến tinh MINH GIÁC, thanh tịnh bản nhiên, châu
biến pháp giới.....
Tánh
THỨC chân KHÔNG, tánh KHÔNG chân THỨC, thanh tịnh bản nhiên,
châu biến pháp giới.....
GIỚI, ĐỊNH, TUỆ tam vô lậu học, Đại thừa hay Tiểu thừa
đều xem trọng như nhau. Nhưng giới luật để THỌ để TRÌ
thì quan niệm và mục đích của hai bộ không đồng.
TRÌ
GIỚI ở Tiểu thừa chú trọng: "Nhiếp lục nghi".
TRÌ
GIỚI ở Đại thừa, ngoài "Nhiếp lục nghi" đặc biệt mở
rộng thêm hai con đường phóng khoáng cho ý nghĩ và hành động:
TU
THIỆN PHÁP cũng gọi là TRÌ GIỚI (cho TÂM)
NHIÊU
ÍCH HỮU TÌNH cũng gọi là TRÌ GIỚI (cho HÀNH)
Người Đại thừa trì giới có thể, có lúc rầy la, quở
trách...thậm chí có vẻ thô bạo.
Người Đại thừa trì giới vì hộ trì chánh pháp, có thể
không cần thọ giới. Do vậy Phật dạy:
Người Đại thừa nặng lòng hộ trì chánh pháp Đại thừa
có thể cầm binh khí bảo vệ chánh pháp mà chưa GẤP thọ
trì năm giới của một Ưu bà tắc...Đức Phật kể lại câu
chuyện Tỳ kheo Giác Đức, vua Hữu Đức và vệ sĩ của vua
sau khi mệnh chung, sanh về cõi nước của đức Phật A Súc
để chứng minh điều đó.
* Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN là Đại thừa liễu nghĩa kinh. Giáo
nghĩa của kinh luận thậm thâm vi diệu; nhưng không phải thậm
thâm vi diệu với mọi chủng tánh, với mọi hạng người,
kể cả trong những người đã tự nhận mình là đệ tử
của đức Thế Tôn.
Đệ tử tại gia của Phật cũng có nhiều căn cơ, nhiều chủng
tánh. Đệ tử xuất gia của Phật cũng có nhiều căn cơ, nhiều
chủng tánh như vậy. Có người có khả năng tuyên dương chánh
pháp Đại thừa, cũng có người xuyên tạc chánh pháp Đại
thừa nhằm để củng cố công danh sự nghiệp huyễn chất
thế gian.
* Xiển dương Đại thừa không phải nhằm phê phán chê bai
xem nhẹ Tiểu thừa. Nên biết ! Không có tầng nhà trệt, không
thể có lầu một, lầu hai…
* Gọi là người Đại thừa phải có đầy đủ chất liệu
Tiểu thừa. Phải học Tiểu thừa rồi mới trở nên Đại
thừa .
* Muốn nhận thức đánh giá THỪA, người trí nhìn trên KẾT
QUẢ của sự học đạo, hành đạo và chứng đạo...mà nhận
biết đối tượng đang thuộc THỪA nào, sống trong THỪA nào,
thọ dụng được hương vị an lạc của THỪA nào.
THỪA không giống như một thứ nhãn...."nước tương", hay
một thứ nhãn "chao" không cầu chứng, ai muốn in, muốn dán
lọ nào cũng được ! Là Phật tử, chúng ta hãy thận trọng
những lúc đề cập đến THỪA.