Tập
1
Quyển
Thứ 1
Hội
thứ nhất
Phẩm
Duyên khởi thứ 1-1
Tôi
nghe như vầy:
Một
thuở Phật ở trên đỉnh núi Thứu Phong thuộc thành Vương
Xá, cùng với chúng Đại Bí sô một ngàn hai trăm năm mươi
người đều là A la hán, đã hết các lậu, không còn phiền
não, được chơn tự tại, tâm khéo giải thoát, huệ khéo
giải thoát, như tập ngựa khôn, cũng như rồng lớn, đã làm
việc đáng làm, đã xong việc đáng xong, bỏ các gánh nặng,
kịp được lợi mình, hết các hữu kiết, chính tri giải
thoát, tâm chí tự tại, rốt ráo đệ nhất. Ngoại trừ A
Nan Đà còn ở bực học địa, mới được quả Dự lưu. Ngài
Đại Ca Diếp Ba tôn làm thượng thủ.
Lại
có chúng Bí sô ni năm trăm người đều là A la hán, Đại
Thắng Sinh Chủ tôn làm thượng thủ. Lại có vô lượng chúng
Ô ba tô ca, Ô ba tư ca đều thấy được Thánh đế.
Lại
có vô lượng vô số chúng Bồ tát Ma ha tát, tất cả đều
được pháp môn đà la ni, môn tam ma địa, an trụ nguyện không,
vô tướng, vô phân biệt, đã được các pháp bình đẳng
tánh nhẫn, đầy đủ trọn nên bốn vô ngại giải, phàm diễn
thuyết gì là biện tài vô tận, với năm thần thông tự tại
du hý, đã chứng trí đức đoạn đức hẳn không lui mất,
ngôn hạnh uy nghiêm kẻ nghe đều kính chịu, dũng mãnh tinh
tiến lìa các biếng lười, năng xả của thiết, chẳng đoái
thân mạng, lìa kiêu lìa dối, không nhiễm không cầu, thảy
vì hữu tình mà tuyên Chánh pháp, sâu hợp pháp nhẫn, rất
cùng rất tột, được vô sở úy, tâm kia thư thới, vượt
các ma cảnh ra khỏi các nghiệp chướng, xua đuổi tất cả
phiền não oán địch, dựng cờ Chánh pháp, dẹp các tà luận.
Thanh văn, Độc giác chẳng thể so lường. Được tâm tự
tại, được pháp tự tại, chướng nghiệp hoặc kiến đều
đã giải thoát. Chọn pháp biện thuyết không chẳng khéo léo,
vào sâu pháp môn duyên khởi sinh diệt, lìa kiến tùy miên
bỏ các ràng gút, trí huệ thông đạt các lý Thánh đế. Từng
vô số kiếp phát nguyện hoằng thệ. Dung mạo hòa vui trước
lời tiếp dẫn, xa lìa nhăn nhó, từ vận thanh hòa, tán tụng
hay ho, biện tài không trệ. Giữa chúng vô biên oai đức nghiêm
nghị, đè cất tự tại đều không sợ gì, nhiều trăm ức
kiếp khéo nói không cùng, đối các pháp môn thắng giải quan
sát:
Như
huyễn, như ánh nắng, như mộng, như nước trăng, như vang,
như không hoa, như tượng, như ánh sáng, như sự vật biến
hóa, như thành quách tầm hương. Tuy đều không thật, nhưng
hiện tựa hồ như có. Lìa tâm hạ liệt, thuyết pháp không
sợ, năng tùy chứng vào vô lượng pháp môn, khéo biết tâm
hành chỗ đến của hữu tình, mới đem huệ vi diệu mà độ
thoát chúng. Đối các hữu tình tâm không quái ngại, trọn
nên tối thượng vô sinh pháp nhẫn, khéo vào các pháp bình
đẳng tánh trí, pháp tánh thẳm sâu, năng như thật biết,
tùy kia chỗ hợp khéo khiến ngộ vào. Hay giỏi tuyên nói pháp
môn duyên khởi, nhiếp thọ vô biên đại nguyện Phật quốc.
Ở
mười phương cõi các Phật, vô số đẳng trì chính niệm
thường hiện trước mặt, các Phật ra đời đều hay phụng
sự hết thảy, cũng năng khuyến thỉnh quay xe chánh pháp, chẳng
vào Niết bàn độ vô lượng chúng, khéo hay đè diệt các
món kiến chấp trói buộc, các lửa phiền não của tất cả
hữu tình. Trong chừng giây lát du hý trăm ngàn đẳng trì,
dẫn phát vô biên công đức thù thắng. Các vị Bồ tát này
đầy đủ biển diệu công đức như thế thảy, dù cho trải
qua vô lượng trăm ức đại kiếp khen chẳng thể cùng. Danh
các Ngài là:
Hiền
Thủ Bồ tát Ma ha tát, Bửu Tánh Bồ tát Ma ha tát, Bửu Tạng
Bồ tát Ma ha tát, Bửu Thọ Bồ tát Ma ha tát, Đạo Sư Bồ
tát Ma ha tát, Nhân Thọ Bồ tát Ma ha tát, Tinh Thọ Bồ tát
Ma ha tát, Thần Thọ Bồ tát Ma ha tát, Đế Thọ Bồ tát Ma
ha tát, Quảng Huệ Bồ tát Ma ha tát, Thắng Huệ Bồ tát Ma
ha tát, Thượng Huệ Bồ tát Ma ha tát, Tăng Trưởng Huệ Bồ
tát Ma ha tát, Vô Biên Huệ Bồ tát Ma ha tát, Bất Hư Kiến
Bồ tát Ma ha tát, Vô Chướng Huệ Bồ tát Ma ha tát, Thiện
Phát Thú Bồ tát Ma ha tát, Thiện Dũng Mãnh Bồ tát Ma ha tát,
Cực Tinh Tiến Bồ tát Ma ha tát, Thường Tinh Tiến Bồ tát
Ma ha tát, Thường Gia Hạnh Bồ tát Ma ha tát, Bất Xả Ách
Bồ tát Ma ha tát, Nhật Tạng Bồ tát Ma ha tát, Nguyệt Tạng
Bồ tát Ma ha tát, Vô Tỷ Huệ Bồ tát Ma ha tát, Quán Tự Tại
Bồ tát Ma ha tát, Đắc Đại Thế Bồ tát Ma ha tát, Diệu
Cát Tường Bồ tát Ma ha tát, Bửu Ấn Thủ Bồ tát Ma ha tát,
Tồi Ma Lực Bồ tát Ma ha tát, Kim Cương Huệ Bồ tát Ma ha
tát, Kim Cương Tạng Bồ tát Ma ha tát, Thường Cử Thủ Bồ
tát Ma ha tát, Đại Bi Tâm Bồ tát Ma ha tát, Đại Trang Nghiêm
Bồ tát Ma ha tát, Trang Nghiêm Vương Bồ tát Ma ha tát, Sơn
Phong Bồ tát Ma ha tát, Bửu Phong Bồ tát Ma ha tát, Đức Vương
Bồ tát Ma ha tát, Từ Thị Bồ tát Ma ha tát. Như thế thảy
vô lượng trăm nghìn trăm ức muôn ức Bồ tát Ma ha tát, đều
là con ngôi Pháp Vương kham nối Phật vị, mà làm thượng
thủ.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn ở trên tòa Sư tử tự tay trải lấy
chiếc Ni sư đàn, ngồi xếp bằng tréo chân, thẳng thân chính
nguyện, an trụ niệm đối diện, rồi mới vào định Đẳng
trì vương diệu tam ma địa, các tam ma địa khác đều thu
nhiếp vào trong tam ma địa này, vì là chỗ lưu xuất ra vậy.
Khi
ấy, Đức Thế Tôn chính tri chính niệm, rồi từ nơi Đẳng
trì vương ung dung mà khởi định, và đem tịnh thiên nhãn
mà quan sát hằng hà sa thảy thế giới các Đức Phật trong
mười phương cả thân vui thích. Từ nơi ngàn tướng vầng
tròn dưới hai lòng bàn chân đều phóng ra sáu mươi trăm ngàn
trăm ức muôn ức ánh hào quang; từ mười ngón chân, trên
hai mu bàn chân, bốn mắt cá chân, hai gót chân, hai ống cẳng
chân, hai bắp chân, hai đầu gối, hai bàn tọa, hai đùi vế,
lưng, sườn, trước bụng, sau lưng, giữa rốn, trên tâm, chữ
Đức nơi ngực, hai trái vú, hai hóc nách, hai vai, hai bắp tay,
hai khuỷu tay, hai cánh tay trên, hai cổ tay, hai tay, hai lòng
bàn tay, mười ngón tay, sau cổ, trước cổ, hai bên mép, hai
má trên mặt, cằm, trán, đỉnh đầu, hai mí, hai mắt, hai
tai, hai mũi và miệng, bốn răng ngà, bốn mươi cái răng và
tướng lông chặng giữa mày. Mỗi mỗi thân phần thảy đều
phóng ra sáu mươi trăm ngàn trăm ức muôn ức hào quang, mỗi
mỗi hào quang đều soi cả Tam thiên đại thiên thế giới.
Từ đây lần lữa khắp soi mười phương hằng hà sa hết
thảy thế giới các Đức Phật. Chúng hữu tình trong ấy kẻ
nào gặp được hào quang này, quyết đặng Vô thượng Chánh
đẳng Bồ đề.
Bấy
giờ, tất cả lỗ chân lông Thế Tôn thảy đều vui hòa và
đều phóng ra sáu mươi trăm ngàn trăm ức muôn ức hào quang,
mỗi mỗi hào quang đều soi khắp Tam thiên đại thiên thế
giới, từ đây lần lữa soi khắp mười phương hằng hà sa
hết thảy thế giới các Đức Phật, chúng hữu tình trong
ấy, kẻ nào gặp được hào quang này, quyết được Vô thượng
Chánh đẳng Bồ đề.
Khi
ấy, Thế Tôn diễn ra hào quang thường nơi thân soi Tam thiên
đại thiện thế giới này, từ đây chuyển dần soi khắp
mười phương hằng hà sa hết thảy cõi nước các Đức Phật.
Chúng hữu tình trong ấy, kẻ nào được gặp hào quang này,
quyết đặng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.
Bấy
giờ, Thế Tôn từ nơi diện môn hòa vui mỉm cười, rồi thè
ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp Tam thiên đại thiên thế
giới. Lại từ tướng lưỡi này phóng ra vô lượng trăm ngàn
trăm ức muôn ức hào quang. Quang này xen lẫn nhiều màu sắc,
rồi từ trong mỗi mỗi hào quang nhiều sắc này hiện ra hoa
sen báu. Hoa ấy có ngàn cánh đều là sắc vàng chơn kim, các
ngọc trang nghiêm dệt thêu đẹp đẽ rất nên ưa muốn, mùi
thơm bát ngát bay quanh xông khắp, mịn trơn nhẹ nhàng đụng
gặp sinh vui mầu nhiệm.
Các
đài trong các hoa đều có vị hóa Phật ngồi xếp bằng tréo
chân, diễn ra diệu pháp âm, mỗi mỗi pháp âm đều thuyết
ra pháp tương ưng Bát nhã Ba La mật đa. Chúng hữu tình nào
được nghe, quyết đặng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.
Từ đây chuyển dần tuôn khắp mười phương hết thảy hằng
hà sa thế giới các Đức Phật, thuyết ra pháp lợi ích, cũng
lại như vậy.
Khi
ấy, Đức Thế Tôn chẳng khởi bổn tòa, lại vào định Sư
tử du hý đẳng trì hiện sức thần thông khiến Tam thiên
đại thiên thế giới này sáu món biến động là: Động,
rất động, bình đẳng rất động; vọt, rất vọt, bình đẳng
rất vọt; rung, rất rung, bình đẳng rất rung; chạm, rất
chạm, bình đẳng rất chạm; rống, rất rống, bình đẳng
rất rống; nổ, rất nổ, bình đẳng rất nổ.
Lại
còn làm cho cõi này: Vọt Đông chìm Tây, vọt Tây chìm Đông,
vọt Nam chìm Bắc, vọt Bắc chìm Nam, vọt Trung ương chìm
chung quanh, vọt chung quanh chìm Trung ương. Chốn đại địa
ấy trong sạch, sáng mát mềm mại, sinh sản các chúng hữu
tình lợi ích an vui.
Lúc
ấy cõi Tam thiên đại thiên này có bấy nhiêu cõi địa ngục,
bàng sanh, quỉ và kỳ dư những hầm vô gián hiểm ác thú,
tất cả chúng hữu tình thảy đều lìa khổ nạn. Rồi từ
đây bỏ mạng được sinh trong người và sáu cõi trời ở
cõi Dục, đều nhớ kiếp sống đời trước, vui mừng nhảy
nhót, đồng đến chỗ Phật đem lòng rất tịnh, đầu lạy
chân Phật. Từ đây chuyển dần quanh khắp mười phương hằng
hà sa hết thảy thế giới các Đức Phật. Vì nhờ Phật thần
lực mà sáu món được biến động.
Bấy
giờ, thế giới kia các ác thú thảy, tất cả hữu tình đều
lìa khổ nạn, từ đây bỏ mạng được sanh trong người và
sáu cõi trời ở cõi Dục, đều nhớ kiếp sống đời trước
vui mừng nhảy nhót; mỗi ở bản cõi đồng đến chỗ Phật,
đầu lạy chân Phật.
Lúc
này cõi Tam thiên đại thiên và kỳ dư mười phương hằng
hà sa hết thảy thế giới hữu tình: Kẻ mù thấy được,
kẻ điếc nghe được, kẻ câm nói được, kẻ cuồng nhớ
được, kẻ loạn định được, kẻ nghèo giàu được, kẻ
truồng được áo, kẻ đói được ăn, kẻ khát được uống,
kẻ bệnh được lành mạnh, kẻ xấu xí được đẹp đẽ,
kẻ hình tàn được đầy đủ, kẻ căn khuyết được trọn
đủ, kẻ mê ngất được tỉnh ngộ và kẻ mỏi mệt được
khỏe khoắn.
Giờ
đây các chúng hữu tình mới bình đẳng tâm tính mà đối
đãi nhau như cha mẹ, như anh em, như chị em và như thân hữu.
Mới lìa lối sống tà ngữ nghiệp mà tu lối sống chánh ngữ
nghiệp, lìa đạo mười ác nghiệp mà tu đạo mười thiện
nghiệp, lìa ác nghĩ tìm mà tu thiện nghĩ tìm, lìa phi phạm
hạnh mà tu chánh phạm hạnh, rồi mới ưa sạch bỏ dơ, vui
lặng bỏ ồn, thân ý thơ thới. Bỗng nhiên phát sinh vui khoái
nhiệm mầu như kẻ tu hành vào được Định thứ ba. Lại
còn có thắng huệ nữa nên bỗng chốc hiện ra trước và
đều tác khởi lên ý nghĩ này: Bố thí, điều phục, an nhẫn,
dũng tiến, tịch tĩnh và đế quán. Xa lìa buông lung, tu hành
phạm hạnh. Đối các hữu tình từ bi hỷ xả, chẳng nhiễu
loạn nhau, đâu chẳng lành thay!
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn ở trên tòa Sư tử quang minh đặc biệt,
oai đức đồ sộ, ánh che cả cõi Tam thiên đại thiên và
kỳ dư mười phương hằng hà sa thảy cõi nước các Đức
Phật; và núi Tô mê lô, núi Luân vi thảy, kỳ dư tất cả
cung điện Long Thần Thiên, cho đến cõi Tịnh Cư thảy đều
chẳng hiện được. Như thu trăng tròn ánh sáng che các sao;
như mặt trời mùa hè sáng cướp các sắc; như bốn núi Đại
Bảo Diệu Cao sơn vương soi đến các núi khác, oai quang hơn
hẳn.
Đức
Phật dùng thần lực hiện lại thân bản sắc, khiến cõi
Tam thiên đại thiên này tất cả hữu tình thảy đều trông
thấy. Lúc đó, thế giới Tam thiên đại thiên này trên có
vô lượng vô số các trời ở trên cõi Tịnh Cư, dưới đến
các trời Bốn Đại Thiên Vương ở cõi Dục và kỳ dư tất
cả người chẳng phải người hết thảy đều thấy Đức
Như Lai ngồi trên tòa Sư tử, oai quang sáng rực, như núi Đại
Kim, mới vui mừng nhảy nhót, ngợi khen chưa từng có. Rồi
đều cầm các món này nhiều vô lượng: Hương khoanh, hương
xoa, hương đốt, hương bột; áo mặc, chuỗi anh lạc, tràng
phan, bảo cái, kỹ nhạc và các thứ ngọc. Và vô lượng thứ
hoa sen trời xanh, hoa sen trời đỏ, hoa sen trời trắng, hoa
sen trời thơm, hoa sen trời vàng, hoa sen trời hồng, hoa sen
trời thọ kim tiền và những thứ hương hoa của nhà trời
nữa, và còn vô lượng thứ hoa mọc dưới nước hay trên
lục địa nữa; cầm đến chỗ Phật dâng rải lên Đức Phật.
Do
thần lực Phật, các tràng hoa thảy đều xoay quanh vọt lên
không, hiệp thành đài hoa lượng ngang bằng cõi Tam thiên đại
thiên. Lọng thiên hoa rủ xuống, chuông ngọc phan châu thêu
dệt rằn ri, rất nên ưa thích. Cõi Phật lúc này trang nghiêm
mầu nhiệm, in như thế giới Cực Lạc phương Tây. Hào quang
Phật sáng chói cả cõi Tam thiên đại thiên, vật loại hư
không đều đồng một sắc vàng. Hết thảy mười phương
hằng hà sa thế giới các Đức Phật cũng lại như thế.
Khi
ấy, cõi Phật Tam thiên đại thiên này: Châu Nam thiệm bộ,
châu Đông thắng thần, châu Tây ngưu hóa, châu Bắc câu lô.
Các người trong ấy vì nhờ Phật thần lực, thảy đều thấy
Đức Phật ngồi chính trước mặt mình. Họ đều bảo rằng:
Đức Như Lai riêng vì mình mà thuyết pháp.
Như
thế các trời Bốn đại thiên vương, trời Tam thập tam, trời
Dạ ma, trời Đổ sử đa, trời Lạc biến hóa, trời Tha hóa
tự tại, trời Phạm chúng, trời Phạm phụ, trời Phạm hội,
trời Đại phạm, trời Quang, trời Thiểu quang, trời Vô lượng
quang, trời Cực quang tịnh, trời Tịnh, trời Thiểu tịnh,
trời Vô lượng tịnh, trời Biến tịnh, trời Quảng, trời
Thiểu quảng, trời Vô lượng quảng, trời Quảng quả, trời
Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện hiện, trời Thiện
kiến, trời Sắc cứu cánh cũng đều vì nhờ sức thần thông
của Đức Thế Tôn thảy đều tự thấy Phật ngồi chính
trước mặt mình. Đồng bảo nhau rằng: Đức Như Lai riêng
vì mình mà thuyết pháp.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn chẳng khởi nơi tòa mà hòa vui mỉm cười.
Rồi từ diện môn phóng ra đại quang minh khắp soi cõi Phật
Tam thiên đại thiên và cả mười phương hằng hà sa thế
giới các Đức Phật. Khi ấy, tất cả chúng hữu tình trong
cõi Phật Tam thiên đại thiên này tìm quang minh của Đức
Phật, khắp thấy thế giới các Đức Phật hết thảy trong
mười phương hằng hà sa, tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng
Giác được chúng hội Thanh văn, Bồ tát vây quanh và kỳ dư
tất cả hữu tình vô tình phẩm loại sai khác.
Lúc
ấy tất cả chúng hữu tình trong thế giới của các Đức
Phật mười phương hằng hà sa thảy kia, tìm quang minh của
Phật, cũng thấy cõi này: Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Chánh
Đẳng Giác, được chúng hội Thanh văn, Bồ tát vây quanh và
kỳ dư tất cả hữu tình vô tình phẩm loại sai khác.
Bấy
giờ, các thế giới hằng hà sa thảy cùng tột phương Đông,
có thế giới tên là Đa Bảo ở cùng tột rốt sau. Đức Phật
hiệu Bảo Tánh Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hành Viên
Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Trượng Phu, Điều
Ngự Sĩ, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Bấy giờ, còn hiện
tại kia an ổn trụ trì, vì các chúng Bồ tát Ma ha tát thuyết
Đại Bát nhã Ba la mật đa.
Đức
Phật kia có vị Bồ tát tên là Phổ Quang, thấy đại hào
quang này, đại địa biến động và thân tướng Phật; tâm
lòng do dự đến chỗ Đức Phật, đầu lạy hai chân và thưa
rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà có điềm lành
này?
Lúc
ấy Phật Bảo Tánh bảo với Phổ Quang Bồ tát Ma ha tát rằng:
Thiện nam tử! Từ đây qua phương Tây, tất cả thế giới
nhiều bằng hà sa, mới có thế giới rốt sau tên là Kham Nhẫn.
Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác,
Minh Hành Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Trượng Phu, Điều Ngự Sĩ, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.
Nay hiện còn tại kia yên ổn trụ trì, sắp vì chúng Bồ tát
Ma ha tát mà thuyết Đại Bát nhã Ba la mật đa. Vì thần lực
của Phật kia nên mới hiện điềm lành này.
Phổ
Quang nghe xong vui mừng nhảy nhót, lại một lần nữa thưa
Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Tôi nay xin qua thế giới Kham Nhẫn
để xem lễ cúng dường Thích Ca Mâu Ni Như Lai và các chúng
Bồ tát Ma ha tát, để được pháp môn vô ngại giải đà
la ni, môn tam ma địa, thần thông tự tại, rồi trụ thân
tối hậu là kẻ nối ngôi tôn vi. Cúi xin từ bi đủ lòng
thương xót hứa cho!
Khi
ấy, Phật Bảo Tánh bảo Phổ Quang Bồ tát rằng: Hay thay!
Hay thay! Nay chính nhằm thời, tùy ý Ngươi muốn đi. Đức
Phật liền lấy ngàn cọng hoa sen sắc vàng, hoa kia ngàn cánh,
các báu trang nghiêm, trao cho Phổ Quang Bồ tát mà dặn dò rằng:
Ngươi cầm hoa này đến chỗ Phật Thích Ca Mâu Ni đúng như
lời Ta mà thưa rằng: "Bảo Tánh Như Lai gửi lời thăm hỏi
vô lượng, ít bệnh, ít não, đứng dậy nhẹ nhặm, khí lực
điều hòa, an vui trụ chăng? Việc đời nhẫn được chăng?
Chúng sinh dễ độ chăng?". Rồi cầm hoa sen này gửi lên Thế
Tôn kia để làm Phật sự. Và tiếp: Ngươi đến cõi kia nên
an trụ chính tri mà xem cõi Phật kia và các đại chúng, chớ
sinh lòng khinh ngạo mà tự hủy tổn lấy mình. Sở vì sao?
Bởi các vị Bồ tát kia oai đức khó kịp Ngươi, mà vì bi
nguyện huân tâm nên mới đem đại nhân duyên mà sinh về cõi
ấy.
Bấy
giờ, Phổ Quang Bồ tát nhận hoa vâng lời giáo sắc, rồi
cùng với vô lượng trăm ngàn trăm ức muôn ức những kẻ
xuất gia tại gia Bồ tát Ma ha tát và vô số trăm ngàn đồng
nam đồng nữ đầu lễ chân Phật, vòng quanh bên hữu và phụng
mệnh mà cáo từ. Mỗi người cầm theo nhiều vô lượng các
món hoa, tràng phan, lọng báu, y phục trang sức quý và với
bấy nhiêu đồ cúng dường, mới rầm rộ phát dẫn mà đến.
Trải qua phương Đông hằng hà sa thảy thế giới các Đức
Phật, mỗi mỗi chỗ Phật đều cúng dường cung kính tôn
trọng ngợi khen, không bỏ qua một cõi nào. Đến chỗ Phật
này, đem đầu lạy hai chân, đi quanh trăm ngàn vòng, lui đứng
qua một phía. Phổ Quang Bồ tát tiến tới trước thưa rằng.
Bạch Thế Tôn! Từ đây qua phương Đông hết hằng hà sa thảy
các thế giới, có thế giới rốt sau tên là Đa Bảo. Đức
Phật hiệu là Bảo Tánh Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh
Hành Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Trượng
Phu, Điều Ngự Sĩ, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn gửi lời
thăm hỏi Thế Tôn vô lượng, ít bệnh, ít não, đứng dậy
nhẹ nhặm, khí lực điều hòa, an vui trụ chăng? Việc đời
nhẫn được chăng? Chúng sinh dễ độ chăng? Rồi tiếp đem
ngàn cọng hoa sen sắc vàng ấy gửi lên Thế Tôn để làm
Phật sự.
Phật
Thích Ca Mâu Ni tức thì nhận hoa, rồi rải lại hoa này về
phương Đông nơi thế giới các Đức Phật hằng hà sa thảy.
Vì Phật thần lực nên mới khiến hoa ấy rơi khắp cõi các
Phật. Trong các đài trong các hoa đều có vị hóa Phật ngồi
tréo chân xếp bằng, vì các Bồ Tát mà thuyết pháp tương
ưng là Đại Bát nhã Ba la mật đa; kẻ hữu tình nào được
nghe, quyết đặng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.
Lúc
ấy Phổ Quang và các quyến thuộc thấy sự việc này rồi,
vui mừng nhảy nhót khen chưa từng có. Rồi đều tùy theo căn
lành đồ cúng nhiều ít mà cúng dường cung kính, tôn trọng
ngợi khen Phật và Bồ tát xong, mới lui ngồi một phía.
Cứ
như vậy từ thế giới rốt sau trở lại trước, mỗi mỗi
cõi Phật có bấy nhiêu ở phương Đông, đều có các Đức
Như Lai hiện đang vì đại chúng mà tuyên nói diệu pháp. Chỗ
các Đức Phật này cũng đều có một vị thượng thủ Bồ
tát, thấy đại hào quang đây, đại địa biến động và
thân tướng Phật, liền đến chỗ trước Phật mà tự thưa
rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Do nhân gì, duyên gì nên có điềm
lành này?
Khi
đó các Đức Phật kia kia, đều đều đáp rằng: Từ đây
qua phương Tây có thế giới tên là Kham Nhẫn, Phật hiệu
Thích Ca Mâu Ni, sắp vì Bồ tát mà thuyết Đại Bát nhã Ba
la mật đa. Do thần lực của Phật kia nên mới hiện điềm
lành này, các thượng thủ Bồ tát nghe rồi vui mừng, mỗi
mỗi đều xin qua thế giới Kham Nhẫn để xem lạy và cúng
dường Phật cùng Bồ tát.
Các
Đức Như Lai kia ngợi khen hay thay và vui lòng cho đi. Rồi mỗi
Ngài cũng đều đem hoa sen sắc vàng ngàn báu trao cho và dặn
dò rằng: Ngươi nên đem hoa này đến chỗ Phật kia, rồi trần
thuật rằng: Ta gửi lời thăm hỏi vô lượng, ít bệnh, ít
não, đứng dậy nhẹ nhặm, khí lực điều hòa, an vui trụ
chăng? Việc đời nhẫn được chăng? Chúng sinh dễ độ chăng?
Rồi đem hoa sen này gửi lên Thế Tôn để làm Phật sự. Và
Ngươi đến cõi kia nên an trụ chánh tri mà xem cõi Phật kia
và Bồ tát thảy, chớ sinh lòng khinh ngạo mà tự hủy tổn
lấy mình. Sở vì sao? Vì các Bồ tát kia oai đức khó kịp
Ngươi, nhưng vì bi nguyện huân tâm, nên mới đem đại nhân
duyên mà thọ sinh về cõi kia vậy.
Mỗi
vị thượng thủ nhận lãnh hoa, phụng mệnh lệnh, rồi mỗi
vị đều cùng với vô lượng vô số Bồ tát, đồng nam đồng
nữ, từ giã Phật và cầm đồ cúng, rồi rần rộ phát dẫn
mà đến. Các cõi Phật đã được trải qua thảy đều cúng
dường Phật và Bồ Tát, không bỏ qua một cõi nào. Khi đến
chỗ Phật kia, đem đầu lạy hai chân, đi quanh trăm ngàn vòng,
rồi dâng hoa và trần thuật những lời đã được căn dặn.
Đức
Phật nhận hoa rồi rải lại phương Đông, vì thần lực Phật
nên hoa rơi khắp các cõi Phật. Trong các đài trong các hoa
đều có vị hóa Phật, vì các Bồ tát mà thuyết Đại Bát
nhã Ba la mật đa, khiến các kẻ nào mà được nghe, quyết
đặng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Thượng thủ Bồ tát
và các quyến thuộc thấy vậy vui mừng, khen chưa từng có.
Rồi đều tùy theo căn lành, đồ cúng cụ nhiều ít mà cúng
dường cung kính, tôn trọng khen ngợi Phật và Bồ tát xong,
lui qua ngồi một phía.
Bấy
giờ, phương Nam hết các thế giới hằng hà sa thảy, có thế
giới rốt sau tên là Ly Nhất Thiết Ưu. Phật hiệu Vô Ưu
Đức Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hành Viên Mãn, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Trượng Phu, Điều Ngự Sĩ,
Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Hiện đang tại kia yên ổn
trụ trì, vì các chúng Bồ tát Ma ha tát mà thuyết Đại Bát
nhã Ba la mật đa. Kia có Bồ tát tên là Ly Ưu, thấy đại
hào quang này, đại địa biến động và thân tướng Phật,
tâm lòng do dự, đến trước chỗ Phật đầu lạy hai chân
mà thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Do nhân gì, duyên gì mà
có điềm lành này?
Khi
ấy, Phật Vô Ưu Đức bảo với Ly Ưu Bồ tát Ma ha tát rằng:
Thiện nam tử! Từ đây qua phương Bắc, hết các thế giới
hằng hà sa thảy, có thế giới rốt sau tên là Kham Nhẫn.
Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác,
Minh Hành Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Trượng Phu, Điều Ngự Sĩ, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.
Nay hiện còn ở kia yên ổn trụ trì, sắp vì chúng Bồ tát
Ma ha tát mà thuyết Đại Bát nhã Ba la mật đa. Vì thần lực
Phật kia nên mới hiện điềm lành này.
Ly
Ưu nghe rồi vui mừng nhảy nhót, lại thưa Phật rằng: Bạch
Đức Thế Tôn! Tôi nay xin qua thế giới Kham Nhẫn để xem
lạy cúng dường Đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai và các chúng
Bồ tát Ma ha tát để được pháp môn vô ngại giải đà la
ni, môn tam ma địa, thần thông tự tại, trụ thân rốt sau
là kẻ nối ngôi tôn vị. Cúi xin từ bi dủ lòng thương xót
hứa cho!
Khi
ấy, Phật Vô Ưu Đức bảo với Ly Ưu Bồ tát rằng: Hay thay!
Hay thay! Nay chính nhằm lúc, tùy ý Ngươi muốn đi. Rồi tức
thì đem ngàn cọng hoa sen sắc vàng, hoa ấy ngàn cánh, trang
nghiêm bằng ngọc, trao cho Ly Ưu Bồ tát mà dặn dò rằng:
Ngươi cầm hoa này đến chỗ Phật Thích Ca Mâu Ni, đúng như
lời Ta mà thưa rằng: Vô Ưu Đức Như Lai gửi lời thăm hỏi
vô lượng, ít bệnh, ít não, đứng dậy nhẹ nhặm, khí lực
điều hòa, yên vui trụ chăng? Việc đời nhẫn được chăng?
Chúng sinh dễ độ chăng? Rồi cầm hoa sen này gửi lên Thế
Tôn để làm Phật sự. Và tiếp: Ngươi đến cõi kia nên an
trụ chánh tri mà xem cõi Phật kia và các đại chúng, đừng
sinh lòng khinh ngạo mà tự hủy tổn lấy mình. Sở vì sao?
Vì các Bồ tát kia oai đức khó kịp Ngươi, nhưng vì bi nguyện
huân tâm, mới đem đại nhân duyên mà thọ sinh về cõi kia
vậy.
Lúc
đó Ly Ưu Bồ tát nhận lãnh hoa và phụng mệnh lệnh. Rồi
cùng với vô lượng trăm ngàn trăm ức muôn ức những chúng
xuất gia tại gia Bồ tát Ma ha tát, vô lượng trăm ngàn đồng
nam đồng nữ, đầu lạy chân Phật, đi quanh bên hữu, phụng
mệnh từ giã. Mỗi đều tay cầm vô lượng những món hoa
hương, tràng phan, bảo cái, áo mặc, ngọc trang sức và bao
nhiêu đồ cúng cụ, rồi rần rộ phát dẫn mà đến thế
giới các Đức Phật hằng hà sa ở phương Nam đã được
trải qua, mỗi mỗi chỗ Phật đều cúng dường cung kính,
tôn trọng ngợi khen, không bỏ qua một chỗ nào.
Đến
chỗ Phật này, đầu lạy hai chân, đi vòng quanh trăm ngàn
lần, rồi lui đứng qua một phía. Ly Ưu Bồ Tát tiến trước
Phật thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Từ đây qua phương
Nam hết thế giới hằng hà sa thảy, có thế giới rốt sau
tên là Ly Nhất Thiết Ưu, Phật hiệu là Vô Ưu Đức Như Lai,
Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hành Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Trượng Phu, Điều Ngự Sĩ, Thiên Nhơn
Sư, Phật, Thế Tôn gửi lời thăm hỏi Thế Tôn vô lượng,
ít bệnh, ít não, đứng dậy nhẹ nhặm, khí lực điều hòa,
yên vui trụ chăng? Việc đời nhẫn được chăng? Chúng sinh
dễ độ chăng? Liền cầm ngàn cọng hoa sen sắc vàng này mà
gửi lên Thế Tôn để làm Phật sự.
Khi
đó, Phật Thích Ca Mâu Ni nhận hoa sen ấy, rồi rải lại thế
giới các Đức Phật ở phương Nam hằng hà sa thảy. Vì Phật
thần lực nên mới khiến hoa này rơi khắp cõi các Phật.
Trong các đài trong các hoa đều có vị hóa Phật ngồi xếp
bằng tréo chân, vì các vị Bồ tát mà thuyết pháp tương
ưng là Đại Bát nhã Ba la mật đa; kẻ hữu tình nào được
nghe quyết đặng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Lúc ấy
Ly Ưu cùng các quyến thuộc thấy việc này rồi, vui mừng
nhảy nhót ngợi khen chưa từng có. Rồi đều tùy theo căn
lành và đồ cúng cụ nhiều ít, mới đem cúng dường cung
kính, tôn trọng ngợi khen Phật và các Bồ tát, rồi lui ngồi
qua một phía.
Cứ
như thế từ thế giới rốt sau trở lại trước, có bấy
nhiêu mỗi mỗi cõi Phật ở phương Nam, đều có Như Lai hiện
nay đang vì đại chúng tuyên nói diệu pháp. Chỗ các Đức
Phật này cũng đều có một thượng thủ Bồ tát, thấy đại
hào quang, đại địa biến động và thân tướng Phật này;
đến trước chỗ Phật kia mà thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Do
nhân gì, duyên gì mà có điềm lành này?
Lúc
ấy, các Đức Phật kia kia đều đều đáp rằng: Ở phương
Bắc kia có thế giới tên Kham Nhẫn, Phật hiệu là Thích Ca
Mâu Ni sắp vì Bồ tát mà thuyết Đại Bát nhã Ba la mật đa.
Vì thần lực Phật kia nên mới hiện điềm lành này. Thượng
thủ Bồ tát nghe rồi vui mừng. Mỗi mỗi đều xin qua thế
giới Kham Nhẫn để xem lạy, cúng dường Phật và Bồ tát.
Các
Đức Như Lai kia khen hay và bằng lòng cho đi, rồi đều đem
hoa sen sắc vàng ngàn báu mà dặn dò rằng: Ngươi nên cầm
hoa này đến chỗ Phật kia, rồi trần thuật đầy đủ lời
Ta rằng: Gởi lời thăm hỏi vô lượng, ít bệnh, ít não,
đứng dậy nhẹ nhặm, khí lực điều hòa, an trụ vui chăng?
Việc đời nhẫn được chăng? Chúng sinh dễ độ chăng? Và
cầm hoa này gửi lên Thế Tôn để làm Phật sự. Và tiếp:
Ngươi đến cõi kia, nên an trụ chánh tri mà xem cọi Phật
kia và các Bồ tát, đừng sinh lòng khinh ngạo mà tự hủy
tổn lấy mình. Sở vì sao? Vì oai đức của các Bồ tát kia
khó kịp Ngươi, nhưng vì bi nguyện huân tâm mới đem đại
nhân duyên mà sinh về cõi đó vậy.
Mỗi
mỗi thượng thủ nhận hoa, phụng mệnh lệnh. Rồi đều cùng
với vô lượng vô số Bồ tát và đồng nam đồng nữ từ
giã Phật, cầm hoa rồi rần rộ phát dẫn nhau mà đến. Các
cõi Phật đã trải qua, mỗi mỗi đều cúng dường Phật và
Bồ tát, không bỏ qua một chỗ nào. Đã đến chỗ Phật này
đầu lạy, hai chân, đi vòng quanh trăm ngàn lần, rồi dâng
hoa và trần thuật những lời đã được dặn dò.
Phật
nhận hoa rồi rải lại phương Nam, vì thần lực Phật nên
rơi khắp cõi các Đức Phật. Trong các đài trong các hoa đều
có các vị hóa Phật, vì các Bồ tát mà thuyết Đại Bát
nhã Ba la mật đa, khiến các kẻ nghe quyết đặng Vô thượng
Chánh đẳng Bồ đề. Các thượng thủ Bồ tát và các quyến
thuộc thấy vậy rồi vui mừng khen chưa từng có. Rồi đều
tùy theo căn lành, đồ cúng dường nhiều ít mà cúng dường
cung kính, tôn trọng ngợi khen Phật Bồ tát xong, mới lui qua
ngồi một phía.
Bấy
giờ, phương Tây hết thế giới hằng hà sa thảy, có thế
giới rốt sau tên là Cận Tịch Tĩnh, Phật hiệu là Bảo Diệm
Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hành Viên Mãn, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Trượng Phu, Điều Ngự Sĩ, Thiên
Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Hiện nay còn kia yên ổn trụ trì,
vì các chúng Bồ tát Ma ha tát mà thuyết Đại Bát nhã Ba la
mật đa. Phật kia có vị Bồ tát tên là Hành Huệ, thấy đại
hào quang, đại địa biến động và thân tướng Phật này,
tâm lòng do dự đến trước chỗ Phật, đầu lạy hai chân
mà thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Do nhân gì, duyên gì mà có điềm
lành này?
Lúc
ấy Phật Bảo Diệm bảo với Hành Huệ Bồ tát Ma ha tát rằng:
Thiện nam tử! Từ đây qua phương Đông hết thế giới hằng
hà sa thảy, có thế giới rốt sau tên là Kham Nhẫn. Phật
hiệu Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, Minh Hành
Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Trượng Phu,
Điều Ngự Sĩ, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Nay hiện ở
kia yên ổn trụ trì, sắp vì chúng Bồ tát Ma ha tát mà thuyết
Đại Bát nhã Ba la mật đa. Vì thần lực Phật kia nên mới
hiện ra điềm lành này vậy.
Hành
Huệ nghe rồi vui mừng nhảy nhót, lần nữa thưa Phật rằng:
Bạch Thế Tôn! Tôi nay xin qua thế giới Kham Nhẫn để xem
lễ cúng dường Thích Ca Mâu Ni Như Lai và các chúng Bồ tát
Ma ha tát, để được pháp môn vô ngại giải đà la ni, môn
tam ma địa, thần thông tự tại, trụ thân rốt sau là kẻ
nối ngôi tôn vị. Cúi xin từ bi dủ lòng thương xót hứa
cho!
Khi
ấy, Phật Bảo Diệm bảo Hành Huệ Bồ tát rằng: Hay thay!
Hay thay! Nay chính nhằm lúc, tùy ý Ngươi muốn đi. Liền lấy
ngàn cọng hoa sen sắc vàng, mỗi hoa ngàn cánh, các báu trang
nghiêm trao cho Hành Huệ Bồ tát mà dặn dò rằng: Ngươi cầm
hoa này đến chỗ Phật Thích Ca Mâu Ni, đúng như lời Ta rằng:
Bảo Diệm Như Lai gửi lời thăm hỏi vô lượng, ít bệnh,
ít não, đứng dậy nhẹ nhặm, khí lực điều hòa, an vui trụ
chăng? Việc đời nhẫn được chăng? Chúng sinh dễ độ chăng?
Rồi cầm hoa này gửi lên Thế Tôn để làm Phật sự. Lại
tiếp: Ngươi đến cõi kia nên an trụ chánh tri mà xem cõi Phật
kia và các đại chúng, đừng sinh lòng khinh ngạo mà tự hủy
tổn lấy mình. Sở vì sao? Vì oai đức của các Bồ tát kia
khó kịp Ngươi. Nhưng vì bi nguyện huân tâm nên mới đem đại
nhân duyên mà thọ sinh cõi đó vậy.
Lúc
đó Hành Huệ Bồ tát nhận lãnh hoa, phụng mệnh lệnh, rồi
cùng với vô lượng trăm ngàn trăm ức muôn ức chúng xuất
gia tại gia Bồ tát Ma ha tát và vô số trăm ngàn đồng nam
đồng nữ đầu lễ chân Phật, rồi đi quanh bên hữu cáo
phụng mệnh mà từ giã. Mọi người đều cầm vô lượng
các món hoa hương, tràng phan, bảo cái, áo mặc, ngọc báu
trang sức và bao nhiêu đồ cúng cụ nữa, rồi rần rộ phát
dẫn mà đến. Trải qua phương Tây, thế giới các Đức Phật
hằng hà sa thảy, mỗi mỗi chỗ Phật đều cúng dường cung
kính, tôn trọng ngợi khen, không bỏ qua một chỗ nào.
Đến
chỗ Phật này đầu lạy hai chân, đi vòng quanh trăm ngàn lần,
rồi lui đứng qua một bên. Hành Huệ Bồ tát đến trước
Phật mà thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Từ đây qua phương
Tây, hết thế giới hằng hà sa thảy, có thế giới rốt sau
tên là Cận Tịch Tĩnh, Phật hiệu là Bảo Diệm Như Lai, Ứng
Chánh Đẳng Giác, Minh Hành Viên Mãn, Thiện Thệ, Thế Gian
Giải, Vô Thượng Trượng Phu, Điều Ngự Sĩ, Thiên Nhơn Sư,
Phật, Thế Tôn gửi lời thăm hỏi Thế Tôn vô lượng, ít
bệnh, ít não, đứng dậy nhẹ nhặm, khí lực điều hòa,
yên vui trụ chăng? Việc đời nhẫn được chăng? Chúng sinh
dễ độ chăng? Mới đem ngàn cọng hoa sen sắc vàng ấy mà
gửi lên Thế Tôn để làm Phật sự.
Khi
ấy, Phật Thích Ca Mâu Ni nhận hoa sen vàng rồi, rải lại
cõi các Đức Phật hằng hà sa thảy ở phương Tây, vì thần
lực Phật nên khiến hoa này rơi khắp cõi các Đức Phật.
Trong các đài ở trong các hoa đều có vị hóa Phật, ngồi
xếp bằng tréo chân, vì các Bồ tát mà thuyết pháp tương
ưng là Đại Bát nhã Ba la mật đa; những kẻ hữu tình nào
được nghe, quyết đặng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.
Lúc đó Hành Huệ và các quyến thuộc đều thấy việc ấy
rồi, vui mừng nhảy nhót khen chưa từng có. Rồi đều tùy
theo căn lành và đồ cúng cụ nhiều ít, mà cúng dường cung
kính, tôn trọng ngợi khen Phật và Bồ tát xong, mới lui qua
ngồi một phía.
Cứ
như thế, từ thế giới rốt sau trở lại trước, có bao nhiêu
mỗi mỗi cõi Phật ở phương Tây, đều có Như Lai hiện đang
vì đại chúng mà tuyên thuyết diệu pháp. Chỗ các Đức Phật
này cũng đều có một vị thượng thủ Bồ tát thấy đại
hào quang, đại địa biến động và thân tướng Phật này,
đến trước chỗ Phật mà thưa rằng: Bạch Đức Thế Tôn!
Do nhân gì, duyên gì mà có điềm lành này? Liền đó các Đức
Phật kia kia, mỗi mỗi đáp rằng: Từ đây qua phương Đông
có thế giới tên là Kham Nhẫn, Phật hiệu là Thích Ca Mâu
Ni sắp vì Bồ tát mà thuyết Đại Bát nhã Ba la mật đa. Vì
thần lực của Phật kia nên mới hiện điềm lành đây vậy.
Thượng thủ Bồ tát nghe rồi vui mừng, mỗi mỗi đều xin
qua thế giới Kham Nhẫn để xem lễ cúng dường Phật và Bồ
tát.
Các
Đức Như Lai kia đều khen hay và bằng lòng cho đi. Rồi đều
lấy hoa sen sắc vàng ngàn báu mà dặn dò rằng: Ngươi nên
cầm hoa này đến chỗ Phật kia, đầy đủ bày tỏ lời lẽ
rằng: Ta gửi lời thăm hỏi vô lượng, ít bệnh, ít não,
đứng dậy nhẹ nhặm, khí lực điều hòa, an vui trụ chăng?
Việc đời nhẫn được chăng? Chúng sinh dễ độ chăng? Rồi
cầm hoa sen này gửi lên Thế Tôn để làm Phật sự. Và tiếp:
Ngươi đến cõi kia nên an trụ chánh tri mà xem cõi Phật và
Bồ tát kia, chớ sinh lòng khinh ngạo mà tự hủy tổn lấy
mình. Sở vì sao? Vì oai đức các Bồ tát khó kịp Ngươi,
nhưng vì bi nguyện huân tâm nên mới đem đại nhân duyên mà
thọ sinh về cõi kia vậy. Mỗi mỗi thượng thủ nhận lãnh
hoa, phụng mệnh lệnh đều cùng với vô lượng vô số Bồ
tát, đồng nam đồng nữ từ giã Phật, cầm đồ cúng và
rần rộ phát dẫn mà đến. Những cõi Phật đã trải qua,
mỗi mỗi đều cúng dường Phật và Bồ tát, không bỏ qua
một cõi nào.
Đến
chỗ Phật này đầu lạy hai chân, đi vòng quanh trăm ngàn lần,
rồi dâng hoa và trần thuật những lời đã được dặn dò.
Phật nhận hoa rồi, rải lại phương Tây, vì thần lực Phật
nên mới khiến hoa rơi khắp các cõi Phật kia. Trong các đài
ở trong các hoa đều có vị hóa Phật, vì các Bồ tát mà
thuyết Đại Bát nhã Ba la mật đa, khiến những kẻ nào được
nghe quyết đặng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Các thượng
thủ Bồ tát cùng các quyến thuộc thấy rồi vui mừng khen
chưa từng có. Rồi đều tùy theo căn lành và đồ cúng cụ
nhiều ít, mà cúng dường cung kính, tôn trọng khen ngợi Phật,
Bồ tát xong, lui qua ngồi một phía.
*
"Kẻ
đệ tử ngôi Tam Bảo tên là Nghiêm Thị Hạ và Phùng Phát
Dũng, tự Từ Am pháp danh Vĩnh Hộ, ở trấn Bạch Bồ thuộc
Châu Thông, phát tâm cúng của để khắc bản kinh này. Cầu
nguyện Pháp Bảo được vĩnh xương và cầu nguyện sớm đến
lầu các hư không để huân luyện cho thần thức được minh
mẫn. Và kỳ nguyện ba đời ân quyến đều được nhờ độ
thoát.
Tháng
6 năm thứ mười ba triều Đồng Trị, chỗ khắc kinh là Kê
Viên ghi lại".