PHẨM
THỨ TƯ
TRƯỜNG
THỌ
* Phật dạy: Nầy các thầy Tỳ kheo ! Đối với Như Lai,
"Tất cả các pháp bổn tánh không tịch". Đó là kết quả
của sự tu hành trải qua vô lượng kiếp mà nên. Tuy nhiên,
trên đường hóa độ chúng sinh, không phải vậy. Về giới
luật, thiền định và trí tuệ học, các thầy còn có chỗ
nghi ngờ chưa quyết thì đem ra hỏi, Như Lai sẽ giải thích
cho.
Các Tỳ kheo thành phần A La Hán, tự thấy trí tuệ nhỏ nhoi,
không đủ trình độ đặt vấn đề hỏi Phật. Mọi người
có ý nghĩ: Pháp Phật thậm thâm vi mật, truyền dạy cho Bồ
tát, thì mới bảo tồn kiên cố, mới có khả năng truyền
bá ở đời, lợi lạc chúng sinh.
* Bấy giờ có vị Bồ tát họ Đại Ca Diếp, giòng Bà
la môn, từ chỗ ngồi đứng dậy trịch vai áo bên hữu, cung
kính nhiễu Phật, rồi quỳ gối chấp tay hỏi Phật qua bài
kệ:
Làm
sao được trường thọ ?
Thân
Kim Cang không hoại ?
Nên
tạo nhân duyên gì
Để
được sức kiên cố ?
Làm
gì ở kinh nầy
Để
được đến bờ kia ?
Xin
Phật mở kho tàng
Vì
chúng sinh dạy rõ !
Làm
sao được rộng lớn
Làm
y chỉ chúng sinh
Làm
sao biết thiên ma
Để
làm chúng khiếp sợ ?
Lời
Phật, lời Ma Ba tuần
Làm
sao phân biệt biết ?
Thế
nào các Bồ tát
Thấy
được tánh khó thấy ?
Nghĩa
mãn tự bán tự
Phải
hiểu như thế nào ?
Làm
sao ở đời trược ác
Chẳng
ô nhiễm như hoa sen
Thế
nào ở trong phiền não
Mà
phiền não chẳng nhiễm ?
Như
y sư trị bệnh
Không
bị bệnh truyền lây ?
Con
nay thỉnh Như Lai
Vì
các hàng Bồ tát
Diễn
nói pháp thậm thâm
Thế
nào tất cả pháp
Đều
có tánh an lạc
Cúi
xin đấng Thế Tôn
Phân
biệt dạy chúng con.
Phật khen Ca Diếp Bồ tát. Lời hỏi của ông có giá trị
như người được Nhất thiết trí. Lúc Như Lai mới thành
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác dưới cội bồ đề cũng
có vô số Bồ tát đến hỏi ta như vậy.
Này Ca Diếp Bồ tát ! Hãy lóng nghe ! Như Lai sẽ vì ông mà
nói về nghiệp nhân trường thọ của một Bồ tát.
Phàm có hạnh nghiệp, có thể làm nhân cho quả Vô Thượng
Bồ đề thì thành tâm nghe kỹ và lãnh thọ giáo nghĩa đó.
Tự mình lãnh thọ rồi truyền dạy cho người khác để nhiều
người được lợi lạc. Do tu tập hạnh nghiệp ấy mà Như
Lai được quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nay lại
vì mọi người nói rộng ý nghĩa ấy.
Muốn thực hiện sâu rộng nghiệp nhân trường thọ, Bồ tát
phải:
Phát
tâm đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả, hộ niệm tất
cả chúng sinh, như thương con ruột của mình.
Dạy
cho tu tập pháp ngũ giới, thập thiện.
Những
chúng sinh bị khổ ba đường ác, cứu độ cho được ra.
Giải
thoát cho người chưa giải thoát.
Người
chưa giác ngộ dạy cho pháp tu tỉnh thức.
Do tu các nghiệp nhân như vậy mà Bồ tát được "thọ mạng
lâu dài", trí tuệ tự tại.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: Theo con nghĩ, Thế Tôn không nên
nói Bồ tát đối với tất cả chúng sinh tâm bình đẳng xem
đồng như con. Vì trong Phật pháp có người phá giới, có
kẻ phạm tội nghịch, có người hủy báng chánh pháp.....với
hạng người như vậy làm sao xem đồng như con ?
Phật dạy: Như Lai đối với chúng sinh ấy xem đồng như con,
như La Hầu La. Cho đến người hủy báng chánh pháp, hàng nhứt
xiển đề, hoặc những kẻ tà kiến....Như Lai đều thương
xót như con. Như Lai không giống các quốc vương, bầy tôi
phạm pháp cứ theo tội mà tru lục.
Ca Diếp ! Nên biết, Như Lai là người ban bố vô úy bình đẳng
cho chúng sinh. Như Lai phóng ra một, hai, hoặc năm tia sáng,
kẻ nào gặp đều xa lìa tất cả điều ác. Sau khi Như Lai
nhập Niết bàn, nơi nào có Tỳ kheo trì giới, đầy đủ oai
nghi hộ trì chánh pháp, thấy được hoại pháp thì quở trách
trừng trị. Vị Tỳ kheo ấy được phước báo vô lượng.
Đó chính là đệ tử của Như Lai, đích thực là Thanh Văn.
Nếu thấy lỗi mà bỏ qua, vị Tỳ kheo nầy là người góp
phần làm bại hoại Phật pháp.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Như lời Phật vừa dạy, e là
không bình đẳng, xem tất cả chúng sinh như con. Bạch Thế
Tôn ! Giả sử có người cầm dao với ý đồ hảm hại Phật,
lại có người đem nước chiên đàn thoa thân Phật. Nếu sử
dụng tâm bình đẳng lẽ ra hai người đều phải được xem
là người tốt, cớ sao lại bảo rằng phải trừng trị kẻ
phạm luật nghi ? Nếu trừng trị kẻ phạm luật nghi thì lời
dạy kia có lỗi."
Phật nói: Như Quốc vương có bốn người con trai khôi ngô,
thông minh sáng suốt, đem giao cho giáo sư dạy dỗ và dặn
rằng: Thầy gắng dạy cho chúng được toàn vẹn tài đức.
Nếu chúng ngỗ nghịch, thầy phải nghiêm trị, dầu ba đứa
bị đòn chết, còn một đứa được nên, nhà vua cũng vui
lòng.
Này Ca Diếp ! Cha và thầy của các trẻ có phải tội ác và
sát sanh chăng?
Ca Diếp Bồ tát thưa: "Bạch Thế Tôn ! Không. Vì lòng thương,
muốn cho các trẻ được nên, chớ chẳng phải ác tâm. Dạy
dỗ như thế được phước vô lượng".
Phật nói: "Cũng vậy, Như Lai đối với kẻ phạm pháp xem
đồng như con. Nay Như Lai đem chánh pháp vô thượng phó chúc
cho vua, đại thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà
di. Các vua quan và bốn bộ chúng phải nên khuyên răn, khích
lệ những người phát tâm tu học, khiến được tăng thượng
giới, định, tuệ và nên nghiêm khắc dạy bảo những người
lười biếng, phá giới, hủy hoại chánh pháp, lơ là đối
với pháp tam vô lậu học".
Này Ca Diếp ! Như vậy các vua quan, bốn bộ chúng có mắc
tội chăng
Ca Diếp Bồ tát thưa: "Bạch Thế Tôn ! Không".
Phật nói: "Các vua quan và bốn bộ chúng còn không tội, huống
là Như Lai.
Này Ca Diếp ! Như Lai khéo tu đức bình đẳng, xem các chúng
sinh đồng là con. Tu như vậy gọi là Bồ tát tu tâm bình đẳng,
với các chúng sinh xem đồng là con. Bồ tát tu tập hạnh nghiệp
bình đẳng nầy được thọ mạng lâu dài, khéo biết những
việc đời trước.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Như Lai chẳng nên dạy như thế
! Bồ tát tu tâm từ bình đẳng lẽ ra không đoản thọ, được
thọ mạng lâu dài, biết được túc mạng thường ở nơi
đời. Nay do duyên cớ gì, Thế Tôn thọ mạng rất ngắn, chẳng
khác người thế tục trần gian ? Hay Như Lai oán ghét chi chúng
sinh ? Ngày trước Như Lai làm nghiệp ác gì, mà mắc báo đoản
thọ sống không đầy trăm tuổi ?"
Phật bảo Ca Diếp Bồ tát: "Nay duyên cớ gì ông nói lời
thô trước Như Lai như thế ? Như Lai trường thọ hơn hết
trong các tuổi thọ. Như Lai được pháp thường trụ hơn hết
trong các pháp thường trụ." Các ông cần phải học !"
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Đức Như Lai thọ mạng dài lâu
như thế nào ?"
Phật nói: Ví như tám con sông: sông Hằng, sông Diêm Ma La,
sông Tát La, sông A Lợi La, sông Ma Ha, sông Tân Đầu,
sông Bác Xoa, sông Tát Da. Tám con sông này cùng các sông nhỏ
đều chảy vào biển lớn.
Cũng vậy, tất cả con sông thọ mạng của người, của trời
đất, của hư không, đều vào trong biển thọ mạng của Như
Lai. Vì vậy nên thọ mạng của Như Lai vô lượng, vô cùng.
Ví như ao A Nậu chảy ra thành bốn con sông lớn. Cũng vậy,
ở trong các pháp thường trụ, Như Lai là đệ nhứt.
Phật dạy: Ca Diếp ! Đối với Như Lai, ông không nên có quan
niệm diệt tận. Hàng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni,Ưu bà tắc, Ưu bà
di vẫn có thể sống lâu trăm tuổi hoặc hơn trăm tuổi. Hàng
ngoại đạo có được ngũ thông, hạng luyện đơn, chế thuốc
tu tiên, họ vẫn có thể kéo dài mạng sống ngàn năm, hoặc
vạn năm tùy ý. Như Lai có sức tự tại, Như Lai là vua của
các pháp, há lại không thể trụ thế một kiếp hoặc hơn
một kiếp hay sao ?
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Nếu thọ mạng của Như Lai dài
lâu như vậy, Như Lai ở nơi đời hoặc một kiếp hoặc ít
hơn để thường tuyên diệu pháp, như tuôn mưa lớn".
Như Lai là pháp thường trụ chẳng biến đổi, thân Như Lai
là thân biến hóa chẳng phải thân tạp thực. Vì độ chúng
sinh nên thị hiện có sinh có diệt. Vì độ chúng sinh nên
thị hiện bỏ thân mà nhập Niết bàn.
Ông nên biết, Phật là pháp thường trụ, không biến đổi.
Ở trong đệ nhất nghĩa này, các ông phải nên siêng năng
tinh tấn nhất tâm tu học. Mình đã tu học và vì người khác
mà giảng nói.
Ca Diếp Bồ tát thưa: "Có sự sai khác gì giữa xuất thế
pháp cùng thế pháp ? Như lời Phật dạy: Phật là pháp thường
trụ, không biến đổi. Người đời cũng nói Phạm Thiên là
thường, Tự Tại Thiên là thường. Họ cũng nói Ngã là thường,
Tánh là thường và vi trần cũng là thường, tất cả đều
không biến đổi.
Nếu nói Như Lai là pháp thường trụ, cớ sao Như Lai chẳng
thường hiện nơi đời ? Có khác gì nghĩa thường của thế
gian ? Vì Phạm Thiên nhẫn đến vi trần cũng chẳng thường
hiện ở nơi đời.
Phật bảo Ca Diếp: Phàm phu dầu có pháp lành nhưng đều là
pháp thừa của Như Lai. Sau khi Thế Tôn nhập Niết bàn, họ
trộm pháp lành thừa của Như Lai, hoặc giới, hoặc định,
hoặc tuệ nhưng không có phương tiện nên chẳng giải quyết
được, họ không thể được thường giới, thường định,
thường tuệ và giải thoát. Vì mong được giải thoát, hạng
phàm phu nói Ngã, hoặc Phạm Thiên, Tự Tại Thiên, Phi Tưởng,
Phi Phi Tưởng chính là Niết bàn, kỳ thật họ chẳng được
giải thoát Niết bàn.
Hạng phàm phu có chút ít phạm hạnh, cúng dường cha mẹ nên
được sanh lên trời hưởng một ít an lạc. Mà thật chẳng
biết được giới, định, tuệ, quy y tam bảo rồi do chẳng
biết mà nói thường, lạc, ngã, tịnh. Dầu nói thường, lạc,
ngã, tịnh mà thật ra họ chẳng biết. Vì thế nên sau khi
ra đời, Như Lai vì chúng sinh diễn nói thường, lạc, ngã,
tịnh.
Này Ca Diếp ! Như Lai là thường, là pháp không biến đổi.
Chẳng đồng hạng với người ngu trong đời gọi Phạm Thiên.v
.v...là pháp thường còn. Gọi là pháp thường trụ phải là
Như Lai chớ chẳng phải pháp nào khác. Ca Diếp ! Ông phải
hiểu thân Như Lai là như vậy.
Này Ca Diếp ! Mọi người nên thường xuyên tu học hai chữ:
Phật là THƯỜNG TRỤ.
Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào tu hai chữ nầy, người
ấy đi theo đường Phật đi, đến chỗ Phật đến.
Này Ca Diếp ! Nghĩa Niết bàn chính là pháp tánh mà chư Phật
nói.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: "Pháp tánh của chư Phật nghĩa
thế nào ? Mong đức Như Lai giải rộng cho. Theo con hiểu: Pháp
tánh có nghĩa là phải xả bỏ sắc thân. Đã xả bỏ sắc
thân tức là vô sở hữu, nếu vô sở hữu thì thân không
còn. Thân nếu còn tại sao lại nói thân có pháp tánh ? Thân
có pháp tánh sao thân lại còn ?
Phật dạy: "Ca Diếp ! Ông chẳng nên nói diệt mới là pháp
tánh. Pháp tánh không có diệt.
Ví như Vô Tưởng Thiên thành tựu sắc ấm mà không có sắc
tướng. Chẳng nên hỏi các ông trời ấy sung sướng hưởng
vui thế nào ? Nghĩ tưởng những gì ?
Này Ca Diếp ! Cảnh giới của Như Lai chẳng phải chỗ biết
của Thanh Văn, Duyên Giác. Chẳng nên nói thân của Như Lai
là pháp diệt. Ông không nên nghĩ Như Lai ở chỗ nào, đi chỗ
nào, thấy, vui, chỗ nào ? Pháp thân của Phật, các thứ phương
tiện chẳng thể nghĩ bàn, chẳng phải điều mà các ông biết
được.
Này Ca Diếp ! Nên tu tập Phật, Pháp và Tăng mà quán tưởng
là thường. Ba pháp ấy không có dị tưởng, không vô thường
tưởng, không biến dị tưởng. Đó là tu đúng chánh giáo.
Nếu ở nơi ba pháp, tu dị tưởng, phải biết rằng pháp tam
quy thanh tịnh của những người này bị lệch lạc chánh pháp,
cấm giới của họ chẳng viên mãn. Họ chẳng chứng được
quả Thanh Văn, Duyên Giác Bồ đề. Nếu có thể ở nơi ba
pháp bất khả tư nghì này, tu thường tưởng thì có chỗ
quy y.
Này Ca Diếp ! Ví như nhơn nơi cây mà có bóng cây. Cũng vậy,
vì Như Lai có pháp thường trụ nên có chỗ quy y. Nếu cho
rằng Như Lai là vô thường thì Như Lai không phải là chỗ
quy y. Nếu cho rằng Như Lai là vô thường thì Như Lai không
phải là chỗ quy y của người trời.
Ca Diếp Bồ tát bạch Phật: Bạch Thế Tôn ! Ví như trong tối
có cây mà không có bóng !"
Phật nói: "Ca Diếp! Ông không nên nói có cây mà không có
bóng, chỉ vì nhục nhãn nhìn thô thiển nên không thấy đó
thôi.
Cũng vậy, tánh Như Lai là thường trụ, không biến đổi.
Người không có con mắt trí tuệ không thấy được, như trong
bóng tối không thấy bóng cây. Cũng vậy, sau khi Phật nhập
diệt, hạng phàm phu nói Như Lai là vô thường.
Nếu cho rằng Phật khác với Pháp và Tăng, chẳng thành chỗ
của ba pháp quy y. Như cha mẹ của ông mỗi mỗi sai khác, nên
thành vô thường".
Ca Diếp Bồ tát lại bạch Phật: "Từ nay, con sẽ đem
ba pháp thường trụ: Phật, Pháp, Tăng để khai ngộ cho cha
mẹ, nhẫn đến cha mẹ trong bảy đời đều khiến phụng
trì.
Bạch Thế Tôn ! Nay con phải học Phật, Pháp, Tăng bất khả
tư nghì. Tự mình học rồi lại sẽ vì người mà giảng giải
những nghĩa ấy. Người nào không tin tưởng không nhận được,
vì họ đã tu pháp vô thường từ lâu, con sẽ làm sương móc,
mưa giá cho hạng người này".
Phật khen Ca Diếp Bồ tát: "Lành thay ! Lành thay ! Nay ông khéo
có thể hộ trì chánh pháp. Hộ pháp như vậy là không khinh
khi người. Do nơi nghiệp nhơn không khinh khi người mà được
quả báo trường thọ.
TRỰC
CHỈ
Phẩm kinh nầy có nhan đề TRƯỜNG THỌ. Phật dạy phẩm TRƯỜNG
THỌ, nhưng không phải là dạy cho con người dưỡng sinh, tập
luyện cách nào đó để được sống lâu. Bởi vì giáo lý
của đạo Phật nhận thức về con người, cái "tối linh ư
vạn vật" nói chung, "tối linh ư động vật" nói riêng, không
phải ở nơi sự sống dài hay sống ngắn, ở nơi ít tuổi
hay cao tuổi và sự so sánh ít năm hay nhiều năm.
Những cụm từ đó, đối với đệ tử Phật, có học đạo,
hành đạo và chứng đạo, nó không có giá trị cao siêu hay
một sự vui mừng, hãnh diện gì hết. Cho nên, người Phật
tử với vấn đề tử sinh, sinh tử là chuyện "tùy thuận",
không cầu nguyện, không khấn vái van xin mà cũng không cần
có ý chối bỏ hay trốn chạy sự sống.
Tiêu chỉ mà đạo Phật đặt ra đối với con người là:
Sống
một đời sống đáng sống
Sống
có an lạc và hạnh phúc
Sống
có tự tại và khinh an
Sống
có phước đức và trí tuệ
Sống
có Bồ đề, Niết bàn hữu thượng và vô thượng.
Hiện thực được những tiêu chỉ đó là đạt mục đích
yêu cầu của đời sống đáng sống của con người.
Đền Ngọc Sơn bên hồ Hoàn Kiếm, thủ đô Hà Nội có xác
"con rùa thuộc" to tướng, dài hơn một thước tây. Nhà sinh
vật học cho biết con rùa ấy sống 500 năm tuổi, tính theo
tuổi thọ con người "trường thọ" 500 tuổi, thế mà chẳng
thấy ai gọi dù là một tiếng "Ông rùa" giữa cảnh ngựa
xe như nước, áo quần như nêm của cố đô Thăng Long nghìn
năm văn vật !
TRƯỜNG
THỌ đức Phật dạy cho Bồ tát Ca Diếp là sự trường thọ
với không gian, với thời gian. Là Bồ tát phải tu học cái
nhân trường thọ. Phải phát tâm đại từ, đại bi, mở rộng
lòng đại hỉ, đại xả. Phải vun bồi tự giác cho mình,
phải huấn đạo tha giác cho chúng sinh. Đem giới, định, tuệ
mà truyền trao cho mọi người. Dẫn dụ mọi người quay về
với Phật, với Pháp, với Tăng. Gieo trong lòng mọi người
hạt giống giác ngộ, giải thoát. Đó là việc làm của Bồ
tát hạnh. Việc làm đó phù hợp chân lý. Tu như vậy gọi
là "xứng tánh khởi tu". Làm như vậy gọi là "tùy thuận pháp
tánh". Đó chính là Bồ tát vun bồi, xây dựng cái nhân "trường
thọ" để rồi thọ dụng cái quả "trường thọ" vĩnh cửu
với không gian vô tận, thời gian vô cùng.
TRƯỜNG
THỌ mà đức Phật dạy: Là Bồ tát phải tu học rằng: Hiện
tượng vạn pháp xưa nay bản tánh của nó RỖNG RANG và VẮNG
LẶNG, không có lẫn lộn chất liệu nhiễm ô.
TRƯỜNG
THỌ mà Bồ tát phải tu học là: Thọ mạng của Như Lai trường
thọ hơn hết trong tất cả trường thọ. Sự trường thọ
của vạn pháp ví như sông ngòi. Trường thọ của thọ mạng
Như Lai ví như tất cả đại dương hợp lại.
TRƯỜNG
THỌ Bồ tát Ca Diếp phải học là: Phật thường trụ, Pháp
thường trụ, Tăng thường trụ. Vì tánh của tam bảo là tánh
thanh tịnh bản nhiên vốn không có khởi điểm và cũng không
có cuối cùng.
TRƯỜNG
THỌ mà Bồ tát phải tu học là: Không được hiểu thân Như
Lai là thân tạp thực, có ăn uống, có đi đứng, nằm ngồi.
Thân có đi, đứng nằm ngồi, có ăn uống, chỉ là ứng thân
Phật vì lợi ích chúng sinh mà thị hiện.
Điều
quan trọng cuối cùng, đức Phật dạy Ca Diếp Bồ tát, rằng:
Muốn hiểu Phật, phải tu học PHÁP THÂN NHƯ LAI. Tu học PHÁP
THÂN NHƯ LAI mới hiểu được thọ lượng của Như Lai. Hiểu
được thọ lượng của Như Lai mới hiểu được giá trị
thế nào là "trường thọ" của cái từ TRƯỜNG THỌ mà Như
Lai đinh ninh dạy bảo.
TRƯỜNG THỌ mà Như Lai dạy ở đây phải được hiểu là:
THƯỜNG TRỤ. Phật thường trụ, Pháp thường trụ, Tăng thường
trụ, Pháp thân thường trụ. Như Lai thường trụ. Niết bàn
thường trụ. Tam bảo thập phương thường trụ. Bởi vì chân
lý của vạn pháp trong vũ trụ LOẠN KHỞI LOẠN DIỆT như
hoa đốm trong hư không. Mà hư không thì không có sinh, không
có diệt !
Đừng đau đớn gì hết ! Đừng xót thương gì hết ! Như
Lai sắp nhập Niết bàn mà tỏ vẻ xót thương đau đớn là
những người đệ tử chỉ có nhục nhãn và nhìn Như Lai bằng
cái nhục nhãn khốn khổ của chính mình. Là Bồ tát hãy sử
dụng tuệ nhãn mà chiêm ngưỡng Như Lai.
"Nhất
thiết pháp bất sanh
"Nhất
thiết pháp bất diệt
"Nhược
năng như thị giải
"Chư
Phật thường hiện tiền
"Hà
khứ lai chi hữu…"
Bồ tát Ca Diếp hứa trước Phật, rằng mình sẽ nổ lực
phấn đấu tu học, rằng mình sẽ truyền đạt cho mọi người
lời dạy của Phật. Rằng TRƯỜNG THỌ đồng nghĩa với chân
lý của vạn pháp là THƯỜNG TRỤ. Phật không dạy cách "trường
thọ" để kiếm chác thêm dăm ba mươi tuổi nữa...../.