LIX
PHÁP HỘI HƯ KHÔNG
MỤC
THỨ NĂM MƯƠI CHÍN
(Hán
bộ từ quyển 150 đến quyển 154)
Hán
dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm
Việt
dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Bấy giờ
chư Bồ Tát thập phương thế giới bạch Phật rằng: “Bạch
đức Thế Tôn! Chư Phật Như Lai vì các chúng sanh ở thế
giới ngũ trược như vậy mà chế cấm giới. Duy nguyện Như
Lai vì chánh pháp còn lâu mà chế cấm giới, đó là thân giới,
khẩu giới, ý giới, chẳng được thọ chứa vật bất tịnh,
chẳng được ác tâm đâú tranh, chẳng được gần kề vua
quan trưởng giả thọ chứa tất cả vật của người tục,
như các Phật độ khác đã chế cấm giới”.
Đức Phật
nói: “Thôi thôi, Phật tự biết thời. Nầy các thiện nam
tử! Nhơn duyên chưa phát xuất, thì Như Lai chẳng dự chế
cấm giới”.
Đức Phật
bảo vua Tần Bà Sa La rằng: “Nầy Đại Vương! Quốc pháp
của nước vua, thế nào gọi là đại tội, sao gọi là tiểu
tội?”.
Vua Tần Bà
Sa La nói: “Bạch đức Thế Tôn! Quốc pháp nước tôi có
bốn trọng tội:
Một là giết
chết người. Hai là trộm đến năm tiền. Ba là dâm phụ nữ
khác và bốn là vì năm tiền mà ở bên vua bên đại chúng
cố ý nói dối.
Bốn tội
như vậy, người phạm bị tử hình”.
Đức Phật
nói: “Nay Phật cũng vì đệ tử vị lai mà chế bốn trọng
ấy.
Lại nầy
Đại Vương! Vương Tử bao nhiêu tuổi thì chẳng cho vào nội
cung?”.
Vua nói:
“Bạch Thế Tôn! Quá hai mười tuổi thì chẳng cho vào nội
cung”.
Đức Phật
nói: “ Ta cũng vậy! Sa Di hai mươi tuổi nhẫn đến đắc
đạo chẳng cho nhập chúng”.
Vua nói:
“Bạch đức Thế Tôn! Như quốc pháp của tôi có người
phạm trọng tội thì quyết định phải chết, hoặc phải
tội đánh, hoặc mắng, hoặc nhốt, hoặc trói, hoặc thâu
tài vật, hoặc đuổi ra khỏi nước.
Trong pháp
Phật thì thế nào?”.
Đức Phật
nói: “Nầy Đai Vương! Trong pháp Phật của ta cũng như vậy.
Nếu có người sai phạm thì hoặc bắt phải làm việc nhọc
một tháng hai tháng, hoặc chẳng cùng nói chuyện, chẳng cùng
ngồi chung ăn chung, hoặc chẳng ở chung, hoặc đuổi đi, hoặc
ra một nước, hoặc ra bốn nước. Xứ có Phật pháp xử trị
các ác Tỳ Kheo như vậy rồi, các thiện Tỳ Kheo an lạc học
chánh phá nên làm cho Phật pháp còn lâu chẳng dứt diệt.
Nầy Đại
Vương! Đời vị lai nếu có đệ tử Phật giàu sang nhiều
của nhiều thế lực được vua quan thân ái, tất cả đại
chúng chẳng đuổi trị được thì các vua chúa sẽ trị phạt.
Nếu Sát Lợi, Bà La Môn, Tỳ Xá, Thủ Đà chẳng thể trị
được thì hàng tứ tánh như vậy làm dứt chủng tánh Tam
bửu của Phật, hay làm tắt đuốc pháp, làm chìm thuyền pháp,
cháy cạn pháp vị, cướp mắt chúng sanh. Lúc chánh pháp Phật
diệt hoại thì tâm buông bỏ.
Nầy Đại
Vương! Ví như một người đoạt tất cả con mắt của mọi
người thì tội ấy có nhiều chăng?”.
Vua nói:
“Rất nhiều, bạch đức Thế Tôn! Chẳng thể cân lường
được, chẳng thể tính đếm được”.
Đức Phật
nói: “Nầy Đại Vương! Nếu có hàng tứ tánh có thế lực
lớn thấy Phật pháp diệt bỏ mà chẳng thủ hộ, người
nầy mắc tội cũng như vậy.
Nầy Đại
Vương! Nếu có quốc chủ trong vô lượng đời tu thí giới
huệ thấy Phật pháp diệt bỏ mà chẳng thủ hộ, thì vô
lượng thiện căn đã vun trồng thảy đều diệt mất. Xứ
ấy sẽ có ba sự bất tường: một là gạo quí, hai là binh
cách và ba là tật dịch. Tất cả thiện thần đều bỏ đi
qua xứ khác, giáo lịnh nước ấy nhơn dân chẳng theo, thường
bị lân quốc xâm lăng nhiễu loạn, lửa dữ ngang nổi dậy,
mưa gió xấu ác, lụt lũ tăng trưởng cuốn trội nhơn dân,
người thân tín trong ngoài cùng nhau mưu phản. Vua xứ ấy
chẳng lâu sẽ mắc trọng bịnh, chết sanh vào địa ngục.
Nếu phước lành đời trước theo đến được lại sanh trong
loài người, thì nhiều đời thường đui mù, nghèo cùng linh
đinh xin ăn để sống thường sanh ác tâm, do ác tâm ấy nen
lại đoạ trong địa ngục. Như vua, phu nhơn, thái tử, đại
thần, chủ thành, chủ thôn, tướng soái, quận thú, tể quan
cũng như vậy”.
Vua Tần
Bà Sa La tai nghe lời ấy buồn khóc nghẹn ngào lau lệ bạch
Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nay tôi được gặp Như
Lai mà vẫn còn chưa trị nước đúng chánh pháp, huống là
đời vị lai các vua chúa phóng dật chẳng thể trì giới tu
hành tinh tiến, chẳng trị được ác Tỳ Kheo để hộ trì
Phật pháp, chẳng thể nối thạnh chủng tánh Tam bửu. Các
vua chúa như vậy mãi mãi thường đi trong ba ác đạo”.
Lúc ấy
các vua, phu nhơn, thái tử, đại thần, thành chủ, thôn chủ,
tướng soái, quận thú, tể quan đều bạch Phật rằng: “Bạch
đức Thế Tôn! Nay trong đời hiện tại, chúng tôi cần phải
siêng tâm thủ hộ Phật Pháp, cũng nên cúng dường người
thọ trì chánh pháp những món vật cần dùng như y phục, món
ăn uống, giường nệm, thuốc men, chúng tôi phải trị ác
Tỳ Kheo, nối thạnh Tam bửu”.
Đức Phật
nói: “Nầy đại chúng! Nếu các người có thể kiến lập
sự việc ấy, đó là cúng dường tam thế chư Phật, cũng
được vô lượng bất khả tư nghị các thiện công đức”.
Đức Phật
lại bảo chư Thiên rằng: “Nầy chư Thiên Tử! Hôm nay các
Ngài chớ có lòng lo lắng. Nay ta vì các chánh pháp nên sẽ
lập nghiêm cấm chế cho hàng đệ tử Phật ở vị lai, vì
để chẳng đoạn tuyệt tánh Tam bửu, vì muốn tăng trưởng
các thiện pháp, vì tăng trưởng đa văn đầy kho pháp bửu,
vì lìa tất cả khổ phiền não, vì thành đạo Vô thượng
Bồ đề.
Nầy chư
Thiên Tử! Nay chỗ Phật nói tất cả Thanh Văn đầy đủ thành
tựu được Thanh Văn thừa, tất cả Duyên Giác đầy đủ
thành tựu được Duyên Giác thừa, tất cả Bồ Tát thành
tựu đầy đủ ba thứ phạm hạnh được trí vô thượng.
Nầy chư
Thiên Tử! Kinh nầy có thể lìa các ác chúng sanh, hay phá hoại
các pháp ác bất thiện của các chúng sanh, hay diệt thân khẩu
ý ba nghiệp bất thiện, hay phá trừ tất cả các quả báo
ác.
Nếu có
thiện nam thiện nữ cúng dường kinh nầy thì là cúng dường
thập phương chư Phật”.
Lúc bấy
giờ Ta Bà thế giới tất cả chúng sanh khác miệng đồng
lời nói rằng: “Lành thay lành thay, bạch đức Thế Tôn!
Tôi trước chưa nghe pháp tụ lớn nầy nay được nghe đó.
Tôi có thể thọ trì thủ hộ pháp ấy, vì cớ hộ pháp tôi
chẳng tiếc thân mạng. Nếu có hàng tứ chúng đệ tử Phật
thọ trì pháp ấy, tôi sẽ cúng dường tuỳ chỗ cần dùng
đều cung cấp cho họ. Nếu còn có người hay cúng dường
những người thọ trì kinh nầy, chúng tôi cũng sẽ siêng thủ
hộ người ấy, khiến nội ngoại của cải vàng ngọc chẳng
bị tổn hao. Xứ nào có kinh nầy lưu bố, tôi cũng thủ hộ
xứ ấy khiến không có các sự ác”.
Đức Phật
nói: “Lành thay lành thay, nầy thiện nam tử! Người có thể
thủ hộ chánh pháp như vậy đó là cúng dường tam thế chư
Phật.
Nầy thiện
nam tử! Nếu các chúng sanh có tâm hộ pháp hoặc sanh nhơn
thiên được đại tự tại, nhẫn đến sanh trong loài chim
thú cũng có đại lực, người nể trọng chẳng bị các sự
khốn khổ.
Nầy thiện
nam tử! Người hộ pháp ấy, ác chẳng hại được, lòng không
sợ sệt, không ai phá hoại được, các ma phiền não chẳng
được tiện lợi, quyến thuộc đông nhiều, trí huệ đầy
đủ. Phàm có nói ra không bị chướng ngại, thích làm thập
thiện tu tập chánh định. Cha mẹ các vua quan thấy thì cung
kính, hay thăng pháp toà chuyển chánh pháp luân, pháp đã được
nghe trọn chẳng quên mất”.
Lúc bấy
giờ đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Như Lai ngồi trên toà sư
tử phóng đại quang minh dường như nhựt nguyệt, được đại
tự tại như Phạm Vương, Đế Thích, công đức cao hiển như
núi Tu Di, pháp giới thậm thâm dường như đại hải. Đức
Thế Tôn ở trong đại chúng diễn nói chánh pháp sơ trung hậu
thiện, tự nghĩa chơn chánh, đầy đủ thanh tịnh ban tuyên
phạm hạnh, vì chư Bồ Tát mà thanh tịnh pháp ấn, khiến
chư Bồ Tát nghe rồi tinh cần tu tập.
Đông phương
quá chín vạn hai ngàn thế giới chư Phật, có thế giới tên
là Thiện Hoa, có Phật hiệu Tịnh Trụ Như Lai, Ứng Cúng,
Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô
Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế
Tôn tuyên nói chánh pháp để giáo hoá chúng sanh. Có một Bồ
Tát tên là Bửu Kế cùng tám ngàn Bồ Tát rời thế giới
ấy muốn đến cõi nầy mang theo lọng báu vi diệu muốn dâng
lên Phật. Lọng báu ấy che khắp nhứt thiên Tiểu Thiên thế
giới. Cũng còn mang theo hương hoa muốn cúng dường Phật.
Dùng âm thanh vi diệu nói kệ tán thán Như Lai:
Nếu hàng
nhơn thiên được thấy Phật
Thì tức
là được lợi ích lớn
Như Lai trước
thọ khổ vô lượng
Vì siêng
tinh tiến được Bồ đề
Thưở trước
tinh tiến được Bồ đề
Vượt hơn
tất cả chư Bồ Tát
Vì khiến
chúng sanh được lợi ích
Nên chuyển
vô thượng chánh pháp luân
Như Lai như
vậy khó được thấy
Chánh pháp
Phật nói khó được nghe
Được thân
loài người cũng là khó
Các căn
đầy đủ cũng như vậy
Nếu các
chúng sanh làm nghiệp ác
Cũng chẳng
làm được ba nghiệp thiện
Nếu người
muốn được đại lợi ích
Phải nên
gặp thấy Thích Thế Tôn
Nếu muốn
nghe học pháp vô thượng
Cùng thấy
mười phương chư Bồ Tát
Đầy đủ
ba mươi hai diệu tướng
Phải nên
mau đến Đại Bửu Phường
Nay nếu
chẳng trồng các thiện căn
Sau ắt chẳng
được đại Niết bàn
Nếu muốn
đầy đủ được thân người
Phải nên
mau đến cõi Ta Bà
Nếu muốn
phá hoại ba ác đạo
Muốn thọ
nhơn thiên vi diệu lạc
Muốn được
vô thượng vô tỉ lạc
Phải nên
mau đến cõi Ta Bà
Y Vương
nay ban vị cam lộ
Trừ diệt
chúng sanh các phiền não
Như Lai Đạo
Sư Đại Pháp Vương
Ngày nay
nói pháp giới vô thượng.
Lúc Bửu
Kế Bồ Tát nói kệ tán thán Phật, âm thanh ấy vang khắp
Đại Thiên thế giới.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nghe tiếng kệ ấy bạch Phật rằng: “Bạch
đức Thế Tôn! Tiếng nói kệ ấy diễn tại xứ nào?”.
Đức Phật
nói: “Nầy Xá Lợi Phất! Đông phương quá chín vạn hai ngàn
thế giới chư Phật, có thế giới tên là Thiện Hoa, có Phật
hiệu là Tịnh Trụ Như Lai, có Bồ Tát tên là Bửu Kế cùng
tám ngàn Bồ Tát đều muốn đến đây. Tiếng nói kệ ấy
là của Bửu Kế Bồ Tát ấy nói vang khắp Đại Thiên thế
giới đồng được nghe để khuyên các chúng sanh tu tập thiện
pháp”.
Bửu Kế
Bồ Tát và tám ngàn Bồ Tát cùng vô lượng nhơn thiên đến
chỗ Phật đầu mặt lễ lạy bạch Phật rằng: “Bạch đức
Thế Tôn! Thiện Hoa thế giới Tịnh Trụ Như Lai kính lời
thăm hỏi Thế Tôn đi đứng nhẹ nhanh khí lực an lành chăng,
đại chúng có thích học chánh pháp chăng?
Bạch đức
Thế Tôn! Tôi từ thế giới kia đến đây để nghe Bồ Tát
tịnh hạnh pháp ấn. Duy nguyên Như Lai đại từ thương xót
vì tất cả đại chúng mà phân biệt giải nói. Khiên chư
Bồ Tát nghe rồi tu tập, phá hoại tất cả phiền não tập
khí, tu Bồ Tát hạnh biết rõ tất cả tâm chúng sanh, có thể
tu tất cả hành tướng của Bồ Tát, hay hiểu rõ được trí
huệ hành, hay biết tất cả phiền não hành, hay tu pháp hành
của Bồ Tát tu, hay quán sát sâu tất cả tội lỗi, thân được
vô ngại, được thấy tất cả Phật”.
Đức Phật
nói: “Lành thay lành thay, nầy Bửu Kế! Lắng nghe lắng nghe,
nay phật sẽ nói một phần mười tịnh hạnh như vậy.
Nầy Bửu
Kế! Đại Bồ Tát có bốn hạnh, đó là Ba la mật hạnh, trợ
Bồ đề hạnh, thần thông hạnh và điều phục chúng sanh
hạnh.
Ba la mật
hạnh là nguyện phương tiện. Trợ Bồ đề hạnh là tu tập
đạo phương tiện. Thần thông hạnh là điều tâm phương
tiện. Điều phục chúng sanh hạnh là Bồ đề tâm kiên cố
phương tiện.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào gọi là Đàn Ba la mật? Đàn Ba la mật tức là
tịnh hạnh, hay phá hoại si tâm, hay tu xả tâm, tu xả tâm
rồi hay bố thí tất cả. Nếu Bồ Tát hay bố thí tất cả
thì được bốn thứ vô phân biệt tâm, đó là chẳng phân
biệt chúng sanh, chẳng phân biệt pháp, chẳng phân biệt tâm
và chẳng phân biệt nguyện cầu.
Chẳng phân
biệt chúng sanh là chẳng phân biệt kẻ đáng cho kẻ chẳng
đáng cho, kẻ nầy cho nhiều kẻ kia cho ít, đây cho phần thượng
đây cho phần hạ, đây kính cho kia khinh cho, đây cho trọn
kia cho một phần, đây trì giới kia phá giới, đây phước
điền kia chẳng phước điền, đây được báo lớn kia chẳng
báo lớn, đây chánh kiến kia tà kiến, đây hành chánh tụ
kia hành tà tụ v.v…
Lúc bố
thí không tâm kiêu mạn, không có tâm thượng hạ, không có
tâm chướng ngại, là tâm bình đẳng, là tâm chơn chánh, bình
đẳng thí giới, bình đẳng từ bi, tâm không có phân biệt
dường như hư không. Đây gọi là chẳng phân biệt chúng sanh.
Chẳng phân
biệt pháp là chẳng phân biệt người học thì dạy người
chẳng học thì chẳng dạy, với người học pháp thì cho vật
cần dùng, trọn chẳng quán sát với kẻ phàm phu thì chẳng
nên ban cho với bực Hiền Thánh thì nên ban cho. Đây gọi là
chẳng phân biệt pháp.
Chẳng phân
biệt tâm là quán sát các chúng sanh tâm Bồ Tát đều bình
đẳng, chẳng vì báo đáp mà bố thí, chẳng tham nội ngoại
vật mà bố thí, chẳng phải vì danh mà bố thí, chẳng cầu
quả báo mà bố thí, vật được mến thích đem bố thí rồi
thì chẳng hối tiếc, vì nhiếp chúng sanh nên làm việc bố
thí. Đây gọi là chẳng phân biệt tâm.
Chẳng phân
biệt nguyện cầu là lúc bố thí chẳng vì cầu được thân
Đế Thích, thân Phạm Vương, thân Ma Vương, thân Chuyển Luân
Vương, thân Trưởng Giả, thân Đại Thần, lại cũng chẳng
vì cầu được đại tự tại, được đại quyến thuộc,
được cõi trên, cũng chẳng vì cầu Thanh Văn thừa, Bích Chi
Phật thừa nhẫn đến chẳng vì cầu Vô thượng Bồ đề
mà bố thí. Đây gọi là bất phân biệt nguyện vậy.
Nầy Bửu
Kế! Lúc Bồ Tát tu bố thí đầy đủ thành tựu bốn sự
như vậy thì được xa lìa tám bất chánh kiến, đó là ngã
kiến, thường kiến, đoạn kiến, thọ mạng kiến, sĩ phu
kiến, thường kiến, đoạn kiến, hữu kiến, vô kiến. Lại
còn xa lìa bốn thứ công đức hạ liệt, đó là phàm phu công
đức, Thanh Văn công đức, Duyên Giác công đức và những
công đức tu tập khác. Lại còn chẳng quán sát bốn tướng,
đó là tướng thường, tướng lạc, tướng ngã và tướng
tịnh. Lại còn hay tịnh bốn pháp, đó là tịnh thân, tịnh
khẩu, tịnh tâm và tịnh nguyện. Lại còn xa lìa ba chướng
ngại, đó là quả báo ngại, Thanh Văn ngại và hối tâm ngại.
Lại còn được xa lìa ba sự bố uý, đó là kiêu mạn uý,
thượng mạn uý và ma nghiệp uý. Lại còn có đủ bốn thứ
pháp ấn, chúng sanh ấn và Bồ đề không ấn. Lại còn đủ
bốn thứ tinh tiến, đó là vì đầy đủ cho chúng sanh nên
tinh tiến, vì thủ hộ Phật pháp nên tinh tiến và vì tịnh
Phật độ nên tinh tiến. Lại còn được đủ bốn niệm,
đó là niệm Bồ đề tâm, niệm muốn thấy Phật, tâm thường
niệm từ và niệm rời lìa phiền não. Còn được tịnh ba
sự, đó là tịnh tự thân, tịnh tha thân và tịnh Bồ đề.
Còn tịnh bốn trí, đó là tịnh giới trí, tịnh chúng sanh
mãn túc trí, tịnh nguyện trí và tịnh trợ Bồ đề trí.
Bồ Tát
nếu có thể hành các pháp như vậy thì có thể tịnh được
Đàn Ba la mật.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào là Bồ Tát tịnh Thi Ba la mật?”.
Có một
thứ tịnh, đó là Bồ Tát thương xót tất cả thế gian chúng
sanh hơn hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật, lòng từ có thể phá
hoại ma nghiệp điều phục các chúng sanh đầy đủ vô lượng
công đức bửu tụ không có phóng dật.
Còn có hai
thứ, đó là nơi các chúng sanh chẳng có ác tâm và điều
phục chúng sanh khiến họ hướng đến Bồ đề.
Còn có ba
thứ, đó là tịnh thân vì xa lìa tất cả ác nghiệp nơi thân
vậy. Tịnh khẩu vì xa lìa tất cả ác nghiệp nơi khẩu vậy.
Tịnh ý vì xa lìa tất cả tham sân và tà kiến vậy.
Còn có bốn
thứ, đó là khuyên các chúng sanh khiến họ thọ trì giới
cấm. Khuyên các chúng sanh khiến họ trì tịnh giới. Có thể
điều các người phá giới. Thấy người trì giới thì cúng
dường cung kính tôn trọng tán thán.
Còn có năm
thứ, đó là trì giới rồi chẳng sanh kiêu mạn. Thấy người
phạm giới chẳng sanh khinh mạn. Thấy người trì giới tâm
không ganh ghét. Trọn chẳng cầu Thanh Văn thưa. Chẳng niệm
Bích Chi Phật thừa.
Còn có sáu
thứ, đó là niệm Phật vì siêu quá giới vậy. Niệm Pháp
vì siêu quá giới rồi tâm không hối. Niệm Tăng vì đầy
đủ Như Lai giới vậy. Niệm giới vì chẳng cầu các quả
báo trong tam giới. Niệm thí vì có thể tất cả đều thí
cho. Niệm thiên vì muốn đầy đủ tất cả thiện pháp.
Còn có bảy
thứ, đó là thâm tín tất cả Phật pháp. Siêng tu tinh tiến
để được Phật pháp. Đủ trí để biết tất cả Phật
pháp. Nghe rồi có thể nói tất cả Phật pháp. Hay cúng dường
cha mẹ, Sư trưởng, Hoà thượng. Sợ các ác nghiệp hiện
tại và vị lai. Có tâm tàm quí.
Còn có tám
thứ, đó là chẳng vì lợi dưỡng mà hiển dị hoặc chúng.
Chẳng nói sự của mình vì rời lìa tất cả vậy. Chẳng
tán thán cúng dường vì tâm tri túc vậy. Tu thánh chủng tánh
vì thích thiện pháp vậy. Tu pháp đầu đà vì chẳng tiếc
thân mạng vậy. Thích tịch tĩnh vì lìa nói thế sự vậy.
Thâm tâm thích chánh pháp vì nhàm tam giới vậy. Chí tâm hộ
pháp chẳng tiếc thân mạng.
Còn có chín
thứ, đó là lìa chín ác tâm vì vượt quá chỗ ở của chín
chúng sanh vậy. Niệm tịnh. Niệm tu. Tăng trưởng thiện pháp.
Tâm thích tịch tĩnh. Lìa phiền não nhiệt. Trang nghiêm Xa ma
tha. Siêng tu tinh tiến. Chẳng khi chúng sanh.
Còn có mười
thứ, đó là tịnh thân ba nghiệp. Tịnh khẩu bốn nghiệp.
Tịnh ý ba nghiệp. Xa lìa tật đố. Lìa tâm siểm khúc. Chí
tâm niệm giới. Vì trì giới nên siêng tu tinh tiến. Lời dịu
dàng để điều chúng sanh. Thọ thân để chịu sự sai sử
của chúng sanh. Nơi các phước điền chẳng khinh mạn.
Nầy Bửu
Kế! Bồ Tát tu Thi la Ba la mật có hai thứ tịnh hạnh: Một
là có tâm có tướng và trang nghiêm, thà bỏ thân mạng trọn
chẳng phá giới. Hai là vô tâm vô tướng và không có trang
nghiêm, nơi tất cả pháp tâm không chỗ thủ trước.
Còn có hai
thứ: Một là thường nguyện tâm Bồ đề. Hai là chẳng quán
bổn hướng Bồ đề giới tướng.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào là đại Bồ Tát tịnh Sằn đề Ba la mật hạnh?
Đại Bồ Tát bị mắng chẳng báo vì khẩu nghiệp tịnh vậy.
Bị đánh chẳng báo vì thân nghiệp tịnh vậy. Bị sân chẳng
báo vì ý nghiệp tịnh vậy.
Đại Bồ
Tát dầu bị mạ nhục mà chẳng báo vì thủ hộ chúng sanh
vậy. Bị các đau khổ mà chẳng báo vì thủ hộ đời sau
vậy. Bị chặt tay chưn mà từ tâm chẳng sân vì thủ hộ
Bồ đề vậy. Thấy có người cầu xin lòng chẳng sân hận
vì tứ nhiếp pháp vậy, vì sanh tâm từ vậy, vì tăng Bồ
đề đạo vậy, vì phá xan tham vậy, vì phá ma nghiệp vậy.
Đại Bồ
Tát niệm Phật rồi tu nhẫn nhục thọ tất cả sự khổ để
được thân Phật.
Còn có Bồ
Tát tu nhẫn nhục vì muốn được đầy đủ mười lực vậy.
Còn có Bồ
Tát tu nhẫn nhục vì muốn thành đại sư tử hống vậy.
Còn có Bồ
Tát tu nhẫn nhục vì để biết tam thế không chướng ngại
vậy.
Còn có Bồ
Tát tu nhẫn nhục để được sức đại từ đại bi vậy.
Còn có Bồ
Tát tu nhẫn nhục để được đầy đủ Nhứt thiết trí vậy.
Đại Bồ
Tát thành tựu hai lực thì được thành tựu hai nhẫn. Đó
là trí lực và tu lực. Do trí lực quán sát thân tâm nên thành
tựu nhẫn. Do tu lực nên chẳng thủ trước các pháp mà thành
nhẫn.
Còn nữa,
nầy Bửu Kế! Tịnh nhẫn Bồ Tát có thể quán sát trong tất
cả pháp không có chúng sanh nên tu nhẫn nhục. Vì tất cả
pháp tánh nó giải thoát nên Bồ Tát quán tất cả pháp không
nhẫn không sân, nơi tất cả pháp tâm không có chỗ thủ trước
đây gọi là nhẫn.
Bồ Tát
có hai nhẫn, đó là quán như pháp thân và quán như pháp giới.
Đại Bồ Tát nếu có thể quán hai pháp như vậy thì gọi
là Bồ Tát tịnh Sằn đề Ba la mật hạnh.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào là Bồ Tát tịnh Tỳ lê gia Ba la mật? Nếu đại
Bồ Tát nơi các hạnh tu tập chẳng nghỉ dứt chẳng hối,
nơi các thiện pháp tâm không nhàm đủ, cũng thích tu hành
năm Ba la mật thường cầu trang nghiêm tất cả thiện pháp,
ủng hộ chánh pháp thích tuyên nói chánh pháp, điều phục
chúng sanh lòng không thôi nghỉ, quá Thanh Văn thừa, Bích Chi
Phật thừa, ủng hộ tất cả chư Phật chánh pháp, tu các
khổ hạnh lòng không hối, trọn chẳng hư mất căn lành xưa
trước, rộng tu đa văn lòng không nhàm mỏi, vì chúng mà chạy
lo công việc lòng chẳng buồn hối, đây gọi là tinh tiến.
Tinh tiến
như vậy thế nào gọi là tịnh?
Nếu Bồ
Tát có thể quán thân như tượng như bóng, quán khẩu không
ngôn thuyết, quán tâm rốt ráo thanh tịnh. Dùng tận trí quán
các pháp. Dùng vô sanh trí biết các hữu đều tận. Lúc quán
như vậy thì có thể trang nghiêm ba thứ tinh tiến: một là
thể trang nghiêm, hai là giác trang nghiêm và ba là phân biệt
trang nghiêm.
Còn có ba
thứ bất trước tinh tiến: một là chẳng trước nhãn, hai
là chẳng trước sắc và ba là chẳng trước nhãn thức. Nhẫn
đến chẳng trước ý pháp và ý thức cũng như vậy.
Đây gọi
là chẳng thủ chẳng xả tinh tiến đầy đủ.
Siêng tinh
tiến như vậy rồi, chẳng thủ bố thí chẳng xả xan tham,
chẳng thủ trì giới chẳng xả huỷ giới, chẳng thủ nhẫn
nhục chẳng xả sân hận, chẳng thủ tinh tiến chẳng xả
giải đãi, chẳng thủ thiền định chẳng xả loạn tâm, chẳng
thủ trí huệ chẳng xả ngu si, chẳng thủ thiện pháp chẳng
xả ác pháp, chẳng thủ Phật đạo chẳng xả Nhị thừa.
Đây gọi là hai thứ cần tinh tiến vậy. Hai tinh tiến ấy
có thể thành tựu đủ Phật pháp.
Còn có hai
thứ tinh tiến, đó là nội tinh tiến và ngoại tinh tiến vậy.
Đây gọi
là tịnh Tỳ lê gia Ba la mật hạnh.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào là Bồ Tát tịnh Thiền Ba la mật hạnh?
Nếu có
đại Bồ Tát thủ các thiền chi, quán các thiền chi. Quán
rồi nhập định. Đã nhập định rồi chẳng tham trước sắc,
thọ, tưởng, hành, thức. Đây gọi là thiền là chẳng phải
trước nhãn thiền nhẫn đến ý thiền. Đây gọi là thiền
là chẳng phải trước sắc thiền nhẫn đến pháp thiền.
Đây gọi là thiền chẳng phải trước địa, thuỷ, hỏa,
phong, không thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước
nhựt, nguyệt, Thích, Phạm, Tự Tại Thiên Thiền. Đây gọi
là thiền là chẳng phải trước Dục giới, Sắc giới, Vô
Sắc giới thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước
thử bỉ thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải quán thân
tâm thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước thượng
hạ thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước tứ
thủ thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải trước ngã,
nhơn, chúng sanh, thọ mạng tướng thiền. Đây gọi là thiền
là chẳng phải trước thường kiến, đoạn kiến, hữu kiến,
vô kiến thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải cứu cánh
lậu tận thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải nhập
định tụ thiền. Đây gọi là thiền là chẳng phải được
Sa Môn quả thiền.
Thiền như
vậy đó chẳng phải cứu cánh hành thiền. Gọi là không điều
phục thiền chẳng phải chơn không thiền. Gọi là vô tướng
điều phục thiền chẳng phải chơn vô tướng thiền. Gọi
là vô nguyện điều phục thiền chẳng phải chơn vô nguyện
thiền. Đây gọi là Bồ Tát đầy đủ thành tựu đại từ
đại bi nhứt thiết không hành thiền.
Thế nào
gọi là đủ nhứt thiết không?
Nếu Bồ
Tát có thể chẳng quán bồ thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tiến, thiền định, trí huệ, phương tiện, từ bi, hỉ xả,
tứ đế, Bồ đề, trí huệ, phương tiện, từ bi, hỉ xả,
tứ đế, Bồ đề, trí huệ, thệ nguyện, trang nghiêm, xa ma
tha, tỳ bà xá na, giải thoát, tàm quý, đây gọi là chư Phật
phương tiện tam muội thần thông vô ngại trí, nhiếp thủ
thập lực, tứ vô sở uý và thập bát bất cộng pháp, chẳng
bị nhị thừa nhiễm ô, đoạn các tập khí, đầy đủ vô
lượng đại thần thông trí, được các chúng sanh quy y, trang
nghiêm thế pháp và xuất thế pháp, hay khéo điều phục tất
cả chúng sanh qua khỏi bốn dòng và biển lớn sanh tử, hay
dứt tất cả hệ phược, tịnh các pháp tánh, đây gọi là
tánh tịch tĩnh chẳng phải là hướng pháp tịch tĩnh, cũng
lấy hướng pháp xả tánh, thấy rõ hướng pháp manh tánh,
nghe rõ hướng pháp lung tánh, siêng điều phục hướng pháp
đình trụ, tiêu diệt tịch tĩnh, điều phục xí nhiên. Đây
gọi là Nhứt thiết hành không.
Nầy Bửu
Kế! Ví như tam thiên Đại thiên thế giới tất cả chúng
sanh đều giỏi biết hoạ. Trong ấy hoặc có kẻ giỏi đắp
tô, hoặc giỏi mài cho màu, hoặc biết hoạ thân chẳng hiểu
hoạ tay chưn, hoặc hiểu hoạ tay chưn mà chẳng hiểu hoạ
mắt.
Có quốc
vương trao chúng ấy một trương lụa mà bảo rằng: Người
nào có khả năng hoạ thì đến tụ họp tại đây hoạ hình
thân ta trên trương lụa nầy. Chúng ấy đều đến tụ họp
tuỳ khả năng mình mà cùng chung làm. Có một hoạ sư vì duyên
sự riêng nên không đến họp được, Chúng ấy họa xong đồng
đem bức hoạ dâng cho quốc vương.
Nầy Bửu
Kế! Như vậy có thể gọi là mọi người đều tụ họp tất
cả chăng?”.
Bửu Kế
Bồ Tát nói: “Không, bạch đức Thế Tôn!”.
Đức Phật
nói: “Nầy Bửu Kế! Ta nói ví dụ ấy nghĩa của nó chưa
tỏ. Vì còn một người chưa đến nên chẳng được gọi
là tất cả đều họp lại làm, cũng chẳng được nói hình
tượng thành tựu.
Phật pháp
hành cũng như vậy. Nếu còn có một hành chẳng thành tựu
thì chẳng gọi là đầy đủ Như Lai chánh pháp. Vì vậy cần
phải đầy đủ các hành mới gọi là thành tựu Vô thượng
Bồ đề”.
Lúc nói
pháp ấy, có sáu vạn Bồ Tát nơi tất cả hành được đầy
đủ không.
“Nầy Bửu
Kế! Thế nào gọi là Bồ Tát tịnh Bát Nhã Ba la mật hạnh?
Đại Bồ
Tát đủ mười hai huệ:
Một là
biết quá khứ vô ngại, hai là biết vị lai vô ngại, ba là
biết hiện tại vô ngại, bốn là biết hữu vi vô ngại, năm
là biết vô vi vô ngại, sáu là biết tất cả thế tác vô
ngại, bảy là biết xuất thế tác vô ngại, tám là biện
tài vô ngại, chín là biết thiệt vô ngại, mười là biết
thế đế vô ngại, mười một là biết đệ nhứt nghĩa vô
ngại, mười hai là biết các chúng sanh lợi độn vô ngại.
Đây gọi là huệ.
Huệ nầy,
với khó phá thì hay phá được, với khó thấy thì hay thấy
được, với khó hiểu thì hay hiểu được. Ví như kim cương
không gì trở hoại được. Đây gọi là huệ xuất thế, là
cứu cánh huệ, là Nhứt thiết chúng sanh chơn giải tâm huệ,
khó hành khó vào, thậm thâm khó thấy, khó tập học được,
là chánh kiến chánh tụ xa lìa các kiến và tập khí, tự
biết tỏ rõ, thấy biết tâm tất cả chúng sanh, là pháp trí
nghĩa trí không có tham trước, là quang minh rộng lớn không
tranh không gần, khéo biết thời tiết vượt quá thời tiết,
là chánh tụ thủ hộ chánh tụ, là cứu cánh giác chánh giác
thiệt giác, xa lìa cấu uế, chẳng bị tất cả Thánh nhơn
quở trách, là nhứt hành vô hành, là tất cả chúng sanh hành,
là hành không có dấu chưn, dầu rời lìa tất cả thế gian
hành mà cũng chẳng xa lìa tất cả thế gian hành, dầu lìa
thế giới mà chẳng rời Phật độ, dầu lìa tất cả các
hành trang nghiêm mà chẳng rời xa điều phục chúng sanh, dầu
rời các hành mà chẳng lìa thiện hành, dầu rời chúng sanh
tâm hành nhơn duyên mà chẳng rời thấy biết tâm hành tất
cả chúng sanh, dầu rời thế hành mà chẳng lìa thế pháp,
dầu lìa các thân chúng sanh mà cũng nhập vào tâm chúng sanh.
Đây gọi là huệ.
Trí huệ
như vậy rất là khó được.
Nếu chẳng
phải thiện căn thuần thục thì trọn chẳng thể được.
Người chẳng thường tu hành thiện pháp luôn thì cũng chẳng
thể được trí huệ như vậy. Người ngồi toà kim cương
dưới Bồ đề thọ mới được đó. Là chơn như pháp tánh
được chư Phật hộ niệm, đã qua đến bờ kia, biết tất
cả pháp ban bố vị cam lộ, vì vậy nên gọi là Bát Nhã Ba
la mật.
Nầy Bửu
Kế! Trí huệ như vậy cứu cánh biết rõ tất cả duyên, tất
cả tướng, tất cả tâm hành của tất cả chúng sanh, vì
vậy nên gọi là trí huệ.
Trí huệ
như vậy có hai tịch tĩnh: một là biết tướng ngại tịch
tĩnh và hai là biết tướng vô ngại tịch tĩnh.
Còn có hai
thứ: một là vô giác tịnh và hai là lìa các kiến tịnh.
Trí huệ
như vậy, Bồ Tát thường dạo đi trong căn lợi độn của
chúng sanh, trong tâm chúng sanh, trong tất cả pháp, quán các
phiền não tức là trí huệ. Bồ Tát dầu trụ các cõi mà
phần nhiều trụ cõi Phật. Hay khéo xem thấy thập phương
thế giới, lìa tất cả cái chướng, đều là tất cả Phật
pháp căn bổn, đầy đủ tất cả vô thượng Phật pháp, chẳng
học các pháp chẳng rời các pháp, chẳng hoại một pháp chẳng
thành một pháp.
Bồ Tát
thành tựu trí huệ như vậy có thể làm công đức, hay đọc
tụng hay tuyên thuyết tất cả Phật pháp, tất cả phước
đức đều có thể được, đều có thể tu thành tất cả
thiện pháp. Đây gọi là Bồ Tát tịnh Bát Nhã Ba la mật hạnh”.
Lúc nói
pháp ấy, có hai vạn hai ngàn chúng sanh phát tâm Vô thượng
Bồ đề, tám ngàn Bồ Tát được vô sanh nhẫn, năm trăm Tỳ
Kheo lậu tận ý giải, mười ngàn Thiên Nhơn được quả Tu
Đà Hoàn.
Tất cả
hàng Nhơn Thiên đồng nói rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu
người có thể tin pháp nầy thì nên biết người ấy được
chư Phật hộ niệm, huống là người có thể thọ trì đọc
tụng thơ tả cúng dường!”.
Đức Phật
lại bảo Bửu Kế Bồ Tát: “Nầy Bửu Kế! Thế nào là đại
Bồ Tát tịnh trợ Bồ đề hạnh?
Đại Bồ
Tát thân niệm xứ có hai thứ hạnh: Một là bất tịnh hạnh,
hai là tịnh hạnh.
Thân bất
tịnh hạnh là quán thân bất tịnh hôi dơ đầy dẫy, vô thường
vô trụ nó dội phỉnh phàm phu.
Thân tịnh
hạnh là tư duy như vầy: Nay ta nhơn nơi thân bất tịnh nầy
mà được tịnh Phật thân, được tịnh pháp thân, được
tịnh công đức thân, được thân mà tất cả chúng sanh thích
thấy.
Còn nữa,
nầy Bửu Kế! Bồ Tát quán thân rồi có thể tịnh hai hạnh:
Một là vô thường, hai là thường.
Bồ Tát
quán thân vô thường tất định sẽ chết. Quán như vậy rồi
chẳng vì thân mà gây kiết sử tạo ác nghiệp, chẳng tà
mạng tự sống, tu ba kiên pháp: Đó là thân kiên, mạng kiên
và tài kiên. Quán như vậy rồi, Bồ Tát có thể vì chúng
sanh mà làm cấp sử liền được xa lìa thân khẩu ý siểm
khúc. Bồ Tát quán thân vô thường được vô lượng công
đức như vậy.
Thế nào
là thường?
Bồ Tát
quán thân vô thường rồi thì được thường thân, nhơn quán
vô thường mà được công đức thân, nhơn nơi vô thường
mà chẳng dứt Phật chủng, Pháp chủng và Tăng chủng.
Lại nầy
Bửu Kế! Thường ấy tức là vô tận, vô tận ấy tức là
vô vi, vô vi ấy là chỗ sở hành của Nhứt thiết trí, sở
hành của Nhứt thiết trí ấy tức là không, vô tướng vô
nguyện.
Lại thường
ấy tức là hư không. Đại Bồ Tát quán tất cả pháp dường
như hư không. Đây gọi là đại Bồ Tát thường hạnh.
Nầy Bửu
Kế! Còn có Bồ Tát tu thân niệm xứ, quán sát thân tất cả
chúng sanh rốt ráo sẽ là thân Phật Như Lai. Như Phật thân,
pháp thân cũng vậy. Hai thân như vậy thân ta cũng vậy. Đây
gọi là Bồ Tát quán vô lậu thân. Bấy giờ những thiện
pháp mà Bồ Tát đã được hoặc nhiều hay ít tất cả đều
vô lậu. Đem pháp như vậy phát nguyện hồi hướng Nhứt thiết
chủng trí. Đã được vô lậu thì trọn chẳng còn khởi hữu
lậu. Nói là lậu ấy có ba thứ là Dục giới lậu, Sắc,
Vô Sắc giới lậu cũng gọi là hữu lậu và vô minh lậu.
Bồ Tát
biết rõ ba lậu rồi, vì chúng sanh mà thọ sanh Dục giới
cũng chẳng bị dục lậu làm ô nhiễm, thọ sanh Sắc giới
và Vô Sắc giới cũng vậy.
Vô minh lậu
ấy đã nhỗ gốc rễ nó. Tại sao, vì nhổ vô minh thì không
có kiến lậu.
Bồ Tát
tu thân niệm xứ rồi, ở trong thân chẳng thấy có ngã ngã
sở, chẳng sanh kiêu mạn, vì đã lìa ngã ngã sở nên chẳng
cầu chẳng lấy tất cả tài vật. Vì chẳng cầu lấy nên
ở nơi tài vật không tranh. Vì không tranh nên là tịch tĩnh.
Luận về tịch tĩnh ấy tức là nhẫn nhục. Trụ nơi nhẫn
nhục chẳng thượng chẳng hạ tức là như pháp trụ. Như
pháp trụ thì chẳng hành thiện pháp chẳng hành ác pháp.
Chẳng thượng
chẳng hạ rồi thì được thiện hữu. Được thiện hữu
rồi thì được gặp thiện tri thức. Vì được gặp thiện
tri thức nên được nghe chánh pháp. Vì nghe chánh pháp nên
chẳng dùng tâm hữu lậu hướng pháp hữu lậu. Đây gọi
là vượt quá cảnh giới các lậu. Quá cảnh giới các lậu
rồi sẽ nhập thiền định. Đã nhập định rồi nhẫn đến
nơi một pháp cũng chẳng sanh giác quán. Vì không có giác quán
nên chẳng làm một pháp chẳng biến một pháp. Đây gọi là
như pháp. Đây gọi là tất cả pháp bình đẳng. Nếu được
tất cả pháp bình đẳng như vậy thì gọi là Nhứt thiết
trí.
Đại Bồ
Tát nếu có thể quán thân niệm xứ như vậy đây gọi là
quán thân niệm.
Nầy Bửu
Kế! Bồ Tát ấy kế đến quán thọ niệm xứ. Đối với
kẻ có thọ Bồ Tát sanh tâm từ bi hướng đến các chúng
sanh mà bảo rằng: cứu cánh lạc ấy dứt tất cả thọ. Nếu
người có thể dứt tất cả thọ tức là thường lạc. Lúc
bấy giờ Bồ Tát tuỳ sở thọ sanh tâm từ bi hoặc tự hoặc
tha lúc thọ lạc thọ xa lìa tâm ái trước mà sanh tâm từ,
lúc thọ khổ thọ xa lìa tâm sân mà sanh tâm bi, lúc thọ khổ
bất lạc thọ thì xa lìa tâm vô minh mà sanh xả tâm.
Vì vậy
nên Bồ Tát lúc thọ lạc chẳng sanh tham trước, lúc thọ
khổ chẳng sanh sân hận, lúc thọ chẳng khổ chẳng lạc chẳng
sanh vô minh. Bồ Tát lúc nầy quán tất cả thọ là vô thường
khổ không vô ngã. Thấy người thọ lạc liền biết là khổ,
thấy người thọ khổ như nhọt như ghẻ, thấy thọ chẳng
khổ chẳng lạc là tịch tĩnh. Quán lạc thọ là vô thường,
quán khổ thọ là rỗng không, bất khổ bất lạc thọ là
vô ngã. Lúc quán như vậy rồi, Bồ Tát thấy các thọ tức
là không có thọ, thấy tất cả thọ là hữu vi. Nếu là hữu
vi tức là sanh diệt tán lậu vô trụ. Quán như vậy chẳng
thấy có ngã, chẳng thấy người thọ, đây gọi là Bồ Tat
đại trí phương tiện.
Nhơn phương
tiện ấy, Bồ Tát thấy tất cả thọ vô thường sanh diệt,
quán tất cả pháp thảy đều không vô, không có thọ không
có thọ giả, không có tác không có tác giả, theo duyên mà
sanh theo duyên mà diệt, không có thuộc không nhiếp thủ, nơi
các nhơn duyên chẳng sanh giác quán. Nhơn vì không có giác
quán nên nói như vầy: Các pháp nhơn duyên thảy đều là rỗng
không.
Lúc quán
như vậy, đại Bồ Tát thành tựu thọ niệm xứ có thể làm
cho thân tâm thảy đều tịch tĩnh biết tất cả hành, đây
gọi là nhứt thiết trí. Đây gọi là tu thọ thọ niệm xứ.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào là Bồ Tát tu tâm niệm xứ?
Đại Bồ
Tát trụ tâm Bồ đề, quán sát tâm tánh ấy, chẳng thấy
nội nhập tâm, chẳng thấy ngoại nhập tâm, chẳng thấy nội
ngoại nhập tâm, chẳng thấy tâm ở trong ngũ ấm, chẳng thấy
tâm ở trong thập bát giới. Đã chẳng thấy tâm rồi, Bồ
Tát suy nghĩ rằng: Tâm duyên như vậy là dị biệt hay chẳng
dị biệt. Nếu tâm khác với duyên thì lẽ ra trong nhứt thời
có hai tâm, nếu tâm là duyên thì chẳng nên tâm lại hay quán
tự tâm, như đầu ngón tay chẳng nên có tự chạm lấy nó.
Quán vậy rồi, Bồ Tát thấy tâm vô trụ vô thường biến
dị, chỗ sở duyên diệt thì biết là tâm, chẳng phải tâm
duyên sanh, chẳng phải chẳng duyên sanh, chẳng phải thường
chẳng phải đoạn, chẳng phải nội, chẳng phải ngoại, chẳng
phải hữu, chẳng phải vô. Bồ Tát quán tâm như vậy chẳng
ngại pháp như, biết tâm tịch tĩnh. Đây gọi là Bồ Tát
tu tâm tâm niệm xứ.
Còn nữa,
nầy Bửu Kế! Đại Bồ Tát quán tâm chẳng phải sắc chẳng
thể nhìn thấy được, chẳng phải giác quán. Đây gọi là
Bồ Tát tu tâm tâm niệm xứ.
Như tâm,
các tâm số cũng vậy. Như tâm số, các tâm hành cũng vậy.
Như tâm hành, các pháp sở cầu của tâm cũng vậy. Như pháp
sở cầu, Bồ đề cũng vậy. Như Bồ đề, tất cả thiện
pháp cũng vậy.
Bồ Tát
nếu quán tâm như di hầu, vẽ nước, sương mai, ong chúa, ngư
mẫu, như sông, như lửa, như tưởng sự xa, như độc hành
không thân, thường chuyển không dừng, tham trước các giới,
thứ đệ sanh diệt, Bồ Tát có thể tư duy nhiếp vô lượng
tâm như vậy, khiến trụ một chỗ chẳng động chẳng chuyển
chẳng lậu chẳng lầm chẳng loạn chẳng tan. Đây gọi là
Xa ma tha.
Bồ Tát
nếu có thể quán như vậy, đây gọi là thành tựu quán tâm
tâm niệm xứ. Đây gọi là biết tâm cảnh giới, là biết
tâm pháp giới, là biết tâm chơn thiệt tướng, là biết tâm
chơn thiệt tánh, tức là quảng tri, tức là tịnh tri, liễu
tri, chơn tri, thiệt tri như huyễn ảo, đây gọi là tri pháp,
tri tâm tánh, tri tâm tận, gọi là vô thủ tri, vô quái ngại
tri.
Đại Bồ
Tát quán như vậy rồi, khéo biết tất cả chúng sanh tâm tánh.
Biết rồi Bồ Tát như chỗ đáng nên mà vì họ thuyết pháp.
Như biết
tâm tánh ấy, biết tất cả chúng sanh tâm tánh cũng như vậy.
Như biết
tự tâm tướng, biết tất cả chúng sanh tâm tướng cũng như
vậy.
Như biết
tự tâm không, biết tất cả chúng sanh tâm không cũng như
vậy.
Như quán
tự tâm bình đẳng, quán tất cả chúng sanh tâm bình đẳng
cũng như vậy.
Quán như
vậy rồi, chẳng động pháp giới. Đây gọi là Bồ Tát tu
tâm tâm niệm xứ.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào là Bồ Tát tu pháp niệm xứ?
Đại Bồ
Tát quán sát như vầy: pháp xuất pháp diệt không có ngã,
chúng sanh, thọ mạng, sĩ phu, không sanh, không diệt, không
một, không xuất, đây gọi là pháp tánh. Nếu hay cầu pháp
đây gọi là xuất pháp, nếu chẳng cầu pháp đây gọi là
diệt pháp.
Các pháp
hoặc thiện hay bất thiện, pháp xuất theo duyên, pháp diệt
theo duyên.
Lúc quán
như vậy, Bồ Tát quán nơi ba hành là ác hành, thiện hành
và bất động hành.
Trong ba hành
ấy, ta nên thường hành cực thiện hành là thập thiện pháp.
Thập thiện pháp ấy là tịnh thân nghiệp để cầu Như Lai
ba mươi hai tướng tám mưới hình hảo người khác chẳng
hại được. Thập thiện pháp ấy là tịnh khẩu nghiệp, phàm
có lời nói ra mọi người thích nghe học. Thập thiện pháp
ấy là tịnh tâm nghiệp, với các chúng sanh tâm thường bình
đẳng, thường nhập thiền định tịnh tứ vô ngại trí.
Vì tịnh tâm bi nên trong vô lượng đời vì chúng sanh thọ
khổ mà tâm chẳng hối. Tịnh thập lực để biết chúng sanh
các căn lợi độn. Tịnh tứ vô uý để biết chúng sanh chướng
không chướng. Tịnh thập bát bất cộng pháp để biết tam
thế vô ngại. Tịnh tất cả Phật pháp vì tất cả chúng
sanh không ai hơn được vậy.
Đại Bồ
Tát hay quán như vậy thì ở nơi các thiện pháp và các công
đức tâm không nhàm đủ, gần kề thiện hành xa lìa ác hành
và phiền não tập khí, chơn thiệt biết rõ bất động hành.
Dầu biết chẳng tham mà tâm được tự tại tuỳ nguyện vãng
sanh chẳng phải kiết nghiệp sanh, Bồ Tát sanh vào dục giới
là vì chúng sanh vậy.
Nầy Bửu
Kế! Đại Bồ Tát được thiện phương tiện quán pháp niệm
xứ tu tập trang nghiêm pháp trợ Bồ đề, xa lìa tất cả
cấu chướng Bồ đề. Được công đức ấy, Bồ Tát chẳng
trước thường kiến chẳng trước đoạn kiến, lìa hai kiến
ấy hành nơi trung đạo.
Luận về
trung đạo có hai pháp: Một là niệm bất thiện và hai là
vô minh. Trong hai pháp ấy tâm chẳng phóng dật đây gọi là
trung đạo.
Còn có hai
pháp: Một là hành, hai là thức.
Còn có hai
pháp: Một là danh sắc, hai là lục nhập.
Còn có hai
pháp: Một là xúc, hai là thọ.
Còn có hai
pháp: Một là ái, hai là thủ.
Còn có hai
pháp: Một là hữu, hai là sanh.
Còn có hai
pháp: Một là lão, hai là tử.
Trong những
hai pháp ấy tâm chẳng phóng dật đây gọi là trung đạo.
Trung đạo
như vậy, trí huệ thế gian chẳng thể thấy được, chẳng
tuyên nói được, chẳng hiển thị được, không có tướng
mạo, không sắc, không xứ, không thủ, không xả, là thanh
tịnh là tịch tĩnh.
Nầy Bửu
Kế! Về trung đạo ấy, chẳng thể nhãn thấy được nhẫn
đến chẳng thể thân xúc được, cũng không chỗ đến, cũng
thế cũng xuất thế, chẳng tuyên nói được, chẳng phải
nhiều chẳng phải ít, nên gọi là trung đạo.
Nầy Bửu
Kế! ngã cùng vô ngã gọi là nhị biên.
Nếu có
Bồ Tát nói rằng: Chẳng thường chẳng đoạn, chẳng mạng
căn chẳng sĩ phu, chẳng tưởng chẳng chẳng tưởng, chẳng
giác chẳng chẳng giác, chẳng thiệt chẳng hư, chẳng thử
chẳng bỉ, chẳng hữu chẳng vô, chẳng hữu vi chẳng vô vi,
chẳng hành chẳng hành chẳng chẳng hành, chẳng sanh tử chẳng
Niết bàn. Đây gọi là trung đạo.
Còn nữa,
nầy Bửu Kế! Đại Bồ Tát quán pháp pháp niệm xứ chẳng
phân biệt pháp giới. Như pháp giới, chúng sanh giới cũng
vậy. Hai giới như vậy gọi là hư không giới. Pháp giới
ấy tức là chúng sanh giới. Chúng sanh giới ấy tức là vô
phân biệt. Đây gọi là quán sát tất cả pháp bình đẳng,
thấy tất cả giới tức là pháp giới. Dầu thấy rành rõ
mà tâm chẳng thủ trước, vì không trước thì không phân
biệt.
Đại Bồ
Tát chẳng dùng nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn quán pháp
niệm xứ, tại sao, vì ba nhãn như vậy không có tướng mạo.
Vì thế nên quán pháp, Bồ Tát dùng pháp nhãn. Dầu tỏ rõ
biết mà Bồ Tát tâm chẳng trước. Dầu chẳng trước mà
chẳng mất pháp giới, đây gọi là phật trí. Có thể biết
thậm thâm pháp giới như vậy mà chẳng mất nơi Nhứt thiết
trí niệm. Đây gọi là Bồ Tát tu pháp pháp niệm xứ.
Nầy Bửu
Kế! Đại Bồ Tát cớ chi tu tập bốn niệm xứ ấy, vì muốn
xa lìa bốn điên đảo vậy. Tu thân niệm xứ để lìa tịnh
đảo. Tu thọ niệm xứ để lìa lạc đảo. Tu tâm niệm xứ
để lìa thường đảo. Tu pháp niệm xứ để lìa ngã đảo.
Còn lìa
bốn thứ thực: tu thân niệm xứ để lìa đoàn thực, tu thọ
niệm xứ để lìa xúc thực, tu tâm niệm xứ để lìa thức
thực, tu pháp niệm xứ để lìa tư thực.
Còn xa lìa
bốn trụ xứ của thức. Tu thân niệm xứ xa lìa trụ sắc
xứ. Tu thọ niệm xứ lìa trụ niệm xứ. Tu tâm niệm xứ
lìa trụ tưởng xứ. Tu pháp niệm xứ lìa trụ hành xứ.
Vì lìa ngũ
ấm mà tu Tứ niệm xứ. Tu thân niệm xứ, để lìa sắc ấm.
Tu thọ niệm xứ, để lìa thọ ấm. Tu tâm niệm xứ, để
lìa thức ấm. Tu pháp niệm xứ, để lìa tưởng hành ấm.
Đây gọi
là Bồ Tát tịnh Tứ niệm xứ hành.
Nầy Bửu
Kế! Thế nào là Bồ Tát tịnh Tứ chánh cần hành?
Đại Bồ
Tát thường thích tu tập tất cả thiện pháp.
Ác pháp
chưa sanh vì chẳng sanh mà siêng tu tinh tiến. Ác pháp đã sanh
vì xa lìa mà siêng tu tinh tiến. Thiện pháp chưa sanh vì sanh
mà siêng tu tinh tiến. Thiện pháp đã sanh vì trụ vững chẳng
mất mà siêng tu tinh tiến.
Đại Bồ
Tát nơi vô lượng đời tu tập thiện hành vì vậy nên tánh
thiện chẳng dùng phương tiện khiến ác chẳng sanh. Nếu Bồ
Tát tu Tứ chánh cần thì tâm được tự tại.
Chánh cần
ấy, Bồ Tát lúc ấy tâm và tâm số cùng đại từ đại bi
hoà hiệp cộng hành, đây gọi là chánh cần.
Bồ Tát
lúc bấy giờ kế thứ tu Tứ như ý túc là dục, tâm, tiến
và huệ.
Chuyên niệm
chí tâm niệm nơi Bồ đề đây gọi là dục.
Vì tu đại
bi nên giác tâm nhẹ nhàng tiện lợi đây gọi là tâm.
Xa lìa ác
pháp đây gọi là tinh tiến.
Vì được
phương tiện nên gọi là huệ.
Bồ Tát
tu Tứ như ý túc rồi được bốn tự tại. Một là thọ mạng
tự tại. Do tự tại nên dầu sanh đoản thọ mà tự được
trường thọ để điều phục chúng sanh cùng kẻ trường thọ,
nên diễn nói chánh pháp. Ở trong trường thọ có thể hiện
đoản thọ. Tuỳ xứ nào Bồ Tát thọ sanh hoặc Trời hoặc
loài người, Bồ Tát đều được thọ mạng tự tại.
Hai là thân
được tự tại. Do tự tại nên tuỳ tâm mà làm thân, tuỳ
tâm mà làm sắc, thị hiện oai nghi vì chúng sanh vậy. Bồ
Tát nếu muốn thân mình cùng thân chúng sanh đồng cao lớn
nhỏ bé đều có thể tuỳ tâm làm được cả.
Ba là được
pháp tự tại. Vì tự tại nên có thể biết tất cả pháp
thế gian tất cả pháp xuất thế. Chỉ dạy các chúng sanh
tất cả thế sự, nơi xuất thế hành tâm cũng chẳng thối
thất, biết rõ thậm thâm thập nhị nhân duyên được vô
ngại trí có thể vì chúng sanh nói các pháp. Vô lượng chúng
sanh nghe pháp ấy rồi phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Bốn là
nguyện được tự tại. Do tự tại nên có thể khiến bốn
đại hải hiệp làm một mà chẳng lai chẳng khứ, không có
động chuyển như cũ không khác. Cũng có thể khiến tất cả
Tu Di sơn trong tam thiên Đại Thiên thế giới hiệp làm một
mà chẳng lai chẳng khứ không có động chuyển như cũ không
khác, với Tứ Vương Thiên Đao Lợi Thiên không có phòng ngại.
Nếu muốn khiến tam thiên Đại Thiên thế giới đều làm
kim bửu, thất bửu, chiên đàn, anh lạc, hương hoa, hư không,
thuỷ, hỏa đều tuỳ ý thành cả. Đây gọi là Bồ Tát được
tứ tự tại.