LIX
PHÁP HỘI HƯ KHÔNG
MỤC
THỨ NĂM MƯƠI CHÍN
(Hán
bộ từ quyển 150 đến quyển 154)
Hán
dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm
Việt
dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Nầy Bửu
Kế! Bồ Tát được Tứ như ý túc thì được diện kiến
thập phương chư Phật cùng nói năng đi đứng một chỗ. Cũng
diện kiến tất cả Phạm Vương, Đế Thích, Tứ Thiên Vương
cùng Thiên, Long, Dạ Xoa, Bát Bộ Thần đồng nói năng đi đứng
một chỗ.
Thế nào
là trang nghiêm Tứ như ý túc?
Nầy Bửu
Kế! Nếu Bồ Tát có thể cúng dường cha mẹ, Hoà thượng,
Sư trưởng kỳ cựu có đức, thấy các chúng sanh tiên ý thăm
hỏi, dịu dàng nói năng như lời mà làm, xem các chúng sanh
tâm mình bình đẳng, thiện tâm, chánh tâm, cung kính tâm, tàm
quí tâm, xa lìa tham dục sân khuể ngu si, không khi, không kiêu,
không đố kỵ, không xan tham, kinh doanh sự nghiệp người như
làm cho mình, người không có thế lực giúp họ thế lực,
đường bùn lầy lấy đất đá lấp, nơi sông rạch bắc cầu
làm đò, hoặc dùng thân mang gánh, hoặc cho thuyền chở, thường
thí cho chúng sanh vật cần dùng, miệng chẳng nói sự suy não
của người, cũng chẳng chê chọc người phạm tội, người
có phạm tội hay như pháp trừ, ngăn các phiền não chẳng
cho sanh khởi, vật mình trọng thích có thể đem cho, đã cho
rồi tâm không hối, vì các chúng sanh mà phát nguyện hồi
hướng, tín tâm dùng thiện pháp khuyên các chúng sanh chẳng
tiếc thân mạng, thiểu dục tri túc nơi lợi dưỡng của người
lòng không hi vọng, thường niệm xuất gia cũng khuyên người,
niệm thiện tri thức lòng không xa rời, trong oán thân bình
đẳng không hai, đem các thứ xe cho người đi đường, với
người ốm thiếu thí cho giường nệm, kẻ bị khủng bố
có thể cứu hộ, xem các chúng sanh như cha mẹ, chẳng khi người
huỷ giới, đem tài vật cho kẻ nghèo, người bịnh gầy cho
thuốc men, thi ơn nơi người chẳng tự kể nhắc, trọn chẳng
đoạn tuyệt Tam bửu chủng tánh, thường niệm vô vi xa lìa
thế sự tất cả các pháp ác bất thiện, chẳng bị thế
pháp nhiễm ô, chẳng mất niệm Bồ đề chí tâm.
Đây gọi
là Bồ Tát trang nghiêm tịnh Tứ như ý túc hành.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào là Bồ Tát tịnh Ngũ căn hành?
Bồ Tát
tín tâm chẳng thể động chuyển gọi là tín căn. Chẳng do
người dạy bảo mà tự hành tinh tiến gọi là tinh tiến căn.
Thường niệm Bồ đề không quên gọi là niệm căn. Thường
tu đại bi gọi là định căn. Nhiếp thủ thiện pháp gọi
là huệ căn.
Còn nữa,
tin các Phật pháp không động chuyển gọi là tín căn. Tự
cầu các Phật pháp gọi là tinh tiến căn. Thường niệm các
Phật pháp gọi là niệm căn. Được phật tam muội gọi là
định căn. Dứt các lưới nghi gọi là huệ căn.
Còn nữa,
tâm hướng Bồ đề không nghi gọi là tín căn. Tăng trưởng
thiện pháp gọi là tinh tiến căn. Cầu thiện phương tiện
gọi là niệm căn. Xem các chúng sanh lòng bình đẳng gọi là
định căn. Quán thấy chúng sanh thượng trung hạ căn gọi
là huệ căn.
Còn nữa,
tâm thanh tịnh không trược cấu gọi là tín căn. Phá các
tâm trược cấu gọi là tinh tiến căn. Thường niệm pháp
thanh tịnh gọi là niệm căn. Quán tâm tánh thanh tịnh gọi
là định căn. Hay khiến chúng sanh trụ pháp thanh tịnh gọi
là huệ căn.
Còn nữa,
xa lìa tất cả pháp tệ ác gọi là tín căn. Cầu các thiện
pháp gọi là tinh tiến căn. Được thiện pháp rồi chẳng
mất gọi là niệm căn. Đã được thiện pháp như thiện pháp
mà trụ gọi là định căn. Tư duy các pháp thiện bất thiện
và vô ký gọi là huệ căn.
Còn nữa,
tín căn là tâm bố thí. Tinh tiến căn tức là ưa thí không
thôi nghỉ. Niệm căn là sau khi thí chẳng cầu quả báo. Định
căn là bình đẳng thí không có phân biệt. Hụê căn là chẳng
quán sát phước điền và chẳng phước điền.
Còn nữa,
tín căn là tâm sơ nhập thiện pháp. Tinh tiến căn là hay phá
kiêu mạn. Niệm căn là rời ngã ngã sở. Định căn là xa
lìa tất cả sáu mươi hai kiến. Huệ căn là xa lìa tất cả
ác phiền não.
Đây gọi
là Bồ Tát tịnh Ngũ căn hành.
Thế nào
là Bồ Tát tịnh Ngũ lực hành?
Nầy Bửu
kế! Đại Bồ Tát có đủ Ngũ căn ấy không bị các chúng
ma phá hoại thì gọi là Ngũ lực.
Tất cả
Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa không bằng được, tất cả
chúng sanh chẳng thể khiến thối thất Đại thừa tâm được,
tất cả phiền não chẳng thể phá hoại được, hay khiến
có tâm thiểu dục tri túc thân được đại lực, khéo che
các căn được thân kim cương, đây gọi là lực.
Nầy Bửu
Kế! đại Bồ Tát lúc trụ tín lực trọn chẳng tạo tác
tất cả các ác. Lúc trụ tinh tiến lực hay tạo tất cả
thiện pháp. Lúc trụ niệm lực chẳng mất thiện pháp. Lúc
trụ định lực chẳng bị ngũ dục làm hư. Lúc trụ huệ
lực xa lìa tất cả kiết phiền não.
Còn nữa,
đại Bồ Tát lúc trụ tín lực chẳng theo lời người. Lúc
trụ tinh tiến lực cầu thiện pháp chẳng dứt. Trụ niệm
lực được đà la ni. Trụ định lực thuyết pháp bình đẳng.
Lúc trụ huệ lực hay phá tâm nghi tất cả chúng sanh.
Còn nữa,
đại Bồ Tát lúc trụ tín lực thấy tội lỗi xan tham. Lúc
trụ tinh tiến lực xa lìa xan tham. Lúc trụ niệm lực đem
thiện pháp đã tu hồi hướng Bồ đề. Lúc trụ định lực
tâm bình đẳng. Lúc trụ huệ lực trọn chẳng cầu quả báo
do bố thí, trì giới, thiền định.
Còn nữa,
đại Bồ Tát lúc trụ tín lực hay lìa tất cả trược cấu
phá giới. Lúc trụ tinh tiến lực chí tâm đủ tịnh giới.
Lúc trụ niệm lực đem trì tịnh giới ấy phát nguyện hồi
hướng Bồ đề. Lúc trụ định lực đủ thanh tịnh địa.
Lúc trụ huệ lực xa lìa tác giới.
Còn nữa,
đại Bồ Tát lúc trụ tín lực xa lìa tâm sân hận. Lúc trụ
tinh tiến lực tu tập nhẫn nhục. Lúc trụ niệm lực đem
nhẫn nhục đã tu nguyện hồi hướng Bồ đề. Lúc trụ định
lực thủ hộ các chúng sanh. Lúc trụ huệ lực chẳng quán
chúng sanh sĩ phu thọ mạng.
Còn nữa,
đại Bồ Tát lúc trụ tín lực xa lìa giải đãi. Lúc trụ
tinh tiến lực các thiện pháp đã tu đều đến bờ cứu cánh.
Lúc trụ niệm lực đem tinh tiến đã tu nguyện hướng Bồ
đề. Lúc trụ định lực thân tâm tịch tĩnh. Lúc trụ huệ
lực chẳng làm thiện ác.
Còn nữa,
đại Bồ Tát lúc trụ tín lực xa lìa tất cả sự vội gấp.
Lúc trụ tinh tiến lực siêng cầu thiền chi. Lúc trụ niệm
lực đem định đã tu nguyện hướng Bồ đề. Lúc trụ định
lực tâm thường định. Lúc trụ huệ lực chẳng trước các
định.
Còn nữa,
đại Bồ Tát lúc trụ tín lực xa lìa vô minh. Lúc trụ tinh
tiến lực siêng cầu các thiện pháp. Lúc trụ niệm lực đem
trí đã tu nguyện hướng Bồ đề. Lúc trụ định lực tu
thiện tư duy. Lúc trụ huệ lực như pháp mà trụ.
Còn nữa,
đại Bồ Tát lúc trụ tín lực có đủ bảy lực. Lúc trụ
tinh tiến lực được trụ thất giác chi. Lúc trụ niệm lực
được bát niệm xứ. Lúc trụ định lực được thất thức
xứ. Lúc trụ huệ lực lìa bát tà chi.
Còn nữa,
đại Bồ Tát tâm ở nơi Bồ đề không có thối chuyển gọi
là tín lực tịnh tín lực hành. Chẳng thủ chẳng xả gọi
là tinh tiến lực tịnh tinh tiến lực hành. Tu tứ niệm xứ
gọi là niệm lực tịnh niệm lực hành. Điều phục tâm gọi
là định lực tịnh định lực hành. Xa lìa các kiến biết
thiện phương tiện gọi là hụê lực tịnh huệ lực hành.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào là Bồ Tát tịnh thất giác chi hành?
Đại Bồ
Tát nếu trọn chẳng mất pháp trợ Bồ đề đây gọi là
niệm giác phần. Chẳng thủ chẳng xả Xa ma tha đây gọi là
trạch pháp giác phần. Lìa tất cả ác đây gọi là tinh tiến
giác phần. Lìa các sầu não đây gọi là hỉ giác phần. Thân
tâm tịch tĩnh đây gọi là trừ giác phần. Được vị giải
thoát đây gọi là định giác phần. Sở tác đã xong đây
gọi là xả giác phần.
Còn nữa,
chẳng bỏ Bồ đề tâm đây gọi là niệm giác phần. Chí
tâm hộ pháp đây gọi là trạch giác phần. Điều các chúng
sanh chẳng thôi nghỉ gọi là tinh tiến giác phần. Đầy đủ
thiện pháp gọi là hỉ giác phần. Lìa các phiền não gọi
là trừ giác phần. Hay khiến các chúng sanh trụ trong tam muội
gọi là định giác phần. Khiến các chúng sanh đều biết
pháp tướng gọi là xả giác phần.
Còn nữa,
đại Bồ Tát chẳng niệm Thanh Văn thừa, Bích Chi Phật thừa
gọi là niệm giác phần. Phân biệt tất cả pháp tự cú nghĩa
gọi là trạch giác phần. Lúc cầu thiện pháp ba nghiệp không
thôi nghỉ gọi là tinh tiến giác phần. Lìa tâm oán thân gọi
là hỉ giác phần. Như pháp mà trụ gọi là trừ giác phần.
Tuỳ các thế gian mà hay điều phục gọi là định giác phần.
Chẳng quán hai pháp gọi là xả giác phần.
Nầy Bửu
Kế! Trợ Bồ đề ấy giác tất cả pháp, biết tất cả pháp,
phân biệt các pháp, tính lường các pháp, biết các chúng
sanh tâm tánh tâm hành, đây gọi là Bồ đề phần cũng gọi
là thánh hành.
Thánh hành
như vậy chẳng phải sở hành của tất cả phàm phu chúng
ma tà kiến, chẳng phải sở hành sắc, thanh, hương, vị, xúc,
chẳng phải tất cả pháp hành tất cả tướng, tất cả thọ,
các tâm ý thức kiến văn giác tri, hữu tưởng, vô tưởng,
nên gọi là thánh hành.
Thánh hành
ấy chẳng phải giác chẳng phải chẳng giác, cũng chẳng phải
đại giác, mà có thể đối trị tất cả pháp, nhưng lại
chẳng tranh tụng với các pháp, đây gọi là thánh hành. Thánh
hành ấy tức là tá trợ Bồ đề.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào là Bồ Tát tịnh bát đạo hành?
Bát đạo
là chánh kiến. Thế nào là chánh kiến?
Chánh kiến
là thấy tất cả pháp thảy đều bình đẳng. Chánh kiến
như vậy chẳng gọi là không kiến, tại sao, vì tự có chánh
kiến chẳng phải là không kiến. Hai kiến như vậy cũng gọi
là đồng kiến. Còn có ngã kiến, chúng sanh kiến, không kiến,
chẳng gọi là chánh kiến. Ba kiến như vậy cũng lại đồng
kiến. Lại có chúng sanh kiến, thọ mạng kiến, không kiến,
chẳng gọi là chánh kiến. Ba kiến như vậy cũng lại đồng
kiến. Còn có ngã kiến, đoạn kiến, không kiến, chẳng gọi
là chánh kiến. Ba kiến như vậy cũng lại đồng kiến. Còn
có hữu kiến, vô kiến, không kiến, chẳng gọi là chánh kiến.
Ba kiến như vậy cũng lại đồng kiến.
Còn có bốn
kiến: Phật kiến, Pháp kiến, Tăng kiến và không kiến, đây
gọi là chánh kiến. Bốn kiến như vậy chẳng gọi là không
kiến.
Nầy Bửu
Kế! Nếu có người trước các kiến như vậy thì chẳng gọi
là chánh kiến. Tại sao vậy?
Luận về
chánh kiến ấy là vô phân biệt, là bình đẳng không có hai.
Sao gọi là bình đẳng kiến?
Nếu suy
nghĩ rằng: Phàm phu pháp là hạ, học pháp là thượng, như
vậy gọi là chẳng phải bình đẳng kiến.
Nếu suy
nghĩ rằng: Phàm phu pháp là lậu, học pháp là vô lậu; phàm
phu pháp có thực, Duyên Giác pháp không thực; phàm phu pháp
cấu uế, Bồ Tát pháp thanh tịnh; phàm phu hữu vi, Phật vô
vi, các kiến như vậy chẳng phải bình đẳng kiến.
Nếu có
thể quán sát phàm phu pháp đến Phật pháp không có sai biệt
mới gọi là bình đẳng kiến.
Nếu có
thể quán phàm phu pháp không đến Phật pháp không, đây gọi
là chánh kiến.
Nếu quán
phàm phu pháp từ nhơn duyên sanh, Duyên Giác pháp cũng theo nhơn
duyên sanh, đây mới gọi là chánh kiến.
Nếu quán
phàm phu pháp tịch tĩnh, Bồ Tát pháp tịch tĩnh, đây gọi
là chánh kiến.
Nếu quán
phàm phu pháp chẳng cụ túc, nhẫn đến Phật pháp cũng chẳng
cụ túc, đây gọi là chánh kiến.
Nếu quán
ngã cùng vô ngã không có sai biệt, vô sai biệt kiến mới
gọi là chánh kiến.
Nếu là
kiến như vậy thì chẳng thấy pháp thượng trung hạ, nơi
tất cả pháp cũng không có giác quán, đây gọi là chánh kiến.
Chánh kiến
ấy gọi là vô sở kiến. Vô sở kiến ấy tức là chánh kiến.
Nếu là
kiến như vậy, người ấy nhẫn đến chẳng thấy một pháp,
một pháp tướng mạo, một pháp quang minh.
Nầy Bửu
Kế! Kiến như vậy gọi là chánh kiến của Phật pháp vậy”.
Lúc nói
pháp ấy, có năm trăm Tỳ Kheo được quả A La Hán.
Đức Phật
phán tiếp: “Nầy Bửu Kế! Thế nào là chánh giác?
Chánh giác
ấy lìa tất cả giác. Giác ấy gọi là trí huệ phương tiện
quán pháp biết pháp, đây gọi là chánh kiến.
Quán sát
các pháp: gì là cấu gì là tịnh, quán như vậy rồi đều
chẳng giác tri bình đẳng cùng bất bình đẳng, rời lìa tất
cả giác, đây gọi là chánh giác.
Thế nào
là chánh ngữ?
Khẩu phát
ra lời chẳng tự đốt não cũng chẳng não người, chẳng
tự ô nhục cũng chẳng nhục người, chẳng tự sanh mạn chẳng
sanh kiêu mạn cho người, chẳng tự dối phỉnh chẳng dối
phỉnh người, đây gọi là chánh ngữ.
Còn nữa,
chánh ngữ là phàm có nói thì nói tất cả pháp thảy đều
bình đẳng, khéo có thể phân biệt tướng hữu vi, đây gọi
là chánh ngữ.
Còn nữa,
nói tất cả pháp không, vô tướng, vô nguyện, vô sanh, vô
diệt, vô xuất, vô một, đây gọi là chánh ngữ.
Còn nữa,
nói hữu vi là khổ vô thường vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh,
đây gọi là chánh ngữ.
Còn nữa,
nếu nói tất cả chúng sanh đều không có thọ mạng sĩ phu,
tất cả các pháp theo nhơn duyên sanh theo nhơn duyên diệt,
dường như hột trái, đây gọi là chánh ngữ.
Tịnh chánh
ngữ ấy tức là Phật ngữ. Đây gọi là tịnh chánh ngữ
hành.
Thế nào
là chánh nghiệp?
Nếu nghiệp
dầu có thể hoại tất cả nghiệp cũng chẳng gọi là chánh
nghiệp.
Nếu nghiệp
có thể làm nhơn tịch tĩnh bất tăng bất giảm, có thể hoại
phiền não chẳng cho tăng trưởng, đây gọi là chánh nghiệp.
Dầu biết
nghiệp như vậy mà vẫn làm thiện nghiệp, cũng quán các nghiệp
thảy đều không tịch không có chắc thiệt là khổ không
lạc, đây gọi là chánh nghiệp.
Thế nào
là chánh mạng?
Nếu mạng
chẳng phòng ngại tự thân tha thân, chẳng tăng tất cả các
ác phiền não, chẳng phải ác nghiệp để sống, đây gọi
là chánh mạng.
Đại Bồ
Tát nơi các chúng sanh tịnh nơi chánh mạng, đem chánh mạng
ấy nguyện hướng Bồ đề, đây gọi là chánh mạng.
Chánh mạng
như vậy hay tự lợi lợi tha.
Thế nào
là chánh tinh tiến?
Siêng làm
phương tiện cầu các thiện pháp, dục tâm chẳng dứt không
có nhàm hối, đây gọi là chánh tinh tiến.
Suy cầu
tánh bình đẳng của các pháp, cũng chẳng quán các pháp bình
đẳng cùng bất bình đẳng, chẳng làm chẳng phải chẳng
làm, biết rõ nơi như, pháp tánh và thiệt tánh, đây gọi
là chánh tinh tiến.
Tuyên nói
các pháp khiến các chúng sanh lìa tà tinh tiến, cũng biết
hạnh được tu hành của chúng sanh, đây gọi là chánh tinh
tiến.
Thế nào
là chánh niệm?
Nếu niệm
thí giới nhẫn tinh tiến thiền định trí huệ tứ vô lượng
tâm, đây gọi là chánh niệm.
Còn có chánh
niệm nhiếp thủ phiền não chẳng cho vọng khởi, chẳng gần
tất cả ác ma nghiệp, chẳng đoạ ác đạo chẳng khởi ác
tâm, thường tu tất cả pháp chánh thiện, xa lìa tất cả
pháp tà ác, đây gọi là chánh niệm.
Bồ Tát
trụ trong chánh niệm ấy được chánh tụ Sa Môn chánh quả.
Đây gọi là chánh niệm.
Thế nào
là chánh định?
Tu hành thánh
hạnh, biết khổ lìa tập chứng diệt hành đạo, đây gọi
là chánh định.
Còn có chánh
định quán tất cả pháp thảy đều bình đẳng, nếu quán
ngã tịnh thì tất cả cũng tịnh, nếu quán ngã không thì
tất cả cũng không, dầu quán như vậy mà chẳng nhập chánh
vị, đây gọi là Bồ Tát chánh định vậy.
Đại Bồ
Tát trụ trong định ấy, khoảng một niệm được Nhứt thiết
trí, đây gọi là chánh định”.
Lúc nói
pháp ấy, có một vạn hai ngàn Thiên và Nhơn phát tâm Vô thượng
Bồ đề.
“Nầy Bửu
Kế! Thế nào là Bồ Tát tịnh thần thông hạnh?
Thiên nhãn
năm thứ đều hay nhìn thấy thập phương thế giới, thấy
thập phương thế giới chư Phật, thấy các chúng sanh xuất
sanh thối một, thấy tất cả mười phương không có chướng
ngại hơn cả Thanh Văn, Duyên Giác và hàng Thiên Nhơn. Bồ
Tát có đủ năm sự như vậy thì có thể tỏ rõ thấy tất
cả pháp. Đây gọi là Bồ Tát tịnh thiên nhãn hành.
Đại Bồ
Tát được thiên nhĩ thông nghe năm thứ tiếng: Tiếng loài
người, tiếng hàng phi nhơn, tiếng địa ngục, tiếng thuyết
pháp của thập phương chư Phật, tiếng ngữ ngôn của tất
cả chúng sanh. Đây gọi là Bồ Tát tịnh thiên nhĩ hành.
Thế nào
là Bồ Tát tịnh tha tâm trí hành?
Tri tha tâm
trí cũng có năm thứ: đều biết tất cả tâm của tất cả
Nhơn Thiên, biết rõ tâm của tất cả chúng sanh, địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh, biết tâm quá khứ, biết tâm vị lai, biết
tâm hiện tại. Đây gọi là Bồ Tát tịnh tha tâm trí hành.
Còn có tha
tâm trí biết chúng sanh ấy là chánh định tụ, là tà định
tụ, là bất định tụ, biết chúng sanh ấy có tham, có sân
hay có si, đã biết rõ rồi tuỳ chỗ nên đáng mà thuyết
pháp, chúng sanh nghe pháp rồi được hoại phiền não. Đây
gọi là Bồ Tát tịnh tha tâm trí hành.
Thế nào
là Bồ Tát tịnh túc mạng trí hành?
Bồ Tát
biết rõ thân ấy từ tham sân si nhơn duyên mà sanh, biết rõ
thân ấy từ thí giới nhẫn tiến định huệ từ bi hỉ xả
nhơn duyên mà sanh, biết rõ thân ấy cụ túc chẳng cụ túc,
biết rõ thân ấy từ vô minh ái và bốn điên đảo sanh, biết
rõ thân ấy do thí nhơn duyên nên có đủ tài vật và các
quyến thuộc. Các trí như vậy gọi là Bồ Tát tịnh túc mạng
trí hành.
Thế nào
là Bồ Tát tịnh thần túc hành?
Thần túc
hành ấy cũng có năm thứ:
Một là
hiển thị hình sắc. Hai là hiểu các thứ ngôn ngữ của chúng
sanh mà vì họ thuyết pháp. Ba là khéo biết rõ tâm ý thức
v.v… Bốn là hay biết rõ tất cả pháp. Năm là hay diễn nói
tất cả pháp. Đây gọi là Bồ Tát tịnh thần túc hành.
Nầy Bửu
Kế! Ngũ thần thông như vậy để vì lậu tận, Bồ Tát tu
tập ngũ thông mà chẳng tận lậu vì muốn biết rõ tất cả
pháp. Tại sao, vì để điều phục chúng sanh vậy.
Nầy Bửu
Kế! Ví như một thành ngang rộng một do tuần có nhiều cửa
ngõ đường hiểm trở tối đen nên rất kinh sợ, người nào
vào thành được thì hưởng nhiều an lạc. Có một người
có một con trai rất quý trọng mến yêu. Người ấy nghe thành
kia nhiều an lạc như vậy liên bỏ con trai lại để đi đến
thành. Người ấy phương tiện qua được đường hiểm ác
đến cửa thành, một chưn vào thành chưa cất chưn kia liền
nhớ con trai mình tự nghĩ rằng: Ta chỉ có một đứa con,
lúc đến thành sao chẳng cùng chung vào. Ai có thể nuôi giữ
nó cho nó khỏi khổ. Nghĩ vậy rồi người ấy bỏ thành trở
lại chỗ đứa con để dắt nó đi.
Cũng như
vậy, đại Bồ Tát thương xót chúng sanh như con một, tu tập
ngũ thần thông. Đã tu tập rồi sắp được tận lậu mà
chẳng thủ chứng. Tại sao, vì thương chúng sanh nên bỏ lậu
tận thông nhẫn đến đi trong phàm phu địa.
Nầy Bửu
Kế! Thành kia là dụ Đại bát Niết bàn. Có nhiều cửa là
dụ tám vạn các môn tam muội. Đường hiểm ác là dụ các
ma nghiệp. Đến cửa thành là dụ năm thần thông. Một chưn
bước vào là dụ trí huệ. Một chưn chưa bước vào là dụ
Bồ Tát chưa chứng giải thoát. Nói một con trai là dụ tất
cả chúng sanh ngũ đạo. Nhớ lại con trai là dụ tâm đại
bi. Trở lại chỗ con trai là du điều chúng sanh. Có thể được
giải thoát mà chẳng chứng tức là phương tiện vậy.
Nầy Bửu
Kế! Đại Bồ Tát đại từ đại bi bất khả tư nghị”.
Bửu Kế
Bồ Tát nói: “Bạch đức Thế Tôn! Như lời Phật nói đại
từ đại bi bất khả tư nghị. Như thánh giáo thì chẳng những
từ bi bất khả tư nghị, mà phương tiện và lực cũng bất
khả tư nghị. Đại Bồ Tát tỏ rõ tự biết sẽ được Vô
thượng Bồ đề mà chẳng chứng đó. Vì chúng sanh nên đại
Bồ Tát hành nơi sanh tử chẳng bị sanh tử nhiễm ô.
Bạch đức
Thế Tôn! Đại Bồ Tát có đủ pháp gì mà ở trong sanh tử
tâm chẳng nhàm hối?”.
Đức Phật
nói: “Nầy Bửu Kế! Đại Bồ Tát có hai mười mốt pháp
ở trong sanh tử tâm chẳng hối.
Một là
thiện pháp được tu cùng chung với từ hành. Hai là tâm từ
được tu cùng chung với đại bi hành. Ba là đại bi được
tu cùng chung với điều chúng sanh hành. Bốn là điều phục
chúng sanh cùng chung với tinh tiến hành. Năm là tinh tiến được
tu cùng chung với thiện tâm chung hành. Sáu là thiện tâm được
tu cùng chung với phương tiện chung hành. Bảy là phương tiện
được tu cùng với hụê chung hành. Tám là huệ được tu
tập cùng với thiền định chung hành. Chín là thiền định
được tu tập cùng với thần thông chung hành. Mười là thần
thông được tu cùng với trí chung hành. Mười một là trí
được tu tập cùng với dục chung hành. Mười hai là dục
được tu cùng với niệm chung hành. Mười ba là niệm được
tu tập cùng với Bồ đề tâm chung hành. Mười bốn là tâm
Bồ đề được tu tập cùng với tứ nhiếp pháp chung hành.
Mười lăm là tứ nhiếp được tu tập cùng với cấm giới
chung hành. Mười sáu là cấm giới được tu tập cùng với
đa văn chung hành. Mười bảy là đa văn được tu tập cùng
với như pháp trụ chung hành. Mười tám là như pháp trụ được
tu cùng với đà la ni chung hành. Mười chín là đà la ni được
tu tập cùng với vô ngại trí chung hành. Hai mươi là vô ngại
trí được tu cùng vơi trang nghiêm công đức chung hành. Hai
mười mốt là công đức được tu tập cùng với trí huệ
trang nghiêm chung hành.
Đây gọi
là Bồ Tát hai mười mốt pháp ở tại sanh tử tâm chẳng
nhàm hối”.
Bửu Kế
Bồ Tát nói: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là Bồ Tát trang
nghiêm tự thân cũng khiến chúng sanh được đại lợi ích?”.
Đức Phật
nói: “Nầy Bửu Kế! Đại Bồ Tát nếu có đủ đa văn thì
gọi là tự trang nghiêm, vì chúng sanh diễn nói thì gọi là
đại lợi ích.
Còn nữa,
đại Bồ Tát được đại tổng trì gọi là tự trang nghiêm,
vì chúng sanh diễn nói gọi là đại lợi ích.
Còn nữa,
đại Bồ Tát không có phóng dật gọi là tự trang nghiêm,
điều phục chúng sanh gọi là đại lợi ích.
Còn nữa,
đại Bồ Tát có ba mươi hai tướng là tự trang nghiêm, có
đại trí huệ gọi là đại lợi ích.
Còn nữa,
đại Bồ Tát nhu nhuyến ngữ là tự trang nghiêm, nói rồi
như lời nói mà làm gọi là đại lợi ích.
Còn nữa,
đại Bồ Tát hay tất cả bố thí là tự trang nghiêm, chẳng
cầu quả báo gọi là đại lợi ích.
Đây gọi
là đại Bồ Tát trang nghiêm tự thân cũng làm cho chúng sanh
được đại lợi ích.
Nầy Bửu
Kế! Thưở quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp, kiếp ấy
tên là Lạc Hỷ, trong kiếp ấy có Phật hiệu Nhứt Thiết
Chúng Sanh Lạc Niệm Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn. Thế giới
của Phật Nhứt Thiết Chúng Sanh Lạc Niệm ấy tên là Thiên
Quán.
Nầy Bửu
Kế! Tại sao kiếp ấy tên là Lạc Hỷ?
Trong đại
kiếp ấy có sáu vạn chư Phật xuất thế. Lúc kiếp sơ ấy,
Trời Thủ Đà Bà Thiên xướng rằng: Kiếp này sẽ có sáu
vạn đức Phật Như Lai xuất thế.
Chúng sanh
nghe rồi thảy đều lạc hỷ, nên kiếp ấy có tên là Lạc
Hỷ.
Nầy Bửu
Kế! Thế giới Thiên Quán ấy trang nghiêm vi diệu không có
hạn lượng, khoái lạc diệu hảo như cung trời không khác,
vì vậy mà thế giới ấy tên là Thiên Quán.
Cõi ấy
tất cả đều là chiên đàn làm đất không có đất cát bụi
bặm. Hơi thơm cõi ấy xông khăp vô lượng thế giới chư
Phật. Khắp mọi nơi trong cõi ấy sản xuất liên hoa, mỗi
hoa có đại quang minh chiếu khắp cõi ấy. Chúng sanh cõi ấy
đều có thần thông chưn không đạp đất, không có thai sanh,
tất cả đều hoá sanh, không có sanh tử nữ nhơn, cũng không
có danh từ ba ác đạo. Tất cả chúng sanh đều dùng thiền
hỷ làm thực. Cõi ấy không có danh từ Nhị thừa. Tất cả
chúng sanh cõi ấy đều dùng chơn kim anh lạc thiên quan châu
báu trang nghiêm thân mình. Dầu không cạo râu tóc mặc y ca
sa mà cũng được gọi là người xuất gia. Tại sao, Vì đối
với tất cả vật, chúng sanh cõi ấy xả bỏ mà chẳng tham
vậy.
Phật Như
Lai cõi ấy, hình sắc như Phạm Thiên. Phật ấy hiện thân
Phạm Thiên vì chư Bồ Tát nói pháp yếu.
Nếu các
thế giới khác chư Bồ Tát thấy Phật ấy rồi liền thọ
đại hoan hỷ.
Nầy Bửu
Kế! Đức Phật ấy lúc muốn tuyên nói chánh pháp giáo hoá
thì thăng đại pháp toà ở phía trên đại chúng cao bằng
bảy cây đa la, thường lược thuyết pháp.
Tại sao
lược nói? Vì tất cả chúng sanh cõi ấy căn tánh mãnh lợi
vậy. Phật ấy nói pháp chỉ một câu mà các chúng sanh hiểu
trăm ngàn câu.
Đức Phật
ấy thường nói bốn tịnh pháp. Đó là Ba la mật tịnh, trợ
Bồ đề tịnh, thần thông tịnh và điều chúng sanh tịnh.
Lúc ấy
có Bồ Tát tên là Bửu Tụ bạch rằng: “Bạch đức Thế
Tôn! Thế nào là Bồ Tát trang nghiêm tự thân cũng làm cho
chúng sanh được đại lợi ích?”.
Đức Nhứt
Thiết Chúng Sanh Lạc Niệm Như Lai ấy dạy rằng: “Nầy Bửu
Tụ! Nếu Bồ Tát có đủ vô ngại trí thì gọi là trang nghiêm,
hay làm trí minh thì gọi là đại lợi ích.
Lúc Phật
ấy nói như vậy rồi có sáu ngàn Bồ Tát được Vô sanh nhẫn”..
Bửu Tụ
Bồ Tát lại bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào
là Bồ Tát trang nghiêm Bồ đề thọ?”.
Đức Phật
ấy nói: “Nầy Bửu Tụ! Nếu Bồ Tát có thể tu bất phóng
dật, đây gọi là trang nghiêm Bồ đề thọ.
Bất phóng
dật ấy là như pháp trụ. Như pháp trụ là như thuyết
mà trụ.
Còn nữa,
bất phóng dật ấy gọi là vô lượng trang nghiêm, vô lượng
bố thí, vô lượng trì giới, vô lượng nhẫn nhục, vô lượng
tinh tiến, vô lượng thiền định, vô lượng trí huệ, vô
lượng Phật pháp, vô lượng điều phục, vô lượng công
đức trí huệ trang nghiêm, cúng dường vô lượng chư Phật
Thế Tôn vì đủ trí huệ vậy, vô lượng đa văn vì tăng
trí huệ vậy, vô lượng xa ma tha tỳ bà xá na. Thành tựu
các pháp như vậy gọi là trang nghiêm Bồ đề thọ, cũng hay
mau được Vô thượng Bồ đề.
Nầy Bửu
Tụ! Tất cả pháp tá trợ Bồ đề do bất phóng dật mà làm
căn bổn, đủ đại trang nghiêm tất cả trí huệ, chẳng mất
tất cả thiện pháp, xa lìa tất cả phiền não, nhiếp thủ
tất cả các pháp, nơi tất cả pháp không có chướng ngại,
điều phục các căn, thủ hộ các thiện pháp không cho thối
thất, biết thời phi thời, đầy đủ thập lực tứ vô uý
Phật bất cộng pháp đảnh pháp. Đây gọi là bất phóng dật”.
Lúc Phật
ấy nói pháp rồi, có vạn hai ngàn Bồ Tát được Vô sanh
nhẫn.
Bửu Tụ
Bồ Tát thưở xa xưa ấy, nay chính là thân ông, Bồ Tát Bửu
Kế vậy.
Nầy Bửu
Kế! Nay ông nên biết đủ bất phóng dật đại Bồ Tát liền
có thể trang nghiêm Bồ đề thọ.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào là Bồ Tát tịnh điều phục?
Chúng sanh
hành vô lượng vô biên bất khả tư nghị, điều phục cũng
vô lượng vô biên bất khả tư nghị, Bồ Tát hành cũng vô
lượng vô biên bất khả tư nghị. Đại Bồ Tát nhứt tâm
chí tâm điều phục chúng sanh.
Nầy Bửu
Kế! Có các chúng sanh nghe nói huệ thí thì có thể điều
phục. Hoặc có chúng sanh nghe nói trì giới mà được điều
phục. Hoặc có chúng sanh nghe nói thí và giới mà được điều
phục. Hoặc có chúng sanh do nhuyến ngữ mà được điều phục.
Hoặc có chúng sanh do sân ngữ mà được điều phục. Hoặc
có chúng sanh đủ hai thứ ngữ mà được điều phục. Hoặc
có chúng sanh nghe nói thân nghiệp mà được điều phục. Hoặc
có chúng sanh nghe nói xả thân mà được điều phục. Hoặc
có chúng sanh dùng thắng mà điều phục. Hoặc có chúng sanh
dùng cương điều phục. Hoặc có chúng sanh nghe lời quở trách
được điều phục. Hoặc có chúng sanh lúc bố thí điều
phục. Hoặc có chúng sanh lúc bị cướp điều phục. Hoặc
có chúng sanh thấy diệu sắc được điều phục. Thanh, hương,
vị, xúc cũng như vậy. Hoặc có chúng sanh thường gần gũi
điều phục. Hoặc có chúng sanh ở xa thì được điều phục.
Hoặc có chúng sanh thấy Phật được điều phục. Hoặc có
chúng sanh nghe pháp được điều phục. Hoặc có chúng sanh
nghe pháp vô thường mà được điều phục. Khổ, không, vô
ngã cũng như vậy. Hoặc có chúng sanh nghe tiếng bố thí được
điều phục. Tiếng giới, tiếng nhẫn, tiếng cần, tiếng
định, tiếng huệ cũng như vậy. Hoặc có chúng sanh nghe nói
tất cả hữu vi vô thường mà được điều phục. Hoặc có
chúng sanh nghe tán thán Nhơn Thiên mà được điều phục. Hoặc
có chúng sanh nghe Thanh Văn thừa mà được điều phục. Hoặc
có chúng sanh nghe Bích Chi Phật thừa mà được điều phục.
Hoặc có chúng sanh nghe Phật thừa mà được điều phục.
Hoặc dùng Tứ nhiếp mà được điều phục. Hoặc dùng tam,
nhị hoặc dùng một nhiếp mà được điều phục. Hoặc chẳng
dùng Tứ nhiếp mà được điều phục. Hoặc do nội thí, hoặc
do ngoại thí, hoặc do nội ngoại thí mà được điều phục.
Hoặc có chúng sanh nghe nói sự khổ địa ngục, hoặc khổ
ngạ quỷ, súc sanh hoặc sự khổ loài người, loài trời mà
được điều phục. Hoặc nghe thuần lạc, hoặc nghe thuần
khổ mà được điều phục. Hoặc nghe cả khổ lạc mà được
điều phục. Hoặc thấy hình tượng Tỳ Kheo, hoặc Tỳ Kheo
Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di hình tượng mà được điều phục.
Hoặc do làm các thứ kỹ nhạc mà được điều phục.
Nầy Bửu
Kế! Bồ Tát có thể biết những pháp điều phục chúng sanh
hành như vậy. Đây gọi là Bồ Tát có thể hành lục Ba la
mật, đầy đủ pháp tá trợ Bồ đề, đầy đủ thần thông
điều phục chúng sanh.
Nầy Bửu
Kế! Nếu Bồ Tát có đủ bốn pháp thì hay điều phục chúng
sanh. Đó là tâm chẳng nhàm hối, chẳng tham những sự vui,
biết thời phi thời và biết rõ các tâm.
Còn có bốn
pháp là chánh ngữ, ái ngữ, tịnh ngữ và như pháp ngữ.
Còn có bốn
pháp là với các chúng sanh tâm không chướng ngại, tâm bi,
tâm lợi ích và từ điều các căn.
Còn có bốn
pháp là thanh tịnh tự tâm, thương mến tâm người, siêng
làm tinh tiến và xa lìa thọ lạc.
Vì vậy
nên đại Bồ Tát điều phục hành vô lượng vô biên bất
khả tư nghị.
Nầy Bửu
Kế! Thưở quá khứ vô lượng a tăng kỳ kiếp, có kiếp tên
là Ái, Phật hiệu Quảng Quang Minh Như Lai, Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng
Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn.
Thế giới Phật ấy tên là Tịch Tĩnh.
Đức Phật
ấy có đại chúng Thanh Văn chín vạn sáu ngàn ức người.
Tám vạn bốn ngàn chư Bồ Tát đại chúng.
Nhơn dân
cõi ấy thọ mười bảy vạn hai ngàn tuổi.
Lúc ấy
có một đại Vương Tử tên là Tài Công Đức, dòng Bà La
Môn, diện mạo đoan chánh mọi người thích thấy. Năm mười
sáu tuổi, Vương Tử ấy tự thị đoan chánh nên sanh kiêu
mạn ban sơ chẳng chịu hướng Phật cung kính lễ bái.
Đức Quảng
Quang Minh Như Lai nghĩ rằng: Vương Tử ấy nay sắp thối Vô
thượng Bồ đề, thiện căn chẳng thành thục. Nếu có được
thiện hữu thì Vương Tử ấy đến chỗ Phật nghe pháp thọ
trì.
Đức Như
Lai ấy liền ở trong đại chúng tám vạn bốn ngàn Bồ Tát
hành trù mà bảo rằng:
Trong đại
chúng Bồ Tát có ai hay điều phục con trai Bà La Môn ấy, ai
có thể trong tám vạn bốn ngàn năm thường qua lài nhà Vương
Tử ấy, hoặc bị các sự khổ như mắng đánh mà chẳng hối.
Trong số tám vạn bốn ngàn Bồ Tát ấy không có một người
nào lấy thẻ. Đức Phật ấy xướng lần thứ hai, xướng
lần thứ ba cũng như vậy.
Khi lời
Phật xướng gọi lần thứ ba xong, có một Bồ Tát hiệu là
Tịnh Tinh Tiến từ chỗ ngồi dậy trịch y vai hữu chấm đất
chắp tay bạch rằng:
“Bạch
đức Thế Tôn! Nay tôi có thể đến nhà Vương Tử ấy cam
tâm chịu khổ”.
Lúc nói
lời ấy, cả tam thiên Đại Thiên thế giới đại chấn động.
Tất cả nhơn thiên đồng thanh xướng rằng:
“Lành thay
lành thay, thưa Đại Sĩ!”.
Lúc ấy
Bồ Tát Tịnh Tinh Tiến liền qua đứng nơi cổng nhà Vương
Tử Tài Công Đức.
Vương Tử
thấy, dùng lời ác mắng nhiếc, dùng đất ném lấm mặt,
dùng dao gậy ngói đá chém đập thân thể, mà Bồ Tát không
giận cũng không bỏ đi tâm chẳng mỏi nhàm. Trải qua một
ngàn năm bị khổ như vậy. Quá hai vạn năm mới được đến
cổng thứ hai, quá tám vạn bốn ngàn năm còn thiếu bảy ngày
mới đến đứng được dưới cổng thứ bảy.
Lúc bấy
giờ Vương Tử Tài Công Đức thấy Bồ Tát mới hỏi rằng:
“Nầy Đạo
Sĩ! Nay ông đến đây cầu sự gì?”.
Nói xong,
Vương Tử đối với Bồ Tát liền sanh tâm bất tư nghị:
Tại sao người nầy trải qua bao thời gian chịu nhiều sự
khổ mà lòng không mỏi nhàm.
Vương Tử
lần thứ hai thứ ba cũng hỏi rằng:
“Nầy Đạo
Sĩ! Nay ông đến đây cầu sự gì?”.
Tịnh Tinh
Tiến Bồ Tát biết Vương Tử tâm đã điều phục liền nói
kệ rằng:
Tất cả
tài vật của thế gian
Vàng bạc
lưu ly và pha lê
Và bốn
cúng dường ta chẳng cần
Chỉ vì
pháp mà ta đến đây
Đời này
có Phật Quảng Quang Minh
Vì chúng
sanh nói pháp vô thượng
Chúng sanh
nghe rồi lìa phiền não
Cũng thọ
vô lượng cam lộ vị
Chư Phật
xuất hiện nơi thế gian
Còn khó
hơn hoa linh thoại kia
Nay thế
gian xuất hiện Như Lai
Ngài còn
phóng dật chìm biển dục
Các chúng
sanh thường đi trong tối
Đấng Vô
thượng Giác ban đuốc huệ
Tự thị
tài sắc sanh kiêu mạn
Mà chẳng
chịu đến chỗ Thế Tôn
Tất cả
tài bửu và mạng sống
Phật nói
hai thứ đều vô thường
Chúng sanh
nếu nghe cam lộ nầy
Chẳng đến
chỗ Phật là phóng dật
Thưở xa
xưa Ngài hành Bồ đề
Mời chúng
sanh hứa ban pháp vị
Nay Ngài
còn thuộc các phiền não
Điều phục
sao được các phóng dật
Nay ta cầu
Ngài đồng đến Phật
Phá hoại
kiêu mạn lìa phiền não
Siêng tu
tinh tiến xả quốc sự
Khiến Ngài
lúc chết lòng chẳng hối.
Vương Tử
nghe lời kệ rồi xa lìa lòng kiêu mạn, liền sanh tín tâm
tán thán Tịnh Tinh Tiến Bồ Tát và sám hối sự làm khổ
hại cho Bồ Tát từ trước rồi thưa rằng:
“Thưa Đại
Sĩ! Nay tôi bỏ lìa quốc sự và ngũ dục lạc thượng diệu,
phá hoại kiêu mạn đến chỗ đức Phật để nghe pháp cam
lộ điều phục chúng sanh”.
Vương Tử
Tài Công Đức cùng tám vạn bốn ngàn quyến thuộc mang hương
hoa vi diệu theo Bồ Tát Tịnh Tinh Tiến đến chỗ Phật.
Đến rồi
dâng hương hoa cúng dường phá kiêu mạn chí tâm nghe pháp.
Vương Tử
lòng hoan hỷ kính lễ chưn phật quỳ dài chắp tay hướng
lên Phật bạch rằng:
“Bạch
đức Thế Tôn! Nay tôi quy y Tịnh Tinh Tiến Bồ Tát là người
chịu khổ nhục hàng vạn năm lòng chẳng sân hận chẳng nhàm
hối để điều phục tôi. Dầu tôi có cúng dường bao nhiêu
cũng không báo đáp được ơn nặng ấy. Nay tôi ở trước
Phật chí tâm sám hối.
Tôi trước
tu hành Bồ đề đạo, dùng tâm từ bi điều phục chúng sanh,
tôi chẳng còn sanh lòng phóng dật nữa nhẫn đến được
đạo Bồ đề”.
Vương Tử
Tài Công Đức liền bỏ vương vị, ở trong Phật pháp xuất
gia nghe học chánh pháp như pháp mà trụ được vô sanh nhẫn.
Nầy Bửu
Kế ! Ông có biết thưở ấy Tịnh Tinh Tiến là ai chăng? Nay
chính là thân ta, Thích Ca Mâu Ni Phật. Còn Vương Tử Tài Công
Đức ấy, nay là Di Lặc Bồ Tát vậy.
Nầy Bửu
Kế! Vì vậy nên đại Bồ Tát điều chúng sanh vô lượng
vô biên bất khả tư nghị. Nếu Bồ Tát có thể điều phục
chúng sanh, đây chơn thiệt là nghiệp hành được tu của Bồ
Tát.
Nầy Bửu
Kế ! Bồ Tát có bốn thứ nghiệp:
Một là
Bồ Tát nghiệp tịnh Phật quốc độ. Hai là Bồ Tát tịnh
nghiệp thân. Ba là Bồ Tát nghiệp tịnh khẩu. Bốn là Bồ
Tát nghiệp cầu tất cả Phật pháp.
Còn có bốn
nghiệp. đó là tri tâm, tri căn, tri bịnh và tri trị”.
Bửu Kế
Bồ Tát nghe pháp ấy rồi, liền lấy châu chơn bửu trên búi
tóc mình, châu ấy giá trị vô lượng, nó từ vô lượng Bồ
Tát nghiệp xuất sanh, dâng lên cúng dường Như Lai và phát
thệ nguyện rằng: “Nay tôi đem đảnh châu này cúng Phật,
nguyện công đức cúng đảnh châu nầy làm nhơn đầu cho chúng
sanh, do nhơn duyên nầy được vô thượng trí”.
Đức Thế
Tôn liền mỉm cười, từ miệng Phật phóng ra đại quang minh
nhiều màu sắc làm luốt mất tất cả ánh sáng khác.
Tật Biện
Bồ Tát liền đứng dậy chắp tay bạch Phật: “Bạch đức
Thế Tôn! Nhơn duyên gì mà Thế Tôn mỉm cười?”.
Đức Phật
nói: “Nầy Tật Biện! Ông có thấy Bửu Kế dâng ta đảnh
châu đó chăng?”.
Tật Biện
Bồ Tát nói: “Có thấy, bạch đức Thế Tôn!”.
Đức Phật
nói: “Nầy Tật Biện! Bửu Kế Bồ Tát đã ở chỗ vô lượng
vô biên chư Phật phát tâm Vô thượng Bồ đề, trì giới
tinh tiến cầu Bồ đề đạo, cúng dường vô lượng hằng
hà sa số chư Phật Thế Tôn, cũng đã điều phục vô lượng
hằng hà sa số chúng sanh.
Bửu Kế
Bồ Tát ở đời vị lai quá mười a tăng kỳ kiếp sẽ được
Vô thượng Bồ đề hiệu là Bửu Xuất Như Lai, thế giới
tên là Tịnh Quang, kiếp ấy tên là Vô Cấu. Thế giới của
Phật Bửu Xuất ấy thất bửu làm nên, quang minh chiếu khắp
mười phương thế giới, tất cả nhơn dân không có đói khát,
đều là thanh tịnh Bồ Tát, tai họ không hề nghe danh từ
Nhị thừa, thường nghe pháp thuần nhứt Đại thừa, vì vậy
mà Phật ấy có hiệu là Bửu Xuất. Tất cả Bồ Tát cõi
Tịnh Quang ấy có đủ thần thông. Thế giới ấy không có
vua chúa, chỉ có Phật Pháp Vương. Tất cả chúng sanh đều
hoá sanh, cũng không có danh từ nam nữ và ba ác đạo. Không
có chúng sanh nào mà thân thể chẳng đầy đủ các căn, cũng
không có chúng sanh biên địa, thọ mạng của họ là bốn
vạn trung kiếp. Đức Phật Bửu Xuất ấy không diễn nói
sự gì khác ngoại trừ lục Ba la mật. Chư Bồ Tát cõi Tịnh
Quang ấy có đủ từ bi lợi căn trí huệ, nghe Phật nói một
câu liền tỏ hiểu ngàn câu.
Đức Phật
Bửu Xuất ấy thường vì tất cả Bồ Tát nói đà la ni Kim
cương cú. Sao gọi là đà la ni Kim cương cú?
Đà la ni
Kim cương cú ấy tức là nhứt cú. Một cú như vậy liền
nhiếp hết tất cả pháp cú, vô tận pháp cú. Sao gọi là
vô tận pháp cú? Vì tất cả chư Phật đều chẳng thể tận
được, nên gọi là vô tận pháp cú.
Hành vô
tận pháp cú thì nhiếp tất cả tự. Tất cả tự ấy nhiếp
hết tất cả pháp cú. Nhứt thời chẳng được nói nhị tự
nhứt tự, cũng lại chẳng hiệp nhị tự, vì vậy nên gọi
là nhứt cú, gọi là tác cú, gọi là tự cú. Nếu chẳng phân
biệt tự cú pháp cú tác cú thì gọi là đà la ni Kim cương
cú.
Nầy Tật
Biện! Đà la ni Kim cương cú như vậy, Phật Bửu Xuất ấy
thường vì chư Bồ Tát diễn nói.
Nầy Tật
Biện! Hoặc một kiếp hoặc giảm một kiếp ta nói công đức
của Phật Bửu Xuất ấy cũng chẳng thể hết được”.
Bửu Kế
Bồ Tát nghe đức Phật thọ ký cho mình rồi tâm đại hoan
hỷ nói kệ tán thán:
Tất cả
tri kiến tất cả sự
Được đến
bờ kia tất cả pháp
Xa lìa tất
cả các phiền não
Vì vậy
gọi Phật đấng Vô thượng
Tôi đã
cúng dường vô lượng Phật
Như Lai đều
biết rõ tất cả
Như Lai chứng
được vô thượng trí
Nên biết
tam thế không chướng ngại
Như Lai nay
thọ ký cho tôi
Khiến tôi
xa lìa lòng nghi ngại
Tôi cũng
sẽ được chơn thiệt đạo
Như nay Thích
Ca Mâu Ni Phật
Tất cả
đại địa đều khiến tan
Hư không
nhựt nguyệt khiến rớt đất
Lời nói
của Phật không có hai
Nên tôi
quyết định được Bồ đề
Chánh ngữ
thiệt ngữ vi diệu ngữ
Thọ ký
tôi Vô thượng Bồ đề
Nếu tôi
chơn thiệt được Bồ đề
Sẽ khéo
điều phục vô lượng chúng
Cõi nước
tịnh diệu tôi sẽ được
Và cùng
đại chúng Phật đã ghi
Nay tôi nghe
pháp vô thượng nầy
Phá nghi
thẳng đến Bồ đề đạo
Nay tôi tinh
tiến tu Bồ đề
Điều phục
chúng sanh lòng chẳng hối
Nay phật
nói tín lực của tôi
Vô thượng
trí huệ và Phật lực.
Lúc Phật
thọ ký, có vạn hai ngàn chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ
đề đều nói rằng: “Nguyện tôi đều sẽ được sanh thế
giới ấy”.
Đức Thế
Tôn bảo Tôn giả A Nan rằng: “Nầy A Nan! Ông nên thọ trì
chánh pháp như vậy, đọc tụng rộng nói để đại lợi ích
cho chư Thiên thế nhơn.
Nầy A Nan!
Nếu có chúng sanh tín thọ kinh nầy, người ấy quyết định
sẽ được ta thọ ký.
Nầy A Nan!
Nếu đem thất bửu đầy trong tam thiên Đại Thiên thế giới
cấp thí chúng sanh mãn một ngàn năm chẳng bằng người thọ
trì đọc tụng thơ tả kinh điển nầy”.
Tôn giả
A Nan bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Kinh nầy tên
là gì và phụng trì như thế nào?”.
Đức Phật
nói: “Nầy A Nan! Kinh nầy tên là Phương Đẳng Đại Tập
Đại Đà La Ni Đại Thiện Hành Bồ Tát Nhập Xứ”.
Nghe Phật
nói kinh nầy rồi, Tôn giả A Nan và chư Thiên hàng thế nhơn
đều rất hoan hỷ tín thọ phụng hành.
PHÁP HỘI
HƯ KHÔNG MỤC
THỨ NĂM
MƯƠI CHÍN
HẾT.
Vi tính: THÍCH
ĐỨC TUẤN.