LX
PHÁP HỘI NHỰT MẬT
BỒ TÁT
THỨ SÁU MƯƠI
Hán
dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm
Việt
dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Người trí
lại quán sát tướng như vậy từ nhơn duyên gì ? Liền biết
tướng ấy nhơn nơi giác quán. Tánh giác quán trước không
nay có nên là vô thường, là pháp có thể đứt được. Tướng
giác quán ấy nhơn tâm mà sanh, tâm cũng là trước không nay
có nên cũng vô thường có thể phá hoại được, là tướng
không có về đến nương dựa, là tướng không có vật,
là tướng không có ngã. Lúc quán như vậy thì ở trong các
hành tâm sanh hối có thể tu tập tướng thế gian chẳng đáng
ưa thích.
Chúng Tỳ
kheo các ông nếu có thể quán kỹ chắc tam thế như vậy thì
có thể dứt hẳn các phiền não, hay tịnh chánh kiến, dứt
pháp sanh tử, thành tựu đạo bình trực, được nhiếp trong
chánh tụ, được quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán. Đây
là người trí tu tập tướng chẳng nên ưa thích.
Nầy Kiều
Trần Như ! Thế nào là Tỳ Kheo quán y được mặc ấy là
tướng chẳng nên ưa ?
Nếu có Tỳ
Kheo lúc vá y, thấy y, chạm y, đắp y, cởi y, quán sát như
máu thoa da thúi rã đáng gớm, là chỗ trùng ở, là chỗ chẳng
đáng ưa. Lúc quán như vậy, lòng tham y liền trừ diệt.
Nầy Kiều
Trần Như ! Thế nào là tu tập tướng thực chẳng đáng ưa
?
Nếu có
Tỳ Kheo lúc cầm mang bát, quán sát như máu thoa sọ đầu,
rã thúi đáng gờm, là chỗ côn trùng ở, là chỗ không đáng
ưa. Lúc được món ăn, nên quán sát món ăn ấy như thây trùng
chết, nếu thấy bún xem như xương nát, thấy cơm nước tưởng
như nước phẩn, thấy bánh tưởng là da người, tích trượng
đang cầm tưởng là xương người, thấy nhũ lạc tưởng máu
mủ hôi dơ, thấy rau cải tưởng tóc lông, thấy các thứ
nước uống tưởng là máu tươi. Quán sát như vậy gọi là
nơi các món ăn uống quán tướng chẳng đáng ưa.
Nầy Kiều
Trần Như ! Thế nào là nơi phòng xá sanh ý tưởng không đáng
ưa thích ?
Lúc vào
phòng nhà, Tỳ Kheo nên suy nghĩ như vào địa ngục thọ các
khổ não. Phòng nhà như vậy tức là tướng hòa hiệp, bao
nhiêu cây gỗ tức là xương người, đất đắp là thịt người,
đến tất cả ghế giường mền nệm tức là xương người
là da thịt người. Quán sát như vậy gọi là ý tưởng thế
gian chẳng đáng ưa thích.
Nếu có
thể quán sát các tướng như vậy, người nầy liền được
như thiệt pháp nhẫn, được các nhẫn tùy không, tùy vô tướng,
tùy vô nguyện. Người nầy thích tu tập không tướng, thấy
tất cả pháp đều sanh diệt khổ không vô ngã, thấy các
ấm nhập giới thập nhị nhơn duyên, tất cả pháp tánh đều
là khổ không vô ngã. Thấy như vậy rồi, người nầy liền
được quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán.
Nầy Kiều
Trần Như ! Người tu tập ý tưởng thế gian chẳng đáng ưa
thích thì có thể dứt dục tham, sắc tham, vô sắc tham, kiêu
mạn, nghi, điệu, vô minh, đến được bực vô học. Đây
gọi là đầy đủ tùy vô nguyện đà la ni.
Nầy Kiều
Trần Như ! Đà la ni nầy hay phá tất cả ác ma, đến có thể
là cho Tam bửu tăng trưởng”.
Lúc nói
pháp ấy, có vô lượng chúng sanh được pháp nhãn tịnh, vô
lượng ức chúng được dứt hẳn các lậu, tám na do tha chúng
được tùy vô nguyện đà la ni, vô lượng chúng sanh phát tâm
Vô thượng Bồ đề, năm vạn tám ngàn chúng sanh được bất
thối tâm Bồ đề, vô lượng chúng sanh được như Pháp nhẫn.
Vô lượng
chúng sanh bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Tất
cả chúng sanh nếu nghe pháp ấy, thì đâu chẳng phát tâm Vô
thượng Bồ đề. Chúng tôi nay hộ trì nghe học pháp ấy”.
Đức Phật
nói : “lành thay lành thay, nầy chư đại đàn việt!
Nay mọi người muốn hộ trì đại pháp. Nhơn hộ pháp mà
đời vị lai sẽ được vô lượng phước đức quả
báo”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Phật Đức
Hoa Mật Như Lai sai Hư Không Mật đại Bồ Tát mang đến dục
tịnh đà la ni ấy, duy nguyện Thế Tôn tuyên nói đó”.
Đức Phật
nói : “Nầy Xá Lợi Phất ! Lắng nghe lắng nghe, khéo suy nghĩ
đó sẽ vì ông mà nói.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Đức Hoa Mật Phật sai mang đến dục tịnh đà
la ni ấy để phá hoại tứ đảo của chúng sanh Ta Bà nầy:
Chúng sanh
cõi nầy thường không có ngã mà vì tâm điên đảo ngang sanh
ý tưởng có ngã. Người trí quán sát kỹ biết không có ngã,
liền phá điên đảo.
Thế nào
là người trí quán vô ngã ? Đó là quán thân ngũ ấm biết
chắc không có ngã, tại sao, vì là tướng hòa hiệp vậy.
Kế quán nhãn căn cũng không có ngã. Tại sao ? Vì là tứ đại
hiệp vậy. Nếu mắt chuyển nháy tức là phong lực, phong ấy
nhơn nơi hư không mà có khứ lai hồi chuyển, mà tánh hư không
là vô sở hữu cũng là bất khả thuyết. Nếu là vô sở hữu
và bất khả thuyết tức là không có ngã. Vì vậy nên hư
không thiệt không có ngã, phong trong hư không cũng lại không
có vật chẳng tuyên nói được nên là vô ngã. Như quán phong,
quán địa, thủy, hỏa cũng như vậy. Vì vậy mà biết rằng,
nhãn căn tứ đại lại cũng không có vật chẳng tuyên nói
được thế nên không có ngã.
Nếu còn
có người nói rằng vì nhãn sắc nhơn duyên nên có tướng
ngã ấy, nghĩa nầy chẳng đúng. Tại sao, vì trong nhãn không
có ngã, trong sắc không có ngã, trong hai thứ hòa hiệp cũng
không có ngã. Nhơn duyên hòa hiệp cũng không có ngã, trong
hai thứ hòa hiệp cũng không có ngã. Nhơn duyên hòa hiệp sanh
ra nhãn thức, trong thức ấy cũng không có ngã. Nhơn thức
sanh sắc gọi là danh sắc. Danh s8ác nhơn duyên sanh lục nhập.
Lục nhập nhơn duyên sanh xúc. Xúc nhơn duyên sanh thọ. Thọ
nhơn duyên ái. Ái nhơn duyên thủ. Thủ nhơn duyên hữu. Hữu
nhơn duyên sanh lão bịnh tử v.v… Các pháp như vậy nhơn nhãn
thức sanh, mà nhãn thức nầy cũng chẳng từ mười phương
đến. Niệm sở nhơn sanh nhãn thức ấy, niệm nầy cũng diệt,
nhân thức chẳng trụ. Trong hai niệm ấy cũng chẳng bảo nhau
: Nay ngươi trụ còn ta diệt. Diệt pháp nầy cũng không có
xứ sở. Vì vậy nên cácp hễ duyên hiệp thì sanh, duyên ly
thì diệt. Nếu nhơn duyên thì sanh, không nhơn duyên thì diệt.
Vì vậy nên biết thiệt không có ngã, mà nhơn duyên ấy cũng
không có tác không có thọ. Nếu không có tác giả thì không
có ngã. Nếu không có ngã thì ngã sở cũng không. Vì vậy
nên nhãn tánh không có ngã ngã sở không hiệp không tan, tức
là sanh diệt.
Tất cả
các pháp cũng như vậy. Tất cả pháp tánh không có thủ không
có xả chẳng phải tạo tác bởi chư Thanh Văn, Duyên Giác,
chư Phật.
Như nhãn
thức không, tất cả pháp không cũng như vậy.
Lúc quán
như vậy được môn không tam muội, hoặc được quả Tu Đà
Hoàn đến quả A La Hán.
Như quán
nơi nhãn, quán nơi nhĩ tỷ thiệt thân cũng như vậy.
Quán thân
vô ngã, tóc, da, thứa, máu, thịt, xương, gân, tủy, não, ruột,
gan, mủ, dãi, hơi ấm gió trên dưới thọ mạng danh tự tất
cả đều vô ngã, chỉ do các duyên hòa hiệp nên gọi là thân.
Thân xúc nhơn duyên nên sanh thân thức, thức nhơn duyên danh
sắc, đến hữu nhơn duyên sanh lão bịnh tử v.v… Các pháp
nhơn duyên như vậy sanh thân thức, mà thân thức cũng chẳng
từ mười phương đến. Niệm sở nhơn sanh thân thức ấy,
niệm nầy cũng diệt thân thức chẳng trụ. Trong hai niệm
ấy cũng chẳng bảo nhau ngươi trụ ta diệt. Mà pháp diệt
ấy cũng không có xứ sở. Vì vậy nên các pháp, hễ duyên
hiệp thì sanh mà duyên tan thì diệt. Nếu nhơn duyên thì sanh
không nhơn duyên thì diệt. Vì vậy nên biết thiệt không có
ngã. Mà nhơn duyên ấy cũng không có tác không có thọ. Không
có tác giả thì không có ngã, đã không có ngã thì nhã sở
cũng không có. Vì vậy mà thân tánh không ngã ngã sở, không
hiệp không tan tức là sanh diệt. Tất cả các pháp cũng như
vậy, tất cả pháp tánh không có thủ không có xả, chẳng
phải chư Thanh Văn, chư Giác Duyên, chư Phật làm ra.
Như thân
thức không tất cả pháp không cũng như vậy.
Lúc quán
như vậy, người ấy được không tam muội, hoặc chứng quả
Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán.
Nầy Xá
Lợi Phất ! Nếu có Tỳ Kheo có thể quán nhãn căn đến thân
căn vô ngã như vậy, nên biết người ấy được tam muội
môn được chư Thiên và thế nhơn cúng dường”.
Lúc nói
pháp ấy, có vô lượng chúng sanh ác nghiệp quá khứ đều
được tiêu trừ, vô lượng chúng sanh được pháp nhãn tịnh,
vô lượng chúng sanh được quả Tu Đà Hoàn đến quả A La
Hán, chín vạn bốn ngàn chúng sanh được tịnh đà la ni như
vậy, vô lượng chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề, vô
lượng chúng sanh chẳng thối chuyển tâm Bồ đề, vô lượng
chúng sanh được như pháp nhẫn, vô lượng chúng sanh phá được
dục tham, sắc tham và vô sắc tham, vô lượng chúng sanh được
tùy không, tùy vô tướng và tùy vô nguyện đà la ni, vô lượng
chúng sanh thành tựu bất tịnh quán, vô lượng chúng sanh thành
tựu a ni ba na, hoặc được xa ma tha, hoặc được tỳ bà xá
na, hoặc được tánh địa, hoặc được Thanh Văn pháp, Bích
Chi Phật pháp hoặc được Bồ Tát pháp, tất cả nữ nhơn
nghe rồi đều được chuyển nam thân, chúng sanh Dục giới
đều thọ khoái lạc như đệ Tam thiền.
Tất cả
chư Thiên, Nhơn, Bát Bộ cúng dường đức Phật, hoan hỉ ngồi
yên.
Vua Tần
Bà Sa La bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Trong thế giới
Ta Bà nầy, vô lượng Bồ Tát được thành tựu quang minh diệu
sắc, từ giờ tôi chưa từng thấy chưa từng nghe.
Bạch đức
Thế Tôn ! Bồ Tát quang minh ấy có thể chiếu khắp tất cả
Ta Bà thế giới. Nếu là bực Bồ Tát gần Vô thượng Bồ
đề thì quang minh thế nào ?”.
Đức Phật
nói : “Nầy Đại Vương ! Nếu Bồ Tát thành tựu Vô thượng
Bồ đề, quang minh chiếu tất cả mười phương thế giới.
Tại sao, vì thiện pháp trang nghiêm các công đức vậy, vì
thành tựu đầy đủ pháp trang nghiêm vậy, vì tất cả thiện
căn nhiều tăng trưởng vậy, vì gần Vô thượng Bồ đề
đạo vậy, vì rốt ráo vô thượng Bồ đề đạo vậy, vì
thọ Như Lai chánh pháp quả vậy,vì phân biệt diễn nói vô
biên pháp vậy, vì thân đã được không có quái ngại vậy,
vì được thanh tịnh chơn thiệt pháp vậy, vì chỗ được
tu tập đều đến bờ kia vậy, vì nghiệp đời vị lai đã
được hết hẳn vậy, vì thành tựu vô lượng Phật chánh
pháp vậy, vì hay chuyển vô thượng diệu pháp luân vậy, vì
được tự tại nơi tất cả pháp vậy, vì thông đạt tất
cả chúng sanh căn vậy, vì đoạn hẳn tất cả phiền não
tập khí vậy. Vì vậy nên quang minh có thể chiếu khắp mười
phương thế giới.
Nầy Đại
Vương ! Tùy sức thế lực lớn công đức của pháp cũng có
thể nhìn thấy thập phương chư Phật”.
Vua nói :
“Bạch đức Thế Tôn ! Nay tôi muốn được thấy thập phương
chư Phật và chư Bồ Tát, chư Thanh Văn”.
Đức Phật
bảo Tôn giả A Nhã Kiều Trần Như : “nếu người Thanh Văn
đệ tử Phật, hoặc tại gia hay xuất gia, thế nhơn đều
thâm quán tự tu duy thiện pháp minh đã có. Ta cũng muốn nhập
Như Lai tam muội. Nếu có hàng nhơn thiên được như thiệt
nhẫn, nếu có người chẳng thối chuyển nơi tam thừa, các
người ấy cũng nhập chánh định, nếu có người được
tâm kính tin nơi Tam bửu cũng nhập thiền định như vậy”.
Đức Thế
Tôn liền nhập tam muội. Tam muội ấy tên là Nhứt thiết
Phật cảnh giới hành trí, rộng như hư không, tất cả người
trí vui mừng, sáng như ánh sáng nhựt nguyệt. Tam muội như
vậy tất cả hàng Thanh Văn, Duyên giác, Bồ Tát chẳng biết
được chẳng tính lường được. Dây gọi là Phật cảnh
giới tam muội.
Thế Tôn
nhập tam muội ấy rồi, Ta Bà thế giới ức tứ thiên hạ,
trăm ức Tu Di sơn, trăm ức nhựt nguyệt đến trăm ức
Trời Hữu Đãnh, các cõi như vậy, đều nhập vào thân của
Phật. Trong Ta Bà thế giới các địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh, người và trời có ai thọ khổ liền được tiêu diệt,
tất cả đều hoan hỷ như Tỳ Kheo nhập đệ Tam thiền.
Tất cả
đại Bồ Tát đều khởi định thấy Phật quang minh. Thấy
Phật quang minh rồi, quang minh của mình có liền tắt không
còn hiện.
Tất cả
hàng Thanh Văn thọ khoái lạc như Tỳ Kheo nhập đệ tam thiền.
Tất cả
vô lượng chúng sanh thảy đều tự thấy lỗ lông Như Lai.
Mỗi mỗi lỗ lông phóng vô lượng ánh sáng như ánh sáng của
hàng hà sa nhựt nguyệt, cũng như ánh sáng của hàng hà sa
số vị Thập trụ Bồ Tát. Quang minh như vậy đều chiếu
khắp mười phương quốc độ chư Phật.
Thập phương
chư Phật Thế Tôn đều riêng bảo đại chúng rằng : “Chư
thiện nam tử ! Các Ngươi có thấy quang minh của Thích Ca Như
Lai chẳng ? Quang minh như vậy thành tựu vô lượng vô biên
công đức. Quang minh ấy nhơn nơi đại từ đại bi vì thương
xót các chúng sanh vậy. Nay Như Lai ấy hiển thị tướng đại
thần biến cho các chúng sanh. Tất cả chúng sanh thấy quang
minh ấy rồi đều phát tâm Vô thượng Bồ đề. Thế giới
phương khác có các chúng sanh được thần thông đều tập
họp tại Ta Bà thế giới, kẻ không được thần thông thì
vói lễ lạy cúng dường”.
Lúc bấy
giờ tất cả chư Phật, chư Bồ Tát và chúng Thanh Văn đều
đến Ta Bà thế giới. Tất cả Bồ Tát đều dâng thất bữu
các thứ hương hoa phan lọng kỹ nhạc cúng dường Thế Tôn
cung kính tôn trọng tán thán. Có các chúng sanh ở thân Phật
thảy đều thấy đó, thầy rồi lại thọ vô lượng khoái
lạc.
Ta Bà thế
giới tất cả chúng sanh đồng thanh nói rằng : “Chúng ta
do nhơn duyên lành nầy nguyện đời sau đồng sanh trong một
quốc độ, được thấy thập phương chư Phật, đã được
tiêu diệt hết ba ác nghiệp đạo.
Nếu có
chúng sanh nào thấy thần biến của của Phật mà chẳng phát
tâm Vô thượng Bồ đề, nên biết người ấy thường đi
trong tối tăm. Chư Bồ Tát vì chúng sanh mà thọ nhiều thí
khổ. Hoặc hóa làm Phật, làm Bích Chi Phật, làm Thanh Văn,
Phạm Thiên, Đế Thích, Tứ Đại Thiên Vương, thân Na La Diên,
thần Rồng, Quỷ, A Tu La, Chuyển Luân Vương. Nếu có thế
giới đáng do Thanh Văn mà được điều phục thì hiện thân
Thanh Văn. Ưng hóa như vậy nếu chẳng phải bực Thập trụ
đại Bồ Tát thì không thề làm được. Vì vậy nên tâm Vô
thượng Bồ đề thành tự vô lượng vô biên công đức”.
Bao nhiêu
chúng sanh ở trong thân tất cả chư Phật đồng thanh nói kệ
rằng :
Do vì các
ác tâm nhơn duyên
Lưu chuyển
sanh lão bịnh tử khổ
Vì chẳng
thân cận thiện tri thức
Thế nên
chẳng đến được bờ kia
Nếu hay
xa lìa được ác tâm
Các ác tà
kiến ác nhơn duyên
Hay dứt
sanh tử trong ba cõi
Người nầy
được đến nơi bờ kia
Chúng sanh
khó được trọn thân người
Được rồi
gặp thiện hữu rất khó
Lòng tin
chắc vững lại khó được
Có rồi
khó được nghe chánh pháp
Nếu người
hay phát tâm Bồ đề
Người nầy
hay dứt các phiền não
Cũng hay
giáo hoá vô lượng chúng
Hiện đại
thần biến như Phật nay
Nếu hay
dứt hẳn hai pháp ấy
Đó là thường
đoạn hai kiến thảy
Nếu thấy
tất cả hành vô ngã
Người nầy
được gọi thiện tư duy
Nếu hay
tu tập khổ tập đế
Người nầy
hay dứt các phiền não
Nếu hay
phát khởi Bồ đề tâm
Người nầy
thắng được các thế gian.
Nghe nói
kệ ấy rồi , có vô lượng chúng sanh phát tâm Vô thượng
Bồ đề, hoặc có chúng sanh phát tâm Duyên giác, tâm Thanh
Văn, hoặc được vô lượng đà la ni, có các chúng sanh được
như pháp nhẫn, bất thối nhẫn, như thiệt nhẫn, hoặc được
quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán.
Bấy giờ
ma vương Ba Tuần thấy rõ Ta Bà thế giới ở trong thân Phật,
liền buồn khóc sầu não, hoặc ngồi, hoặc dậy, hoặc đi,
hoặc đứng, tới lui ra vào lấy tay vỗ đầu càng thêm khổ
não. Tất cả quyến thuộc ma cũng khổ não như vậy.
Ba Tuần
có một đại thần tên là Không Thọ thấy ma vương khổ não
nên nói kệ rằng :
Cớ chi sầu
não mà độc hành
Tâm Vương
mê loạn như người cuồng
Đi đến
chỗ nào cũng không vui
Mong Thiên
Vương nói nhơn duyên ấy,
Ba Tuần nói
kệ đáp :
Ta thấy
Cù Đàm đại thần lực
Nên ta khổ
não đi như điên
Nội tâm
tháo động không được an
Sầu nhiệt
bức thiết đến quyến thuộc
Nhìn thấy
Như Lai vô biên thân
Dung thọ
tất cả Ta Bà giới
Khiến cảnh
giới ta đều trống hư
Vì vậy
nay ta sanh sầu não
Bao nhiêu
thánh nhơn ở mười phương
Đầu đến
tập hội thế giới nầy
Thiết đại
cúng dường cúng dường Phật
Vì vậy
khiến ta sanh sầu não
Nhìn thấy
Như Lai đại thần lực
Và thấy
quyến thuộc quy y Phật
Nay ta độc
hành không bạn lữ
Vì vậy
khiến ta sanh sầu não.
Đại thần
Không Thọ lại nói kệ rằng :
Nay tôi có
đông các quyến thuộc
Lòng họ
tệ ác đủ khí giới
Sức hay
phá hoại thân Như Lai
Và hay hủy
hoại đại thần lực.
Ba Tuần nói
kệ rằng :
Nay quyến
thuộc ta rất sợ Phật
Làm sao hoại
được đức thần thông
Nếu lúc
sanh tâm muốn hủy hoại
Liền tự
thấy mình bị ngũ phược.
Không Thọ
nói kệ rằng :
Như oán
địch ấy thế lực lớn
Nên giả
thân hậu thì phá được
Nếu biết
Cù Đàm có đại lực
Trước nên
trái hiện lòng thân hậu.
Ma vương
nói kệ rằng :
Nếu ta trá
hiện tâm thân hậu
Vì muốn
hủy hoại thân Cù Đàm
Liền thấy
cổ mình đeo tử thi
Bị tất
cả người đồng chê trách
Đại thần
Không Thọ lại nói kệ rằng :
Tất cả
cõi Dục thuộc ma giới
Bao nhiêu
nhơn thiên thuộc Như Lai
Xin Vương
sắc lịnh ác Long Vương
Thì hay phá
được thân Cù Đàm.
Ma vương
Ba Tuần lại nói kệ rằng :
Nếu người
biết rõ rồng đủ sức
Ta đã thất
tâm ngươi tự sai
Nếu thiệt
rồng phá được Cù Đàm
Ta lại được
nước và bổn tâm.
Đại thần
tuân lời ma vương liền bảo các ác Long Vương rằng : “Các
Long Vương nên vì ta mà hủy hoại thân Cù Đàm”.
Các ác Long
vừa muốn bay lên hư không mà không chuyển động được.
Họ liền nói với đại thần rằng : “Kính phụng mạng lịnh
vừa rồi muốn đi phá hoại Cù Đàm. Vừa sanh tâm ấy liền
chẳng bay đi được”.
Đại thần
nghe các ác Long Vương nói liền sanh lòng kinh sợ suy nghĩ rằng
: Nay ta hiện ma đại lực khiến các ác Long sanh tâm giận
dữ. Vì tâm rồng giận dữ thì có thể phá hoại thân Cù
Đàm.
Bấy giờ
cung rồng có hóa tử thi đầy khắp mọi nơi. Các rồng thấy
vậy tự nơi cung thất mình lòng chẳng an vui suy nghĩ rằng
: Đây là ai hóa làm những tử thi ấy.
Dầu có
suy tìm mà chẳng biết là ai làm.
Trong tất
cả tứ thiên hạ chư đại Long Vương và quyến thuộc nam
nữ lớn nhỏ đều ra khoải cung thất đến núi Khê La Kỳ.
Núi ấy bằng phẳng ngang rộng bốn vạn do tuần, là chỗ
ở của chư Thánh đời trước, có đẻ bảy báu.
Nhẫn đến
Nan Đà Long Vương, Bạt Nan Đà Long Vương cũng bỏ cung điện
mà đến núi ấy.
Trong tứ
đại hải, bao nhiêu Long vương và quyến thuộc vô lượng
vô biên, như là Y La Bạt Long Vương, Thiện Trụ Long Vương,
Quy Long Vương, A Na Bà Đạt Đa Long V. Mục Chơn Lân Đà Long
Vương, Đức Hải Long Vương, Thủy Đức Long Vương, Xá Đức
Long Vương, Lạc Đức Long Vương, A Ba Na La Long Vương, Sơn
Đức Long Vương, Ngưu Đức Long Vương, Y La Bạt Đa Long Vương,
Trường Tý Long Vương, Trường Phát Long Vương, Tịnh Long Vương,
Ca Yết La Long Vương, Thủy Phiêu Long Vương, Hắc Phát Long
Vương, Kim Sắc Long Vương, Xá Câu Long Vương, Niệm Di Long
Vương, Tượng Long Vương, Lợi Nha Long Vương, Hữu Hành Long
Vương, Nghị Võng Long Vương, Trường Diện Long Vương, Xích
Nhãn Long Vương, Lạc Kiến Long Vương.
Như vậy
châu Diêm Phù Đề có tất cả Lọng Vương tám vạn và quyến
thuộc, nhẫn đến bốn vạn bốn ngàn quốc độ tất cả
Long Vương và quyến thuộc đều đến núi Khê La Kỳ.
Bắc Uất
ĐơnViệt có hai Long Vương là Vô Biên Long Vương và Kim
Thân Long Vương cùng vô lượng chúng quyến thuộc, nhẫn đến
bốn vạn bốn ngàn quốc độ tất cả Long Vương và quyến
thuộc đều đến núi Khê La Kỳ.
Đông Phất
Bà Đề có hai Long Vương là Nguyệt Long Vương và Bà Tư Tra
Long Vương cùng vô lượng quyến thuộc, nhẫn đến bốn vạn
bốn ngàn quốc độ tất cả Long Vương cùng quyến thuộc
đều đến núi Khê La Kỳ.
Tây Cù Gia
Ni có hai Long Vương là Bữu Phát Long Vương và Quang Phát Long
Vương cùng vô lượng quyến thuộc, nhẫn đến bốn vạn bốn
ngàn quốc độ tất cả Long Vương cùng quyến thuộc đều
đến trong núi Khê La Kỳ.
Và trong
tứ thiên hạ hàng tứ sanh Long Vương cùng quyến thuộc cũng
đến trong núi Khê La Kỳ. Các Long Vương nầy thân hình đều
như củ thuốc bốn tấc, do vì giện dữ nên thân họ cao lớn
như núi Tu Di.
Ba Tuần
xem thấy chúng Long Vương như vậy rồi bảo quyến thuộc rằng
: “Lắng nghe lắng nghe, do ma lực của ta làm cho các Long Vương
như vậy từ cung thất ra đến Khê La sơn kia, họ đều mất
thế lực chẳng phá hoại được Sa Môn Cù Đàm”.
Còn có ma
đại thần tên là Giới Thê thưa ma vương rằng : “Đại
Vương ! Các Long Vương như vậy vì muốn phá hoại thân Thích
Ca nên tập hội một chỗ. Họ đều nghĩ rằng : Nay ta nên
dùng phương tiện gì phá hoại thân Cù Đàm”.
Ba Tuần
nói : “Nếu chắc có sự như vậy ngươi nên qua đó xem sao”.
Đại thần
Giới Thê cùng trăm ngàn vạn quyến thuộc muốn đến núi
Khê La Kỳ.
Lúc ấy
đức Thế Tôn từ thiền định khởi ngồi một phía thị
hiện thân bình thường.
Ma đại
thần thấy thân thường Như Lai ở nước Ma Già Đà. Thấy
rồi nghĩ rằng : Sa Môn Cù Đàm thối thất thần thông có
lẽ sợ ta chẳng, hay muốn ta sanh đại ác chăng ? Ta nên trước
đến chỗ Cù Đàm kia để cùng bàn luận.
Ma đại
thần Giới Thê cùng đại chúng đến Phật nói kệ rằng :
Thân Ngài
chưa qua biển sanh tử
Thế nào
sẽ độ được chúng sanh
Cù Đàm
chớ gạt các chúng sanh
Nói rằng
sẽ được đại Niết bàn
Đức Như
Lai nói kệ đáp :
Ta đã được
qua biển sanh tử
Cũng được
thoát hẳn tất cả cõi
Ta vì nhơn
duyên đại từ bi
Nói rằng
chúng sanh sẽ Niết bàn
Ngươi đã
vô lượng đời thuở xưa
Phát khởi
Vô thượng Bồ đề tâm
Đã từng
cúng dường vô lượng số
Trăm ngàn
vạn ức các Thế Tôn
Ngươi nay
định sẽ được Phật đạo
Tại sao
nói Phật gạt chúng sanh
Nay ta cho
ngươi đại niệm lực
Bèn nên
chí tâm quán bổn thân.
Ma đại
thần Giới Thê nghe lời Phật tự quán sát quá khứ bổn thân
thấy rõ ràng mình phát Bồ đề tâm cúng dường vô lượng
vô biên chư Phật, thấy rồi tâm rất hổ thẹn ở trước
Như Lai dập đầu mặt xuống đất sám hối tác lễ bạch
đức Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Nay tôi
đã nhớ vô lượng đời phát tâm Bồ đề, đã từng cúng
dường vô lượng ức Phật, ở chỗ chư Phật nghe học diệu
pháp, đã được tu hành sáu Ba la mật.
Bạch đức
Thế Tôn ! Thuở Phật Ca Diếp có một Tỳ Kheo nói Thanh Văn
thừa. Tôi chẳng tư duy bèn nói lời ấy chẳng phải là lời
Phật là lời nói của ma. Tỳ Kheo ấy đã phát tâm Bồ đề
hành Bồ đề đạo. Vì nhơn duyên ấy nên Ca Diếp Như Lai
chẳng thọ ký cho tôi. Tôi nhơn việc ấy sanh trong ma giới
thọ thân nầy đến nay đã trải qua năm vạn bảy ngàn ức
năm.
Bạch đức
Thế Tôn ! Tôi thà đem những thân quá khứ ấy thọ khổ địa
ngục chớ trọn chẳng thối tâm Bồ đề”.
Đức Phật
nói : “Nầy đại thần ! Lành thay lành thay, nếu có người
đem hoàng kim như núi Tu Di và các món vật bằng thất bữu
trong vô lượng đời cúng dường chư Phật, phước ấy chẳng
bằng phát tâm Bồ đề. Tại sao, vì phát tâm Bồ đề mới
là cúng dường thập phương chư Phật”.
Lúc ấy
Giới Thê Bồ Tát liền ở tại chỗ được như pháp nhẫn,
bèn rời chỗ ngồi đầu mặt tác lễ nhiễu Phật ba vòng
đem thượng y nơi thân cúng dường đức Phật, nhẫn đến
quyến thuộc bốn vạn bốn ngàn đại chúng cũng cúng dường
như vậy.
Ma vương
Ba Tuần thấy đại thần của mình cùng đại chúng quyến
thuộc đều quy y Phật, tâm rất khổ não, đóng chặt cửa
nẻo ngồi yên một chỗ.
Đức Phật
vì đại chúng nói ba thứ từ tâm đó là Chúng sanh duyên từ,
Pháp duyên từ và Vô duyên từ tâm như trong hội Hư Không
Mục đã tuyên nói.
Trong lúc
ấy tất cả Long Vương đều tập hội núi Khê La Kỳ muốn
động chẳng động được, muốn đi chẳng đi được, muốn
hiện thân lớn cũng lại chẳng được. Họ bèn hướng về
Nan Đà Long Vương, Bạt Nan Đà Long Vương mà nói rằng : “Đại
Vương ! Trước kia hoá hiện tử thi trong cung thất là
do Ba Tuần làm, vì vậy khiến chúng tôi đều đến núi nầy
thọ thân nhỏ nhít. Nếu có thể quy y ma Ba Tuần thí có thể
được giải thoát”.
Y la Bạt
La Long Vương nói : “Nay ma vương đã thất bổn tâm và thần
túc làm sao cứu tế các Ngài được”.
Các Long
Vương ấy, hoặc có quy y Tứ Thiên Vương, hoặc có quy y Đao
Lợi Thiên, hoặc có quy y Dạ Ma Thiên, hoặc Đâu Suất Thiên,
hoặc Hoá Lạc Thiên. Hoặc có quy y Tha Hóa Tự Tại Thiên,
hoặc có quy y Phạm Thiên.
Hải Long
Vương nói : “Các Ngài chẳng thấy Thích Ca Như Lai được
tất cả hiền thánh nhơn thiên tạp loại thiết đại cúng
dường mà quy y đó ư!”.
Có các Long
Vương quy y Na Trà tiên nhơn, hoặc Mã Tàng tiên nhơn, hoặc
Quảng tiên nhơn, hoặc Quang Vị tiên nhơn, hoặc Bạt Già Bà
Tiên Nhơn.
Các Long
Vương quy y năm tiên nhơn như vậy. Năn tiên nhơn ấy đều
được ngũ thông ở tại núi Tuyết đều đang nghe Quang Vị
tiên nhơn tuyên nói chánh pháp. Quang Vị Bồ Tát cũng dùng
vô lượng các thứ tán thán để tán thán đức Như Lai.
Các tiên
nơn đều nghe âm thanh của tất cả Long Vương, liền bạch
Quang Vị tiên nhơn rằng : “Ngài có nghe tiếng khóc kêu của
các Long Vương chẳng ?”.
Quang Vị
đáp : “Tôi có nghe”.
Chư Thiên
nói : “Thưa Đại Sĩ ! Duy nguyện đến đó cứu khổ họ”.
Quang Vị
nói : “Các Ngài nên đến đó, tôi đi chẳng được, tại
sao, vì hiện nay có Đại Thiên muốn được nghe Vô duyên từ
tâm vậy”.
Bốn tiên
nhơn lễ lạy Quang Vị rồi đến núi Khê La Kỳ để cứu
tế.
Chư Long
Vương thấy bốn tiên liền cất tiếng cầu ai cứu tế.
Chư Tiên
nói : “Ta chẳng cứu được. Trong núi Tuyết có một Bồ
Tát tên là Quang Vị, người ấy có thể cứu. Các ngươi nên
nhứt tâm cầu ai tác lễ”.
Chư Long
Vương đều hướng về núi Tuyết làm lễ đồng thanh cầu
cứu.
Quang Vị
nghe tiếng ấy bèn cùng vô lượng chư Thiên cúng dường đến
núi Khê La Kỳ.
Chư Long
Vương thấy rồi đầu mặt lễ lạy : “Duy nguyện Đại Sĩ
cứu khổ chúng tôi”.
Quang Vị
Bồ Tát biết đã đến lúc, muốn nói tinh tú.
Hải Long
Vương bạch rằng : “Bạch Đại Sĩ ! Tinh tú ấy của ai nói
? Ai làm đại tinh, ai làm tiểu tinh ? Ai làm nhựt nguyệt ?
Trong ngày nào tinh nào ở trước ? Thế nào là mãn nguyệt
? Thế nào là thời giờ ?. Các tinh tú như vậy hệ thuộc
Thiên nào, tánh là gì, tinh tú nào khinh, nào trọng, nào thiện,
nào ác, nào thực, nào thí ? Ai tạo ngày ? Ai tạo đêm ? Bóng
có mấy bộ gọi là chuyển, thế nào gọi là Nam chuyển. Thế
nào gọi là Bắc chuyển ? Thưa Đại Sĩ ! Ngài ở trong hàng
chư Tiên là đệ nhứt hơn cả, duy nguyện đầy đủ phân
biệt giải nói”.
Quang Vị
Bồ Tát bảo chư Long Vương rằng : “Nầy Đại Vương ! Đời
quá khứ trước, ban sơ của Hiền kiếp, thành Chiên Đà Diên
có vua tên là Vô Lượng Tịnh dùng chánh pháp trị nước.
Vua ấy chẳng tham dục lạc, thường thích tịch tĩnh tài trí
thông đạt. Vua có phu nhơn dục tâm phát động cùng vua du
hành ở trong một khu rừng lòng tham dục nhìn vua liền có
thai, đủ ngày sanh ra một con trai. Đứa trẻ ấy đầu tai
mắt môi miệng cổ đều giống lừa, các phần khác giống
người. Bà mẹ thấy rồi sợ quá ném nó vào nhà xí, thân
nó chưa chạm đất được lủ quỷ ở trên không tiếp lấy
đem đến núi Tuyết chăm sóc nuôi dưỡng như con đẻ. Trong
núi Tuyết có thuốc ngọt ngon, lủ quỷ hái lấy cho trẻ ấy
ăn. Trẻ ấy ăn rồi thân liền chuyển lạ có đại quang minh
đầy đủ phước tướng có đại từ bi. Do cớ ấy nên được
chư Thiên lễ bái cúng dường tán thán. Trẻ ấy tất cả
thân tướng đều chuyển đổi chỉ có môi thì giống môi
lừa, nên có tên là Lư Thần. Do phước lực của Lư Thần
nên trong núi Tuyết sản xuất các thứ dưa quả và dược
thảo.
Lư Thần
tiên nhân suốt sáu vạn năm thọ trì cấm giới, thường co
một chưn lên. Tất cả Phạm Thiên, Ma Thiên, Đế Thích đại
thiết cúng dường để cúng dường đó và bạch Lư Thần
tiên nhơn muốn cầu sự gì xin được nói cho, chúng tôi biết
rồi nếu sức chúng tôi làm được sẽ ban cho Ngài.
Lư Thần
tiên nhơn nói :
Nay tôi muốn
biết tinh tú để lợi ích mọi người vì lòng tôi thương
xót họ.
Tất cả
chư Thiên nói :
Nếu vì
thương xót tất cả chúng sanh mà muốn được biết, nguyện
sẽ nói đó.
Lư Thần
tiên nhơn nói :
Thưa Phạm
Thiên ! Thiệt tôi chẳng hiểu tinh tú tối sơ v.v…”.
Lúc Quang
Vị nói tinh tú ấy, chư đại Long Vương đối với Quang Vị
Bồ Tát sanh tâm vui mừng.
Quang Vị
Bồ Tát lại vì chư Long Vương phát âm thanh vi diệu tán thán
Tam bửu rồi nói rằng : “Chư Đại Vương ! Nay ta thiệt chẳng
thể cứu vớt khổ các Ngài. Chỉ có Thích Ca Như Lai Thế
Tôn mới cứu được. Đức Thích Ca Như Lai vì muốn điều
phục các chúng sanh, nên trong vô lượng đời xả bỏ sở
hữu trân quý tu tập từ bi để cứu khổ não”.
Nghe lời
ấy, tất cả Long Vương và quyến thuộc nam nữ lớn nhỏ
đều chí tâm niệm Phật tán thán quy y : “Nam mô Phật Thế
Tôn, ở trong tất cả chúng sanh rất là thù thắng, ở trong
tất cả pháp tâm được tự tại, ở trong các pháp hải đã
đến bờ kia, hay cứu tất cả chúng sanh khổ não ban cho họ
an lạc bình đẳng không hai, thương xót tất cả, hay chỉ
đường chánh ban cho chánh nhãn, được tất cả Thiên Long
cúng dường, hay thọ cúng cụ vị diệu của tất cả nhơn
thiên trong tất cả thế giới mười phương.
Chúng tôi
thọ nhiều vô lượng khổ não, duy nguyện đức Thế Tôn từ
bi thương cứu”.
Thành tâm
niệm Phật rồi, tất cả chư Long tự thấy thân mình như
cũ.
Quang Vị
Bồ Tát bảo chư Long Vương rằng : “Như Lai công đức bất
khả tư nghị, vì chúng sanh nên trong vô lượng đời Như Lai
tu hành đầy đủ sáu Ba la mật, tuyên nói ba thứ từ bi điều
phục chúng sanh, tuyên nói tất cả pháp vô ngã vô tác, tuyên
nói ấm, nhập, giới, tứ, đại, các phiền não tuyên nói
tánh phiền não, và tánh chúng sanh, tuyên nói tất cả pháp
vô tánh, vô tướng, vô ngại, vô tác, vô cấu, vô tịnh, vô
minh, vô ám, vô thủ, vô xả, vô hành, vô trụ, vô nhứ, vô
nhị, tất cả ấm, nhập, giới tứ đại cũng đều như vậy.
Đây gọi là Đệ nhứt nghĩa không.
Vì vậy
nên Như Lai hay điều phục chúng sanh là đấng Vô Thượng
Tôn. Vì vậy nên đức Như Lai có thể cưu vô lượng khổ
não của các Ngài”.
Quang vị
Bồ Tát cùng chư tiên nhơn tất cả Long Vương và quyến thuộc
đồng đến chỗ đức Phật lễ bái cung kính hữu nhiễu rồi
ngồi qua một phía.
Bấy giờ
đức Thế Tôn bảo Quang Vị Bồ Tát rằng : “Nầy Quang Vị
! Nay ông có muốn nghe nghiệp của chư Long chẳng ?”.
Quang Vị
Bồ Tát bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Nay đã đúng
lúc, duy nguyện đức Như Lai tuyên nói đó”.
Đức Phật
nói : “ Lành thay lành thay, lắng nghe, lắng nghe, nầy Quang
Vị ! Phật sẽ vì ông mà diễn nói”.
Tất cả
nhơn thiên dâng hương hoa tốt, phan lọng, kỹ nhạc cúng dường
Phật.
Đức Thế
Tôn cùng chư Thiên cõi Dục, cõi Sắc, vô lượng Thanh Văn
và Bồ Tát từ nước Ma Già Đà thẳng đến núi Tu Di.
Phạm Vương
thiết toà thất bửu để chờ Như Lai, lại còn tạo làm đường
thất bửu rồi bạch rằng : “Duy nguyện Như Lai đi trên đường
nầy và ngồi tòa của tôi”.
Tha Hóa Tự
Tại Thiên dùng diêm phù đàn na bửu làm tòa ngồi và đường
đi cũng nguyện như trên.
Hóa Lạc
Thiên dùng vàng cõi trời làm tòa ngồi và đường đi cũng
ước nguyện như vậy.
Đâu Suất
Đà Thiên dùng bạc cõi trời làm tòa ngồi và đường đi
cũng cầu nguyện như vậy.
Dạ Ma Thiên
dùng lưu ly làm tòa ngồi và đường đi cũng nguyện cầu như
vậy.
Đao Lợi
Thiên dùng chơn châu làm tòa ngồi và đường đi cũng cầu
mong như vậy.
Tứ Thiên
Vương dùng mã não làm tòa ngồi và đường đi cũng nguyện
như vậy.
Tứ A Tu
La Vương dùng chiên đàn làm tòa ngồi và đường đi cũng
mong cầu như vậy.
Vì lòng
lân mẫn, đức Thế Tôn hóa thân Phật khắp đi bảy đường,
khắp ngồi bảy tỏa. Còn chơn thân Như Lai thì đi và ngồi
đường và tòa của Phạm Vương sắp đặt. Mỗi mỗi Hoá
Phật đều có vô lượng Thanh Văn và Bồ Tát làm quyến thuộc.
Quang minh của mỗi Hoá Phật nhu ánh sáng của vô lượng nhựt
nguyệt.
Chư Long
Vương thấy Hoá Phật rồi lòng rất kính trọng đồng nói
rằng : “Nay núi Tu Di bèn có trăm ngàn nhựt nguyệt như vậy
chăng”.
Nan Đà,
Bạt Nang Đà Long Vương nói : “Đức Như Lai Thế Tôn cùng
vô lượng Pham Thiên đến núi Tu Di, đó là quang minh của Phật
chớ chẳng phải nhựt nguyệt. Các Ngài nếu muốn giải thoát
thì nên chí tâm chuyên niệm Như Lai, Như Lai Thế Tôn đã phá
hết vô minh nên nay có quang minh như vậy”.
A Na Bà Đạt
Đa Long Vương nói : “Quang minh ấy là của ma mương chẳng
phải của Phật. Tại sao, vì tất cả Dục giới thuộc ma
Ba Tuần, ma Ba Tuần hay làm điều ác ấy, nay vì thương xót
nên có thể cứu khổ của chư Long Vương như vậy”.
Còn có Long
Vương nói là của Hoá Tự Tại Thiên, còn có nói là của
Hóa Lạc Thiên, Đâu Suất Thiên, Dạ Ma Thiên, Đao Lợi Thiên,
Tứ Vương Thiên vì thương xót nên có thể cứu khổ chư Long
Vương như vậy.
Thiện Trụ
Long Vương nói : “Quang minh đó là của Quang Vị Bồ Tát vì
thương xót nên có thể cứu khổ chư Long Vương như vậy”.
Bửu Kế
Long Vương nói : “Quang minh ấy là của người đại đức
xuất gia cạo bỏ râu tóc, vì thương xót nên có thể cứu
khổ chư Long Vương như vậy”.
Hải Long
Vương nói : “Quang minh ấy là của Như Lai. Tại sao, vì thương
xót vậy, Như Lai Thế Tôn ở nơi các chúng sanh tu nhứt tử
tưởng, hay cứu chúng sanh tất cả khổ não, trong vô lượng
đời tu hành đầy đủ sáu Ba la mật chỉ vì cứu tế tất
cả chúng sanh khổ não. Vì vậy nên chư Thiên cõi Dục, cõi
Sắc sắp đặt đại cúng cụ để cúng dường Phật”.
Bấy giờ
đức Thế Tôn bảo Thiên Đế Thích rằng : “Nầy Kiều Thi
Ca ! Như ta đi trong thế giới Ta Bà để giáo hóa chúng sanh,
cũng như Ngài ở Đao Lợi Thiên để độ chư Thiên”.
Đế Thích
nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Nay tôi chưa có vô biên trí,
sao lại nói là tôi có thể hóa độ chư Thiên.
Bạch đức
Thế Tôn ! Nay núi Tu Di nầy có vô lượng chư Thiên, vô lượng
Phạm Thiên, vô lượng Quỷ Thần, vô lượng Càn Thác Bà,
vô lượng Khẩn Na La, vô lượng Ca Lâu La, vô lượng A Tu La,
vô lượng Ma Hầu La Già, vô lượng Chư Long, vô lượng Đại
Tiên, vô lượng Thánh nhơn. Duy nguyện Như Lai thương xót hoá
độ chúng sanh như vậy”.
Đức Thế
Tôn vui vẻ mỉm cười, từ miệng Phật phát xuất vô lượng
sắc quang sanh vàng đỏ trắng pha lê nhiều màu chiếu khắp
mười phương những chỗ tối tăm, hay phá hoạitc các ác nghiệp
ma hơn hẳn quang minh của vô lượng ức Phạm Thiên, Đế Thích
nhựt nguyệt.
Đức Phật
nói với Thiên Đế Thích : “Nầy Kiều Thi Ca ! Tất cả núi
trong Ta Bà thế giới, núi Tu Di là lớn hơn cả. Ta cũng vậy,
là hơn hết trong tất cả chúng sanh”.
Chư Long
Vương nghe lời ấy đều bạch Phật rằng : “Bạch đức
Thế Tôn ! Duy nguyện xót thương cứu khổ chúng tôi”.
Đức Phật
nói : “Chư Long Vương ! Các ngươi nên trước chí tâm niệm
Phật, ta sẽ cứu cho”.
Đức Phật
dùng âm thanh nghe khắp mười phương thế giới mà bảo Tôn
giả Kiều Trần Như rằng : “Nầy Kiều Trần Như ! Tất cả
các pháp đếu vô thường, tất cả các pháp sanh trụ vô thường,
tại sao, vì sanh nhơn duyên vậy. Tất cả nhơn duyên sanh pháp
tức là khổ vậy. Nếu lúc pháp sanh tức là khổ, tức là
nhọt ghẻ, tức là hữu chi, tức là sanh lão, tức là sanh
diệt.
Nầy Kiều
Trần Như ! Nhãn tức là vô thường khổ, nhãn sanh ấy tức
là khổ, là nhọt ghẻ, là hữu chi, là sanh lão, tức là sanh
diệt.
Như nhãn,
nơi nhĩ, tỷ, thiệt, thân, và ý cũng vậy.
Nầy Kiều
Trần Như ! Nếu Nhãn diệt thì tức là sanh, lão, bịnh, tử
diệt, tất cả hữu chi diệt, nhẫn đến ý cũng như vậy.
Vì chúng
sanh chẳng biết nhãn sanh diệt nên lưu chuyển trong ngũ đạo.
Đức Như
Lai vì giúp nhãn sanh diệt nên diễn thuyết pháp, cũng vì nói
khổ đoạn khổ hành pháp.
Vì vậy
nên Như Lai là Đại Phạm trong Phạm, là Đại Thiên trong Thiên,
là Đại Tượng trong Tượng, là Đại Sa Môn trong Sa Môn, là
Đại Bà La Môn trong Bà La Môn, là Đại Từ trong Từ, là Đại
Bi trong Bi, là Vô Thượng Tôn, là Đại Trượng Phu, đã đến
bờ kia của biển lớn sanh tử, là tối đại phước điền,
là vô thắng thí chủ, tâm thường bình đẳng, là đại Pháp
Vương trì đại cấm giới, là vô thượng tinh tiến khéo tu
phạm hạnh, biết rõ chánh đạo làm đại Đạo Sư thông đạt
các nghiệp khác.
Nầy Kiều
Trần Như ! Vì khéo biết nhãn sanh diệt nhơn duyên nên gọi
là Như Lai. Vì chẳng biết rõ nhãn sanh diệt nhơn duyên nên
gọi là phàm phu.
Thế nào
là chẳng biết mà gọi là phàm phu ?
Nầy Kiều
Trần Như ! Tất cả chúng sanh đều nói có ngã, do đây nên
chẳng biết tướng nhãn sanh diệt mà phải luân chuyển ngũ
đạo.
Nầy Kiều
Trần Như ! Có các nhà ngoại đạo nói rằng kiến là ngã,
đến nói rằng tri ấy là ngã, nhãn ấy là nhơn duyên của
ngã, đến ý ấy là nhơn duyên của ngã. Họ nói nhãn dụ
như lỗ trống, ngã dụ như thấy. Nếu như vậy thì gọi là
điên đảo, tại sao ? Vì thấy được nói đó là hoà hiệp,
ở trong hòa hiệp mà cho là ngã nên là điên đảo.
Nếu nói
lỗ trống dụ cho nhãn, còn thấy dụ cho ngã, nghĩa nầy chẳng
đúng. Tại sao ? Vì trong lỗ trống mà thấy đó, cũng có thấy,
cũng có nghe, cũng có biết, cũng cảm xúc mà nhãn thì không
có như vậy. Vì vậy nên thấy ấy chẳng được gọi là ngã.
Lỗ trống
dầu lâu cũ mà thấy vẫn tỏ rõ. Nhãn nếu lâu cũ thì chẳng
được như vậy.
Ngã ấy
gọi là thường. Nếu ngã là thấy là nghe thì ngã là vô thường.
Đã vô thường đâu được gọi là ngã.
Nầy Kiều
Trần Như ! Vì điên đảo nhơn duyên nên chúng sanh chẳng thấy
tứ chơn đế. Như Lai đạt tướng điên đảo ấy nên gọi
là chánh trí. Ngã ấy tức là Như Lai.
Nếu có
người biết được Như Lai ngã ấy, người nầy có thể phá
hoại tướng điên đảo. Nếu hoại điên đảo thì phá ma
nghiệp. Nếu phá ma nghiệp, người nầy có thể cứu khổ
chư Long.
Nầy Kiều
Trần Như ! Vì vậy nên nay Phật có thể cứu khổ não chư
Long Vương vậy”.
Nghe pháp
ấy, tất cả chư Long Vương và quyến thuộc vui mừng hớn
hở lòng khổ não liền trừ đồng kính lễ nhứt tâm quy hướng
Tam bửu.
Phật nói
pháp ấy rồi, tất cả đại chúng đều hoan hỉ tín thọ
phụng hành.
PHÁP HỘI
NHỰT MẬT BỒ TÁT
THỨ SÁU
MƯƠI
HẾT
Vi tính: THÍCH
ĐỨC TUẤN