LX
PHÁP HỘI NHỰT MẬT
BỒ TÁT
THỨ SÁU MƯƠI
Hán
dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm
Việt
dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Đức Cao
Quý Đức Vương Như Lai nói thần chú xong, Quang Mật Công Đức
đại Bồ Tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tôi đã
thọ trì đa la ni ấy sẽ qua Ta Bà thế giới tuyên đọc điều
phục chúng sanh”.
Còn có vô
lượng Bồ Tát đại chúng đồng thanh nói: “Lành thay lành
thay, hôm nay chúng tôi cũng đều muốn qua thế giới đó”.
Đức Phật
nói: “Đã phải lúc, các ông có qua đó thì nên biến làm
thân Na La Diên”.
Quang Mật
Công Đức đại Bồ Tát và đại chúng Bồ Tát tất cả biến
thân làm Na La Diên đồng đến Ta Bà thế giới. Đến rồi
mưa cát vàng ròng mịn nhuyễn để cúng dường Phật Thích
Ca Mâu Ni rồi từ hư không xuống đầu mặt kính lễ hữu
nhiễu ba vòng rồi ngồi qua một phía.
Phương Bắc
quá tám vạn hằng ha sa số thế giới chư Phật, có thế giới
tên là Phổ Hương Thân đủ ngũ trược, Phật hiệu là Đức
Hoa Mật Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn hiện tại vì chúng sanh thuyết
pháp giáo hoá. Có Bồ Tát tên là Hư Không Mật ngước nhìn
hư không thấy vô lượng Bồ Tát từ Bắc phương đến đi
thẳng qua phương Nam liền bạch Phật rằng: “Bạch đức
Thế Tôn! Có nhơn duyên gì mà vô lượng Bồ Tát từ phương
Bắc đến đi thẳng qua Nam phương?”.
Đức Phật
nói: “Nầy Hư Không Mật! Phương Nam quá tám vạn hằng hà
sa số thế giới, có thế giới tên là Ta Bà đủ ngũ trược,
có Phật Thế Tôn hiệu Thích Ca Mâu Ni Như Lai hiện tại vì
chúng sanh tuyên nói diệu pháp phân biệt tam thừa dựng pháp
tràng rộng nói pháp tụ. Thập phương chư Phật đều tập
hội cõi ấy vì chư Bồ Tát giải nói bửu tràng đà la ni
rồi đều trở về bổn trụ xứ. Thích Ca Như Lai vẫn vì
đại chúng Bồ Tát Thanh Văn tuyên nói pháp yếu có nhiều
lời bí mật cam lồ. Nếu muốn nghe thì nên qu cõi đó.
Thích Ca Như
Lai thường phát đại nguyện, nếu có thập phương chư Bồ
Tát đến nghe ta nói pháp liền được mười tám pháp bất
cộng. Lại nguyện rằng lúc ta thành Phật rồi nguyện đất
đai cõi ta có đủ thượng vị. Chư Bồ Tát cõi ấy có đại
niệm tâm tinh tiến trì giới trí huệ đầy đủ như ở thế
giới thanh tịnh chư Phật, tu tập đầy đủ thiền định,
lúc nhập thiền định thân họ phóng quang minh hoặc sáng như
một ngọn đèn nhẫn đến sáng như trăm ngàn vô lượng nhựt
nguyệt. Họ đều tập hội nghe Phật thuyết pháp. Hoặc có
thập phương chư Bồ Tát chúng khởi định đều đến cõi
ấy kính lễ Thích Ca Mâu Ni Như Lai lắng nghe đà la ni du hí
thần thông.
Nầy Hư Không
Mật! Chúng sanh thế giới Ta Bà thọ mạng ngăn ngủi nhiều
ác bịnh, trí huệ thiện căn phước đức thiện hành thảy
đều kém mỏng, họ chẳng biết sợ ba ác đạo khổ, họ
tham trước của cải tâm chẳng thanh tịnh, lòng nhiều tật
đố không có tàm quý, ưa làm mười điều ác, các chúng sanh
ấy hoặc có tạp hành sau khi xả thân liền ở cõi ấy làm
đại ác quỉ nhẫn đến làm ác ca na, phú đơn na, họ làm
ác quỷ rồi thâu lấy vị đất nhẫn đến tất cả các vị
dưa trái, lúa gạo, cỏ cây,ai ăn thứ ấy thì sanh ác bịnh
thân mất thể lực. Các ác quỷ ấy thường rình chúng sanh
lúc sơ sanh lúc trưởng đại có thể cướp mất tánh mạng,
đây cũng là một cớ mà chúng sanh cõi ấy đoản thọ.
Nầy Hư Không
Mật! Trước kia lúc ta tu tập Bồ đề đạo cũng thường
phát nguyện tôi đời vị lai thường siêng tinh tiến chẳng
thôi chẳng nghỉ cung kính cúng dường vô lượng chư Phật
nghe học chánh pháp thưa hỏi thâm nghĩa. Tôi sẽ thế nào
thủ hộ người ở thai khiến mẹ con kia sản sanh yên ổn.
Hoặc Trời, Rồng Quỷ Thần, hoặc Quỷ La Sát, A Tu La, Ca Lâu
La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Già, hoặc Câu Biện Trà, Lệ Lê Đa,
Tỳ Xá Giá, Phú Đơn Na, Ca Đa Phú Đơn Na, Thọ Đa La, A Vệ
Mạt La, hoặc nhứt hành đến tứ hành, hoặc quỷ khởi thi,
hoặc độc cổ, hoặc ác độc dược xúc thân tâm, các độc
sự như vậy không làm tổn hại được mẹ con ấy, nhẫn
đến lúc bú mớm ăn uống nuôi lớn khôn cũng chẳng làm hại
được, cũng chẳng khiến tâm loạn trược được, cho đến
trong giấc mộng cũng không làm tổn não được, thường hành
thập thiện, thích bố thí, thích trì giới, với ba ác đạo
lòng sanh bố uý, có chú dược nào hay xong những sự việc
như vậy. Lúc bấy giờ vô lượng Phật liền ban cho ta tịnh
đà la ni. Do sức lực của đà la ni ấy khiến ta thuở trước
trong vô lượng đời điều phục vô lượng vô số chúng sanh
khuyên họ thật hành sáu Ba la mật.
Trong vô
lượng vô số đời trước ta thường nghĩ nhớ xứ nào có
nữ nhơn chửa nghén để phòng ngăn ác quỷ nhẫn đến độc
dược. Ta đến chỗ họ dạy tam quy y. Dạy họ tam quy rồi
tất cả ác quỷ độc dược chẳng làm hại được. Đứa
con sanh ra thường được thiện tâm trí huệ đầy đủ thân
thể không thiếu khuyết, lúc nó du hành thường được vô
lượng thiện thần ủng hộ, diện mạo đoan chánh mọi người
thích thấy, ưa tu từ bi, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tiến, ở nơi tịch tĩnh thích tu thiền định, gần thiện
tri thức có đủ trí huệ, phá các khổ não nhàm lìa sanh tử
ưa mến Niết bàn, tất cả thiên thần quỷ thích cúng dường.
Nếu nó phát tâm Vô thượng Bồ đề thì được Bồ đề
Vô thượng, nếu phát tâm Bích Chi Phật thì được Bích Chi
Phật đạo, nếu phát tâm Thanh Văn thì được như thiệt nhẫn.
Các chúng sanh ấy xa lìa hẳn ba ác đạo thường đi trong thiện
đạo.
Ta dùng vô
lượng phương tiện như vậy điều phục chúng sanh vì Vô
thượng Bồ đề.
Nầy Hư
Không Mật! Nếu có chúng sanh bị bịnh rất nặng, lấy da
sư tử tụng chú nầy vào rồi trao cho người bịnh. Nếu không
có da thì dùng thịt hoặc xương. Nếu không có thịt xương
sư tử thì dùng phẩn hoặc chỗ đất mà sư tử đái. Nếu
không có phẩn có đất ấy thì tụng chú cột gút hoặc làm
sách bùa trao cho người bịnh, thì bịnh liền lành. Nếu cây
không trổ hoa trái thì tụng chú vào nước mưa rồi xối tưới,
cây ấy liền có bông trái. Hoặc lúc hạn khô, tìm tim rùa
tụng chú năm biến đem đặt trong long tuyền thì trời sẽ
mưa lớn. Hoặc lúc mưa nhiều lũ lụt hại lúa mạ thành ấp
tụ lạc, tìm da mãng xà tụng chú bảy biến đem đặt trong
long tuyền thì mưa liền dứt. Nếu quốc độ nhiều tướng
quái dị, ác phong, ác vũ, ác tinh nhựt nguyệt, thì nên bảy
ngày tắm gội sạch sẽ ăn cháo sữa, trong bảy ngày đọc
tụng chú nầy thì các tướng quái di liền tiêu diệt.
Nầy Hư
Không Mật! Nếu có người nghe đà la ni nầy thì bao nhiều
phiền não đều nhẹ mỏng nhập chánh định tụ.
Ta dùng vô
lượng phương tiện như vậy điều phục chúng sanh khiến
họ tu tập sáu Ba la mật nhẫn đến được Vô thượng Bồ
đề.
Nầy Hư
Không Mật! Đà la ni nầy có thể làm lợi ích lớn cho chúng
sanh, hay dứt tất cả các ác trọng bịnh, hay thủ hộ tất
cả nữ nhơn thai nghén và kẻ ở trong thai, hay dứt tất cả
kiết sử biết ấm nhập giới, xô dẹp bốn ma cảnh giới,
hay làm cho tất cả chư Thiên hoan hỉ, khiến các ác quỷ sanh
ý tưởng tri túc, hay làm các ác long kinh sợ, hay phá tất
cả các luận tà ác khiến hàng tứ tánh hoan hỉ, hay khiến
nữ nhơn trừ dứt tâm tham, khiến người đa văn niệm tâm
vững chắc, người toạ thiền tâm được thiện tịch, hay
trừ tất cả tướng xấu trong quốc độ, hay làm cho chủng
tánh Tam bửu không đoạn tuyệt, hay làm cho pháp giới tăng
trưởng không giảm, hay làm cho Phật pháp lưu bố khắp nơi,
hay phá tất cả khối si vô minh, hay được tận trí vô sanh
trí. Tất cánh hết khổ, đây gọi là chú”.
Đức Phật
Đức Hoa Mật Như Lai liền nói đà la ni chú:
Ma na xoa,
a bà xoa, già la bà xoa, xà la xoa, ma ma na xoa, ma đà xoa, na đồ
xoa, na đồ la hưu, tỉ bà na tra, khước già na tra, a tra na
tra, cứu na tra, ba lợi cứu bà na tra, na đồ na tra, phú lợi
ca na tra, ưu đa la na tra, già tỳ na tra, quân xà na tra, a mục
khê na tra, giá phàm bà la na tra, khước kìm bà la na tra. phật
ca la na tra, đế bà lưu đà lã na tra, ma la xà na tra, thi lợi
câu bà na tra, kiêu đa tra, đa đồ la bà, ma lưu đa khước
bà, đề hưu xoa, bà đề lã thù, toá ma na thù, bà ha na phú
trí, tán đề lã xà bà, a ma ma xà bà, ma hưu la già xà la,
a niết na, a niết na lã bà, a niết na xoa, a bà ha mạt lực
già niết na xoa, y bàn đô đậu khư tả, sá ha.
Lúc Phật
nói chú ấy, trong đại chúng kia có sáu vạn ức người được
như pháp nhẫn. Lại có sáu vạn người nhập chánh định
tụ.
“Nầy Hư
Không Mật! Nay ta dùng tịnh đà la ni nây giữ dục cho Phật
Thích Ca Mâu Ni, ông nên thọ trì phúng tụng thơ tả”.
Hư Không
Mật đại Bồ Tát kính vâng lời Phật thọ trì thơ tả đà
la ni ấy rồi cùng vô lượng Bồ Tát đến Ta Bà thế giới,
tất cả đều biến thân làm Chuyển Luân Vương, dâng các
thứ châu báu cúng dường Phật, đầu mặt kính lễ hữu nhiễu
ba vòng rồi ngồi qua một phía.
Vua Tần
Bà Sa La thấy vô lượng Bồ Tát hoặc là Phạm Vương, hoặc
là Thiên Đế Thích, hoặc là Na La Diên, hoặc là Chuyển Luân
Vương, từ bốn phương đến tập hội, vua liền đứng dậy
cung kính chắp tay.
Nhựt Mật
đại Bồ Tát ở trước đức Phật nói kệ tán thán:
Trong các
bức thánh rất thù thắng
Ban đại
quang minh trừ ác kiến
Người hành
chánh đạo cho pháp ấn
Xô diệt
ác long và tứ ma
Dựng vững
pháp tràng ban giải thoát
Dùng đuốc
pháp sáng phá tối tăm
Thân cận
thiện hữu tu tập định
Vì thương
chúng sanh nói phước điền
Phật Pháp
Tăng bửu rất khó được
Thân người
lòng tin cũng còn khó
Được thiện
hữu phá được phiền não
Chúng sanh
đi tối chìm sông kiết
Như Lai thuyền
sư hay cứu vớt
Bốn phương
chư Phật sai tôi đến
Nay trong
đại hội nói giữ dục.
Nhựt Mật
Bồ Tát nói kệ ấy rồi, như ở bổn độ đã được bổn
Phật giáo giới đều nói y như vậy.
Đức Phật
bảo Tôn giả Xá Lợi Phất: “Nầy Xá Lợi Phất! Đà la ni
nầy là của tứ phương chư Phật giữ dục để làm lợi
ích cho các chúng sanh cõi nầy. Ông nên thọ trì đọc tụng
thơ tả đà la ni nầy rồi ở trong hàng tứ chúng rộng phân
biệt nói”.
Nhựt Mật
đại Bồ Tát nói kệ tán thán:
Như Lai chơn
thiệt biết pháp giới
Dạy ma chúng
sanh đạo chánh trực
Nếu người
chơn thiệt sanh tín tâm
Người nầy
hay phá ba ác đạo
Cúng dường
Như Lai một hương hoa
Vô lượng
đời thọ vô thượng lạc
Trong vô
lượng đời thân đầy đủ
Cũng được
vô thượng chơn trí huệ
Nếu một
lần nghe tổng trì nầy
Liền trừ
diệt được các phiền não
Được hàng
nhơn thiên thường cúng dường
Chứng được
vô sanh và tận trí.
Đức Thế
Tôn bảo bốn đại chúng Bồ Tát rằng: “Nầy chư thiện
nam tử! Nếu các ông thích ở thế giới nầy thì tuỳ ý tu
tập các thiện pháp đã có”.
Bốn đại
Bồ Tát và đại chúng Bồ Tát liền tuỳ ý nhập định, Đã
nhập định rồi thân phát quang minh, hoặc như một ngọn đèn
sáng nhẫn đến hoặc như ánh sáng vô lượng nhựt nguyệt.
Thừa Phật
thần lực, A Nhã Kiều Trần Như suy nghĩ rằng: Nay nếu ta
hỏi Phật một nghĩa nhơn đó hoặc Phật sẽ phân biệt nói
rộng bốn đà la ni như vậy, tiếng nói của Phật ắt được
nghe khắp Ta Bà thế giới, chúng sanh nghe rồi dứt lòng nghi,
ở trong hướng pháp được đại quang minh đến bờ kia nhập
chánh định tự chẳng đoạ ác đạo, tất cả đều hành
pháp thuần thiện.
Suy nghĩ
rồi Tôn giả từ chỗ ngồi đứng dậy kính ý yên lặng chắp
tay mà đứng.
Đức Phật
nói: “Nầy Kiều Trần Như! Có phải ông muốn hỏi Phật
đại nghĩa ư?”.
Tôn giả
nói: “Bạch đức Thế Tôn! Đúng vậy, tôi muốn thưa hỏi
duy nguyện Thế Tôn hứa cho”.
Đức Phật
nói: “Nầy Kiều Trần Như! Nay ông biết phải lúc. Phật
sẽ phá hoại tất cả điều nghi”.
Tôn giả
nói: “Bạch đức Thế Tôn! Như trong kinh Phật nói có hai
thứ là ái và sĩ phu đi trong sanh tử. Thế nào là ái, là
sĩ phu. Cớ chi Phật nói hai thứ nầy đi trong sanh tử?”.
Đức Phật
nói: “Lành thay lành thay, nầy Kiều Trần Như! Ông khéo phát
lời hỏi ấy, có thể làm lợi ích lớn cho vô lượng chúng
sanh. Đây là biết phải lúc mà hỏi, đây là hỏi đáp đúng.
Lắng nghe lắng nghe, Phật sẽ vì ông mà phân biệt giải nói.
Nầy Kiều
Trần Như! Ái có ba thứ, đó là dục ái, sắc ái và vô sắc
ái. Còn có ba thứ là hữu ái, đoạn ái và pháp ái.
Thế nào
là dục ái?
Nói là dục
ấy gọi là phóng dật, phóng dật nhơn duyên là tham xúc, do
xúc nhơn duyên thì sanh tưởng lạc, lạc tưởng nhơn duyên
thì đôt cháy thân tâm, vì đốt thân tâm nên ưa làm thập
ác nghiệp, thập ác nhơn duyên thì hay tăng trưởng ba ác đạo
khổ, nếu thọ thân người thì nghèo cùng khốn khổ. Vì tham
nhơn duyên nên thọ sanh trong ngũ đạo, sanh trong loài dê nhiều
thọ khổ não. Dầu thọ khổ mà tâm không có tàm quý chẳng
biết hối hận. Nêu nhơn chút ít thiện được sanh làm người
thì lòng ái tăng trưởng. Vì ái tăng trưởng nên thân khẩu
bất tịnh tạo gây vô lượng tội ác nặng nhẫn đến tội
ngũ nghịch. Do nhơn duyên nầy lại sa địa ngục thọ đại
khổ não. Tất cả thọ khổ đều nhơn tâm ái. Vì vậy nên
Như Lai nói chánh pháp để giải thoát tâm ái, quở trách tham
dục. Nếu có chúng sanh nghe lời quở trách lòng dục rồi,
xem dục như ngọn lửa, như cây đại độc, như độc bồn
hành xí, như dao bén, như giặc ác, như chiên đà la, như hoàn
sắt nóng, như mưa đá ác, như gió ác, như độc xà, như oán
thù, như quỷ La Sát nơi đồng hoang, như kẻ giết hại, như
phẩn, như mả mồ. Nếu có người hay quán sát như vậy thì
người nầy có bao nhiêu sự ái cùng tham, ái nhị, ái trước,
ái trạch, ái nhiệt, ái tăng thảy đều trừ diệt. Dứt ái
rồi niệm pháp, thích pháp, học pháp, thọ pháp, thủ pháp,
siêng cầu pháp, cất chứa pháp, tịnh pháp, hành pháp, quy
y nơi pháp. Người nầy lâm chung được pháp niệm. Nhơn sức
pháp niệm liền nghe thập phương chư Phật tuyên nói pháp
yếu giáo hoá chúng sanh. Nghe pháp rồi lòng hoan hỉ. Vì hoan
hỉ nên thấy sắc thân chư Phật. Người nầy xả thân sanh
quốc độ thanh tịnh không có ba ác đạo, thường cùng thượng
thiện nhơn chung ở, đầy đủ trí huệ, xả thí, tinh tiến,
tu tập từ bi điều phục chúng sanh, dứt phiền não tập khí,
đầy đủ vô lượng công đức trang nghiêm. Ví như hộp hương
thơm đựng y phục, y phục đều thơm mà hộp hương không
giảm hơi thơm.
Nầy Kiều
Trần Như! Nếu các chúng sanh do sức thiện nguyện sanh quốc
độ thanh tịnh cùng thượng hữu đồng sự nghiệp thiện
tự tăng thiện pháp mà thiện của thượng thiện hữu cũng
không giảm bớt. Vì vậy nên có thiện nam thiện nữ muốn
tự lợi lợi tha và cộng lợi thường nên cần cầu y dựa
các thiện hữu.
Nếu có
người hay quán sát tướng của dục tham như vậy, thì nên
biết người ấy chẳng lâu sẽ được Vô thượng Bồ đề”.
Tôn giả
nói: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là thiện hữu?”.
Đức Phật
nói: “Nầy Kiều Trần Như! Thiện hữu ấy là chư Phật chư
Bồ Tát chư A La Hán. Lại thiện hữu ấy là thân Phật ta
đây. Tại sao, vì ta thường thương xót tất cả chúng sanh,
hay nói những lỗi hoạ của dục tham, vì vậy nên đại chúng
phải học lời của ta. Lời Phật nói trọn không có hai, không
có hư vọng, chẳng có lưỡng thiệt, chẳng phải vô nghĩa,
chẳng phải thô ác. Là lời thành thiệt, lời từ lời bi,
lời an lạc chúng sanh.
Nay Phật
nói tội lỗi của dục tham các ông phải nên thọ trì. Đã
thọ trì rồi thoát khỏi ba ác đạo mau được Vô thượng
Bồ đề”.
Lúc bấy
giờ Ta Bà thế giới tất cả chúng sanh đồng thanh nói: “Bạch
đức Thế Tôn! Duy nguyện tuyên nói tội lỗi của dục tham.
Nay chúng tôi sẽ chí tâm thọ trì”.
Đức Phật
nói: “Nầy các Thiện nam tử! Dục có bốn thứ là sắc dục,
hình dục, thiên dục và dục dục.
Thế nào
là sắc dục?
Sắc do tứ
đại tạo ra, hàng phàm phu chẳng thấy là không có ngã không
có chúng sanh nên sanh tưởng điên đảo thấy tướng nam, tướng
nữ, tướng thượng sắc, tướng hạ sắc, thấy sắc nầy
đáng yêu, sắc nầy đáng ghét. Nhơn vì điên đảo thấy tướng
nam nữ nên làm cho tham dục chưa sanh thì sanh sanh rồi thì
tăng trưởng. Người nầy do đó mà xa lìa thiện căn và thiện
tri thức, chẳng thể thủ hộ khéo thân khẩu ý nghiệp. Vì
vậy nên gọi là khối ác pháp. Tại sao, vì chẳng thể quán
sát dục giải thoát vậy. Do nghĩa nầy nên tăng ba ác đạo
thọ các thân địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trong vô lượng
đời thọ đại khổ não đều do tham dục. Tham dục nhơn duyên
khiến dục tăng trưởng.
Nếu có
người trí quán sát nữ sắc thấy tướng bất tịnh da thứa,
thịt xương, gân cốt, máu mủ mạch lạc, thấy vậy rồi
tâm thích tu tập quán tưởng ấy. Như quán sát nữ thân, quán
sát nam thân cũng như vậy. Như quán sát người gần, quán
sát người xa cũng vậy. Như quán sát người nầy quán sát
người kia cũng vậy. Như quán sát người quán sát mình cũng
vậy.
Người ấy
nếu có thể tu tập pháp tâm nầy thì ở nơi tham ái mau được
giải thoát.
Quán sát
thân nầy gân cốt lóng đốt dính liền nhau tâm theo thân hành,
bấy giờ buộc tâm trụ tại trán chừng bằng trái táo. Tâm
thích tu tập tướng như vậy rồi thì thân được tịch tĩnh,
chẳng thấy ác tướng, chẳng thấy ác sự, chẳng thấy ác
duyên. Đây gọi là Xa ma tha, gọi là tâm tịch tĩnh.
Thế nào
gọi là thân tịch tĩnh?
Người nầy
nhập định diệt nhập tức. Đã không có nhập tức thì nào
có xuất tức. Đây thì gọi là thân tâm tịch tĩnh. Thân tâm
tịch tĩnh tức là Xa ma tha nhơn duyên vậy. Người nầy quán
thân bao nhiêu lóng xương lìa tan như cát bụi bị gió thổi.
Thấy rồi liền sanh ý tưởng không rỗng không có vật, quán
nơi hư không. Đây thì gọi là thân tâm tịch tĩnh. Đây gọi
là nhơn xa ma tha định mà được giải thoát”.
Tôn giả
nói: “Bạch đức Thế Tôn! Tướng hư không ấy có là tướng
hữu vi chăng?”.
Đức Phật
nói: “Nầy Kiều Trần Như! Hư không là tướng hữu vi”.
Tôn gỉa
nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Hư không nếu là tướng hữu
vi thì là tự tướng hay là tha tướng ?”.
Đức Phật
nói : “Nầy Kiều Trần Như ! Nếu có thể quán sát tất cả
pháp giới và hữu vi giới, đây gọi là tự tướng. Tại
sao, vì nếu có thề quán sắc tịch tĩnh ấy liền thấy Phật
thân. Tại sao, nếu người quán xương có thể thành cát bị
gió thổi, người nầy có thể phá sắc tham sắc dục, có
thể thâm quán sát sắc dục thiệt tánh, chỗ thấy của người
nầy đều như hư không, thập phương các sắc rỗng không
như lưu ly, trong ấy lại thấy vô lượng chư Phật, thấy
mười phương cũng như vậy. Lại thấy Như Lai đủ ba mươi
hai tướng tám mươi hảo. Thấy thập phương thế giới chư
Phật cũng như vậy. Người nầy nếu được hối pháp sanh
tử liền tự tư duy, ta sẽ hội Phật, hư không như vậy ai
làm ra sẽ thế nào diệt ? Tư duy như vậy rồi tự biết rằng
ta đã hỏi rồi ta đã biết rồi,. Tánh hư không không có
tác gỉa, đã không có tác gỉa thì làm sao diệt. Nói là hư
không ấy, không có giác quán, không có vật, không có số,
không có tướng mạo, không xuất, không diệt. Tất cả các
pháp cũng như vậy. Lúc quán như vậy, người nầy được
quả A Na Hàm. Người A Na Hàm dứt hết tâm tham dục. Chỉ
có năm sự chưa trừ diệt được, đó là sắc ái, vô sắc
ái, diệu, mạn, vô minh.
Người nầy
nếu được thấy thân Như Lai bèn suy nghĩ như vầy : Ta nên
biết số. Lúc ấy người nầy quán ít thấy ít quán nhiều
thấy nhiều. Lại suy nghĩ chư Phật như vậy từ xứ nào đến
? Liền suy nghĩ rằng chư Phật như vậy không từ đâu
lại, đi cũng không chỗ đến. Tâm tam giới của ta, tâm nầy
nhơn nơi thân. Ta theo giác quán muốn nhiều thấy nhiều muốn
ít thấy ít. Chư Phật Như Lai ấy tức là tâm ta. Tại sao
? Vì theo tâm mà thấy, tâm là thân ta, ta là hư không. Ta nhơn
giác quán thấy vô lượng Phật. Ta dùng giác tâm thấy Phật
biết Phật. Tâm chẳng thấy tâm, tâm chẳng biết tâm. Ta quán
pháp giới tánh không vững chắc, tất cả các pháp đều từ
giác quán nhơn duyên mà sanh. Vì vậy mà tất cả bao nhiêu
tánh tướng tức là hư không. Tánh hư không cũng là không.
Nếu có người sơ phát Bồ đề tâm thì nên quán vô lượng
các pháp nhơn duyên. Người nầy nếu phát tâm cầu Thanh Văn
liền được vô tướng tam muội lhiến vô minh kia dứt hẳn
tịch tĩnh, cũng chứng được tùy thuận không nhẫn. Người
nầy nếu thấy hư không là không liền được thân tâm tịch
tĩnh. Đây gọi là không giải thoát môn, lấy quả A La Hán
không khó.
Người nầy
nếu lại tu hành diệt định giải thoát, để diệt vô lượng
các pháp nhơn duyên”.
Lúc nói
pháp ấy, có chín vạn chín ngàn ức chúng sanh được tu định
nhẫn. Tám vạn bốn ngàn chúng sanh được tu không nhẫn. Sáu
vãn chúng sanh được không tam muội giải thoát môn. Hai vạn
chúng sanh được hiện kiến chư Phật tam muội. Tám vạn bốn
ngàn chúng sanh được quả A La Hán. Vô lượng chúng sanh được
quả Tu Đà Hoàn.
Đức Phật
phán tiếp : “Lại nầy Kiều Trần Như ! Nếu có Tỳ Kheo
tự quán thân mình làm tướng bất tịnh mà không điều phục
được tự tâm mình. Người nầy nên tiếp quán tử thi, hoặc
sắc xanh bầm, hoặc thúi rã, hoặc màu đỏ, hoặc sình trương,
hoặc rời rã, hoặc xương trắng như võ ốc, nên quán kỹ
tâm mình thích trụ chỗ nào, biết rồi thì trụ tâm nơi tướng
ấy. Như quán thân người quán thân mình cũng vậy, hoặc sắc
xanh bầm nhẫn đến như vỏ ốc, như ngày ban đêm cũng vậy.
Như đêm ban ngày cũng vậy. Như quá khứ vị lai cũng vậy.
Như vị lai quá khứ cũng vậy.
Lúc bấy
giờ nếu thấy vật ngoài hoặc cỏ, cây, người, vật, tạp
vật đều quán xương trắng. Quán như vậy nhẫn đến mạng
chung chẳng sanh tâm tham. Người nầy hiện tại hay lìa ái
dục, đời khác cũng lìa.
Người nầy
nếu có thể được tu không đà la ni thò có thể quán xương
làm tướng lìa tan như cát vi trần. Hoặc nơi mình nơi người
chẳng thấy tướng sắc như vi trần, liền chứng được tướng
hư không, thấy tất cả sắc như thanh lưu ly. Thấy rồi lại
quán hư không sắc vàng. Có thể quán sắc vàng, s8ác đỏ,
sắc trắng, nhiều màu, màu lưu ly. Nếu thấy đất và nước
cũng như lưu ly, người nầy có thể thấy tất cả đại địa
như chừng bằng bốn ngón tay. Nếu muốn lay động liền lấy
ngón tay chưn nhấn đó khiến động, tùy ý gần xa nhẫn đến
cả đại địa cây cối núi sông đều bị lay động. Hoặc
quán các dòng nước làm nhiều thứ màu, hoặc hoa phân đà
lợi, hoa ưu bát la, hoa câu vật đầu, hoa ba đầu ma, trên
mặt nước tự ý đi đứng ngồi nằm. Quán tất cả núi làm
nhiều thứ màu, hình nó dịu mềm như bông đâu la rồi ở
trong đó đi đứng ngồi nằm/. Lại tự quán thân nhẹ bay
như gió. Tác quán như vậy rồi có thể đi đứng ngồi nằm
trên hư không. Người Nầy lại nhập hỏa quang tam muội,
thân phóng ra các thứ quang minh sắc vi diệu, lại di nhập
viêm ma ca định, trên thân ra nước dưới thân ra lửa. Lam
đại thần biến như vậy rồi suy nghĩ rằng : Ta sẽ thế
nào được thấy chư Phật ? Lúc ấy tùy phương diện được
quán sát đều được thấy Phật quán nhiều thấy nhiều quán
ít thấy ít. Thấy rồi lại suy nghĩ chư Phật ấy không từ
đâu lại đi cũng không chỗ đến. Tâm tam giới của ta, tâm
ấy theo thân, ta theo giác quán muốn nhiều thấy nhiều muốn
ít thấy ít. Chư Phật Như Lai tức là tâm ta. Tại sao, vì
theo tâm mà thấy vậy. Tâm ấy tức là thân ta, ta tức là
hư không. Ta nhơn giác quán thấy vô lượng Phật. Ta do giác
tâm mà thấy Phật biết Phật. Tâm chẳng thấy tâm tâm chẳng
biết tâm. Ta quán pháp giới tánh không vũng chắc, tất cả
các pháp đều từ giác quán nhơn duyên mà sanh, vì vậy nên
pháp tánh tức là hư không hư không tánh cũng là rỗng không.
Ta nhơn tâm ấy thấy xanh vàng đỏ trắng tạp sắc và hư
không. Làm thấy biến ấy rồi, cảnh được thấy như gió
không có chơn thiệt. Đây thì gọi là chung đồng người phàm
phu như thiệt đà la ni.
Người nầy
lại suy nghĩ rằng : Nếu có hư không tức là không có thủ
không có giác quán, không thể tuyên nói được. Như tâm ta
rời lìa tướng quán hư không, cũng quán tâm tướng chẳng
có tác là viễn ly, lìa tất cả các chẳng tác phát tâm. Gỉa
sử có phát liền diệt. Vì tâm duyên diệt nên tâm ấy bèn
diệt, tịnh thân khẩu ý tu tập diệt định. Người nầy
lâu dài cột tâm tại định, từ diệt định khởi nhập vào
Niết bàn. Đây gọi là chẳng chung đồng người phàm phu như
thiệt đà la ni.
Thế nào
gọi là cộng phàm phu nhơn như thiệt đà la ni ?
Nếu người
ấy hay suy nghĩ như vậy :
Ta tùy ý
quán sắc thì liền thấy sắc, sắc ấy tức là tâm ta, tâm
ta tức là sắc. Như ta rời xa tất cả sắc tướng mà
quán hư không tướng. Người ấy lúc bấy giờ tu hư không
tướng. Đây gọi là cộng phàm phu nhơn như thiệt đà
la ni.
Thế nào
gọi là bất cộng phàm phu nhơn như thiệt đà la ni ?
Người ấy
nếu suy nghĩ như vậy :
Sắc tức
là hư không. Ta do sắc nhơn duyên như vậy được thấy hư
không. Tánh hư không gọi là không chướng ngại, là trụ xứ
của gío. Gió như vậy nhơn tứ đại sanh, sắc tướng nầy
của ta cũng nhơn tứ đại khởi. Hư không với gió và sắc
tướng bình đẳng không sai biệt. Tất cả pháp tánh, tánh
tự không tịch, tự tánh và tha tánh cũng không tịch. Hư không
ấy tức là không sanh không diệt. Lúc quán như vậy cột niệm
Như Lai. Niệm Như Lai rồi thấy trong hư không có vô lượng
Phật, liền chứng được quả A Na Hàm. Đây gọi là
bất cộng phàm phu nhơn như thiệt đà la ni vậy.
Người ấy
lại suy nghĩ rằng :
Hư không
ấy tức là ta, tức là ta tịnh, tức là tâm ta, ta không có
sắc, như hư không vô biên cũng vô biên. Đây gọi là cộng
phàm phu như thiệt đà la ni.
Nếu người
ấy suy nghĩ rằng :
Trong tất
cả pháp không có ta không có sở hữu ta. Nói hư không ấy
tức là không có ta, sắc không có ta. Nếu niệm Như Lai liền
thấy Như Lai. Như Lai ấy tức là ta vậy. Ta thấy Phật rồi
được quả Sa Môn đến quả A La Hán. Đây gọi là bất cộng
phàm phu như thiệt đà la ni.
Người ấy
nếu quán ta tịnh tức là hư không xứ, hư không tức là tâm
ta, nếu hay dứt hẳn tất cả phiền não tức là tịnh tâm,
nếu hay tu tập bát chánh đạo thì gọi là tịnh tâm, hay tu
như vậy thì có thể được quả Tu Đà Hoàn đến quả A La
Hán, đây gọi là bất cộng phàm phu như thiệt đà la ni.
Nếu người
ấy quán sắc, quán sắc tướng tức là phân biệt tướng,
phân biệt tướng ấy tức là sân hận tướng, sân hận tướng
ấy tức là sanh tử tướng. Nay ta vì đoạn dứt tướng sanh
tử mà quán tâm tướng rỗng không. Đây gọi là cộng phàm
phu như thiệt đà la ni.
Người ấy
lại quán ta tức là tịch tĩnh, nay ta cũng chưa dứt giác quán.
Nếu ta quán ta, ta như hư không, ta ta ấy tức là khổ, nhơn
sanh ra khổ tức gọi là tập, khổ và tập ấy là pháp đoạn
dứt được đây gọi là diệt, quán sát khổ tập và diệt
ấy đây gọi là đạo. Được quả Tu Đà Hoàn đến quả
A La Hán, đây gọi là bất cộng phàm phu như thiệt đà la
ni.
Người ấy
lại suy nghĩ rằng :
Ta cớ chi
quán hư không, hư không ấy tức là ta của ta. Nếu xa lìa
quán hư không kế đến quán thức xứ. Như quán hư không,
quán thức xứ cũng vậy. Như hư không vô biên, thức xứ cũng
vô biên. Đây gọi là cộng phàm phu như thiệt đà la ni.
Nếu người
ấy quán thức tức là khổ, biết sở nhơn của khổ gọi
đó là tập, khổ và tập ấy đoạn dứt được đây gọi
là diệt, quán khổ tập diệt đây gọi là đạo. Được quả
Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán, đây gọi là bất cộng phàm
phu như thiệt đà la ni vậy.
Người ấy
lại quán thức xứ tức là giác quán ghẻ chốc phiền não.
Như ta xa lìa không xứ thức xứ tu vô tưởng xứ. Tu vô tưởng
rồi được vô tưởng định. Đây gọi là cộng phàm phu như
thiệt đà la ni.
Người ấy
nếu quán thức xứ tức là pháp ghẻ chốc khổ não. Như ta
xa lìa quán thức tướng kế quán vô tưởng tướng. Nói vô
tưởng ấy tức là không có ta của ta. Quán như vậy rồi
liền được quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán. Đây gọi
là bất cộng phàm phu nhơn như thiệt đà la ni vậy.
Người ấy
nếu có thể quán vô tưởng xứ ấy tức là tế tưởng. Nếu
ta xa lìa vô tưởng xứ mà quán phi hữu tưởng phi vô tưởng
xứ. Đây gọi là cộng phàm phu nhơn như thiệt đà la ni.
Người ấy
nếu quán phi tưởng phi phi tưởng xứ ấy là đại khổ não
xứ có thể dứt có thể được giải thoát. Lúc quán như
vậy được quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán. Đoạn hẳn
tất cả dục tham, sắc tham và vô sắc tham, rời lìa phàm
phu gọi là được hiệu Thánh nhơn. Dứt hẳn nhơn của
ba ác đạo. Đây gọi là như thiệt đà la ni vậy.
Đây là
dục được chư Phật kia sai Nhựt Mật đại Bồ Tát mang đến,
có thể dứt tất cả kiết sử phiền não, tất cả ác kiến,
ngã kiến, thủ kiến, giới kiến, thường kiến, đoạn kiến,
thọ mạng kiến, sĩ phu kiến, tác kiến, thọ kiến, sắc kiến,
xúc kiến, xuất kiến, tứ đại kiến, hay đoạn dứt các
kiến như vậy.
Đà la ni
ấy khéo có thể rõ thấu ấm nhập giới, hay tịnh các kiến,
hay kiến người thọ trì vĩnh viễn thọ an lạc, trở hoại
chúng ma, điều phục ác ma, làm cho chư Thiên hoan hỉ, phá
A Tu La, điều Ca Lâu La, hay đem lại sự vui mừng cho Sát Lợi,
Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà, hay dứt ác đạo. Hay khiến người
tọa thiền ưa thích tịch tĩnh, hay chữa tất cả các ác trọng
bịnh, hay phòng tất cả các ác đấu tụng, hay tăng pháp giới,
hay hộ Tam bảo, hay được tận trí và vô sanh trí, phá hoại
khối vô minh”.
Lúc nói
pháp ấy, có vô lượng chúng sanh được quả Tu Đà Hoàn,
vô lượng chúng sanh được quả A La Hán, vô lượng chúng
sanh được đà la ni ấy, vô lượng chúng sanh phát tâm Vô
thượng Bồ đề, vô lượng chúng sanh được Vô sanh nhẫn.
Tôn giả
Kiều Trần Như bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Thế
nào gọi là liên hoa đà la ni được người trí thọ trì đọc
tụng thơ tả được lợi ích lớn chẳng ưa tam giới được
vô tướng giải thoát môn, đều có thể dứt các phiền não,
bảy lần thọ thân nhơn thiên, dầu ở Dục giới mà chẳng
bị dục ái nhiễm ô, thường được chư Thiên và thế nhơn
cung kính. Đà la ni ấy trước đây được Nhựt Mật đại
Bồ Tát tuyên nói”.
Đức Phật
nói : “Nầy Kiều Trần Như ! Liên hoa đà la ni mà ông hỏi
đó, chẳng phải là chỗ biết của Thanh Văn và Duyên Giác,
đà la ni nầy nhẫn đến mười tám pháp hành bất cộng.
Nầy Kiều
Trần Như ! Giả sử ta ở trong vô lượng kiếp nói đà la
ni ấy trọn chẳng hết được, cũng làm cho người nghe sanh
tâm mê muộn. Đà la ni ấy chỉ có Phật hay nói được, chỉ
có Phật hay nghe được. Tại sao, vì đà la ni ấy khó biết
khó hiểu, ba đà la ni khác cũng vậy”.
Tôn gỉa
nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Duy nguyện Như Lai sẽ nói như
không không hành đà la ni”.
Đức Phật
nói : “nầy Kiều Trần Như ! Chí tâm lắng nghe Phật sẽ
vì ông mà tuyên nói.
Nầy Kiều
Trần Như ! Nếu có chúng sanh vì nhơn duyên phóng dật mà sanh
tâm xúc dục, người nầy chẳng biết chỗ giải thoát, lưu
chuyển sanh tử trong vô lượng đời ở ba ác đạo thọ đại
khổ não. Đại Bồ Tát thấy các chúng sanh thọ vô lượng
khổ não như vậy nên sanh lòng thương xót siêng năng chẳng
nghỉ dứt, tu khắp các trợ Bồ đề đạo. Tu tập các hành
pháp rồi được Vô thượng Bồ đề tuyên nói khổ giải
thoát. Chúng sanh nghe rồi liền được thoát lhổ. Khổ giải
thoát ấy tức là Sơ quả đến quả A La Hán.
Nầy Kiều
Trần Như ! Thế nào gọi là xúc dục ?
Nói xúc
dục ấy là hai thân hiệp nhau. Nhơn vì hai thân chung hiệp
mà sanh cảm xúc. Nhơn xúc sanh thọ lạc, nhơn lạc thọ sanh
khổ thọ. Vì khổ nhơn duyên nên sanh tử khổ não nhơn đó
màng sanh. Nầy Kiều Trần Như ! Như bốn độc xà dùng bốn
nhơn duyên có thể hại chúng sanh, đó là nhìn thấy, hà hơi,
cắn mổ và chạm xúc. Dục cũng như vậy, có kiến nhơn duyên,
văn nhơn duyên, niệm nhơn duyên và xúc nhơn duyên. Do bốn
nhơn duyên ấy làm cho các chúng sanh xa lìa tất cả các thiện
căn bổn, ở trong sanh tử thọ đại khổ não.
Nầy Kiều
Trần Như ! Thế nào gọi là xúc dục giải thoát ?
Nếu Tỳ
Kheo có thể quán bạch cốt suy nghĩ như vầy : Sắc ấy là
sở tạo của tứ đại. Được tứ đại tạo ra là vô thường
tánh nó không bền chắc là pháp ly tán, là do thịt máu xương.
Người trí sao lại ở nơi thân như vậy mà sanh tướng sạch
tốt. Quán như vậy rồi với tất cả tịnh sắc mười phương
đều liền được tướng chẳng nên thích. Tỳ Kheo ấy lại
suy nghĩ rằng : Ta thích tu tập tướng chẳng nên thích ấy
thì dứt trừ tất cả phiền não sanh lão bịnh tử. Đây gọi
là Xa ma.
Nếu quán
xương trắng nhẫn đến xương đầu thì gọi là bà xá na.
Đã được
Tỳ bà xá na và Xa ma tha ấy rồi quán sát tức nhập xuất.
Thấy hơi ra liền suy nghĩ rằng : Hơi gió ấy từ nơi nào
lại đi đến chỗ nào. Lúc quán như vậy xa lìa thân tướng
sanh ra không tướng. Chẳng thấy nội thân đây gọi là nội
không. Chẳng thấy vật sở hữu cà sắc tướng ngoài, đây
gọi là ngoại không.
Quán nội
không và ngoại không rồi lại suy nghĩ rằng : Nay ta tu tập
tướng nhập tức rồi làm lợi ích lớn, có thể phá hoại
tất cả nội ngoại các sắc. Ta phá hoại nội ngoại
sắc tướng như vậy đều là nhập tức quán nhơn duyên vậy.
Do nhơn duyên ấy khiến tôi chẳng thấy nội ngoại các sắc.
Ta không có sắc tướng tức là hư không lực. Nay ta quyết
định biết tất cả các pháp không có chỗ đi không có chỗ
đến. Quán như vậy thì tất cả giác quán đều dứt hẳn.
Lại quán
thức ấy biết là tất cả giác quán nhơn duyên, ta nên xa
lìa tâm ý thức hành. Tại sao ? Vì nếu có sanh thì biết quyết
định diệt. Lúc quán như vậy được quả Tu Đà Hoàn đến
quả A La Hán. Hoặc được như pháp nhẫn hoặc được Bồ
đề.
Nếu quán
sát giác quán là tướng diệt liền được diệt định.
Đây gọi
là bất cộng phàm phu như không đà la ni. Đà la ni thành tựu
vô lượng công đức, dứt hẳn vô lượng các khổ não lớn”.
Lúc nói
pháp ấy, chín vạn hai ngàn chúng sanh được quả Tu Đà Hoàn,
sáu vạn chúng sanh được quả A La Hán, chín vạn chín ngàn
chúng sanh được như không đà la ni, tám vạn chúng sanh được
quả Bích Chi Phật, tám ngàn ức chúng sanh phát tâm Vô thượng
Bồ đề, vô lượng chúng sanh được tâm bất thối.
Tôn giả
Kiều Trần Như bạch rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Phật
Cao Quý Vương Như Lai ban cho dục tùy vô nguyện đà la ni. Duy
nguyện Như Lai phân biệt giải nói”.
Đức Phật
nói : “Nầy Kiều Trần Như ! Ông nên chí tâm lắng nghe nay
ta dẽ tuyên nói đó.
Nầy Kiều
Trần Như ! Có các chúng sanh bị súc dục trói buột chẳng
giải thoát được. Người nầy nên quán vô nguyện giải thoát.
Người ấy
suy nghĩ rằng : Dục dục, Sắc dục và Vô sắc dục, xúc dục,
giải dục, các dục như vậy nhơn giác quán sanh các hành nhơn
duyên. Các hành như vậy không có tác gỉa không có thọ giả
nhơn gió mà sanh. Thân khẩu hành của ta cũng nhơn phong mà
sanh. Nhơn nơi gió nầy mà thân được tăng trưởng. Nhơn nơi
gió nầy mà khẩu được tăng trưởng. Như ta quán gió ấy
tức là hơi thở vào ra. Quán kỹ tất cả lỗ lông từ phong
nhơn duyên. Lại quán tất cả vật bất tịnh. Lại quán thân
nầy lúc chết, thây ấy không còn gió vào ra. Lại suy nghĩ
rằng : Thân khẩu hành của ta nhơn phong nhơn duyên. Nếu không
có phong thì không có thân khẩu hành nhơn duyên. Do cớ ấy
nên lúc nầy được không tam muội tu tập tăng trưởng nhơn
vì tu tập nên có thể dứt dục tham đến xúc dục. Quán như
vậy rồi được quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán. Hoặc
phát tâm Vô thượng Bồ đề”.
Lúc bấy
giờ Thiện Ý Giác Quán Bồ Tát Ma ha tát bạch rằng : “Bạch
đức Thế Tôn ! Nếu người Thanh Văn tu bất tịnh tướng,
thành tựu tướng ấy rồi thì có những tướng gì ?”.
Đức Phật
nói : “Nầy Thiện Ý Giác Quán ! Nếu người ấy vì phá hoại
kiết sử dục tham mà tu bất tịnh tướng, cột tâm giữa
mày mà quán xương thân mình, đây gọi là một tướng. Nếu
quán xương thân mình và xương thân người thì gọi là hai
tướng. Lại quán tất cả đều là bất tịnh đây gọi là
ba tướng. Người nầy hay quán khổ tập, đều sạch gọi
là xa ma tha, được tướng noãn pháp.
Người ấy
lúc quán bạch cốt như vậy thấy trí mình như ngọn đèn
sáng, quán thân bốn hành nhẫn đến vi trần, đây gọi là
đảnh pháp. Quán tứ chơn đế đây gọi là Thanh Văn. Bất
tịnh quán thành tựu chứng được Xa ma tha định đây gọi
là tướng quán bạch cốt.
Lúc quán
tướng ấy được bát chánh đạo. Nhơn bát chánh đạo được
quả Tu Đà Hoàn đến quả A La Hán.
Nầy Thiện
Ý Giác Quán ! Quang Minh Phật độ, hàng Thanh Văn quán pháp
như vậy liền được đạo quả”.
Lúc nói
pháp ấy, có vô lượng chúng sanh được như pháp nhẫn, vô
lượng chúng sanh được như thiệt nhẫn.
Đức Phật
lại bảo Tôn giả Kiều Trần Như rằng: “Nầy Kiều Trần
Như! Nếu tứ chơn đế có thể trong một niệm chứng được
đó, Như Lai lẽ ra vì tất cả chúng sanh diễn nói một hạnh
một pháp một sự, lẽ ra lúc một người chứng thì tất
cả chúng sanh cũng đồng chứng, tại sao, vì phiền não đồng
vậy, và cũng lẽ ra chẳng nên có tám vạn pháp tụ sai biệt.
Nầy Kiều
Trần Như ! Vì vậy nên chúng sanh phải dùng nhiều thứ nhơn
duyên điều phục, chẳng do một duyên.
Nầy Kiều
Trần Như ! Tất cả chúng sanh thiệt chẳng phải thừa, một
hành, một tham, một niệm, một dục, một giải, một tín.
Vì vậy nên Như Lai tuyên nói các thứ cú kệ danh tự nhiều
loại pháp môn. Do vì nghĩa ấy mà Như Lai đầy đủ mười
thứ thần lực.
Nầy Kiều
Trần Như ! Tất cả chúng sanh có đủ các thứ tướng điên
đảo, do đây Như Lai vì phá tịnh đảo mà nói tướng vô
thường, tướng khổ, tướng vô ngã, tướng thây sình, thây
rã, thây xanh bầm, thây hư hoại, tướng thây lìa tan”.
Tôn giả
nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Thế nào gọi là tướng chẳng
đáng nên ưa của tất cả thế giới ? Thế nào gọi là tướng
thực Bất tịnh ?”.
Đức Phật
nói : “Nầy Kiều Trần Như ! Nay ông chẳng nên hỏi sự như
vậy. Tại sao, vì giới kia đắc đạo cùng giới nầy đắc
đạo, tướng ấy đều khác biệt. Nếu Phật nói đủ các
chúng sanh nghe đó hoặc họ sanh mê muộn”.
Tôn giả
nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Duy nguyện Như Lai vì chư Bồ
Tát, những người có thể tin hiểu, thương xót mà phân biệt
tuyên nói.
Bạch đức
Thế Tôn ! Những người nầy nếu nghe Phật tuyên nói hai tướng
như vậy thì họ có thể giao giống lành tăng trưởng căn
lành hay phá được vô minh.
Bạch đức
Thế Tôn ! Các chúng sanh vì si ái nhơn duyên mà thích sanh tử,
vì vậy mà sanh tử vô thì vô chung.
Bạch đức
Thế Tôn ! Tất cả chúng sanh do thực nhơn duyên mà tăng trưởng
tham dục. Vì họ chưa bao giờ được nghe hai tướng như vậy
nên họ lưu chuyển sanh tử ngũ đạo thọ đại khổ não.
Đức Như
Lai đại từ đại bi trong vô lượng đời thường nghĩ nhớ
đến chúng sanh, duy nguyện đức Như Lai vì thương xót mà
tuyên nói tướng chẳng đáng nên ưa và tướng thực bất
tịnh.
Nầy đức
Như Lai tuyên nói hai tướng ấy, các chúng sanh nghe nói rồi
chẳng sanh dục tham, chẳng sanh thực tham.
Bạch đức
Thế Tôn ! Nếu có chúng sanh hat quở trách nặng dục tâm và
thực tâm, nên biết người ấy mau đến được bờ kia”.
Đức Phật
nói : “Nầy Kiều Trần Như ! Chí tâm lắng nghe Phật sẽ
vì ông mà tuyên nói tất cả thế giới tướng chẳng đáng
nên ưa và tướng thực bất tịnh.
Nầy Kiều
Trần Như ! Thế có hai là chúng sanh thế và khí thế.
Chúng sanh
thế là ngũ đạo chúng sanh.
Khí thế
là trong Dục giới cói hai mươi xứ, trong sắc giới có mười
sáu xứ va trong Vô Sắc giới có bốn xứ.
Những gì
là hai mươi xứ trong cõi Dục ?
Tám đại
địa ngục, mỗi đại địa ngục có mười sáu địa ngục
vây quanh.
Tám đại
địa ngục là : Hượt, Hắc thằng, Chúng hiệp, Kiếu hoán,
Đại hoán, Nhiệt, Đại nhiệt và A Tỳ địa ngục.
Nếu có
chúng sanh thân khẩu ý ác đều sanh trong đại địa ngục
ấy thọ đại khổ não. Các chúng sanh ấy dầu thấy diệu
sắc chẳng sanh ý tưởng vui thích, do nhơn duyên ấy lại sanh
đại khổ não. Như thấy sắc, với thanh hương, vị và xúc
cũng như vậy. Người có trí quán sát sự ấy rồi chẳng
sanh lòng ưa thích.
Nầy Kiều
Trần Như ! Nếu quán sát súc sanh, thân nó nhỏ như vi trần
chia làm mười phần, có loài thân như vi thần, thân bằng
trái táo, cao lớn một do tuần hoặc thân cao lớn đến trăm
ngàn vạn do tuần. các loài ấy hoặc có thọ mạng bằng thời
gian một niệm đến khoảng bảy niệm, hoặc có thọ mạng
một kiếp đến thời gian ngàn vạn kiếp. Các loài ấy không
có pháp hành trí huệ tàm quý lòng từ mẫn phải thọ khổ
não sanh kinh sợ nhiều, loài ấy thường sanh lòng giết hại
nhau, xa lìa tất cả pháp lành, thường đi trong tối tăm, thường
hành tà đạo. Do đây là người trí tu ý tưởng chẳng vui.
Nầy Kiều
Trần Như ! Người trí lại quán ngạ quỷ. Thân nó hoặc cao
một xích, hoặc bằng nghiệp, hoặc trăm do tuần, hoặc bằng
núi Tuyết, thường khổ đói khát, trần truồng không y phục,
tóc trùm quanh thân không có tàm quý, ốm o lòi xương, thân
không có máu thịt, họ đều có tâm ác độc không lòng thương
xót, các hơi lạnh ẩm ướt vĩnh viễn không còn có, họ hoặc
ăn các thứ sắt hoàn, sắt sợi, nước sắt, phẩn nóng, mủ
nóng, máu nóng, gió nóng, cỏ nóng, trái nóng nhưng chẳng thường
được cung cấp đầy đủ, thọ mạng ngàn muôn kiếp luôn
thọ khổ não, đi nơi tối tăm. Người trí quán sát rồi tu
tập ý tưởng thế giới chẳng đáng ưa thích.
Nầy Kiều
Trần Như ! Người trí kế đến quán thân người trong bốn
châu, tất cả đều có sanh khổ, lão khổ, bịnh khổ, tử
khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc
khổ, cơ khát khốn khổ, tham dục khổ, sân khuể khổ, tật
đố các thứ khổ, lưỡng thiệt, ác khẩu, hàn, nhiệt v.v…
nhiều khổ não, còn có khổ vì ác thú độc trùng, khổ vì
ác vương, ác quan. Trong thân loài người ấy thọ ngần ấy
khổ não. Người trí sao lại chẳng tu tập tướng tưởng
chẳng đáng ứ thích !
Nầy Kiều
Trần Như ! Kế đến, người trí quán sáu từng trời cõi
Dục. Chư Thiên trong ấy bị dục ái đốt cháy họ thọ quả
báo chẳng đồng nhau. Họ khổ vì vô thường, khổ vì chấp
thủ, khổ vì chết, khổ vì ái biệt ly. Quán sát như vậy
người trí có đâu chẳng tu tập tướng chẳng đáng ưa thích
!
Người trí
kế đến quán Sắc giới mười sáu trụ xứ. Chư Thiên trong
ấy tu thiền định thế gian, vì hữu lậu nên khổ, vì tịch
tĩnh nên khổ, vì sở dục nên khổ, vì có thắng định nên
khổ, vì thiện pháp tạng nên khổ, vì chưa giải thoát nên
khổ, vì chẳng biết bỉ ngạn, vì chẳng dứt hẳn nhơn duyên
địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh nên khổ. Quán sự khở như
vậy nên người trí tu tập tướng chẳng đáng ưa thích.
Lại chư
Thiên cõi Sắc hoặc có người tu tập vô lậu thiền định,
những người nầy khổ vì chẳng đầy đủ bát chánh đạo,
khổ lúc muốn đủ phương tiện bát chánh đạo, khổ vì vô
học địa chẳng tự tại, khổ vì chẳng được Duyên
Giác tam muội, khổ vì chẳng được Như Lai tam muội, khổ
vì chẳng có thể quán sát cảnh giới tất cả chúng sanh.
Người trong Sắc giới như vậy nếu nhập Niết bàn thì thọ
khổ như vậy. Người trí sao lại ở trong Sắc giới mà chẳng
tu tập thế gian tướng chẳng đáng nên ưa thích.
Kế lại
quán sát Vô Sắc giới tướng chẳng đáng ưa thích.
Chư Thiên
cõi Vô Sắc khổ vì tu hữu lậu tam muội, khổ vì học địa
chẳng được tự tại, khổ vì còn chẳng được nghe chánh
pháp, khổ vì chẳng cứu cánh dứt tham ái, khổ vì lúc xả
mạng sanh tà kiến, khổ vì chẳng dứt hẳn ba ác đạo, khổ
vì xả mạng bị đọa, người trí quán sát biết chư Thiên
cõi Vô sắc có những sự khổ như vậy nên với Vô Sắc giới
tu tập tướng thế gian chẳng đáng ưa thích.
Còn nữa,
nầy Kiều Trần Như ! Thế gian ấy tức là hành. Có ba thứ
là thân hành, khẩu hành và ý hành.
Thân hành
ấy, đó là thở vào ra.
Khẩu hành
ấy, đó là giác quán.
Ý hành ấy,
đó là tưởng và thọ.
Ba thứ hành
ấy tướng nó là một.
Người trí
quán sát phân biệt thế nào để có thể biết được ?
Người trí
lúc quán đếm thở vào ra, quán kỹ lạnh nóng ấm của hơi
thở đến hơi vào ra một lỗ lông. Người nầy quán hơi thở
biết rõ chắc hơi thở ấy trước không nay có. Nếu trước
không mà nay có thì là tướng vô thường. Là tướng không
quyết định như điện chớp, như vẽ trong nước. Lúc quán
như vậy, được tướng thân hành.