PHẨM
THỨ HAI
THUẦN
ĐÀ
Lúc bấy giờ trong hải hội có vị Ưu Bà tắc tên Thuần
Đà, là một cư sĩ, có tu tập hạnh lành, muốn trồng sâu
gốc rễ Đại thừa, mong thu hoạch quả giải thoát, giác ngộ.
Như mọi người, ông sắm sửa lễ vật dâng cúng dường Phật
và tăng chúng. Ông tha thiết cầu xin đức Phật thương xót
mà nhận phẩm vật ông dâng cúng.
Thuần Đà bạch Phật: Rằng ví như một nông dân nghèo có
thửa ruộng tốt, có trâu khỏe, cày bừa sạch cỏ, giống
thóc đã sẵn. Chỉ còn chờ một trận mưa. Bạch Thế Tôn
! Nông dân nghèo đó chính là con. Con cầu xin Thế tôn một
trận mưa pháp.
Như Lai Thế tôn chấp nhận phẩm vật cúng dường của
Thuần Đà. Thuần Đà vui mừng hớn hở. Đức Phật dạy
cho Thuần Đà cách cúng dường thí thực phước quả ngang
nhau: Một, cúng cho người thọ thực xong liền chứng quả
Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Hai, cúng cho người thọ
thực xong liền nhập Niết bàn.
Thuần Đà bạch Phật: Rằng vị thọ thí trước chưa chứng
quả Phật, chưa sạch phiền não, chưa làm lợi lạc chúng
sanh. Vị thọ thí sau là trời trong các trời. Vị thọ thí
trước chưa đủ lục ba la mật chỉ có nhục nhãn. Vị thọ
thí sau có đủ lục ba la mật, có đủ ngũ nhãn. Vị thọ
thí trước thọ xong tiêu hóa, dinh dưỡng sắc lực mạnh mẽ
sống còn. Vị thọ thí sau, ăn vào chưa tiêu thì lại chết
mất ...Bạch Thế Tôn, thời điểm cúng dường và thọ dụng
ở nhân, trước sau đã khác nhau thì hẳn phải là không đồng.
Vậy tại sao Như Lai Thế tôn dạy: Hai trường hợp cúng dường
thí thực ấy được phước báu đồng nhau ?
I. Phật dạy: Thuần Đà ! Như Lai từ vô thỉ, vô lượng,
vô số kiếp không có những thân ăn uống, thân phiền não
và thân sau cùng. Thân NHƯ LAI là thường trụ, là thân KIM
CANG, là PHÁP THÂN.
Đức Phật dạy tiếp: Này Thuần Đà ! người chưa thấy Phật
tánh gọi là thân tạp thực. Lúc Bồ tát thọ đồ ăn uống
xong, nhập Kim cang tam muội, thức ăn tiêu hóa liền thấy Phật
tánh, chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Lúc mới thành đạo, Bồ tát chưa giảng diễn mười hai bộ
kinh nhưng đã thông đạt. Nay nhập Niết bàn, vì chúng sanh
diễn rộng và phân biệt chi li tường tận....
Thuần Đà ! Việc làm của Bồ tát, khác mhau lộ trình đi,
gặp nhau nơi mục đích đến. Khác nhau ở hình thức, đồng
nhau ở nội dung. Vì vậy như Lai dạy: Hai trường hợp cúng
dường thí thực ấy được hưởng quả báo đồng nhau.
II. Thuần Đà ! Thân Như Lai từ vô lượng, vô số vô biên
kiếp, không có thọ sự ăn uống. Vì hàng Thanh văn mà nói:
Rằng trước đó, tên Nan Đà và Đà Ba La, rồi sau đó chứng
quả VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC. Nhưng chính thực,
Như Lai không ăn, nay vì Đại chúng trong hải hội này mà Như
Lai nhận sự cúng dường của ngươi. Thực ra, Như Lai không
phải là thân tạp, Như Lai không ăn.
Đại chúng mừng rỡ khôn xiết kể. Ngợi khen và tán thán
công đức, trí tuệ của ông Thuần Đà. Rằng ông Thuần Đà
là đối tượng để Như Lai dạy chánh pháp. Rằng cái tên
Thuần Đà (Trung Hoa dịch: DIỆU NGHĨA) đã hàm chứa ý nghĩa
thông minh, có khả năng học hiểu sâu sắc chánh pháp của
Như Lai.
Quý hóa thay, Thuần Đà ! Ông đã được những điều mà nhiều
người không được. Ra đời được gặp Phật là khó. Có
học chánh pháp, được cúng dường trước giờ phút nhập
Đại Niết bàn lại càng khó hơn ! Vậy mà Thuần Đà đã
được !
Nam
Mô Thuần Đà !
Nam
Mô Thuần Đà !
Nay
ông đã đủ bố thí ba la mật.
Thuần Đà vui mừng hớn hở. Ông đảnh lễ Phật và nói bài
kệ:
Đặt
hạt cải đầu kim đã khó
Sanh
vào đời gặp Phật khó hơn
Hẳn
thiện duyên con đã sớm gieo trồng
Đấng
Điều Ngự cho con mưa chánh pháp
Hoa
đàm nở dễ mấy ai được thấy
Được
Như Lai thọ ký khó hơn nhiều
Thấy
Như Lai nhân ác thú viễn ly
Con
vui sướng, bước Như Lai xin kính lễ
Nguyện
Như Lai thêm tuổi thọ ở nơi đời
Thêm
số kiếp, cho nhân thiên thêm nhiều đắc độ
Phật dạy: Thuần Đà ! Ông không nên sanh lòng buồn khổ.
Ông là người đầy đủ phước duyên. Ông không nên thỉnh
Phật ở đời dài lâu mà ông nên quan sát: Cảnh giới Nhơn
Thiên vốn không bền chắc, cảnh giới chư Phật hết thảy
cũng đều vô thường. Tánh và tướng của các hành pháp là
như vậy.
Đức
Phật nói bài kệ:
Tất
cả pháp thế gian
Có
sinh đều có diệt
Dầu
thọ mạng dài lâu
Đến
kỳ cũng phải chết
Phật
nay vào Niết bàn
Thọ
trì đệ nhất lạc
Pháp
chư Phật đều vậy
Đại
chúng chớ nên buồn
Cuộc đối thoại giữa Thuần Đà với Đại Trí Văn Thù Sư
Lợi Bồ tát:
Rằng Như Lai không đồng với hành pháp vì hành pháp có sanh
có diệt. Như Lai không phải hữu vi vì hữu vi thuộc về hành
pháp. Người trí phải hiểu Như lai là Vô vi. Như Lai là pháp
thường trụ, bất biến. Có chánh quán như vậy, ông sẽ thành
tựu 32 tướng tốt, chóng thành Vô Thượng Bồ Đề.
Cuộc đối thoại tiếp diễn và cho thấy:
Cúng
dường Như Lai không nên đặt vấn đề nhiều ít, ngon hay
không ngon.
Cúng
dường Như Lai không nên luận: Kịp thời hay trễ thời.
Cúng
dường Như Lai không được nghĩ Như Lai hài lòng hay không
hài lòng
Bởi vì Như Lai đã không ăn uống từ vô lượng kiếp. Vì
không thọ thực cho nên không có vấn đề trễ hay kịp thời.
Với Như Lai, không có hài lòng. Vì Như lai hài lòng mọi lúc
và hài lòng với tất cả chúng sinh.
Hiểu như thế là khéo thâm nhập kinh điển Đại thừa.
Dù nhận thức chân lý nhưng Thuần Đà và Đại chúng vẫn
buồn thảm khóc than....
Đức Thế Tôn dạy: Thuần Đà ! Ông chớ nên khóc than buồn
thảm mà chi ! Ông nên quán sát: Thân này như cây chuối, như
bọt nước, như huyển hóa, như ánh nắng, như thành Càn thát
bà, như tia chớp, như đồ gốm chưa hầm, như hình vẽ trên
nước....phải quán sát các hành pháp như ăn lẫn chất độc...
Đức Phật nói bài kệ:
Các
hành pháp đều vô thường
Vì
là pháp có sinh diệt
Hãy
diệt ý niệm sinh diệt
Cái
vui tịch diệt hiện tiền
TRỰC
CHỈ
Đại thừa tư tưởng và tiểu thừa tư tưởng khác nhau ở
chỗ: Đại thừa không câu nệ chấp mắc, Tiểu thừa thì
trái lại. Đối với Tiểu thừa tư tưởng, Thuần Đà chỉ
là "một tịnh nhân", một bạch cư sĩ: trên đường giác ngộ,
giải thoát được xem như là "tuyệt phần", nghĩa là không
có tư cách dự phần vào đó. Trái lại, Đại thừa tư tưởng,
đỉnh cao là thời PHÁP HOA, NIẾT BÀN vấn đề nhân bản,
quyền con người tuyệt đối nâng cao, tuyệt đối bình đẳng.
Bình đẳng giữa nam và nữ, bình đẳng giữa tại gia và xuất
gia. Dĩ nhiên, Đại thừa, Tiểu thừa không hề đặt ra ranh
giới, đại, tiểu, tôn ty. Tốt xấu do người. Thiện ác do
người. Giải thoát giác ngộ hay không do người, không luận
giai cấp, chủng tộc, màu da, nam nữ, cho đến không quan trọng
hình thức tại gia, xuất gia.
Do vậy:
Cư sĩ Thuần Đà lại là đối tượng phải thời. Thuần Đà
được Như Lai nhận lễ vật dâng cúng, thọ dụng trước
khi nhập Niết bàn và Thuần Đà cũng được tiếp nhận những
lời dạy bảo cuối cùng của Như Lai.
Kinh
Đại Bát Niết Bàn rõ là kinh Đại thừa trong Đại thừa
!
Nâng
vai trò của một thợ thuyền ngang tầm cỡ đại chúng mười
phương.
Nâng
nhân cách một cư sĩ làm được những việc mà người xuất
gia chưa làm được (dâng phẩm vật cúng dường Như Lai thọ
nhận).
Nâng
trình độ, kiến giải một cư sĩ lên ngang hàng Đại Bồ
tát Văn Thù.
Nâng
địa vị một cư sĩ lên hàng cao đệ đối tượng thuyết
pháp, giáo dụ của Phật trước giờ phút nhập Đại Niết
Bàn.
Đây cũng là giáo lý Đại thừa trong Đại thừa.
"Đại
tượng bất du ư thố kính
Đại
ngộ bất câu ư tiểu tiết
Nhược
tương quản kiến báng thương thương
Vị
liễu ngô kim vị quân quyết !
(Huyền
Giác Thiền Sư)
Voi
vĩ đại không đi đường ngoằn ngoèo của thỏ
Đại
ngộ rồi, không câu chấp những nhỏ nhen
Nhìn
trời xanh, qua ống thấy được bao nhiêu ?
Chưa
hiểu rõ, ta sẽ vì chư quân mà bảo rõ !
(Từ
Thông Thiền Sư dịch)
Sắc thân có đi đứng nằm ngồi, có nghỉ ngơi, ăn uống,
đó là thân "tạp thực". Đó là "ảo hóa không thân". Thấy
thân ảo hóa, thấy thân tạp thực không thể gọi là thấy
được NHƯ LAI.
Nhược
dĩ sắc kiến ngã
Dĩ
âm thanh cầu ngã
Thị
nhơn hành tà đạo
Bất
năng kiến Như Lai
Nhìn
thân sắc tướng cho là thấy Như Lai
Nghe
âm thanh cho là biết Như Lai
Đó
là người tà đạo
Họ
không thể thấy Như Lai đích thực
(Kinh
Kim Cang)
Muốn thấy Như Lai, hiểu Như Lai phải thấy, hiểu qua PHÁP
THÂN thường trụ. Kim Cang bất hoại thân.
Tuy nhiên ảo hóa thân là diệu dụng hiện tượng từ Pháp
thân mà duyên khởi. Ảo hóa thân và Pháp thân không phải
một nhưng cũng không khác.
"Ảo
hóa không thân tức Pháp thân"
(Huyền Giác Thiền Sư)