LIX
PHÁP HỘI HƯ KHÔNG
MỤC
THỨ NĂM MƯƠI CHÍN
(Hán
bộ từ quyển 150 đến quyển 154)
Hán
dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm
Việt
dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Tôi nghe như
vầy: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh
Giác vẫn ở Đại Bửu Phường Đình giữa hai cõi Dục giới
và Sắc giới, cùng vô lượng Tỳ Kheo Tăng và chư Đại Bồ
Tát câu hội thuyết pháp.
Lúc bấy
giờ các Tôn giả Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên v.v…
xuất gia chưa bao lâu. Do nhân duyên các Tôn giả ấy mà đức
Phật nói pháp Thanh Văn tạp Tứ chơn đế. Trong đại chúng
có các hạng người gốc ngoại đạo căn tánh ám độn tự
cho mình có trí huệ nên khởi tâm đại kiêu mạn, thắng mạn,
phi pháp mạn, chưa được chứng quả thứ hai thứ ba thứ
tư, vì vậy mà đức Thế Tôn nói pháp trung đạo để lìa
các ác phiền não như vậy.
Lúc đức
Như Lai Thế Tôn nói nghĩa trung đạo ấy, các hạng người
như vậy đều luận nói đoạn kiến ngã kiến.
Đức Thế
Tôn nghĩ rằng: đáng thương thay cho các người ấy vì họ
gốc ngoại đạo nên dầu nhập vào Phật pháp mà sanh đại
mạn, trong chỗ chưa được mà tưởng mình đã được, trong
chỗ chưa biết mà tưởng mình đã biết, trong như pháp mà
chẳng tu hành, dầu thuận Tứ đế mà chẳng có thể được
Tứ vô ngại trí nhẫn đến chẳng được chứng đệ Tứ
quả.
Đức Thế
Tôn hai tay đưa lên nắm tràng hoa chiêm bà phát đại thệ
nguyện. Do sức thệ nguyện trong tràng hoa xuất sanh bốn báu:
một là Đế Thích bửu, hai là Thiên Quang bửu, ba là Kim Cương
Quang bửu và bốn là Thắng Chư Quang bửu. Trong mỗi một báu
đều phát ánh sáng lớn chiếu khắp Ta Bà thế giới nầy.
Bốn báu phát ánh sáng lớn rồi, đức Thế Tôn ném lên hư
không. Trong tràng hoa ấy liền có tiếng nói kệ rằng:
Dầu cạo
râu tóc chẳng bỏ kiết
Dầu mặc
nhiễm y chẳng lìa nhiễm
Thờ Phật
làm thầy chẳng nghe lời
Người như
vậy làm nhơ đại chúng
Như Lai lúc
tuyên nói chánh pháp
Lại chẳng
chí tâm lắng tai nghe
Người ấy
chẳng được nghĩa chơn thật
Cũng chẳng
lìa được các phiền não
Nếu người
thấy được thiệt pháp tánh
Người
nầy phá hoại vô minh mạn
Nếu được
thân cận thiện tri thức
Người nầy
mau được vị cam lộ
Nếu hay
quở trách lỗi sanh tử
Người nầy
mau được đến bờ kia
Người nầy
có đủ giới đa văn
Cũng được
đủ thiền định trí huệ
Nếu hay
phá được ma phiền não
Xa lìa ấm
ma và tử ma
Xô dẹp
thiên ma và quyến thuộc
Thường
nên gần kề Vô Thượng Tôn.
Trong tràng
hoa ở hư không phát tiếng nói kệ ấy rồi, những đệ tử
Thanh Văn có lòng kiêu mạn đều tự nghĩ rằng đức Như Lai
biết ta có tâm ô nhiễm nên vì ta mà hiện thần lực nói
kệ như vậy. Suy nghĩ rồi trong lòng sanh đại tàm quí. Trong
tứ thiên hạ các đệ tử Phật cũng sanh lòng đại tàm quí
như vậy, tất cả đều đến tập hội bên đức Phật.
Lúc bấy
giờ trăm ngàn vạn ức Thanh Văn đại chúng đều đến tụ
tập. Đức Phật biết chúng hội đã định liền vì đại
chúng mà nói tạp Tứ chơn đế.
Tràng hoa
báu ấy đi thẳng qua phương Nam quá chín vạn hai ngàn hằng
hà sa số thế giới chư Phật, nơi đó có thế giới tên là
Kim Cương Quang Tạng, chúng sanh thế giới ấy có đủ ngũ
trược, Phật Thế Tôn cõi âý hiệu là Kim Cương Quang Minh
Công Đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng
Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, cũng vì tứ chúng đại
hội mà tuyên nói tạp Tứ chơn đế pháp. Chư Bồ Tát Thanh
Văn tứ chúng trong đại hội ấy thấy tràng hoa báu đại
quang minh trụ trên hư không ngay đỉnh Phật, liền bạch rằng:
“Bạch đức Thế Tôn! Tràng hoa báu như vậy từ đâu bay
đến và ai sai sử nó?”.
Đức Phật
Kim Cương Quang Minh Công Đức nói: “Nầy các thiện nam tử!
Phương Bắc cách đây chín vạn hai ngàn hằng hà sa số thế
giới chư Phật có thế giới tên là Ta Bà có Phật Thế Tôn
hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri,
Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn vì đại hội
tứ chúng tuyên nói pháp tạp Tứ chơn đế như thế giới
ta đây không khác.
Các thiện
nam tử! Thế giới Ta Bà ấy, chúng sanh có đủ ngũ trược
rất là si ám thô lỗ khinh tháo sanh lòng đại kiêu mạn gây
nhiều nghiệp ác khó điều khó giải, vì vậy nên Thích Ca
Như Lai làm đại tập hội ở trong đại chúng Thanh Văn tập
hội ấy mà diễn nói chánh pháp để phá hoại những ác sự
lớn như vậy. Chúng sanh ở thế giới ấy nơi chưa được
cho mình đã được, nơi chưa chứng tưởng mình đã chứng,
nơi chưa tu tập tưởng mình đã tu tập. Vì cớ ấy nên Phật
Thích Ca Mâu Ni muốn thuyết pháp rộng lớn như pháp tu hành
để phá hoại lòng đại kiêu mạn ấy. Vì muốn đại chúng
ấy được tận trí và vô sanh trí nên Phật ấy muốn tuyên
nói pháp hành Hư Không Mục, để được các quả Thanh Văn,
quả Duyên Giác, quả Phật, muốn khai thị Như Lai vô thượng
pháp tạng, nên Phật ấy sai tràng hoa báu nầy đến đây xin
dục nơi ta, nay ta giữ dục cho đó và ta muốn đem Pháp Mục
đà la ni tặng cho kia để làm tin, có thể làm vô lượng vi
diệu quang minh, hay làm khô tất cả phiền não, hay thọ trì
tất cả pháp được nghe chẳng quên mất, hay làm sạch tất
cả cấu nhơ nơi tâm, hay hộ tất cả thiện cấm giới, hay
nhập tất cả đại trí huệ, hay hộ tất cả tam muội vô
thượng, hay hộ tâm mình sanh lòng vui cho người thọ trì thánh
pháp xa lìa các tật bịnh, cầu thiện pháp gì thì liền được
như nguyện, liền được tăng trưởng tất cả đồ cần dùng
sanh sống, cũng hay trưởng dưỡng tất cả thiện căn, hay
điều phục ác vương và tứ tánh, các ác quỉ thần điểu
thú độc trùng, hay hộ trì tất cả cội pháp lành, hay được
tất cả pháp Phật nhẫn đến được mười tám pháp bất
cộng pháp. Vì vậy nên ta muốn sai Pháp Mục đà la ni như
vậy đến thế giới Ta Bà kia tặng Thích Ca Như Lai”.
Phật Kim
Cương Quang Minh Công Đức bảo đồng tử Kim Cương Sơn rằng:
“Nầy Kim Cương Sơn! Ông nên qua thế giới Ta Bà xưng danh
tự ta mà thăm hỏi Thích Ca Như Lai mà bạch Phật ấy rằng:
Kim Cương Quang Minh Công Đức Như Lai dâng môn Pháp Mục đà
la ni nầy xa tặng Thế Tôn”.
Kim Cương
Sơn đồng tử bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Lành thay
lành thay, tôi cũng muốn đến kính lễ đức Phật ấy và
muốn thưa hỏi pháp chưa từng được nghe là Hư Không Mục
pháp môn”.
Còn có sáu
vạn ức đại Bồ Tát, tám vạn ức Thanh Văn đồng thanh bạch
rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi cũng muốn đến Ta
Bà thế giới kính lễ Thích Ca Mâu Ni Như Lai và muốn học
hỏi pháp môn Hư Không Mục chưa từng được nghe. Duy nguyện
Như Lai gia thần lực cho chúng tôi được qua đến thế giới
ấy”.
Phật Kim
Cương Quang Minh Công Đức nói: “Lành thay lành thay! Các thiện
nam tử nên biết là phải lúc. Kim Cương Sơn đồng tử có
thể điều phục các người, là thiện tri thức của các người”.
Đức Phật
bảo Kim Cương Sơn đồng tử : “Nầy Kim Cương Sơn! Lắng
nghe lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói môn Pháp Mục đà la ni.
Liền nói
chú rằng:
A bà, a bà
a bà, nang na xà sa tra, ma ha ma khê, ma ha tha sa bà sa, thọ dụ
đê, a tha, na bà na tha nễ, Phật xà la di, an lũ lại di, xà
la ca tha, a na nậu đắc xoa, phạm phục bà, na bà trà bà, lặc
xoa lỗ giá na, sa tra khê bà, đà la ni mậu xà, ba la già trác
bà, tỳ na xí, bà na tỳ phu, a na ca tha, chiên trà mế tu, bà
la khê đa, tu lỗ giá na, lỗ giá na bà, lỗ giá xà nang bà
bà tư, sá ha.
Nầy Kim
Cương Sơn! Ông nên thọ trì đọc tụng thơ tả đà la ni ấy,
đến Ta Bà thế giới thăm hỏi Thích Ca Như Lai, như lời ta
mà bạch Phật ấy rằng: Tứ bộ đệ tử có thích thọ pháp
chăng? Người tứ tánh có hay cúng dường chăng? Tâm chúng
sanh có trược loạn chăng? Họ có thường hay gần kề Như
Lai chăng? Họ có hay tôn trọng tán thán Phật chăng? Chánh
pháp Phật có được thêm rộng lưu bố chăng? Phật Kim Cương
Quang Minh Công Đức Như Lai xa tặng Thế Tôn môn Pháp Mục
đà la ni nầy hay làm ánh sáng lớn khô cháy tất cả ác phiền
não nhẫn đến làm cho chúng sanh được Phật thập bát bất
cộng pháp”.
Kim Cương
Sơn đồng tử tuân Phật dạy thọ trì đọc tụng thơ tả
môn Pháp Mục đà la ni rồi bảo các đại chúng rằng: Nếu
muốn đến thế giới Ta Bà kính lễ Phật Thích Ca Mâu Ni và
hỏi học pháp môn Hư Không Mục chưa từng được nghe ấy
thì phải xa lìa tất cả sắc tướng, cũng chớ nhớ tướng
phân biệt, mà phải thường tu tập tướng hư không, xa lìa
tất cả tướng thủ xả, buông bỏ tất cả tướng trần
lao, mở các kiết phược, chuyên niệm hư không”.
Đại chúng
đồng thanh nói: “Lành thay, lành thay, thưa đồng tử!”.
Đại chúng
liền đến trước Phật đảnh lễ. Lễ Phật rồi nhiếp niệm
quán tướng hư không, trong thời gian một niệm đến Ta Bà
thế giới chỗ Thích Ca Như Lai. Đến rồi kính lễ Phật cúng
dường cung kính tôn trọng tán thán hữu nhiễu ba vòng qua
một phía chấp tay mà đứng.
Lúc ấy
tràng hoa báu lại đi thẳng qua phương Tây quá tám vạn ức
thế giới chư Phật có thế giới tên là Huệ Ám đủ ngũ
trược, có Phật hiệu Trí Tràng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến
Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn cũng
vì tứ chúng tuyên nói pháp tạp Tứ chơn đế. Chư Bồ Tát,
Thanh Văn tứ chúng thấy tràng hoa báu đại quang minh dừng
trên không ngay đỉnh đức Phật liền bạch rằng: “Bạch
đức Thế Tôn! Tràng hoa báu ấy từ đâu đến và ai sai sử
nó?”.
Đức Phật
Trí Tràng Như Lai nói: “Nầy các thiện nam tử! Phương Đông
cách đây tám vạn ức thế giới chư Phật, có thế giới
tên Ta Bà đủ ngũ trược. Phật Thế Tôn hiệu Thích Ca Mâu
Ni Như Lai đủ mười hiệu cũng vì tứ chúng tuyên nói pháp
tạp Tứ chơn đế như ta đây không khác, cho đến vì muốn
khai thị pháp tạng Như Lai nên sai tràng hoa báu nầy đến
xin dục nơi ta, ta cho đó và muốn tặng Phật ấy môn Tịnh
Mục đà la ni hay làm ánh sáng lớn khô cháy các ác phiền
não nhẫn đến có thể được Phật thập bát bất cộng pháp”.
Đức Trí
Tràng Như Lai bảo Thắng Tràng đồng tử rằng: “Ông nên
đến Ta Bà thế giới xưng danh tự ta mà thăm hỏi đức Phật
ấy và đem môn Tịnh Mục đà la ni xa tặng”.
Lúc ấy
có vô lượng Bồ Tát Thanh Văn đồng bạch rằng: “Bạch
đức Thế Tôn! Lành thay, lành thay, chúng tôi cũng muốn đến
thế giới Ta Bà kính lễ Thích Ca Như Lai cùng muốn hỏi học
pháp môn Hư Không Mục chưa từng được nghe”.
Nhẫn đến
Phật Trí Tràng liền nói thần chú rằng:
Vật lực
ha, vật lực ha, vật lực ha, vật lực ha, a bà vật lực ha,
tát tha vật lực ha, tu bà xa vật lực ha, na bà vật lực ha,
tu phả bà, a năng già, đê tỉ xoa, xà xà tư la, na bà áo nam,
khê già bát la, na la na diêm, túc sa, sí xa tư la, a bà la tư
la, ma ha bách kỳ xà na, a na siểm đa la, a bà khê già, na du
đa siểm đà la, sa phả la, a nang già già, na la noa, sa giá,
thủ lưu đa kiệt bà xí na, sá ha.
Nầy Thắng
Tràng! Ông nên thọ trì đọc tụng thơ tả đà la ni ấy. Nhẫn
đến qua một phía chắp tay đứng”.
Lúc ấy
tràng hoa báu đại quang minh đi thẳng qua phương Bắc quá chín
vạn chín ức thế giới chư Phật, có thế giới tên là Vi
Thường đủ ngũ trược, Phật hiệu là Phát Quang Minh Công
Đức Như Lai đủ mười hiệu cũng vì hàng tứ chúng tuyên
nói pháp tạp Tứ chơn đế. Trong pháp hội chư Bồ Tát, chư
Thanh Văn và tứ chúng thấy tràng hoa báu dừng ở hư không
ngay đỉnh Phật, liền bạch hỏi rằng: “Bạch đức Thế
Tôn! Tràng hoa báu ấy từ đâu đến và ai sai khiến nó?”.
Đức Phật
Phát Quang Minh Công Đức nói: “Nầy các thiện nam tử! Phương
Nam cách đây chín vạn chín ức thế giới chư Phật có thế
giới tên là Ta Bà đủ ngũ trược, Phật hiệu là Thích Ca
Mâu Ni Như Lai đủ mười hiệu vì hàng tứ chúng tuyên nói
pháp tạp Tứ chơn đế như nơi đây không khác, nhẫn đến
vì muốn khai pháp tạng Như Lai nên sai tràng hoa tứ bửu nầy
đến xin dục nơi ta. Nay ta giữ dục cho đó và muốn tặng
môn Quang Mục đà la ni có thể làm ánh sáng lớn khô cháy
ác phiền não, nhẫn đến hay được Như Lai thập bát bất
cộng pháp”.
Đức Phật
bảo Thắng Ý đồng tử rằng: “Nầy Thắng Ý! Ông nên đến
thế giới Ta Bà xưng danh tự của ta thăm hỏi Phật Thích
Ca Mâu Ni, đem môn Quang Mục đà la ni đây xa tặng Như Lai ấy”.
Trong đại
chúng còn có vô lượng Bồ Tát, Thanh Văn đồng bạch rằng:
“Bạch đức Thế Tôn! Thiện tai, thiện tai, chúng tôi cũng
muốn đến đó kính lễ Phật Thích Ca và hỏi học pháp môn
Hư Không Mục mà chúng tôi chưa từng được nghe, nhẫn đến
Phật Phát Quang Minh Công Đức liền nói chú rằng: “Xà bà
ma, xà bà ma, xà bà ma, a câu lô tra, tỉ bà xà bà, ma ha đà
ma khê bà, a ra xà, san bồ đà, nang khê bà, a ra xà bà bà,
ra xà bà bà, xà kỳ xoa xà bà bà, ma hê xà bà ni bạn đà,
tỳ mâu giá bà bà, na ra xà noa bà bà, chước thu bà bà, thâu
lô đa bà bà, thâu lô đa bà bà, già hận noa bà bà, thị chúc
bà bà, ca xà bà bà, chất đa bà bà, sa mậu đà ra bà bà,
cực ra noa bà bà, sất na tu lưu kỳ bà bà, soá ha”.
Nầy Thắng
Ý! Ông nên thọ trì đọc tụng thơ tả môn Quang mục đà
la ni ấy đến Ta Bà thế giới, nhẫn đến qua một phía chắp
tay đứng”.
Lúc ấy
tràng hoa bốn báu đi thẳng qua phương Đông quá sáu vạn ngàn
ức thế giới chư Phật, có thế giới tên là Bửu Đảnh
đủ ngũ trược, Phật hiệu là Bửu Cái Quang Minh Công Đức
Như Lai đủ mười hiệu đang vì hàng tứ chúng tuyên nói pháp
tạp Tứ chơn đế. Trong pháp hội các Bồ Tát, Thanh Văn tứ
chúng thấy tràng hoa báu đại quang minh trụ ở hư không ngay
đỉnh đức Phật liền bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Tràng hoa tứ bửu ấy từ đâu đến và ai sai khiến nó?”.
Đức Bửu
Cái Quang Minh Công Đức Như Lai nói: “Các thiện nam tử! Phương
Tây cách đây sáu vạn ngàn ức thế giới chư Phật có thế
giới tên là Ta Bà đủ ngũ trược, Phật hiệu là Thích Ca
Mâu Ni Như Lai đủ mười hiệu đang vì tứ chúng tuyên nói
pháp tạp Tứ chơn đế như tại đây không khác, nhẫn đến
vì muốn khai pháp tạng Như Lai nên sai tràng hoa tứ bửu ấy
đến xin dục nơi ta. Nay ta giữ dục cho đó, và muốn tặng
cho đó môn Thánh mục đà la ni hay làm ánh sáng lớn khô cháy
ác phiền não nhẫn đến được Như Lai thập bát bất cộng
pháp”.
Đức Phật
liền bảo Hư không Thanh đồng tử rằng: “Nầy Hư không
Thanh! Ông nên đến thế giới Ta Bà xưng danh tự ta thăm hỏi
Phật Thích Ca Mâu Ni Như Lai và đem dâng môn Thánh mục đà
la ni xa tặng”.
Nhẫn đến
còn có vô lượng Bồ Tát Thanh Văn đại chúng đồng thanh
bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Lành thay, lành thay,
chúng tôi cũng muốn đến Ta Bà thế giới kính lễ Phật Thích
Ca Mâu Ni Như Lai và hỏi học pháp môn Hư Không Mục mà chúng
tôi chưa từng được nghe”.
Đức Phật
Bửu Cái Quang Minh Công Đức liền nói chú rằng: “A la ma,
a la ma, a la ma, xà xà ra xà, tự lê xà ra xà, già xà phu, bà
ra xà la, a na giá, a khê sa ra, khê già sa xà na, na ô ha, na ra
xà na ô ha, ma hê thấp ba la giá ma, a ma ni ha, ha xà bà lợi
la, chước thu giá ma, chước thu sa chước thu na, na bà na bà
ma xà, a bà khê bà, xa bà na bà, khê già thiền lũ, sa ra chiên
đà ra, ma hê thấp ba la ni la na bà, sa đàn ma xoa xà, sá ha.
Nầy Hư
Không Thanh! Ông nên thọ trì đọc tụng thư tả môn Thánh
mục đà la ni ấy qua thế giới Ta Bà, nhẫn đến qua một
phía đứng chắp tay”.
Bấy giờ
bốn đồng tử Bồ Tát biến thế giới nầy bằng phẳng,
đầy đủ những hương hoa phan lọng bảy báu cúng dương đức
Phật. Tất cả cung chư Thiên, cung A Tu La đều bị chấn động
sáu cách. Chư Thiên vui mừng đều thọ hỉ lạc đều đem
dâng hương hoa phan lọng bảy báu các thứ kỹ nhạc cúng dường
Phật.
Bốn đồng
tử cúng dường Phật rồi thăng lên hư không cao bảy cây
đa la tay cầm tứ bửu nói kệ tán thán:
Phật là
vua sáng lớn thanh tịnh
Vì chúng
sanh nói pháp cam lộ
Với chúng
sanh lòng Phật như đất
Đại bửu
thương chủ thương tất cả
Vì chúng
sanh nói pháp thanh tịnh
Khiến lìa
các khổ và phiền não
Tâm Phật
bình đẳng như hư không
Lời Phật
vi diệu biết chơn đạo
Đầy đủ
giới cấm và trí huệ
Dứt hẳn
phiền não mưa cam lộ
Vì người
khát pháp Phật xuất thế
Đuốc huệ
sáng lớn phá tối tăm
Dầu kẻ
không tu bát thánh đạo
Và người
được chứng quả giải thoát
Như Lai bình
đẳng thương xót đồng
Ban cho Nhơn
Thiên tịnh pháp nhãn
Hay độ
chúng sanh khỏi sanh tử
Hay ban vô
thượng của bảy báu
Hay khiến
chúng sanh nhàm sanh tử
Tu trọn
ba mươi bảy đạo phẩm
Pháp đã
mất lâu nay Phật dạy
Vì vậy
được gọi Vô Thượng Tôn
Chúng sanh
bốn phương đã tập hội
Duy nguyện
xót thương chuyển pháp luân.
Đại chúng
trong pháp hội nầy lòng sanh vui mừng đều nói rằng: “Vô
lượng vô biên đại chúng từ đâu đến, tất cả đều oai
nghi thanh tịnh đủ vô lượng đức, tàm quí trí huệ đều
trọn đủ thành tựu, từ trước chúng ta chưa từng thấy
chư Đại Tiên ngũ thông sắc thân vi diệu như vậy”.
Đức Phật
bảo Tôn giả Kiều Trần Như: “Nầy Kiều Trần Như! Bốn
phương có vô lượng Bồ Tát đều đến tập hội để được
nghe pháp. Nay nên chí tâm thanh tịnh ý niệm”.
Đức Phật
dùng âm thanh vi diệu bảo bốn đồng tử rằng: “Các thiện
nam tử! Các ông đến đây rất tốt. Các ông từ phương nào
đến và đến để làm gì?”.
Bốn đồng
tử kính lễ chân Phật đi nhiễu giáp vòng. Kim Cương Sơn
đồng tử bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nam phương cách
đây chín vạn hai ngàn hằng hà sa thế giới chư Phật, có
thế giới tên là Kim Cương Quang Tạng đủ ngũ trược, Phật
Thế Tôn hiệu là Kim Cương Quang Minh Công Đức Như Lai đủ
mười hiệu đang vì tứ chúng tuyên nói pháp tạp Tứ chơn
đế.
Đức Kim
Cương Quang Minh Công Đức Như Lai sai tôi đến thế giới Ta
Bà nầy thăm hỏi đức Thế Tôn và muốn nghe pháp môn Hư
Không Mục.
Bạch đức
Thế Tôn! Phật Kim Cương Quang Minh Công Đức trí kính ân cần
thăm hỏi Thế Tôn và sai dâng tặng môn Pháp mục đà la ni
hay làm ánh sáng lớn khô cháy ác phiền não, nhẫn đến được
Như Lai thập bát bất cộng pháp”.
Kim Cương
Sơn đồng tử liền ở trước Phật nói chú như vậy. Ba đồng
tử đồng tử kia cũng bạch thưa và nói chú như vậy.
Bốn đồng
tử nói chú rồi, đại địa chấn động sáu cách. Tất cả
Long Vương đều nói rằng: “Chúng tôi cũng sẽ đồng đến
chỗ Phật”.
Phương Đông
có hai Long Vương tên là Ngưu Hộ và Bửu Hộ cùng sáu vạn
Long Vương.
Phương Nam
có hai Long Vương tên là Vi Nguyệt và Bà Tụ cùng bảy vạn
Long Vương.
Phương Tây
và phương Bắc mỗi phương cũng có hai Long Vương cùng mười
vạn Long Vương.
Bốn phương
chư Long Vương đến chỗ Phật kính lễ chưn Phật bạch rằng:
“Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi đều có thể thọ trì đọc
tụng thơ tả các đà la ni như vậy. Nếu có hàng tứ chúng
hay thọ trì đọc tụng thơ tả các đà la ni như vậy chúng
tôi sẽ thành tâm thủ hộ”.
Nước Quy
Tư có một Long Vương tên là Hải Đức em trai Long Vương A
Na Bà Đạt Đa cùng chín vạn Long Vương.
Nước Vu
Điền có một Long Vương tên là Lạc Tạng Bửu cũng là em
trai Long Vương A Na Bà Đạt Đa cùng một vạn tám ngàn Long
Vương.
Nước Ba
La Việt có một Long Vương tên là Sơn Đức cũng là em trai
Long Vương A Na Bà Đạt Đa cùng hai vạn Long Vương.
Nước Sư
Tử có một Long Vương tên là Bửu Tạng cùng bốn vạn tám
ngàn Long Vương.
Nước Tỳ
Đồ có một Long Vương tên là Trường Phát cùng bốn vạn
ba ngàn Long Vương.
Núi Niệm
Mật Xa có một Long Vương tên là Bà Tu Cát cùng tám ngàn
Long Vương.
Nước Ô
Trành có một Long Vương tên là A Bát La La cùng hai vạn năm
ngàn Long Vương.
Nước Càn
Đà La có một Long Vương tên là Y La Bát Đa cùng ba vạn Long
Vương.
Nước Chơn
Đơn có một Long Vương tên là Tam Giác cùng tám ngàn Long Vương.
Nan Đà Long
Vương, Bạt Nan Đà Long Vương cùng vô lượng Long Vương.
Các Long
Vương như vậy đồng đến chỗ Phật kính lễ bạch Phật
rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi có thể thọ trì đọc
tụng thơ tả các môn đà la ni như vậy chẳng quên chẳng
mất một chữ”.
Đức Phật
nói: “Lành thay lành thay! Chư Long Vương chơn thiệt hay thủ
hộ chánh pháp”.
Đức Phật
bảo Thiên Nữ Chánh Ngữ rằng: “Nầy Thiên Nữ! Nhà người
có thể thủ hộ chánh pháp Như Lai chăng?”.
Chánh Ngữ
Thiên Nữ bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Lúc Như Lai còn
tại thế gian và lúc sau khi Phật diệt độ, xứ nào có các
đà la ni như vậy lưu bố tôi sẽ thủ hộ xứ ấy. Người
nào thọ trì, tuỳ chỗ cần dùng tôi đều cung cấp đủ.
Nếu ai muốn thấy thân tôi, tôi sẽ vì họ mà hiện thân.
Bạch đức
Thế Tôn! Nếu hàng tứ chúng có ai muốn thấy tôi, người
ấy nên sạch thân mình trì giới tinh tiến, trong một ngày
tắm gội ba lần, đoạn thực ba ngày ở riêng nơi tịch tĩnh,
hoặc bên tượng Phật, hoặc trong tháp, hoặc ở tĩnh thất,
dùng các hương hoa các phan lọng cùng các thứ nước thơm
ngon cúng dường Phật, day mặt về hướng chánh Đông tụng
chu như vầy:
Bà tra trí,
bà tra trí, hưu lâu, hưu lâu, đồn đậu lâu, đồn đậu lâu,
khê tra, khê tra, tỉ sá ha.
Đã tụng
chú như vậy rồi, tôi sẽ đến đó tuỳ chỗ nguyện cầu
của tứ chúng tôi sẽ làm cho được thành tựu tất cả.
Nếu tôi không đến đó, là khi dối thập phương chư Phật,
cũng chớ khiến tôi thành Vô thượng Bồ đề”.
Đức Phật
bảo La Hầu A Tu La Vương, Tỳ Ma Chất Đa A Tu La Vương, Tỳ
Lâu Giá Na A Tu La Vương rằng: “Nay Phật đem các đà la ni
như vậy phó chúc chư A Tu La Vương, tại sao, vì các ông có
đại lực thế, có chúng sanh nào chẳng tin thì các ông có
thể làm họ tin”.
Chư A Tu
La Vương bạch rằng: “Lành thay, bạch đức Thế Tôn! Chúng
tôi sẽ hộ trì. Lúc Phật tại thế và lúc sau khi Phật diệt
độ, nếu có hàng tứ chúng hay thọ trì đọc tụng thơ tả
các đà la ni như vậy, chúng tôi có thể sẽ ban cho họ tám
sự: một là mạnh mẽ, hai là thích nghe học chánh pháp, ba
là tâm không sợ sệt, bốn là thường sáng không tối, năm
là thiện nguyên đầy đủ, sáu là giải thoát, bảy là biện
tài và tám là thiện pháp tăng trưởng. Nếu có A Tu La nào
làm não người ấy chúng tôi liền trừng trị. Nếu ở nơi
thế giới nầy mà chẳng thủ hộ Phật pháp thì là khi dối
thập phương chư Phật Thế Tôn vậy”.
Đức Phật
quan sát tứ chúng rồi, bảo Kiều Trần Như Tỳ Kheo rằng:
“Nầy Kiều Trần Như! Tất cả đại chúng rất thích nghe
pháp. Vô lượng chúng sanh trong vô lượng thế giới đều
vì nghe pháp mà đến đây tập hội, đều muốn biết pháp
hành phương tiện thành đại trí huệ, xa lìa tham dục và
tất cả phiền não, chơn thiệt biết rõ pháp hành phương
tiện”.
Tôn giả
Kiều Trần Như bạch rằng: “Lành thay đức Thế Tôn, thiệt
đúng như lời Phật dạy. Bốn phương thế giới có vô lượng
Bồ Tát đều đem lời giữ dục của chư Phật đến đây
và muốn hỏi học pháp hành Hư Không Mục. Nay chánh là phải
lúc xin Phật thương xót vì chúng sanh mà tuyên nói đó.
Bạch đức
Thế Tôn! Được nói là pháp hành, pháp hành Tỳ Kheo. Thế
nào gọi là pháp hành Tỳ Kheo?”.
Đức Phật
nói: “Nầy Kiều Trần Như! Chí tâm lắng nghe, Phật sẽ vì
ông mà giải nói.
Nếu có
Tỳ Kheo đọc tụng mười hai bộ kinh Như Lai, đó là Tu đa
la nhẫn đến Ưu bà đề xá, đây gọi là thích đọc chớ
chẳng gọi là pháp hành. Còn có Tỳ Kheo đọc tụng Như Lai
mười hai bộ kinh thích vì đại chúng tuyên dương rộng nói,
đây gọi là thích nói chớ chẳng gọi là pháp hành. Còn có
Tỳ Kheo đọc tụng Như Lai mười hai bộ kinh hay rộng giảng
nói suy nghĩ ý nghĩa, đây gọi là tư duy mà chẳng gọi là
pháp hành. Còn có Tỳ Kheo thọ trì đọc tụng Như Lai mười
hai bộ kinh giải thuyết tư duy quán nghĩa lý, đây gọi là
thích quán mà chẳng gọi là pháp hành.
Nầy Kiều
Trần Như! Nếu có Tỳ Kheo hay quán thân tâm, lòng chẳng tham
trước tất cả tướng ngoài khiêm hư hạ ý chẳng kiêu chẳng
mạn, chẳng dùng nước ái tưới rưới ruộng nghiệp, cũng
chẳng ở trong đó gieo giống thức, dứt diệt giác quán cảnh
giới đều dứt, xa lìa phiền não tâm tịch tĩnh. Tỳ Kheo
như vậy, Phật gọi là pháp hành. Tỳ Kheo pháp hành ấy nếu
muốn được Thanh Văn Bồ đề hoặc Duyên Giác Bồ đề hoặc
Như Lai Bồ đề thì có thể được cả.
Nầy Kiều
Trần Như! Như thợ lò gốm nhồi đất sét nhuyễn dẻo rồi
để trên vòng quay tuỳ ý thành món dùng. Pháp hành Tỳ Kheo
cũng như vậy.
Nếu có
Tỳ Kheo tu pháp hành thì nên quán ba sự việc là thân, thọ
và tâm. Quán ba sự ấy rồi được hai thứ trí là tận trí
và vô sanh trí. Thế nào là tận trí và vô sanh trí?
Nầy Kiều
Trần Như! Trí hết phiền não gọi là tận trí, trí hết hữu
chi gọi là vô sanh trí.
Còn nữa,
trí không có hành nhơn gọi là tận trí, trí không có hành
quả gọi là vô sanh trí.
Còn nữa,
trí hết các kiết sử gọi là tận trí, trí hết phiền não
gọi là vô sanh trí.
Còn nữa,
trí hết các hành gọi là tận trí, trí hết tất cả hữu
gọi là vô sanh trí.
Còn nữa,
phân biệt hết không có vất gọi là tận trí, biết rõ các
hệ phược giải thoát gọi là vô sanh trí.
Còn nữa,
biết hết căn giới gọi là tận trí, biết hết duyên giới
gọi là vô sanh trí.
Còn nữa,
chẳng giác quán phiền não, gọi là tận trí, chẳng giác quán
quả báo gọi là vô sanh trí.
Còn nữa,
trí hết phiền não đệ tam địa gọi là tận trí, trí hết
tất cả phiền não gọi là vô sanh trí.
Còn nữa,
sanh của ta đã hết phạm hạnh thanh tịch gọi là tận trí,
không còn thừa thân trong ba cõi gọi là vô sanh trí.
Hai trí như
vậy gọi là một trí cũng gọi một hạnh biết rõ tam đạo.
Nếu có Tỳ Kheo dứt được tam đạo thì gọi là pháp hành.
Có thể
quán như vậy là quán tâm và thọ.
Thế nào
là Tỳ Kheo hay quán sát thân?
Nếu có
Tỳ Kheo quán hơi thở vào ra, đây gọi là quán thân quán thọ
quán tâm.
Thế nào
là quán hơi thở vào ra?
Hơi thở
vào ra gọi là A na ba na. Thở vào là A na, thở ra là Ba na.
Quán hơi ra vào như cửa như ngõ. Nếu có Tỳ Kheo quán như
vậy đây gọi là pháp hành.
Nếu có
Tỳ Kheo có thể học có thể đếm theo hơi thở ra vào lạnh
nóng dài vắn. Hoặc khắp đầy thân, hoặc cột tâm nơi đầu
mũi, hay thấy mới cũ, phân biệt rõ các tướng, hay quán sanh
diệt cầu xa ma tha khéo vào trong định, cũng hay quán sát hơi
thở thô tế, nhẫn đến quán ở nội thân, thân tưởng là
thân, đây gọi là Tỳ Kheo tu tập pháp hành.
Nầy Kiều
Trần Như! Lúc tu sổ tức được hai sự đó là lìa ác gíac
quán và quán tướng mạo của hởi thở. Lúc tu tập tuỳ tức
cũng được hai sự, đó là chuyên niệm niệm tâm và lìa thiện
giác quán. Quán hơi lạnh nóng cũng được hai sự, đó là
phân biệt ra vào và quán tướng tâm số. Lúc quán thân cũng
được hai sự, đó là thân khinh và tâm khinh. Chuyển quán
sanh diệt cũng được hai sự, đó là biết tất cả pháp là
tướng vô thường và biết tất cả pháp là tướng vô lạc.
Nầy Kiều
Trần Như! Pháp hành Tỳ Kheo niệm xuất nhập tức cột tâm
một chỗ, có số giảm và số tăng.
Thế nào
là số giảm? Đó là hai đếm là một, ba đếm là hai, nhẫn
đến mười đếm là chín.
Thế nào
là số tăng? Đó là một đếm là hai, nhẫn đến chín đếm
là mười.
Cớ sao lại
tu sổ tức, vì phá tất cả giác quán vậy. Lúc được sơ
thiền quán xuất nhập tức và quán tâm tướng. Sơ thiền
có năm chi là giác, quán, hỉ, lạc và định. Lúc đủ năm
chi thì lìa tham sân si.
Nếu có
Tỳ Kheo đầy đủ năm chi thiền thì gọi là pháp hành, xa
lìa năm sự, thành tựu năm sự, tu tập phạm hạnh thành đại
công đức.
Nầy Kiều
Trần Như! Nếu có Tỳ Kheo có thể được Nhị thiền thì
gọi là pháp hành. Tỳ Kheo nầy quán tức nhập xuất cột
tâm một chỗ xa lìa giác và quán được đệ Nhị thiền.
Nếu có
Tỳ Kheo quán tức nhập xuất cột tâm một chỗ xa lìa hỉ
được đệ Tam thiền.
Nếu có
Tỳ Kheo quán tức nhập xuất cột tâm một chỗ xa lìa hỉ
lạc bất khổ bất lạc được đệ Tứ thiền.
Nếu có
Tỳ Kheo quán tức nhập xuất thì quán ngũ ấm, nếu quán ngũ
ấm thì gọi là pháp hành.
Nếu Tỳ
Kheo thấy tất cả pháp hành sanh diệt nhẫn đến thấy tất
cả phiền não sanh diệt, đây gọi là như pháp nhẫn.
Nếu Tỳ
Kheo thấy nhãn rỗng không nhẫn đến thấy ý thức rỗng không,
đây gọi là không nhẫn.
Nếu Tỳ
Kheo thấy nhãn không có tướng nhẫn đến thấy ý thức không
có tướng, đây gọi là vô tướng nhẫn.
Nếu Tỳ
Kheo chẳng nguyện cầu nơi nhãn nhẫn đến chẳng nguyện cầu
nơi ý thức, đây gọi là vô nguyện nhẫn.
Nếu vì
chúng sanh mà đi trong sanh tử, đây gọi là tuỳ thượng chơn
đế nhẫn.
Thế nào
là tuỳ căn, tuỳ lực, tuỳ giác quán, nhẫn đến tuỳ Niết
bàn?
Với các
pháp nhãn đến ý thức như vậy mà tâm chẳng thủ trước
thì gọi là tín nhẫn, đây là tín chẳng gọi là tín căn.
Nếu nhiếp thân tâm chẳng cho tạo ác thì gọi là tinh tiến
chẳng gọi là tiến căn. Nếu hay chuyên niệm các pháp như
vậy thì gọi là niệm chẳng gọi là niệm căn. Tâm và tâm
số pháp có thể cột một cảnh duyên thì gọi là định chẳng
gọi là định căn. Nếu có thể chẳng thấy các tướng như
vậy thì gọi là huệ chẳng gọi là huệ căn. Nếu quán những
vô căn như vậy thì gọi là pháp hành.
Nầy Kiều
Trần Như! Nếu có Tỳ Kheo quán đảnh pháp, thế đệ nhứt
pháp, quán tam giải thoát: không, vô tướng và vô nguyện;
vô thường, khổ, không, đây gọi là pháp hành, đây gọi
là không tam muội. Không tam muội ấy duyên không có thọ mạng,
duyên không có tự tại. Vô tướng tam muội duyên tận duyên
hoại duyên diệt duyên yểm ly. Vô nguyện tam muội duyên cam
lộ chẳng phải cam lộ hành, có cam lộ hành chẳng phải duyên
cam lộ. Có không tam muội duyên cam lộ chẳng phải cam lộ
hành, có cam lộ hành chẳng phải duyên cam lộ. Vô tướng
tam muội duyên cam lộ chẳng phải cam lộ hành, có cam lộ
hành chẳng phải duyên cam lộ.
Nầy Kiều
Trần Như! Nếu có Tỳ Kheo duyên huệ diệt trang nghiêm nhập
vô nguyện tam muội, đây gọi là duyên cam lộ chẳng phải
cam lộ hành.
Nếu có
Tỳ Kheo duyên huệ diệt mà được giải thoát, đây gọi là
cam lộ hành chẳng phải duyên cam lộ.
Như vô nguyện,
không và vô tướng cũng vậy.
Nầy Kiều
Trần Như! Nếu có Tỳ Kheo có thể quán như vậy, đây gọi
là pháp hành.
Nầy Kiều
Trần Như! Nếu có Tỳ Kheo quán thọ quán tâm, đây gọi là
pháp hành. Tại sao, vì có thể phá hoại hai mươi ngã kiến
vậy.
Nầy Kiều
Trần Như! Đoạn kiến và ngã kiến đều riêng có năm thứ.
Sắc đoạn
nhẫn đến thức đoạn đây gọi là đoạn kiến.
Sắc ngã
nhẫn đến thức ngã đây gọi là năm ngã kiến.
Năm đoạn
kiến phân biệt thì có bốn mươi bốn thứ, đó là mười
sáu thứ nói tưởng, tám thứ nói vô tưởng, tám thứ nói
phi tưởng phi phi tưởng, sáu thứ nói các loại tưởng và
sáu thứ nói đoạn.
Năm ngã
kiến phân biệt có mười tám thứ, đó là bốn thứ định
nói ngã, bốn thứ nói biên, bốn thứ nói dị sự và sáu
thứ nói vô cầu tam muội.
Nầy Kiều
Trần Như! Đoạn kiến và ngã kiến phân biệt thành sáu mươi
hai kiến.
Hai mươi
ngã kiến nhơn duyên có thể sanh bốn trăm lẻ bốn thứ phiền
não. Vì rời lìa các phiền não như vậy mà quán thân tâm
đây gọi là pháp hành. Tỳ Kheo có thể quán thân tâm như
vậy.
Nầy Kiều
Trần Như! Thế nào là bát nhơn, thế nào là quyết định?
Nầy Kiều
Trần Như! Người đoạn kiến nói rằng một niệm dứt. Người
thường kiến nói rằng bát nhẫn dứt. Hai hạng người ấy
đều được quyết định. Về sau rời lìa phiền não cũng
đều không có phòng ngại.
Nầy Kiều
Trần Như! Người có thể được bát nhẫn thì gọi là bát
nhơn. Người được mười sáu tâm đây gọi là quyết định,
đây gọi là như pháp.
Nầy Kiều
Trần Như! Nếu có Tỳ Kheo thành tựu pháp quán xuất nhập
tức thì được bát nhơn cũng gọi là quyết định.
Nầy Kiều
Trần Như! Nếu có Tỳ Kheo thành tựu sổ tức thì được
tín căn nhẫn đến huệ căn. Nếu được ngũ căn thì được
thế gian đệ nhứt pháp. Tỳ Kheo như vậy có thể phá tất
cả tâm nghi, đây gọi là chơn thiệt tu tập thánh hạnh.
Nếu có
Tỳ Kheo thành tựu khổ trí thì dứt mười thứ phiền não,
đây gọi là tu tập sơ vô lậu tâm quán. Lúc ấy thứ đệ
quán vô nguyện tam muội. Lúc quán vô nguyện tu ba mươi bảy
phẩm trợ đạo, đây gọi là vô lậu định trí, được khổ
pháp nhẫn khổ pháp trí, tập pháp nhẫn tập pháp trí. Bấy
giờ quán Sắc giới ngũ ấm, Vô Sắc giới tứ ấm, như Dục
giới khổ, Sắc giới và Vô Sắc giới khổ cũng như vậy.
Quán như vậy rồi dứt Sắc và Vô Sắc mười tám thứ phiền
não. Mười tám thứ đã dứt rồi tư duy như vầy: các khổ
ấy từ nơi nào đến và ai tạo ra nó. Tư duy như vậy biết
rõ khổ ấy từ ái nhơn duyên, nếu ta không nhổ rễ ái như
vậy thì sẽ sanh khổ, vì vậy mà quán tập, quán tập như
vậy rồi dứt bảy phiền não. Quán Dục giới tập rồi, quán
Sắc giới, Vô Sắc giới tập cũng như vậy. Quán như vậy
rồi được tỉ nhẫn tỉ trí.
Lúc quán
như vậy dứt mười ba phiền não.
Nầy Kiều
Trần Như! Người đủ bát nhẫn thì gọi là bực bát nhơn
pháp.
Dứt tập
tam giới rồi lại quán như vầy: do nhơn duyên gì mà dứt
khổ và tập? Vì an lạc vậy. Đại an lạc tức là diệt đế.
Bấy giờ
sơ quán Dục giới diệt đế được diệt pháp nhẫn dứt
bảy phiền não, Sắc và Vô Sắc cũng như vậy, quán như vậy
được diệt tỉ nhẫn dứt mười hai phiền não.
Lại quán
như vầy: do nhơn duyên gì được bảy nhẫn, biết rằng nhơn
tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Do sức bát chánh đạo mà
biết Dục giới khổ tập và diệt đế, biết Sắc giới và
Vô Sắc giới khổ tập diệt đế. Lúc nầy kế sanh đạo
pháp nhẫn, được rồi có thể dứt tám thứ phiền não. Lại
quán Sắc giới và Vô Sắc giới được đạo tỉ nhẫn dứt
mười bốn phiền não.
Do tu tập
pháp quán như vậy dứt tám mươi tám thứ phiền não, đây
gọi là quyết định. Được quả Tu Đà Hoàn đây gọi là
được mười sáu tâm, đây gọi là quyết định được Bồ
đề, đây gọi là bảy lần qua lại dứt hết tất cả khổ.
Nầy Kiều
Trần Như! Có người từ tín quyết định, có người từ
pháp quyết định. Có người một đời được quả Tu Đà
Hoàn nhẫn đến được quả A La Hán. Có người nhập tín
căn nhẫn đến huệ căn. Có người tu định, có người tu
huệ. Có người được Sơ thiền nhẫn đến Tứ thiền được
nhập quyết định, quán tất cả hành vô thường, thứ đệ
sanh diệt xa lìa tất cả pháp phàm phu. Có người quán tất
cả hành vô thường, khổ, không, bất tịnh, chẳng được
tự tại, không có tịch tĩnh, theo duyên mà sanh theo duyên mà
diệt, quán như vậy rồi được tịch tĩnh diệt đế, đây
gọi là Tỳ Kheo như pháp mà hành.
Nầy Kiều
Trần Như! Như Lai biết rõ tất cả chúng sanh các căn lợi
độn, cũng biết tất cả chúng sanh tâm tánh tất cả phiền
não tánh, vì vậy Như Lai theo chỗ chúng sanh đáng được mà
vì họ thuyết pháp, tuỳ các phiền não tuyên nói đối trị,
nên Như Lai được gọi là Nhứt thiết chủng trí.
Nầy Kiều
Trần Như! Sau khi Phật Niết bàn, các đệ tử Phật thọ trì
Như Lai mười hai bộ kinh thơ tả đọc tụng, điên đảo giải
nghĩa, điên đảo tuyên nói. Vì điên đảo giải nói nên che
ẩn pháp tạng. Vì che pháp nên gọi là Đàm Ma Cúc Đa.
Nầy Kiều
Trần Như! Sau khi Phật Niết bàn, các đệ tử Phật thọ trì
Như Lai mười hai bộ kinh đọc tụng thơ tả, mà lại còn
đọc tụng thơ tả giải nói ngoại điển, thọ trì tam thế
và nội ngoại điển phá hoại ngoại đạo, hay giỏi luận
nghĩa, nói rằng tất cả tánh đều được thọ giới, phàm
chỗ vấn nạn thường hay đối đáp, vì vậy nên gọi là
Tát Bà Nhã Đế Bà.
Nầy Kiều
Trần Như! Sau khi Phật Niết bàn, các đệ tử Phật thọ trì
Như Lai mười hai bộ kinh đọc tụng thơ tả nói rằng không
có ngã và người thọ, chuyển các phiền não dường như tử
thi, vì vậy nên gọi là Ca Diếp Tỳ Bộ.
Nầy Kiều
Trần Như! Sau khi Phật Niết bàn, các đệ tử Phật thọ trì
Như Lai mười hai bộ kinh đọc tụng thơ tả, chẳng trụ các
tướng địa thuỷ hoả phong hư không thức, vì vậy nên gọi
là Sa Di Tắc Bộ.
Nầy Kiều
Trần Như! Sau khi Phật Niết bàn, các đệ tử Phật thọ trì
Như Lai mười hai bộ kinh đọc tụng thơ tả, đều nói rằng
có ngã, chẳng nói tướng không, dường như tiểu nhi, vì vậy
nên gọi là Bà Ta Phú La.
Nầy Kiều
Trần Như! Sau khi Phật diệt độ, các đệ tử Phật thọ
trì Như Lai mười hai bộ kinh đọc tụng thơ tả, rộng rãi
xem khắp kinh thơ năm bộ, vì vậy nên gọi là Ma Ha Tăng Kỳ.
Nầy Kiều
Trần Như! Năm bộ như vậy dầu đều dị biệt mà đều chẳng
phòng ngại chư Phật pháp giới và đại Niết bàn.
Thế nào
gọi là tuỳ tín hành?
Nếu
tin Tam bửu có đủ tín căn, từ tín nhơn duyên nhập vào quyết
định được quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm,
quá Sắc giới, Vô Sắc giới được quả A La Hán. Từ tín
được giải thoát nên gọi là tín giải thoát, cũng gọi là
nhứt phần, cũng gọi là thân chứng, cũng gọi là huệ giải
thoát. Đây gọi là tuỳ tín hành.
Thế nào
gọi là tuỳ pháp hành?
Nếu có
người từ nơi pháp nhập quyết định đầy đủ huệ căn
được quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, quá
Sắc giới, Vô Sắc giới được quả A La Hán, đây gọi là
kiến đáo nhị phần giải thoát, đây gọi là vô học giải
thoát, đây gọi là pháp hành, đây gọi là thành tựu thân
thân quán nhẫn đến thành tựu pháp pháp quán, đây gọi là
thành tựu Tỳ bà xá na và Xa ma tha.
Thế nào
là Xa ma tha?
Xa ma tha
gọi là diệt. Có thể diệt tâm tham, tâm sân, tâm tán loạn
gọi là Xa ma tha.
Thế nào
là tướng Xa ma tha?
Hay diệt
tướng tham, tướng sân, tướng si, gọi là tướng Xa ma tha.
Nếu có
thể tuỳ tu Xa ma tha hạnh tôn trọng tán thán hướng Xa ma
tha phương tiện trang nghiêm, đây gọi là Xa ma tha tướng.
Nếu có
Tỳ Kheo thâm tự tư duy rằng tham tâm của ta chỉ quán bất
tịnh mới phá hoại được. Sân tâm của ta chỉ quán từ
mới phá hoại được. Tâm si của ta chỉ quán thập nhị nhơn
duyên mới phá hoại được. Đây gọi là Xa ma tha tướng.
Thế nào
gọi là Tỳ bà xá na?
Nếu tu thánh
huệ hay quán ngũ ấm thứ đệ sanh diệt, đây gọi là Tỳ
bà xá na.
Còn nữa,
nếu quán các pháp đều như, pháp tánh, thiệt tánh, thiệt
tướng, chơn thiệt biết rõ, đây gọi là Tỳ bà xá na.
Thế nào
gọi là tướng Tỳ bà xá na?
Nếu có
thể thành tựu đầy đủ niệm tâm quán tất cả hành từ
duyên mà sanh từ duyên mà diệt, tất cả hành không tự tại,
không tác, không thọ, đây gọi là tướng Tỳ bà xá na.
Thế nào
gọi là Tỳ bà xá na nhập quyết định?
Nếu chí
tâm Tỳ bà xa na cung kính tôn trọng hướng trang nghiêm đạo,
đây gọi là từ nơi Tỳ bà xá na nhập vào quyết định.
Thế nào
gọi là xuất pháp nhiếp tâm chẳng phải diệt pháp nhiếp
tâm?
Nếu Tỳ
Kheo có thể quán tâm xuất nhơn duyên nhẫn đến tất cả
hành xuất nhơn duyên, đây gọi là xuất pháp nhiếp tâm chẳng
phải diệt pháp nhiếp tâm.
Thế nào
gọi là diệt pháp nhiếp tâm chẳng phải xuất pháp nhiếp
tâm?
Nếu Tỳ
Kheo hay thâm quán diệt tâm nhơn duyên nhẫn đến tất cả
hành diệt nhơn duyên, đây gọi là diệt pháp nhiếp tâm chẳng
phải xuất pháp nhiếp tâm.
Thế nào
gọi là chẳng phải xuất pháp nhiếp tâm chẳng phải diệt
pháp nhiếp tâm?
Nếu Tỳ
Kheo hay quán tâm tánh nhãn tánh nhẫn đến ý tánh, đây gọi
là chẳng phải xuất pháp nhiếp tâm chẳng phải diệt pháp
nhiếp tâm.
Thế nào
là duyên nhiếp tâm chẳng phải tư duy nhiếp tâm?
Nếu Tỳ
Kheo hay quán xuất tức mà chẳng quán nhập tức, đây gọi
là duyên nhiếp tâm chẳng phải tư duy nhiếp tâm.
Thế nào
là tư duy nhiếp tâm chẳng phải duyên nhiếp tâm?
Nếu Tỳ
Kheo hay quán nhập tức chẳng quán xuất tức, đây gọi là
tư duy nhiếp tâm chẳng phải duyên nhiếp tâm.
Thế nào
gọi là chẳng phải duyên nhiếp tâm chẳng phải tư duy nhiếp
tâm?
Nếu Tỳ
Kheo quán tâm tánh nhãn tánh nhẫn đến ý tánh, đây gọi là
chẳng phải duyên nhiếp tâm chẳng phải tư duy nhiếp tâm.
Nầy Kiều
Trần Như! Nếu Tỳ Kheo hay nhiếp tâm thì được tám mươi
môn tam muội và tu ba môn giải thoát.
Nếu Tỳ
Kheo quán quá khứ thân và tu trang nghiêm, quán thân thấy thân,
đây gọi là tu vô nguyện giải thoát môn.
Nếu Tỳ
Kheo quán thân quá khứ rồi chỉ thấy tâm mà chẳng thấy
thân và tu trang nghiêm quán thân thấy thân, đây gọi là tu
vô tướng giải thoát môn.
Nếu Tỳ
Kheo quán thân quá khứ rồi, chẳng thấy tác chẳng thấy tác
giả. Tác giả không có thân, thân không có tác giả, tu trang
nghiêm đạo quán thân thấy thân, đây gọi là không giải
thoát môn.
Quán thọ
tâm và pháp cũng như vậy.
Còn nữa,
nầy Kiều Trần Như! Ba môn giải thoát tu quán trang nghiêm,
quán tất cả hành bất xuất bất diệt, xuất rồi thì diệt,
diệt không có chỗ đến, chẳng đến chẳng đi chẳng tới,
đây gọi là trang nghiêm vô nguyện giải thoát môn.
Còn nữa,
vị lai thế các hành chưa xuất, nếu hành chưa xuất thì không
có diệt, không có xuất không có diệt, đây gọi là trang
nghiêm vô tướng giải thoát môn.
Còn nữa,
quán hành tất cánh tận, tất cánh tận thì không có sanh diệt.
Nếu không có sanh diệt thì tất cánh tận. Nếu tất cánh
tận thì tức là không nhơn duyên. Nếu quán tất cánh tận
như vậy, đây gọi là trang nghiêm không giải thoát môn.
Còn nữa,
nếu quán hành tất cánh tận thì không có sanh diệt, nếu
không có sanh diệt tức là không có rỗng không. Tại sao, vì
trước có sau không có gọi là rỗng không. Nếu là bổn không
có thì không có sau không. Nếu không có sau không thì thế
nào gọi là rỗng không.
Nếu không
có hành tức là vô vi. Tất cánh tận ấy chẳng phải hữu
vi chẳng phải vô vi. Rỗng không chẳng phải hành chẳng phải
không có hành. Vì vậy nên tất cánh tận ấy chẳng phải
nhiếp thuộc hữu vi chẳng phải nhiếp thuộc vô vi. Đây gọi
là trang nghiêm vô tướng giải thoát môn.
Còn nữa,
nếu các hành tất cánh tận ấy thì tức là Niết bàn, chẳng
phải quá khứ vị lai hiện tại, vì vậy nên chẳng phải
quá khứ hành diệt gọi là Niết bàn, cũng chẳng phải vị
lai hiện tại hành diệt gọi là Niết bàn. Người Tu Đà Hoàn
thấy Niết bàn ấy nhẫn đến người A La Hán thấy Niết
bàn ấy.