Tập
2
QUYỂN
THỨ 36
HỘI
THỨ NHẤT
Phẩm
DẠY
BẢO DẠY TRAO
Thứ
7 - 26
Thiện
Hiện! Ngươi lại quán nghĩa nào mà nói tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc hữu vi hoặc vô vi tăng
ngữ chẳng phải Bồ tát Ma ha tát ư? Bạch Thế Tôn! Chư Phật
Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hữu vi vô vi, hãy rốt ráo
bất khả đắc, vì tánh chẳng phải có vậy. Huống là có
chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hữu vi vô vi tăng
ngữ. Tăng ngữ đây đã chẳng phải có, làm sao nói được:
Tức chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc hữu
vi hoặc vô vi tăng ngữ là Bồ tát Ma ha tát vậy.
Thiện
Hiện! Ngươi lại quán nghĩa nào mà nói tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc hữu lậu hoặc vô lậu
tăng ngữ chẳng phải Bồ tát Ma ha tát ư? Bạch Thế Tôn!
Chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hữu lậu vô lậu,
hãy rốt ráo bất khả đắc, vì tánh chẳng phải có vậy.
Huống là có chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hữu
lậu vô lậu tăng ngữ. Tăng ngữ đây đã chẳng phải có,
làm sao nói được: Tức chư Phật Vô thượng Chánh đẳng
Bồ đề hoặc hữu lậu hoặc vô lậu tăng ngữ là Bồ tát
Ma ha tát vậy.
Thiện
Hiện! Ngươi lại quán nghĩa nào mà nói tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc sanh hoặc diệt tăng ngữ
chẳng phải Bồ tát Ma ha tát ư? Bạch Thế Tôn! Chư Phật
Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề sanh diệt, hãy rốt ráo bất
khả đắc, vì tánh chẳng phải có vậy. Huống là có chư
Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề sanh diệt tăng ngữ.
Tăng ngữ đây đã chẳng phải có, làm sao nói được: Tức
chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc sanh hoặc
diệt tăng ngữ là Bồ tát Ma ha tát vậy.
Thiện
Hiện! Ngươi lại quán nghĩa nào mà nói tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc thiện hoặc phi thiện tăng
ngữ chẳng phải Bồ tát Ma ha tát ư? Bạch Thế Tôn! Chư Phật
Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề thiện phi thiện, hãy rốt
ráo bất khả đắc, vì tánh chẳng phải có vậy. Huống là
có chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề thiện phi thiện
tăng ngữ. Tăng ngữ đây đã chẳng phải có, làm sao nói được:
Tức chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc thiện
hoặc phi thiện tăng ngữ là Bồ tát Ma ha tát vậy.
Thiện
Hiện! Ngươi lại quán nghĩa nào mà nói tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc hữu tội hoặc vô tội
tăng ngữ chẳng phải Bồ tát Ma ha tát ư? Bạch Thế Tôn!
Chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hữu tội vô tội,
hãy rốt ráo bất khả đắc, vì tánh chẳng phải có vậy.
Huống là có chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hữu
tội vô tội tăng ngữ. Tăng ngữ đây đã chẳng phải có,
làm sao nói được: Tức chư Phật Vô thượng Chánh đẳng
Bồ đề hoặc hữu tội hoặc vô tội tăng ngữ là Bồ tát
Ma ha tát vậy.
Thiện
Hiện! Ngươi lại quán nghĩa nào mà nói tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc hữu phiền não hoặc vô
phiền não tăng ngữ chẳng phải Bồ tát Ma ha tát ư? Bạch
Thế Tôn! Chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hữu phiền
não vô phiền não, hãy rốt ráo bất khả đắc, vì tánh chẳng
phải có vậy. Huống là có chư Phật Vô thượng Chánh đẳng
Bồ đề hữu phiền não vô phiền não tăng ngữ. Tăng ngữ
đây đã chẳng phải có, làm sao nói được: Tức chư Phật
Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc hữu phiền não hoặc
vô phiền não tăng ngữ là Bồ tát Ma ha tát vậy.
Thiện
Hiện! Ngươi lại quán nghĩa nào mà nói tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc thế gian hoặc xuất thế
gian tăng ngữ chẳng phải Bồ tát Ma ha tát ư? Bạch Thế Tôn!
Chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề thế gian xuất thế
gian, hãy rốt ráo bất khả đắc, vì tánh chẳng phải có
vậy. Huống là có chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề
thế gian xuất thế gian tăng ngữ. Tăng ngữ đây đã chẳng
phải có, làm sao nói được: Tức chư Phật Vô thượng Chánh
đẳng Bồ đề hoặc thế gian hoặc xuất thế gian tăng ngữ
là Bồ tát Ma ha tát vậy.
Thiện
Hiện! Ngươi lại quán nghĩa nào mà nói tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc tạp nhiễm hoặc thanh tịnh
tăng ngữ chẳng phải Bồ tát Ma ha tát ư? Bạch Thế Tôn!
Chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề tạp nhiễm thanh
tịnh, hãy rốt ráo bất khả đắc, vì tánh chẳng phải có
vậy. Huống là có chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề
tạp nhiễm thanh tịnh tăng ngữ. Tăng ngữ đây đã chẳng
phải có, làm sao nói được: Tức chư Phật Vô thượng Chánh
đẳng Bồ đề hoặc tạp nhiễm hoặc thanh tịnh tăng ngữ
là Bồ tát Ma ha tát vậy.
Thiện
Hiện! Ngươi lại quán nghĩa nào mà nói tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc thuộc sanh tử hoặc thuộc
Niết bàn tăng ngữ chẳng phải Bồ tát Ma ha tát ư? Bạch
Thế Tôn! Chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề thuộc
sanh tử thuộc Niết bàn, hãy rốt ráo bất khả đắc, vì
tánh chẳng phải có vậy. Huống là có chư Phật Vô thượng
Chánh đẳng Bồ đề thuộc sanh tử thuộc Niết bàn tăng ngữ.
Tăng ngữ đây đã chẳng phải có, làm sao nói được: Tức
chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc thuộc sanh
tử hoặc thuộc Niết bàn tăng ngữ là Bồ tát Ma ha tát vậy.
Thiện
Hiện! Ngươi lại quán nghĩa nào mà nói tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc ở trong hoặc ở ngoài
hoặc ở giữa hai tăng ngữ chẳng phải Bồ tát Ma ha tát ư?
Bạch Thế Tôn! Chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề
ở trong ở ngoài ở giữa hai, hãy rốt ráo bất khả đắc,
vì tánh chẳng phải có vậy. Huống là có chư Phật Vô thượng
Chánh đẳng Bồ đề ở trong ở ngoài ở giữa hai tăng ngữ.
Tăng ngữ đây đã chẳng phải có, làm sao nói được: Tức
chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc ở trong hoặc
ở ngoài hoặc ở giữa hai tăng ngữ là Bồ tát Ma ha tát vậy.
Thiện
Hiện! Ngươi lại quán nghĩa nào mà nói tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc khả đắc hoặc bất khả
đắc tăng ngữ chẳng phải Bồ tát Ma ha tát ư? Bạch Thế
Tôn! Chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề khả đắc
bất khả đắc, hãy rốt ráo bất khả đắc, vì tánh chẳng
phải có vậy. Huống là có chư Phật Vô thượng Chánh đẳng
Bồ đề khả đắc bất khả đắc tăng ngữ. Tăng ngữ đây
đã chẳng phải có, làm sao nói được: Tức chư Phật Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề hoặc khả đắc hoặc bất khả
đắc tăng ngữ là Bồ tát Ma ha tát vậy.
Bạch
Thế Tôn, Sắc thảy pháp và tăng ngữ, sắc thảy thường
vô thường thảy pháp và tăng ngữ đã bất khả đắc. Mà
nói sắc thảy pháp tăng ngữ và sắc thảy thường vô thường
thảy pháp tăng ngữ là Bồ tát Ma ha tát, ấy là không có
lẽ vậy.
Phật
bảo: Thiện Hiện! Hay thay! Hay thay! Như vậy! Như vậy! Như
Ngươi đã nói. Thiện Hiện! Sắc thảy pháp và sắc thảy
thường vô thường thảy pháp vì bất khả đắc, nên sắc
thảy pháp tăng ngữ và sắc thảy thường vô thường thảy
pháp tăng ngữ cũng bất khả đắc. Vì pháp và tăng ngữ bất
khả đắc, nên Bồ tát Ma ha tát cũng bất khả đắc. Vì Bồ
tát Ma ha tát bất khả đắc, nên sở hành Bát nhã Ba la mật
đa cũng bất khả đắc.
Thiện
Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa,
nên cứ như thế mà học.
Lại
nữa, Thiện Hiện! Ngươi trước đã nói tôi chẳng thấy có
pháp đáng gọi Bồ tát Ma ha tát ấy. Như vậy như vậy! Như
lời Ngươi đã nói.
Thiện
Hiện! Các pháp chẳng thấy các pháp, các pháp chẳng thấy
pháp giới; pháp giới chẳng thấy các pháp, pháp giới chẳng
thấy pháp giới.
Thiện
Hiện! Pháp giới chẳng thấy sắc giới, sắc giới chẳng
thấy pháp giới. Pháp giới chẳng thấy thọ tưởng hành thức
giới, thọ tưởng hành thức giới chẳng thấy pháp giới.
Thiện
Hiện! Pháp giới chẳng thấy nhãn xứ giới, nhãn xứ giới
chẳng thấy pháp giới. Pháp giới chẳng thấy nhĩ tỷ thiệt
thân ý xứ giới, nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ giới chẳng thấy
pháp giới. Pháp giới chẳng thấy sắc xứ giới, sắc xứ
giới chẳng thấy pháp giới. Pháp giới chẳng thấy thanh hương
vị xúc pháp xứ giới, thanh hương vị xúc pháp xứ giới
chẳng thấy pháp giới.
Thiện
Hiện! Pháp giới chẳng thấy nhãn giới, sắc giới, nhãn thức
giới; nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới chẳng thấy
pháp giới. Pháp giới chẳng thấy nhĩ giới, thanh giới, nhĩ
thức giới, thanh giới, nhĩ thức giới; nhĩ giới, thanh giới,
nhĩ thức giới chẳng thấy pháp giới. Pháp giới chẳng thấy
tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; tỷ giới, hương giới,
tỷ thức giới chẳng thấy pháp giới. Pháp giới chẳng thấy
thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới; thiệt giới, vị
giới, thiệt thức giới chẳng thấy pháp giới. Pháp giới
chẳng thấy thân giới, xúc giới, thân thức; thân giới, xúc
giới, thân thức giới chẳng thấy pháp giới. Pháp giới chẳng
thấy ý giới, pháp giới, ý thức giới; ý giới, pháp giới,
ý thức giới chẳng thấy pháp giới.
Thiện
Hiện! Pháp giới chẳng thấy địa giới, địa giới chẳng
thấy pháp giới. Pháp giới chẳng thấy thủy hỏa phong không
thức giới, thủy hỏa phong không thức giới chẳng thấy pháp
giới.
Thiện
Hiện! Pháp giới chẳng thấy khổ thánh đế giới, khổ thánh
đế giới chẳng thấy pháp giới. Pháp giới chẳng thấy tập
diệt đạo thánh đế giới, tập diệt đạo thánh đế giới
chẳng thấy pháp giới.
Thiện
Hiện! Pháp giới chẳng thấy vô minh giới, vô minh giới chẳng
thấy pháp giới. Pháp giới chẳng thấy hành thức danh-sắc
lục-xứ xúc thọ ái thủ hữu sanh lão tử sầu thán khổ
ưu não giới, hành cho đến lão tử sầu thán khổ ưu não
giới chẳng thấy pháp giới.
Thiện
Hiện! Pháp giới chẳng thấy Dục giới, Dục giới chẳng
thấy pháp giới. Pháp giới chẳng thấy Sắc, Vô sắc giới;
Sắc, Vô sắc giới chẳng thấy pháp giới.
Thiện
Hiện! Hữu vi giới chẳng thấy vô vi giới, vô vi giới chẳng
thấy hữu vi giới. Vì sao thế? Thiện Hiện! Vì chẳng rời
hữu vi mà thi thiết vô vi và chẳng phải rời vô vi mà thi
thiết hữu vi được!
Thiện
Hiện! Như vậy Bồ tát Ma ha tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật
đa, đối tất cả pháp đều vô sở kiến. Khi mà đối tất
cả pháp vô sở kiến, tâm kia mới bất kinh bất khủng bất
bố, vì đối tất cả pháp tâm chẳng chìm đắm, cũng chẳng
ưu hối. Sở vì sao?
Là
Bồ tát Ma ha tát này khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa chẳng
thấy sắc, chẳng thấy thọ tưởng hành thức; chẳng thấy
nhãn xứ, chẳng thấy nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ; chẳng thấy
sắc xứ, chẳng thấy sắc xứ, chẳng thấy thanh hương vị
xúc pháp xứ; chẳng thấy nhãn giới, sắc giới, nhãn giới;
chẳng thấy nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới; chẳng thấy
tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới; chẳng thấy thiệt
giới, vị giới, thiệt thức giới; chẳng thấy thân giới,
xúc giới, thân thức giới; chẳng thấy ý giới, pháp giới,
ý thức giới. Chẳng thấy địa giới, chẳng thấy thủy hỏa
phong không thức giới. Chẳng thấy khổ thánh đế, chẳng
thấy tập diệt đạo thánh đế. Chẳng thấy vô minh; chẳng
thấy hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ,
hữu, sanh, lão tử sầu thán khổ ưu não. Chẳng thấy Dục
giới, chẳng thấy Sắc giới, Vô sắc giới. Chẳng thấy hữu
vi, chẳng thấy vô vi. Chẳng thấy tham sân si, chẳng thấy
diệt tham sân si. Chẳng thấy ngã; chẳng thấy hữu tình, mạng
giả, sanh giả, dưỡng giả, sĩ phu, bổ đặc già la, ý sanh,
nho đồng, tác giả, khiến tác giả, khởi giả, khiến khởi
giả, thọ giả, khiến thọ giả, tri giả kiến. Chẳng thấy
Thanh văn, chẳng thấy pháp Thanh văn. Chẳng thấy Ðộc giác,
chẳng thấy pháp Ðộc giác. Chẳng thấy Bồ tát, chẳng thấy
pháp Bồ tát. Chẳng thấy Phật, chẳng thấy pháp Phật và
chẳng thấy Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.
Thiện
Hiện! Như vậy Bồ tát Ma ha tát đối tất cả pháp đều
vô sở kiến. Khi mà đối tất cả vô sở kiến, tâm kia mới
bất kinh bất khủng bất bố. Ðối tất cả pháp tâm chẳng
chìm đắm, cũng chẳng ưu hối!
Cụ
thọ Thiện Hiện thưa: Bạch Thế Tôn! Vì nhân duyên gì nên
Bồ tát Ma ha tát này đối với tất cả pháp tâm chẳng chìm
đắm, cũng chẳng ưu hối? Phật bảo: Thiện Hiện! Bồ tát
Ma ha tát này khắp đối tất cả pháp tâm, tâm sở bất đắc,
bất kiến. Do nhân duyên đây nên Bồ tát Ma ha tát này đối
tất cả pháp tâm chẳng chìm đắm, cũng chẳng ưu hối.
Cụ
thọ Thiện Hiện lại thưa: Bạch Thế Tôn! Vì sao Bồ tát
Ma ha tát này đối tất cả pháp, tâm kia bất kinh bất khủng
bất bố? Phật bảo: Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này khắp
đối tất cả ý giới, ý thức giới bất đắc, bất kiến.
Như vậy Bồ tát Ma ha tát đói tất cả pháp, tâm kia bất
kinh bất khủng bất bố. Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát
đối với tất cả pháp đều vô sở đắc, nên hành Bát nhã
Ba la mật đa.
Thiện
Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa,
đối tất cả chỗ bất đắc Bát nhã Ba la mật đa, bất đắc
danh Bát nhã Ba la mật đa; bất đắc Bồ tát, bất đắc danh
Bồ tát, bất đắc tâm Bồ tát.
Thiện
Hiện! Nên như vậy mà dạy bảo dạy trao cho các Bồ tát Ma
ha tát, khiến cho đối với Bát nhã Ba la mật đa tu học rốt
ráo!
HỘI
THỨ NHẤT
Phẩm
KHUYẾN
HỌC
Thứ
8
Bấy
giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật: Bạch Thế Tôn! Bồ
tát Ma ha tát muốn mãn bố thí Ba la mật đa, phải học Bát
nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn mãn tịnh giới, an
nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã Ba la mật đa, phải học
Bát nhã Ba la mật đa.
Bồ
tát Ma ha tát muốn biết khắp sắc, phải học Bát nhã Ba la
mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn biết khắp thọ tưởng hành
thức, phải học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn
biết khắp nhãn xứ, phải học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ
tát Ma ha tát muốn biết khắp nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ, phải
học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn biết khắp
sắc xứ, phải học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát
muốn biết khắp thanh hương vị xúc pháp xứ, phải học Bát
nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn biết khắp nhãn giới,
sắc giới, nhãn thức giới và nhãn xúc, nhãn xúc làm duyên
sanh ra các thọ, phải học Bát nhã Ba la mật đa.
Bồ
tát Ma ha tát muốn biết khắp nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức
giới và nhĩ xúc, nhĩ xúc làm duyên sanh ra các thọ, phải
học Bát nhã Ba la mật. Bồ tát Ma ha tát muốn biết khắp
tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới và tỷ xúc, tỷ xúc
làm duyên sanh ra các thọ, phải học Bát nhã Ba la mật đa.
Bồ tát Ma ha tát muốn biết khắp thiệt giới, vị giới,
thiệt thức giới và thiệt xúc, thiệt xúc làm duyên sanh ra
các thọ, phải học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát
muốn biết khắp thân giới, xúc giới, thân thức giới và
thân xúc, thân xúc làm duyên sanh ra các thọ, phải học Bát
nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn biết khắp ý giới,
pháp giới, ý thức giới và ý xúc, ý xúc làm duyên sanh ra
các thọ, phải học Bát nhã Ba la mật đa.
Bồ
tát Ma ha tát muốn biết khắp địa giới, phải học Bát nhã
Ba la mật. Bồ tát Ma ha tát muốn biết khắp thủy hỏa phong
không thức giới, phải học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát
Ma ha tát muốn biết khắp khổ thánh đế, phải học Bát nhã
Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn biết khắp tập diệt
đạo thánh đế, phải học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát
Ma ha tát muốn biết khắp vô minh, phải học Bát nhã Ba la
mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn biết khắp hành, thức, danh
sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử sầu
thán khổ ưu não, phải học Bát nhã Ba la mật đa.
Bồ
tát Ma ha tát muốn dứt hẳn tham sân si, phải học Bát nhã
Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn dứt tát đa da kiến,
giới cấm thủ, nghi, dục, tham sân nhuế, phải học Bát nhã
Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn dứt hẳn sắc tham, vô
sắc tham, vô minh, mạn, điệu cử, phải học Bát nhã Ba la
mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn dứt hẳn triền kiết, tùy
miên, phải học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn
dứt hẳn bốn thực, phải học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ
tát Ma ha tát muốn dứt hẳn bốn dòng bạo lưu ách thủ, phải
học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn dứt hẳn
bốn trói thân, bốn điên đảo, phải học Bát nhã Ba la mật
đa. Bồ tát Ma ha tát muốn dứt hẳn ba lậu, ba bất thiện
căn, phải học Bát nhã Ba la mật đa.
Bồ
tát Ma ha tát muốn xa lìa mười bất thiện nghiệp đạo, phải
học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn tập hành
mười thiện nghiệp đạo, phải học Bát nhã Ba la mật đa.
Bồ tát Ma ha tát muốn tu bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn
định vô sắc, phải học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma
ha tát muốn tu bốn niệm trụ, phải học Bát nhã Ba la mật
đa. Bồ tát Ma ha tát muốn tu bốn chánh đoạn, bốn thần
túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh đạo
chi, phải học Bát nhã Ba la mật đa.
Bồ
tát Ma ha tát muốn được Phật mười lực, phải học Bát
nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn được bốn vô sở
úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại
xả, mười tám pháp Phật bất cộng, nhất thiết trí, đạo
tướng trí, nhất thiết tướng trí, phải học Bát nhã Ba
la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn được sáu thần thông tự
tại, phải học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn
được bốn tĩnh lự, bốn định vô sắc, định diệt tận
thứ lớp vượt lên thuận nghịch tự tại, phải học Bát
nhã Ba la mật đa.
Bồ
tát Ma ha tát muốn nơi tất cả pháp môn đà la ni, pháp môn
tam ma địa đều được tự tại, phải học Bát nhã Ba la
mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn được tam ma địa Ðủ giác
chi, tam ma điạ Sư tử du hý, tam ma địa Sư tử phấn tấn,
tam ma địa Sư tử tần thân, tam ma địa Sư tử xuy khư, tam
ma địa Kiện hành, tam ma địa Bảo ấn, tam ma địa Diệu
nguyệt, tam ma địa Nguyệt tràng tướng, tam ma địa Nhất
thiết pháp ấn, tam ma địa Quán đỉnh ấn, tam ma địa Pháp
giới quyết định, tam ma địa Quyết định tràng tướng,
tam ma địa Kim cương dụ, tam ma địa Nhập nhất thiết pháp
ấn, tam ma địa An trụ định vương, tam ma địa Vương ấn,
tam ma địa Tinh tiến lực, tam ma địa Ðẳng dũng, tam ma địa
Nhập nhất thiết ngôn từ quyết định, tam ma địa Nhập
nhất thiết ngôn từ quyết định, tam ma địa Nhập nhất
thiết danh tự quyết định, tam ma địa Quán phương, tam ma
địa Ðà la ni ấn, tam ma địa Vô vong thất, tam ma địa Chư
pháp đẳng thú hải ấn, tam ma địa Biến phú hư không, tam
ma địa Tam luân thanh tịnh, tam ma địa Thú hướng bất tối
chuyển thần thông, tam ma địa Khí trung dũng xuất, tam ma địa
Tối thắng tràng tướng, tam ma địa Thiêu chư phiền não,
tam ma địa Hàng phục bốn ma, tam ma địa Ðại trí huệ cự
và tam ma địa Xuất sanh mười lực. Bồ tát Ma ha tát muốn
được như thế thảy vô lượng trăm ngàn pháp môn tam ma địa,
phải học Bát nhã Ba la mật đa.
Bồ
tát Ma ha tát muốn mãn tâm sở nguyện của tất cả hữu tình,
phải học Bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát muốn mãn
thù thắng thiện căn như thế, do nhờ thiện căn đây hẳn
chẳng đọa ác thú, chẳng sanh nhà bần tiện, chẳng đọa
Thanh văn và bực Ðộc giác, với Bồ tát Ðỉnh quyết chẳng
lai đọa, phải học Bát nhã Ba la mật đa.
Khi
ấy, Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng: Vì sao gọi là Bồ
tát Ðỉnh đọa? Thiện Hiện đáp: Nếu các Bồ tát không
có phương tiện khéo léo mà hành sáu Ba la mật đa, không có
phương tiện khéo léo trụ ba môn giải thoát, là đọa nơi
Thanh văn hoặc bực Ðộ giác, chẳng vào được Bồ tát Chánh
tánh Ly sanh. Như vậy gọi là Bồ tát Ðỉnh đọa. Tức Ðỉnh
đọa này cũng gọi là Sanh đấy.
Tức
thì Xá Lợi Tử lại hỏi nữa: Vì duyên gì Bồ tát Ðỉnh
đọa gọi Sanh? Thiện Hiện đáp: Sanh nghĩa là pháp ái. Nếu
các Bồ tát thuận đạo pháp ái gọi là Sanh. Xá Lợi Tử
hỏi: Bồ tát thuận đạo pháp ái nghĩa là gì? Thiện Hiện
đáp: Nếu Bồ tát Ma ha tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa,
với sắc trụ không mà khởi tưởng đắm, với thọ tưởng
hành thức trụ không mà khởi tưởng đắm. Với sắc trụ
vô tướng mà khởi tưởng đắm, với thọ tưởng hành thức
trụ vô thường mà khởi tưởng đắm. Với sắc trụ vô nguyện
mà khởi tưởng đắm, với thọ tưởng hành thức trụ vô
tướng mà khởi tưởng đắm. Với sắc trụ vô nguyện mà
khởi tưởng đắm, với thọ tưởng hành thức vô trụ vô
nguyện mà khởi tưởng đắm. Với sắc trụ vô thường mà
khởi tưởng đắm, với thọ tưởng hành thức trụ vô thường
mà khởi tưởng đắm. Với sắc trụ khổ mà khởi tưởng
đắm, với thọ tưởng hành thức trụ khổ mà khởi tưởng
đắm. Với sắc trụ vô ngã mà khởi tưởng đắm, với thọ
tưởng hành thức trụ vô ngã mà khởi tưởng đắm. Với
sắc trụ bất tịnh mà khởi tưởng đắm, với thọ tưởng
hành thức trụ bất tịnh mà khởi tưởng đắm. Với sắc
trụ tịch tĩnh mà khởi tưởng đắm, với thọ tưởng hành
thức trụ tịch tĩnh mà khởi tưởng đắm. Với sắc trụ
viễn ly mà khởi tưởng đắm, với thọ tưởng hành thức
trụ viễn ly mà khởi tưởng đắm. Ðấy gọi là Bồ tát
thuận đạo pháp ái.
Lại
nữa, Xá Lợi Tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát tác khởi nghĩ này:
Ðây sắc phải dứt, đây thọ tưởng hành thức phải dứt.
Do đấy nên sắc cần dứt, do đấy nên thọ tưởng hành thức
cần dứt. Ðây khổ phải biết khắp, do đấy nên khổ cần
biết khắp. Ðây tập phải dứt hẳn, do đấy nên tập cần
dứt hẳn. Ðây diệt phải tác chứng, do đấy nên diệt phải
tác chứng. Ðây đạo phải tu tập, do đấy nên đạo phải
tu tập. Ðây tạp nhiễm, đây thanh tịnh. Ðây nên gần gũi,
đây chẳng nên gần gũi. Ðây nên hành, đây chẳng nên hành.
Ðây đạo, đây phi đạo. Ðây nên học, đây chẳng nên học.
Ðây
là bố thí Ba la mật, đây chẳng phải bố thí Ba la mật đa.
Ðây là tịnh giới Ba la mật đa, đây chẳng phải tịnh giới
Ba la mật đa. Ðây la an nhẫn Ba la mật đa, đây chẳng phải
an nhẫn Ba la mật đa. Ðây là tinh tiến Ba la mật đa, đây
chẳng phải tinh tiến Ba la mật đa. Ðây là tĩnh lự Ba la
mật đa, đây chẳng phải tĩnh lự Ba la mật đa. Ðây là bát
nhã Ba la mật đa, đây chẳng phải bát nhã Ba la mật đa. Ðây
là phương tiện khéo léo, đây chẳng phải phương tiện khéo
léo. Ðây là Bồ tát sanh, đây là Bồ tát ly sanh.
Xá
Lợi Tử! Nếu Bồ tát Ma ha tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật
đa an trụ như thế mà sanh tưởng đắm, đấy là Bồ tát
thuận đạo pháp ái. Pháp ái như thế gọi danh là Sanh. Như
ăn đồ cách đêm năng đêm sanh bệnh hoạn.
Lúc
đó, Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng: Bồ tát Ma ha tát
vào Chánh tánh Ly sanh là nghĩa ra sao?
Thiện
Hiện đáp: Nếu Bồ tát Ma ha tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật
đa, chẳng thấy nội không, chẳng đợi nội không mà quán
ngoại không. Chẳng thấy ngoại không, chẳng đợi ngoại không
mà quán nội không; chẳng đợi ngoại không mà quán nội ngoại
không. Chẳng thấy nội ngoại không, chẳng đợi nội ngoại
không mà quán ngoại không; chẳng đợi nội ngoại không mà
quán không không. Chẳng thấy không không, chẳng đợi không
không mà quán đại không. Chẳng thấy đại không, chẳng đợi
đại không mà quán thắng nghĩa không. Chẳng thấy thắng nghĩa
không, chẳng đợi thắng nghĩa không mà quán hữu vi không.
Chẳng thấy hữu vi không, chẳng đợi hữu vi không mà quán
thắng nghĩa không; chẳng đợi hữu vi không mà quán vô vi
không. Chẳng thấy vô vi không, chẳng đợi vô vi không mà
quán tất cảnh không. Chẳng thấy tất cảnh không, chẳng
đợi tất cảnh không mà quán vô vi không; chẳng đợi tất
cảnh không mà quán vô tế không. Chẳng thấy vô tế không,
chẳng đợi vô tế không mà quán tất cảnh không; chẳng đợi
vô tế không mà quán tán không. Chẳng thấy tán không, chẳng
đợi tán không mà quán vô tế không; chẳng đợi tán không
mà quán vô biến dị không. Chẳng thấy vô biến dị không,
chẳng đợi vô biến dị không mà quán tán không; chẳng đợi
vô biến dị không mà quán bổn tánh không. Chẳng thấy bổn
tánh không, chẳng đợi bổn tánh không mà quán vô biến dị
không; chẳng đợi bổn tánh không mà quán tự tướng không.
Chẳng thấy tự tướng không, chẳng đợi tự tướng không
mà quán bổn tánh không; chẳng đợi tự tướng không mà quán
cộng tướng không. Chẳng thấy cộng tướng không, chẳng
đợi cộng tướng không mà quán tự tướng không; chẳng đợi
cộng tướng không mà quán nhất thiết không; chẳng đợi
cộng tướng không mà quán nhất thiết pháp không. Chẳng thấy
nhất thiết pháp không, chẳng đợi nhất thiết pháp không
mà quán cộng tướng không; chẳng đợi nhất thiết pháp không
mà quán bất khả đắc không. Chẳng thấy bất khả đắc
không, chẳng đợi bất khả đắc không mà quán nhất thiết
pháp không; chẳng đợi bất khả đắc không mà quán vô tánh
không. Chẳng thấy vô tánh không, chẳng đợi vô tánh không
mà quán bất khả đắc không; chẳng đợi vô tánh không mà
quán tự tánh không. Chẳng thấy tự tánh không, chẳng đợi
tự tánh không mà quán vô tánh không; chẳng đợi tự tánh
không mà quán vô tánh tự tánh không. Chẳng thấy vô tánh
tự tánh không, chẳng đợi vô tánh tự tánh không mà quán
tự tánh không.
Xá
Lợi Tử! Khi hành Bát nhã Ba la mật đa, nếu Bồ tát Ma ha
tát tác khởi quán này, gọi là vào Bồ tát Chánh tánh Ly sanh.
Lại
nữa, Xá Lợi Tử! Khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa các Bồ
tát Ma ha tát nên học như vậy: Sắc nên biết chẳng nên chấp,
thọ tưởng hành thức nên biết chẳng nên chấp; danh sắc
nên biết chẳng nên chấp, danh thọ tưởng hành thức nên
biết chẳng nên chấp. Nhãn xứ nên biết chẳng nên chấp,
nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ nên biết chẳng nên chấp; danh nhãn
xứ nên biết chẳng nên chấp, danh nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ
nên biết chẳng nên chấp. Sắc xứ nên biết chẳng nên chấp,
thanh hương vị xúc pháp xứ nên biết chẳng nên chấp; danh
sắc xứ nên biết chẳng nên chấp, danh thanh hương vị xúc
pháp xứ nên biết chẳng nên chấp.
Nhãn
giới, sắc giới, nhãn thức giới nên biết chẳng nên chấp;
danh nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới nên biết chẳng
nên chấp. Nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới nên biết
chẳng nên chấp; danh nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới
nên biết chẳng nên chấp. Tỷ giới, hương giới, tỷ thức
giới nên biết chẳng nên chấp; danh tỷ giới, hương giới,
tỷ thức giới nên biết chẳng nên chấp. Thiệt giới, vị
giới, thiệt thức giới nên biết chẳng nên chấp; danh thiệt
giới, vị giới, thiệt thức giới nên biết chẳng nên chấp.
Thân giới, xúc giới, thân thức giới nên biết chẳng nên
chấp; danh thân giới, xúc giới, thân thức giới nên biết
chẳng nên chấp. Ý giới, pháp giới, ý thức giới nên biết
chẳng nên chấp; danh ý giới, pháp giới, ý thức giới nên
biết chẳng nên chấp.
Ðịa
giới nên biết chẳng nên chấp, thủy hỏa phong không thức
giới nên biết chẳng nên chấp; danh địa giới nên biết
chẳng nên chấp, danh thủy hỏa phong không thức giới nên
biết chẳng nên chấp.
Khô
thánh đế nên biết chẳng nên chấp, tập diệt đạo thánh
đế nên biết chẳng nên chấp; danh khổ thánh đế nên biết
chẳng nên chấp, danh tập diệt đạo thánh đế nên biết
chẳng nên chấp.
Vô
minh nên biết chẳng nên chấp, hành thức danh-sắc lục-xứ
thọ ái thủ hữu sanh lão tử sầu thán khổ ưu não nên biết
chẳng nên chấp; danh vô minh nên biết chẳng nên chấp, danh
hành cho đến lão tử sầu thán khổ ưu não nên biết chẳng
nên chấp.
Bốn
tĩnh lự nên biết chẳng nên chấp, bốn vô lượng, bốn vô
sắc định nên biết chẳng nên chấp; danh bốn tĩnh lự nên
biết chẳng nên chấp, danh bốn vô lượng, bốn vô sắc định
nên biết chẳng nên chấp.
Năm
nhãn nên biết chẳng nên chấp, sáu thần thông nên biết chẳng
nên chấp; danh năm nhãn nên biết chẳng nên chấp, danh sáu
thần thông nên biết chẳng nên chấp.
Bố
thí Ba la mật đa nên biết chẳng nên chấp, tịnh giới an
nhẫn tinh tiến tĩnh lự bát nhã Ba la mật đa nên biết chẳng
nên chấp; danh bố thí Ba la mật đa nên biết chẳng nên chấp,
danh tịnh giới an nhẫn tinh tiến tĩnh lự bát nhã Ba la mật
đa nên biết chẳng nên chấp.
Bốn
niệm trụ nên biết chẳng nên chấp; bốn chánh đoạn, bốn
thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh
đạo chi nên biết chẳng nên chấp. Danh bốn niệm trụ nên
biết chẳng nên chấp, danh bốn chánh đoạn cho đến tám thánh
đạo chi nên biết chẳng nên chấp.
Phật
mười lực nên biết chẳng nên chấp; bốn vô sở úy, bốn
vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười
tám pháp Phật bất cộng, nhất thiết trí, đạo tướng trí,
nhất thiết tướng trí nên biết chẳng nên chấp. Danh Phật
mười lực nên biết chẳng nên chấp, danh bốn vô sở úy
cho đến nhất thiết tướng trí nên biết chẳng nên chấp.
Lại
nữa, Xá Lợi Tử! Khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa các Bồ
tát Ma ha tát nên học như vầy: Bồ đề tâm nên biết chẳng
nên chấp, danh Bồ đề tâm nên biết chẳng nên chấp. Vô
đẳng đẳng tâm nên biết chẳng nên chấp, danh vô đẳng
đẳng tâm nên biết chẳng nên chấp. Quảng đại tâm nên
biết chẳng nên chấp, danh quảng đại tâm nên biết chẳng
nên chấp. Vì sao thế? Là tâm này phi tâm, vì bản tánh tịnh
vậy.
Lúc
ấy, Xá Lợi Tử hỏi Thiện Hiện rằng: Tâm này vì sao bản
tánh thanh tịnh? Thiện Hiện đáp: Bản tánh tâm này chẳng
tương ưng với tham, mà chẳng phải tương ưng. Chẳng tương
ưng với sân, mà chẳng phải chẳng tương ưng. Chẳng tương
ưng với si, mà chẳng phải chẳng tương ưng. Chẳng tương
ưng với triền kiết, tùy miên, mà chẳng phải chẳng tương
ưng. Chẳng tương ưng các kiến, thú, lậu, bộc lưu ách thủ
thảy, mà chẳng phải chẳng tương ưng. Chẳng tương ưng các
tâm Thanh văn, Ðộc giác thảy, mà chẳng phải chẳng tương
ưng. Xá Lợi Tử! Tâm này bản tánh thanh tịnh như thế!
Xá
Lợi Tử! Tâm này là hữu tâm phi tâm tánh chăng? Thiện Hiện
đáp: Chẳng phải. Hỏi: Trong phi tâm tánh hữu tánh vô tánh
là khá được chăng? Xá Lợi tử nói: Chẳng phải vậy, thưa
Ngài! Thiện Hiện đáp: Trong phi tâm tánh hữu tánh vô tánh
đã chẳng khá được, làm sao nói được tâm này là hữu
tâm phi tâm tánh chăng!
Xá
Lợi Tử hỏi: Những gì gọi là tâm phi tâm tánh? Thiện Hiện
đáp: Ðối tất cả pháp không biến khác, không phân biệt,
đấy gọi tâm phi tâm tánh. Xá Lợi Tử hỏi rằng: Như tâm
không biến khác, không phân biệt; sắc cũng không biến khác,
không phân biệt ư? Thiện Hiện đáp rằng: Như thế. Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; thọ tưởng hành
thức cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế.
Hỏi: Như tâm không biến khác, không phân biệt; nhãn xứ cũng
không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế. Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; nhĩ tỷ thiệt thân
ý xứ cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như
thế. Hỏi: Như tâm không biến khác, không phân biệt; sắc
xứ cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế.
Hỏi: Như tâm không biến khác, không phân biệt; thanh hương
vị xúc pháp xứ cũng không biến khác, không phân biệt ư?
Ðáp: Như thế.
Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; nhãn giới, sắc
giới, nhãn thức giới cũng không biến khác, không phân biệt
ư? Ðáp: Như thế. Hỏi: Như tâm không biến khác, không phân
biệt; nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới cũng không biến
khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế. Hỏi: Như tâm không
biến khác, không phân biệt; tỷ giới, hương giới, tỷ thức
giới cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế.
Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; thiệt giới, vị
giới, thiệt thức giới cũng không biến khác, không phân biệt
ư? Ðáp: Như thế. Hỏi: Như tâm không biến khác, không phân
biệt; thân giới, xúc giới, thân thức giới cũng không biến
khác, không phân biệt ư? Hỏi: Như tâm không biến khác, không
phân biệt; ý giới, pháp giới, ý thức giới cũng không biến
khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế.
Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; địa giới cũng
không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế. Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; thủy hỏa phong
không thức giới cũng không biến khác, không phân biệt ư?
Ðáp: Như thế.
Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; khổ thánh đế
cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế. Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; tập diệt đạo
thánh đế cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp:
Như thế.
Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; vô minh cũng không
biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế. Hỏi: Như tâm
không biến khác, không phân biệt; hành, thức, danh sắc, lục
xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lảo tử sầu thán khổ
ưu não cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như
thế.
Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; bốn tĩnh lự cũng
không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế. Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; bốn vô lượng,
bốn vô sắc định cũng không biến khác, không phân biệt
ư? Ðáp: Như thế.
Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; năm nhãn cũng không
biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế. Hỏi: Như tâm
không biến khác, không phân biệt; sáu thần thông cũng không
biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế.
Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; bố thí Ba la mật
đa cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế.
Hỏi: Như tâm không biến khác, không phân biệt; tịnh giới
an nhẫn tinh tiến tĩnh lự bát nhã Ba la mật đa cũng không
biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế.
Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; bốn niệm trụ
cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế. Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; bốn chánh đoạn,
bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám
thánh đạo chi cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp:
Như thế.
Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; Phật mười lực
cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp: Như thế. Hỏi:
Như tâm không biến khác, không phân biệt; bốn vô sở úy,
bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả,
mười tám pháp Phật bất cộng cho đến Vô thượng Chánh
đẳng Bồ đề cũng không biến khác, không phân biệt ư? Ðáp:
Như thế.
Khi
ấy, Xá Lợi Tử khen Thiện Hiện rằng: Hay thay! Hay thay! Thật
như lời đã nói. Ngài là chơn Phật tử, từ tâm Phật sanh,
từ miệng Phật sanh, từ pháp Phật sanh và từ pháp hóa sanh,
nhận phần Phật pháp, chẳng nhận phần của cải; đối trong
các pháp, thân tự làm chứng, huệ nhãn hiện thấy mới năng
khởi nói. Ðức Thế Tôn nói Ngài với trong chúng Thanh văn
an trụ định Vô tránh rất là đệ nhất, như lời Phật đã
nói, chơn thật chẳng hư.
Thiện
Hiện! Ðối Bát nhã Ba la mật đa, Bồ tát Ma ha tát nên như
vậy mà học. Ðối Bát nhã Ba la mật đa, nếu Bồ tát Ma ha
tát năng học được như vậy, phải biết đã trụ bậc Bất
thối chuyển, chẳng rời Bát nhã Ba la mật đa.
Thiện
Hiện! Kẻ muốn học bậc Thanh Văn, nên cần siêng năng nghe
tập, đọc tụng, thọ trì nơi Bát nhã Ba la mật đa, đúng
như lý suy nghĩ, khiến cho rốt ráo. Kẻ muốn học bậc Ðộc
giác, nên cần siêng năng nghe tập, đọc tụng, thọ trì nơi
Bát nhã Ba la mật đa, đúng như lý suy nghĩ, khiến cho rốt
ráo. Kẻ muốn học bậc Bồ tát, nên cần siêng năng nghe tập,
đọc tụng, thọ trì nơi Bát nhã Ba la mật đa, đúng như lý
suy nghĩ, khiến cho rốt ráo. Và kẻ muốn học bậc Như Lai,
nên cần siêng năng nghe tập, đọc tụng, thọ trì nơi Bát
nhã Ba la mật đa, đúng như lý suy nghĩ, khiến cho rốt ráo.
Vì sao thế? Vì trong Bát nhã Ba la mật đa như vầy, rộng thuyết
khai thị pháp Tam thừa vậy. Nếu Bồ tát Ma ha tát học Bát
nhã Ba la mật đa, thời là học khắp Tam thừa, cũng ở trong
pháp Tam thừa đều được khéo léo.
HỘI
THỨ NHẤT
Phẩm
VÔ
TRỤ
Thứ
9 - 1
Bấy
giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật: Bạch Thế Tôn! Ðối
Bồ tát Ma ha tát và với Bát nhã Ba la mật đa, tôi đều bất
đắc bất kiến, làm sao khiến tôi đem pháp tương ưng Bát
nhã Ba la mật đa dạy bảo dạy trao các Bồ tát Ma ha tát!
Bạch Thế Tôn! Tôi đối các pháp bất đắc bất kiến, hoặc
nhóm hoặc tan, nếu đem pháp này dạy bảo dạy trao các Bồ
tát Ma ha tát, hoặc sẽ có ăn năn. Bạch Thế Tôn! Tôi đối
các pháp bất đắc bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao
nói được: Ðây là Bồ tát Ma ha tát, đây là Bát nhã Ba la
mật đa! Bạch Thế Tôn! Danh Bồ tát Ma ha tát này và danh Bát
nhã Ba la mật đa đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng
trụ. Vì sao thế? Là hai danh nghĩa này vì đã vô sở hữu,
vậy nên hai danh này đềy vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng
trụ. Bạch Thế Tôn! Tôi đối sắc thọ tưởng hành thức
bất đắc bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được
đây là sắc, cho đến đây là thức? Bạch Thế Tôn! Danh sắc
thảy đây đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ.
Vì sao thế? Là danh nghĩa sắc thảy vì đã vô sở hữu, vậy
nên danh sắc thảy đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng
trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ bất đắc
bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được đây là
nhãn xứ, cho đến ý xứ? Bạch Thế Tôn! Danh nhãn xứ thảy
đây đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ. Vì sao
thế? Là danh nghĩa nhãn xứ thảy, vì đã vô sở hữu, vậy
nên danh nhãn xứ thảy đều vô sở trụ, cũng chẳng phải
chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối sắc thanh hương vị xúc pháp xứ bất
đắc bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được đây
là sắc xứ, cho đến đây là pháp xứ? Bạch Thế Tôn! Danh
sắc xứ thảy đây đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng
trụ. Vì sao thế? Là danh nghĩa sắc xứ thảy, vì đã vô sở
hữu, vậy nên danh sắc xứ thảy đều vô sở trụ, cũng chẳng
phải chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới
và nhãn xúc, nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ bất đắc
bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được đây là
nhãn giới, cho đến đây là nhãn xúc làm duyên sanh ra các
thọ? Bạch Thế Tôn! Danh nhãn giới thảy đây đều vô sở
trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ. Vì sao thế? Là danh nghĩa
nhãn giới thảy, vì đã vô sở hữu, vậy nên danh nhãn giới
thảy đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối nhĩ giới, thanh giới, nhĩ thức giới và
nhĩ xúc, nhĩ xúc làm duyên sanh ra các thọ bất đắc bất
kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được đây là nhĩ
giới, cho đến đây là nhĩ xúc làm duyên sanh ra các thọ?
Bạch Thế Tôn! Danh nhĩ giới thảy đây đều vô sở trụ,
cũng chẳng phải chẳng trụ. Vì sao thế? Là danh nghĩa nhĩ
giới thảy, vì đã vô sở hữu, vậy nên danh nhĩ giới thảy
đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối tỷ giới, hương giới, tỷ thức giới
và tỷ xúc, tỷ xúc làm duyên sanh ra các thọ bất đắc bất
kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được đây là tỷ
giới, cho đến đây là tỷ xúc làm duyên sanh ra các thọ?
Bạch Thế Tôn! Danh tỷ giới thảy đây đều vô sở trụ,
cũng chẳng phải chẳng trụ. Vì sao thế? Là danh nghĩa tỷ
giới thảy, vì đã vô sở hữu, vậy nên danh tỷ giới thảy
đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối thiệt giới, vị giới, thiệt thức giới
và thiệt xúc, thiệt xúc làm duyên sanh ra các thọ bất đắc
bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được đây là
thiệt giới, cho đến đây là thiệt xúc làm duyên sanh ra các
thọ? Bạch Thế Tôn! Danh thiệt giới thảy đây đều vô sở
trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ. Vì sao thế? Là danh nghĩa
thiệt giới thảy, vì đã vô sở hữu, vậy nên danh thiệt
giới thảy đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối thân giới, xúc giới, thân thức giới
và thân xúc, thân xúc làm duyên sanh ra các thọ bất đắc
bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được đây là
thân giới, cho đến đây là thân xúc làm duyên sanh ra các
thọ? Bạch Thế Tôn! Danh thân giới thảy đây đều vô sở
trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ. Vì sao thế? Là danh nghĩa
thân giới thảy, vì đã vô sở hữu, vậy nên danh thân giới
thảy đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối ý giới, pháp giới, ý thức giới và ý
xúc, ý xúc làm duyên sanh ra các thọ bất đắc bất kiến,
hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được đây là ý giới, cho
đến đây là ý xúc làm duyên sanh ra các thọ? Bạch Thế Tôn!
Danh ý giới thảy đây đều vô sở trụ, cũng chẳng phải
chẳng trụ. Vì sao thế? Là danh nghĩa ý giới thảy, vì đã
vô sở hữu, vậy nên danh ý giới thảy đều vô sở trụ,
cũng chẳng phải chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối địa thủy hỏa phong không thức giới
bất đắc bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được
đây là địa giới, cho đến đây là thức giới? Bạch Thế
Tôn! Danh địa giới thảy đây đều vô sở trụ, cũng chẳng
phải chẳng trụ. Vì sao thế? Là danh nghĩa địa giới thảy,
vì đã vô sở hữu, vậy nên danh địa giới thảy đều vô
sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối khổ tập diệt đạo thánh đế bất đắc
bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được đây là
khổ thánh đế, cho đến đây là đạo thánh đế? Bạch Thế
Tôn! Danh khổ thánh đế thảy đây đều vô sở trụ, cũng
chẳng phải chẳng trụ. Vì sao thế? Là danh nghĩa khổ thánh
đế thảy, vì đã vô sở hữu, vậy nên danh khổ thánh đế
thảy đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối vô minh, hành, thức, danh sắc, lục xứ,
xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử sầu thán khổ ưu não
bất đắc bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao nói được
đây là vô minh, cho đến đây là lão tử sầu thán khổ ưu
não? Bạch Thế Tôn! Danh vô minh thảy đây đều vô sở trụ,
cũng chẳng phải chẳng trụ. Vì sao thế? Là danh nghĩa vô
minh thảy, vì đã vô sở hữu, vậy nên danh vô minh thảy đều
vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ. Bạch Thế Tôn!
Tôi đối vô minh diệt, cho đến lão tử sầu thán khổ ưu
não diệt bất đắc bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm sao
nói được đây là vô minh diệt, cho đến đây là lão tử
sầu thán khổ ưu não diệt? Bạch Thế Tôn! Danh vô minh diệt
thảy đây đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ.
Vì sao thế? Là danh nghĩa vô minh diệt thảy, vì đã vô sở
hữu, vậy nên danh vô minh diệt thảy đều vô sở trụ, cũng
chẳng phải chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối tham, sân, si, triền kiết, tùy miên, kiến
thủ, bất thiện căn thảy bất đắc bất kiến, hoặc nhóm
hoặc tan, làm sao nói được đây là tham thảy, cho đến đây
là bất thiện thảy? Bạch Thế Tôn! Danh tham thảy đây đều
vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ. Vì sao thế? Là
danh nghĩa tham thảy, vì đã vô sở hữu, vậy nên danh tham
thảy đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ.
Bạch
Thế Tôn! Tôi đối bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô
sắc định bất đắc bất kiến, hoặc nhóm hoặc tan, làm
sao nói được đây là bốn tĩnh lự, cho đến đây là bốn
vô sắc định? Bạch Thế Tôn! Danh bốn tĩnh lự thảy đây
đều vô sở trụ, cũng chẳng phải chẳng trụ. Vì sao thế?
Là danh nghĩa bốn tĩnh lự thảy, vì đã vô sở hữu, vậy
nên danh bốn tĩnh lự thảy đều vô sở trụ, cũng chẳng
phải chẳng trụ.