LVIII
PHÁP HỘI BỬU TRÀNG
THỨ NĂM MƯƠI TÁM
(Hán
bộ từ quyển 146 đến quyển 149)
Hán
dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm
Việt
dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
PHẨM ĐIỀU
PHỤC MA
THỨ NHẤT
Như vậy,
tôi nghe một lúc đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật vẫn ở
tại Đại Bửu Phường Đình giữa Dục giới và Sắc giới
cùng đại chúng quyến thuộc câu hội thuyết pháp.
Lúc bấy
giờ, đức Phật bảo đại chúng rằng: “Thuở trước, lúc
ta mới được Vô thượng Bồ đề, ta ở vườn Trúc Lâm của
Ca Lan Đà Trường giả tại thành Vương Xá. Bấy giờ trong
thành có hai trí giả là ông Ư Ba Đề Xá và ông Câu Luật
Đà đầy đủ thành tựu mười tám nghệ thuật, năm trăm
đệ tử thường theo. Hai trí giả ấy bảo nhau rằng nếu
ai trước được pháp vị cam lộ thì sẽ lại ban bố cho nhau.
Có một
Tỳ Kheo tên là Mã Tinh sáng sớm từ thiền định dậy vào
thành Vương Xá thứ đệ khất thực.
Ông Ưu Ba
Đề Xá giửa đường xa thấy Tỳ Kheo Mã Tinh liền tự nghĩ
rằng ta từ trước ờ thành Vương Xá nầy chưa từng thấy
có một Sa Môn hay một Bà La Môn nào mà oai nghi tường tự
như vị nầy, ta nên đến hỏi ổng thờ ai làm thấy, theo
ai để học pháp.
Ưu Ba Đề
Xá đến trước Mã Tinh Tỳ Kheo hỏi rằng : “Thưa Tỳ Kheo
! Thầy Ngài là ai ? Ngài theo ai học pháp ?”.
Mã Tinh đáp
rằng : “Nầy thiện nam tử ! Có Thích Ca Mâu Ni Như Lai Đại
Sư bực tôn Vô thượng hơn các bực xuất gia đã qua khỏi
sanh tử được giải thoát có thể độ vô lượng chúng sanh
gọi đó là Phật, có thể giác ngộ chúng sanh khéo làm các
hạnh lành, có thể làm khô biển khổ, đả đầy đủ thành
tựu những pháp như vậy là thầy của tôi, tôi học pháp
theo Phật Thế Tôn ấy”.
Ưu Ba Đề
Xá hỏi : “Thưa Tỳ Kheo ! Thầy của Ngài thường dạy pháp
gì?”.
Mã Tinh nói
: “Nầy thiện nam tử ! Nay người lắng nghe, tôi sẽ vì người
mà phân biệt giải nói.
Pháp theo
duyên mà sanh, thông đạt là nhơn, vì nhơn duyên diệt tức
là tịch tĩnh. Thế gian là khổ, khổ nhơn gọi là tập, nếu
tu bát chánh đạo thì thế gian tập dứt diệt, nếu không
có khổ và tập thì gọi là Niết bàn.
Nầy thiện
nam tử ! Thấy của tôi nói các pháp như vậy”.
Ưu Ba Đề
Xá nghe lời ấy rồi liền được pháp nhãn tịnh gọi là
Tu Đà Hoàn, bèn nói kệ rằng :
Tôi nghe
Tỳ Kheo nói tứ đế
Liền qua
khỏi được ba ác đạo
Xưa chỗ
chưa nghe nay được nghe
Xưa chỗ
chưa được nay đã được
Tôi nay đã
khỏi ba ác đạo
Chơn thiệt
biết rõ đạo phi đạo
Tôi nay thành
tâm quy y Phật
Vì Phật
hay nói pháp ấy vậy.
Nói kệ
xong, lại hỏi Tỳ Kheo Thế Tôn như vậy hiện nay ở tại
đâu ?
Mã Tinh nói
: “Đức Thế Tôn nay ở tại thành Vương Xá vườn Trúc Lâm
của Ca Lan Đà Trưởng giả cùng các Ngài Ca Diếp một ngàn
Tỳ Kheo câu hội và mười ngàn Bồ Tát, ông nên đến đó”.
Ưu Ba Đề
Xá nói : “Thưa Tỳ Kheo ! Nay tôi trở về hỏi bạn đồng
học và đồ chúng của tôi”.
Ưu Ba Đề
Xá kính lễ Mã Tinh Tỳ Kheo hữu nhiễu ba vòng trở về trụ
xứ.
Câu Luật
Đà từ xa thấy Ưu Ba Đề Xá liền hỏi vói rằng : “Nầy
bạn Ưu Ba Đề Xá ! Nay tôi nhìn bạn các căn tịch tĩnh
thanh tịnh nhan sắc vui tươi, phải chẳng bạn đã được
pháp vị cam lộ rồi chẳng ?”.
Ưu Ba Đề
Xá nói : “Nầy bạn Câu Luật Đà ! Tôi đã được. Lắng
nghe lắng nghe, tôi sẽ vì bạn mà nói.
Pháp theo
duyên sanh, thông đạt là nhơn, vì nhơn duyên diệt tức là
tịch tĩnh. Thế gian là khổ, khổ nhơn gọi là tập, nếu
tu bát chánh thế gian tập diệt dứt, nếu không khổ tập
gọi là Niết bàn”.
Câu Luật
Đà nói : “Nầy Ưu Ba Đề Xá ! Lời nói ấy có thể hết
các khổ tức là phạm hạnh, có thể dứt tà kiến tất cả
nhơn duyên, cũng nói tất cả hữu vi vì đều rỗng không .
Mong được bạn nói lại”.
Ưu Ba Đề
Xá liền nói lập lại những lời trên.
Nghe xong,
Câu Luật Đà liền được pháp nhãn tịnh thành Tu Đà Hoàn
bèn nói rằng : “Lời pháp ngữ như vậy có thể qua khỏi
tứ lưu, ra khỏi sanh tử, thông đạt ngũ ấm, dứt hẳn phiền
não. Pháp vị cam lộ nay tôi đã được chẳng nên còn ở
đây nữa.
Nầy bạn
Ưu Ba Đề Xá ! Bực Thầy như vậy nay ở tại đâu?”.
Ưu Ba Đề
Xá nói : “Tôi nghe bực Thầy ấy hiện nay ở thành Vương
Xá vườn Trúc Lâm của Trưởng giả Ca Lan Đà”.
Ưu Ba Đề
Xá và Câu Luật Đà bảo các đệ tử rằng : “Nầy trong
xứ nầy có Thích Ca Như Lai, chúng ta đã học được pháp
của Ngài nói. Các người hôm nay muốn về nơi đâu ?”.
Bấy giờ
trên Thiên cung Ma vương bảo hàng chư Thiên rằng : “Nước
Ma Kiệt Đà có hai đại nhơn Trí huệ tối thắng là ông Ưu
Ba Đề Xá và ông Câu Luật Đà nay muốn làm đệ tử Sa Môn
Cù Đàm. Nếu hai đại nhơn ấy theo thọ pháp Sa Môn Cù Đàm
thì cảnh ta ắt trống rỗng, nay ta muốn đến đó xoay chuyển
tâm xuất gia của hai đại nhơn ấy”.
Ma vương
liền biến hóa thân mình làm tượng Mã Tinh Tỳ Kheo đến
chỗ Ưu Ba Đề Xá va Câu Luật Đà mà bảo rằng: “Nầy
các phạm chí! Trước đây ta nói như vậy là để thử trí
của người thôi. Thiệt ra Thích Ca Như Lai chẳng nói như vậy.
Như Lai thường nói không có nghiệp và quả thiện, không có
nghiệp và quả ác, nếu người có thể gần kề vui ngũ dục
thì người ấy liền được pháp vi cam lộ. Như Lai lại còn
nói không có đời nầy đời sau vì thế nên không có nghiệp.
Nếu không có nghiệp thì ai làm ai thọ. Đã không chửng tử
làm sao có quả. Thích Ca Như Lai chỉ nói lời ấy thôi”.
Ưu Ba Đề
Xá và Câu Luật Đà bảo nhau rằng : “Lời nói ấy tức là
ma thuyết chẳng phải lời Như Lai, cũng chẳng phải là lởi
của Mã Tinh Tỳ Kheo”.
Ma vương
biết như vậy liền biến mất.
Hai người
lại bảo các đệ tử rằng : “Các người thường đế quán
sanh lão bịnh tử thế nhơn không ai khỏi. Nay chúng ta đã
có thể dứt hẳn khổ, ngày nay các người muốn cầu điều
gì?”.
Ma vương
lại hiện hình Mã Tinh Tỳ Kheo nói rằng : “Ai có thể phá
hoại được sanh lão bịnh tử ! Như có người nói tôi có
thể phá hoại hư không. Không bao giờ có lẽ ấy. Nếu nói
có thể phá hoại sanh lão bịnh tử thì cũng như vậy”.
Câu Luật
Đà nói với Ma vương rằng : “Tôi muốn thông đạt pháp
thanh tịnh xa lìa các khổ. Tất cả xuất gia đều không có
giải thoát được phiền não khổ như vậy. Vì thế nên nay
tôi muốn đến chỗ đức Như Lai.
Nầy Ma vương
! Như chốn rừng kêu mà nói là sử tử rống, hình sắc tương
tợ mà thiệt ra không phải là sư tử. Nay người dầu hiện
hình Tỳ Kheo mà lời nói của người chẳng phải là lời
của Tỳ Kheo.
Luận về
Tỳ Kheo ấy là phá phiền não. Lời nói phá phiền não tức
là thanh tịnh. Nói không có thiện ác thì chẳng phải lời
của Tỳ Kheo”.
Trong hư
không tất cả chư Thiên đều khen rằng : “Lành thay lành
thay ! Nầy thiện nam tử ! Tất cả xuất gia thì Phật đạo
là tối thắng. Phật đạo ấy tức là Niết bàn. Nay tôi chẳng
nhận lời nói của ma. Lành thay lành thay !”.
Ma vương
lòng rất khổ não liền ẩn mất.
Các đệ
tử bạch hai thầy rằng : “Nay thầy thọ chánh pháp và Vô
thượng của Cù Đàm Sa Môn, chúng tôi cũng vậy nên đến
chỗ Như Lai để hỏi học”.
Hai đại
sư cùng năm trăm đệ tử đồng qua vườn Trúc Lâm Ca Lan Đà
Trưởng giả.
Ma vương
tại giữa đường ấy hóa làm hố lớn sâu năm thăm do tuần
muốn khiến đoàn người ấy chẳng đến được chỗ Phật.
Đức Phật
biết như vậy liền dùng thần thông lực làm cho đoàn người
ấy thấy đường bằng phẳng không có hầm hố.
Ma vương
lại hóa ra tòa núi cao lớn ngàn dặm. Do thần lực của Phật
đoàn người ấy không thấy núi.
Ma vương
lại sai trăm ngàn sư tử ngăn đường. Các sư tử thấy Ưu
Ba Đề Xá và Câu Luật Đà cùng năm trăm đệ tử liền sanh
thiện tâm mà nằm mọp yên lặng. Hai người và đệ tử được
đến chỗ Phật.
Đến rồi,
tất cả đoàn người đầu mặt lạy chưn đức Phật rồi
dứng qua một phía mà bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế
Tôn ! Ngưỡng mong dức Như Lai cho tôi xuất gia, tôi muốn tu
phạm hạnh thanh tịnh trong Phật pháp”.
Đức Phật
nói : “Thiện lai các thiện nam tử. Tùy ý tu tập thanh tịnh
phạm hạnh”.
Đức Phật
nói xong, đều được đủ giới Tỳ Kheo.
Ma vương
thấy hai người ấy được xuất gia rồi liền biến hóa làm
tượng Trời Tự Tại Thiên hướng lên đức Phật mà nói
kệ rằng :
Thế gian
nếu có người trí huệ
Đầy đủ
thành tựu thế phương tiện
Đều đến
lễ kính cúng dường ta
Ta cũng vì
họ nói tịnh đạo
Cù Đàm
nếu muốn độ sanh tử
Nay nên thành
tâm thấy quy y
Nay lời
ta nói đạo thanh tịnh
Như Phật
trước nói không có khác
Phật liền
nói kệ đáp Ma vương :
Ta chơn thiệt
biết bát chánh đạo
Hay vĩnh
viễn lìa phá các khổ
Các người
chơn thiệt chẳng biết được
Chớ dùng
thân chồn sư tử hống
Ma vương
ẩn tượng Tự Tại Thiên hiện hình Phạm Thiên nói kệ rằng
:
Chơn thiệt
xa lìa các phiền não
Hay quà Tam
thiên Đại thiên giới
Chớ vì
chúng sanh thọ các khổ
Phải nên
yên lặng thọ thiền lạc
Thế gian
nhẫn đến không một người
Kham được
dựng nhận vị cam lộ
Nay ta thương
xót nên bảo Ngài
Phải mau
nhập vào Niết bàn
Đức Phật
lại nói kệ đáp rằng :
Ta thấy
thế gian nhiều chúng sanh
Hay độ
biển lớn khổ sanh tử
Các loại
thượng trung hạ như vậy
Được độ
trước rồi Phật mới diệt.
Ma vương
lòng rất rầu lo khổ não trở về bổn cung. Hàng quyến thuộc
ma thấy vậy đều nói rằng vua ta cớ chi lại sầu khổ quá
như vậy. Dầu bảo nhau như vậy mà không ai biết cả.
Lúc ấy
các thể nữ ma số số năm trăm người, thân đeo chuỗi ngọc
trang sức xinh đẹp ví Ma vương mà trỗi kỹ nhạc ca vũ đùa
giỡn để làm vui.
Ma vương
đưa tay ngăn lại. Các thể nữ đều yên lặng. Lần thứ
hai đến lần thứ bảy cũng bị Ma vương ngăn lại không cho
ca múa.
Có một
thể nữ tên là Điện Quang thưa rằng : “Tâu Đại Vương
có chi sầu não như là mất ngôi trời, hay là hỏa tai khởi
lên chẳng ? Hay là có kẻ oán thù mà không trừ được chăng?”.
Ma vương
đáp rằng : “Ta có kẻ đại oán thù, đó là Thích Chủng
Tử. Người đại ác ấy thành tự áo thuật. Nếu không trị
được người ấy thì cõi ta ắt sẽ trống rỗng”.
Thể nữ
Điện Quang nói : “Thích Chủng Tử ấy lấy gì để trang
nghiêm, có đạo lực gì, ai là bạn đảng mà có thể làm
trống cõi của Đại Vương ?”.
Ma vương
đáp : “Người ấy dùng thí giới nhẫn để trang nghiêm,
dùng vô thường khổ không làm áo giáp binh khí. Nếu phá hoại
các cõi thọ sanh của chúng sanh thì ta chẳng biết họ sẽ
ở đâu.
Người ấy
đầy đủ vô thượng đại thần thông lực, dùng đại từ
đại bi làm bạn đảng có thể độ tất cả chúng sanh trong
ba cõi. Vì vậy nên có thể làm cho cõi ta trống rỗng”.
Các Thiên
thể nữ ấy nghe công đức của Phật đều mang cầm hoa hương
và các kỹ nhạc đồng đến chỗ Phật tận tâm cúng dường.
Trong đại chúng chỉ có Phật thấy họ, chúng hội đều không
có ai thấy. Đại chúng có lòng nghi bạch Phật rằng: “Bạch
đức Thế Tôn ! Các hương hoa kỹ nhạc cúng dường như vậy
có phải là do thần lực của Ngài Xá Lợi Phất hay Ngài Đại
Mục Kiền Liên làm ra chẳng ?”.
Đức Phật
nói : “Chẳng phải. Đây là những món cúng dường của năm
trăm thể nữ của Ma vương. Chẳng bao lâu Ma vương sẽ đến
đây”.
Các Thiên
thể nữ nghe lời Phật nói lòng rất vui mừng liền được
chẳng mất tâm Bồ đề.
Các Thiên
thể nữ qùy dài chắp tay nói kệ rằng :
Như Lai dứt
hẳn các phiền não
Hay thí chúng
sanh tịnh pháp nhãn
Khiến chúng
sanh độ biển sanh tử
Nên tôi
chí tâm ca ngợi lễ
Tất cả
trời người khen cúng dường
Đấng đủ
vô lượng vô biên trí
Mong Phật
vì tôi khai phương tiện
Khiến tôi
thoát được thân nữ nhơn
Thế Tôn
tu đại không tam muội
Tỏ rõ thông
đạt đệ nhứt đế
Đầy đủ
Phật bửu đại Thương Chủ
Mong phá
ma lực điều phục tôi.
Các Thiên
thể nữ nói kệ ca ngợi đức Phật rồi trở vể ma cung mà
nói kệ rằng :
Tự tại
của vua chẳng phải thường
Cũng chưa
lìa sanh lão bịnh tử
Các khổ
phiền não vây thân vua
Thường
làm ngu tối ở ác đạo
Nếu muốn
qua biển sanh lão tử
Phải có
lòng tin đến Như Lai
Nay tôi muốn
lại đến chỗ Phật
Hỏi học
cam lộ chánh pháp vị.
Ma vương
sanh lòng giận ác muốn dùng năm thứ trói buộc để trói
các thể nứ ấy. Do Phật thần lực nên chẳng trói được.
Các thể nữ ấy liền trở lại chỗ Phật. Ma vương mắt
thấy mà chẳng ngăn được. Ma vương lại ở hư không làm
gió tỳ lam muốn làm cho thân các thể nữ ấy tan nát chẳng
được thấy Phật. Do Phật thần lực nên chẳng làm hại
được các thể nữ ấy.
Lúc ấy
ma vương khóc khổ dùng âm thanh lớn bảo các vợ con rằng
: “Nay ta tan mất sức đại thần thông. Có một đậc thọ
mọc ra ở thế gian vì các chúng sanh mà nói dứt diệt thành
tựu đại ảo thuật có phương tiện khéo giỏi”.
Nghe lời
nói của ma vương các quyến thuộc đều tụ họp đến chỗ
Ma vương hỏi rằng : “Đại Vương cớ chi sanh sầu não quá
vậy. Đã không có tướng thối vị lai không có hỏa tai, trong
Dục giới lại không có kẻ oán địch ?”.
Ma vương
nói : “Nay các ngươi chẳng thấy thế gian có một người
ngồi Bồ đề thọ phá bốn binh chủng, dường như lửa lớn
đốt cháy cỏ khô. Tất cả người trí trong đời đều quy
thuộc. Người ấy tức là kẻ oán địch của ta. Các ngươi
chẳng thấy năm trăm thể nữ bỏ ta mà đi quy y người ấy
sao.các ngươi nếu không trị Thích Tử ấy thì cả cõi Đại
Thiên như vầy chẳng bao lâu sẽ trống rỗng. Các người đều
nên tự nghiêm bị vững mạnh cùng nhau tận lực trừ Thích
Tử ấy”.
Các Ma tử
nói : “Lành thay ! Thưa Đại Vương chúng tôi sẽ trang bị
tận thần lực mình, nếu trừ được người ấy thì
tốt thay vui thay. Nếu như chẳng được lại sẽ quy y người
ấy”.
Ma vương
nói : “Ác nhơn ! Nay sao ngươi dám thốt lời như vậy?”.
Ma tử thưa
: “Tâu Đại Vương ! Sa Môn Cù Đàm ngày trước một mình
ngồi cây Bồ đề còn khó làm trở ngại được, huống là
ngày nay quyến thuộc vô lượng đông nhiều mà lại có thể
trừ được”.
Ma vương
nói : “Con thân mến ! Nếu có thể giết chết Sa Môn Cù Đàm
thì rất tốt rất hay. Nếu như không được thì chúng ta sẽ
tự thủ cõi của mình”.
Lúc bấy
giờ bốn binh chủng ma số đông vô lượng đầy cả Diêm
Phù Đề cao tám mươi do tuần, phóng đại ác phong tuôn mưa
lớn, tay vỗ núi Tu Di lay động cả tứ thiên hạ, phát âm
thanh ác lớn như tiếng đại Long Vương tiếng Dạ Xoa các
quỷ, làm rúng động tất cả sông ao khe suối. Tất cả trời
rồng người quỷ đều kinh sợ run rẩy.
Ma chúng
ở trên núi Tu Di lấy một khối đá lớn muốn đè chụp cả
thành Vương Xá vườn Trúc Lâm Ca Lan Đà.
Phật liền
nhập phá ma lực thế tam muội, do sức tam muội ấy làm cho
tất cả các binh khí, các khối đá lửa độc của ma chúng
đều biến làm các thứ hoa, như là hoa ưu bát la, hoa bát đầu
ma, hoa câu vật đầu, hoa phân đà lợi rơi xuống thành Vương
Xá, lại còn biến ra các thứ hương thơm. Biến các âm thanh
ác của ma thành tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tăng, tiến
thần thông, tiếng Ba la mật, tiếng bất thối chuyển, tiếng
Bồ Tát, tiếng phá binh ma, tiếng Niết bàn, cũng làm cho ác
phong lặng mất. Tất cả cỏ cây đều biến thành thất bửu
vi diệu. Thân Phật lúc ấy cao đến Trời Sơ Thiền đủ ba
mươi hai tướng tám mươi vẻ đẹp, phóng ánh sáng lớn chiếu
khắp Đại Thiên thế giới, trong tất cả Trời, Người, Rồng,
Dạ Xoa, A Tu La, Ca Lâu La, Càn Thát Bà, Khẩn Na La, Ma Hầu La
Gìa, Nhơn Phi Nhơn nhẫn đến các loài địa ngục, súc sanh,
ngạ quỷ đều thấy thân Phật. Vô lượng chư Thiên thiết
lễ cúng dường lớn như là những hoa hương phan lọng kỹ
nhạc. Ba ác đạo chúng sanh xưng Nam Mô Phật liền được
thoát khỏi tam đồ thọ thân trời người.
Ma chúng
thấy Phật hiện thần lực như vậy đều sanh tính tâm nói
kệ rằng :
Nay tôi quy
y nơi Như Lai
Đấng ba
nghiệp tịnh trí vô thượng
Hay hiện
ma giới bát chánh đạo
Cho chúng
sanh tối ánh sáng lớn
Có đủ
thập lực không ai hơn
Bình đẳng
tất cả xem như con
Tâm Phật
bình đẳng như hư không
Nên tôi
kính lạy đại Pháp Vương
Phiền não
chẳng nhiễm tu từ bi
Chứng được
cát tường dạy nhơn quả
Hay ban chúng
sanh chơn giải thoát
Nên nay tôi
cúi đầu lễ lạy
Đại từ
đại bi trời trông trời
Đấng Thế
Tôn tối thắng vô thượng
Nói tất
cả pháp như thủy nguyệt
Nay tôi kính
lễ đại Đạo Sư
Chúng sanh
bị bịnh phiền não nặng
Nên tôi quy
y đại Y ương
Ác đạo
chúng sanh nghèo thất tài
Nay nên quy
y đấng Vô Lậu
Ngưỡng
mong xót thương cho sám hối
Nơi chỗ
đức Phật sanh ác tâm
Phật là
cha mẹ hiền của chúng
Nay tôi xả
bỏ các nghiệp ma
Tôi hay triệu
thỉnh các chúng sanh
Vì họ phát
khởi tâm Bồ đề
Mong vì tôi
nói đạo vô thượng
Có những
pháp gì được Bồ đề
Nay tôi phụng
hiến diệu hương hoa
Ví chúng
sanh mà cúng dường Phật
Thân cận
hiện hữu thiện tư duy
Chí tâm
nghe học như pháp trụ.
Năm trăm
thể nữ cùng ma quyến thuộc dâng diệu hương hoa phan lọng
kỹ nhạc cúng dường Phật.
Những món
cúng dường ấy khắp đến vô lượng hằng hà sa thế giới
chư Phật, đồng thời cúng dường vô lượng chư Phật, tất
cả ma chúng thảy đều nhìn thấy sắc thân chư Phật đồng
như nhau không có sai khác. Chỉ có tòa sư tử thế giới rừng
cây nhà cửa đền điện thì sai khác chẳng đồng.
Thấy rồi
ma chúng đều rất vui mừng ngồi bên đức Phật chí tâm nghe
pháp. Nghe thọ pháp rồi trở về ma cung tâu với Ma vương
rằng : “Chúng tôi đến chỗ Sa Môn Cù Đàm tận thần lực
cũng chẳng động được một sợi lông.
Đại Vương
nên biết rằng nay chúng tôi đã thuộc về Sa Môn Cù Đàm”.
Ma vương
tâm ác sanh sân nghĩ rằng ta sẽ làm sao giết Thích Tử ấy
trừ diệt kẻ oán thù ấy.
Ma vương
lòng rất lo rầu nhập vào nhà khổ.
Lúc bấy
giờ ma chúng trở lại chỗ đức Phật bạch Phật rằng :
“Bạch đức Thế Tôn ! Chúng tôi muốn Đại thừa, niệm
Đại thừa lại đủ thần thông đại từ đại bi.
Bạch đức
Thế Tôn ! Đại Bồ Tát có đủ bao nhiêu pháp chẳng gần
ác hữu mau được thành tựu Vô thượng Bồ đề ?”.
Đức Phật
nói : “Nầy các thiện nam tử ! Đại Bồ Tát có đủ bốn
pháp chẳng gần ác hữu mau được Vô thượng Bồ đề.
Một là
nếu Bồ Tát chẳng tham các pháp chẳng bỏ các pháp, chẳng
thọ các pháp, chẳng giác các pháp, cũng không có ý tưởng
ngã và ngã sở, làm bố thí chẳng cầu quả báo, chẳng sanh
lòng tham trước, chẳng bỏ chẳng lấy, cũng không có hay biết
ý tưởng ngã và ngã sở, nhẫn đến Niết bàn cũng như vậy.
Hai là nếu
Bồ Tát chẳng thấy chúng sanh thọ mạng sĩ phu, cũng chẳng
bỏ chúng sanh giới, chẳng tham chẳng lấy, cũng chẳng hay
biết ý tưởng ngã và ngã sở.
Ba là nếu
Bồ Tát chẳng thấy sắc thanh hương vị xúc pháp, cũng chẳng
bỏ săc thanh hương vị xúc pháp chẳng bỏ chẳng lấy, cũng
chẳng hay biết ý tưởng ngã và ngã sở.
Bốn là
nếu Bồ Tát có thể thâm quán sát các pháp như vậy, nơi
Phật chánh trí chẳng sanh giác quán, tại sao, vì dứt tất
cả hành dứt tất cả trí gọi là Phật trí, vì không có,
không thừa, không thanh, không tưởng, không chữ, không có
vô lượng, không sanh, không xuất, không diệt, không tưởng,
không ngại, không chướng, không thấy, là tịch tĩnh không
ngã, không thọ mạng, không danh, không sáng, không tối, không
xứ, không tiết, không biên, không số, không giới, không căn,
không cánh, không có tư duy, không thực, không tham, không tịnh,
không cấu, không bực, không hành, không ái, không nghiệp,
không dựa ở, không nắm lấy, không tạo tác, không hiển
thị được, không niệm niệm diệt, đây tức là Phật trí.
Dường như
hư không, như hư không không có giác quán chẳng thể tuyên
nói không có nhiễm trước không có giác tri.
Đại Bồ
Tát có đủ bốn pháp như vậy chẳng gần ác hữu mau được
thành tựu Vô thượng Bồ đề.
Nầy các
thiện nam tử ! Nếu có người hay cầu trí huệ như vậy thì
nên biết người ấy hay quán hai pháp, đó là nhãn sắc, nhĩ
thanh, tỷ hương, thiệt vị, thân xúc và ý pháp.
Còn có hai
pháp đó là sanh từ và Niết bàn
Còn có hai
pháp đó là sanh và hữu.
Còn có hai
pháp đó là thường và đoạn.
Còn có hai
pháp đó là chúng sanh và thọ mạng.
Còn có hai
pháp đó là thử và bỉ.
Còn có hai
pháp đó là nội và ngoại
Nầy các
thiện nam tử ! Nếu người muốn cầu Phật trí mà lìa những
hai pháp như vậy để quán các pháp khác, nênbiết người
ấy chẳng thể được.
Ví như có
người cầu lửa mà lại lấy băng, cầu món ăn mà lấy đá,
cầu hoa mà lấy sắt, cầu chất hương thơm mà lấy tử thi,
cầu y phục mà lấy gỗ, cầu hương hoa mà lấy hư không.
Người cầu Phật trí nếu lìa những hai pháp ấy lại quán
pháp khác thì cũng như vậy”.
Trong đại
hội Bửu Phường Đình có một Bồ Tát tên là Địa Ý nghe
lời ấy rồi bạch đức Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn
! Nghĩa bất khả thuyết có thể hay biết được chăng ? Nếu
chẳng hay biết được thì làm sao được gọi là Nhứt thiết
trí ư ?”.
Đức Phật
nói : “Nầy Địa Ý ! Trí bất khả thuyết tức là Nhứt
thiết trí.
Nầy Địa
Ý ! Nay Phật hỏi ông tùy ý ông đáp. Ý ông nghĩ thế nào,
lúc ta được Như Lai Nhứt thiết trí ấy có sở đắc
chăng ?”.
Nghe đức
Phật hỏi như vậy, Địa Ý Bồ Tát tự suy nghĩ nếu ta nói
có tức là thường kiến, nếu ta nói không tức là đoạn
kiến, ta nên xa lìa hai bên ấy mà nói trung đạo. Suy nghĩ
như vậy rồi liền bạch rằng : “ Bạch đức Thế Tôn !
Nghĩa như vậy ấy cũng không. Nếu là bất xuất bất diệt
vô số vô lượng phi minh phi ám thì tức là Phật trí”.
Điện Ý
Bồ Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Nếu là không khứ không
lai thì tức là Phật trí’.
Vô Tận
Ý Bồ Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Nếu pháp chẳng
bị tam thế nhiếp buộc, chẳng sa vào tam giới, chẳng phải
là tam kiết tam trí tam thừa ấm giới nhập vân vân không
có tăng giãm tức là Phật trí”.
Kim Cương
Ý Bồ Tát nói :”Bạch đức Thế Tôn ! Nếu chẳng phân
biệt pháp phàm phu, pháp thánh nhơn, pháp hữu học, pháp vô
học, pháp Thanh Văn pháp Duyên Giác và pháp Phật thì tức
là Phật trí”.
Kiên Ý Bồ
Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Nếu pháp không có chuyển
thì tức là Phật trí”.
Bữu Thủ
Bồ Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Nếu quán tướng sanh
tướng hoại của các pháp , quán rồi thông đạt hiểu biết
không có đắc thất thì tức là Phật trí”.
Thiện Giác
Ý Bồ Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Chúng sanh trong tam
giới theo ý quán ý cũng chẳng hay biết ý thì tức là Phật
trí”.
Phân biệt
oán thân Bồ Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Nếu người
có thể chẳng ưa phiền não chẳng chán phiền não, chẳng
ái, chẳng sân, chẳng bỏ, chẳng cầu, chẳng thí, chẳng niệm,
thì tức là Phật trí”.
Liên Hoa
Tử Bồ Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Chẳng thích tội
phước được thâm pháp nhẫn chẳng hay chẳng biết ngã và
ngã sở. Nếu chẳng hay biết ngã và ngã sở thì tức là Phật
trí”.
Nguyệt Quang
Bồ Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Nếu có thể quán sát
thấy tất cả các pháp dường như thủy nguyệt cũng chẳng
thấy pháp có tăng có giảm thì tức là Phật trí”.
Vô Biên
Ý Bồ Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Nếu ở nơi các pháp
chẳng thấy minh ám, nơi tất cả tâm chẳng thấy sanh diệt
thì tức là Phật trí”.
Di Lặc Bồ
Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Nếu có thể quán sát bốn
thứ phạm hạnh và bất thiện hạnh bình đẳng không có hai
thì tức là Phật trí”.
Vô Tận
Ý Bồ Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Nếu quán tam thế
lục Ba la mật hai tướng không có sai biệt thì tức là Phật
trí”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói : “Bạch đức Thế Tôn ! Nếu ở nơi
các pháp tâm không có tham sân, cũng quán các pháp thậm thâm
cảnh giới , cũng chẳng rõ biết chẳng phải chẳng rõ biết,
cũng chẳng quán pháp có tăng có giảm, chẳng quán trí huệ
và vô minh thì tức là Phật trí”.
Trong đại
chúng có một Bồ Tát tên là Lạc Dục hỏi Văn Thù Sư Lợi
Bồ Tát rằng : “Thưa Đại Sĩ ! Đức Như Lai Thế Tôn do
nhơn duyên gì mà nói các nghĩa thậm thâm như vậy ?”.
Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát nói : “Thưa Đại Sĩ ! Vì khiến các chúng
sanh xa lìa tà kiến được chánh kiến vậy. Được chánh kiến
rồi chẳng sanh nhiễm trước, không có xan lẫn, chẳng gần
ác hữu, chánh mạng tự sống, chẳng nhiễm trước tam kiết,
thương xót chúng sanh, chẳng trụ trước Tam bữu, chẳng phỉnh
dối tất cả, nơi các chúng sanh chẳng trước thủ chẳng
xả ly, chẳng tham trước tài vật, chẳng tham trước tam giới,
chúng sanh bống thì hay cứu hộ, hay phá ác đạo. Mở bày
chánh lộ, chẳng thủ trước nhẫn nhục, lìa tất cả tưởng,
diệt tất cả cấu, trừ tất cả ám, chẳng cầu quả báo.
Do nhơn duyên ấy cầu Nhứt thiết trí. Đã được trí ấy
rồi nơi âm thanh lắng nghe chữ câu chẳng sanh giác quán Phật
ngữ tà ngữ, Phật hạnh tà hạnh, Phật pháp pháp khác, ấn
giới nhập, công đức trang nghiêm, trí huệ trang nghiêm, mười
Ba la mật, ba môn giải thoát, nghiệp và quả, thế trí Phật
trí, nơi tất cả pháp như vậy chẳng sanh phân biệt. Vì cớ
như vậy mà dức Như Lai nói những nghĩa thậm thâm ấy”.
Lạc Dục
Bồ Tát nói : “Lành thay lành thay ! Thiệt như lời đại sĩ
nói. Nghĩa thậm thâm ấy tức là Phật trí, tại sao, ví không
có sở giác trí vậy. Vì không có sở giác nên bất khả thuyết.
Bất khả thuyết ấy tức là Phật trí. Nếu có thể biết
được bất khả thuyết ấy thì nên biết rằng người ấy
tức là Phật trí”.
Đức Phật
nói : “Lành thay lành thay ! Lạc Dục khéo có thể phân biệt
tuyên nói Phật trí. Tại sao, cì chẳng thủ trước các pháp
bất sanh bất diệt tức là Phật trí.
Nầy Lạc
Dục ! Chẳng thủ trước các pháp tức là biên bất xuất,
là biên bất phá hoại, là biên vô minh Niết bàn chơn thiệt
vô xuất, là biên hư không Niết bàn tất cả các pháp tất
cả chúng sanh bất khả thuyết, là biên hư không, là biên
vô quái ngại, là biên không có vật, là biên không có ấm,
là biên không có rỗng không, là biên pháp ấm nghiệp ấm
quà phi quả ấm tụ ấm không có vật, là biên không có vật,
là biên hư không, là biên tất cả các pháp bất khả thuyết.
Nếu đại
Bồ Tát có thể đầy đủ những biên như vậy tức là được
Phật trí”.
Lúc nói
Phật trí bất khả thuyết ấy tất cả ma chúng được Vô
sanh pháp nhẫn, bỏ thân thô được thân tế thân tùy tâm
ý thân pháp hóa.
Còn có hai
vạn tám ngàn chúng sanh ở trong các pháp được Vô sanh nhẫn.
Có chín vạn hai ngàn Bồ Tát được vô lượng đà la ni.
Tất cả
chúng ma đem diệu hương hoa kỹ nhạc cúng dường tán tụng
Như Lai và nói rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Bực thiện
tri thức tức là căn bổn tại sao thiện pháp. Nay tôi vì gặp
Phật thiện tri thức nên được lợi ích lớn”.
Đức Phật
nói : “Nầy thiện nam tử ! Ông nên chí tâm quán nơi các
nghiệp.
Bấy giờ
đức Thế Tôn vì chúng hội mà nói về quá khứ nghiệp.
Nầy thiện
nam tử ! Quá khứ vô lượng a tăng tỳ kiếp, kiếp ấy tên
là Điện Trì, chúng sanh thuở ấy thọ mạng đủ sáu vạn
tám ngàn tuổi, thế giới tên là Diệu Hương Quang Minh, Phật
hiệu Hương Công Đức Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Trị,
Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn. Thuở ấy thế
gian có đủ ngũ trược. Có Chuyển Luân Vương tên là Hoa Mục
thống trị tứ thiên hạ. Vương cùng với Đại Thần nhơn
dân quyến thuộc đến chỗ đức Phật Hương Công Đức dưng
diệu hương hoa phan lọng kỹ nhạc cúng dường đức Phật
và Tỳ Kheo Tăng cung kính lễ lạy hữu nhiễu ba vòng nói kệ
khen Phật :
Phật được
trời người thường khen ngợi
Xa lìa các
ác thích tịch tĩnh
Đủ bảy
thánh tài phá bần cùng
Thế nào
khiến chúng được thâm tri
Tu tập ba
pháp môn giải thoát
Đã được
lìa sanh lão bịnh tử
Hay độ
chúng sanh ba ác đạo
Thế nào
khiến chúng quá ma nghiệp.
Phật Hương
Công Đức nói : “Nầy Đại Vương ! Có đủ ba pháp thì được
thậm thâm trí : một là chí tâm nhớ đến tất cả chúng
sanh, hai là tu tập đại bi phá khổ chúng sanh và ba là thấy
tất cả pháp không có chúng sanh thọ mạng và sĩ phu chẳng
sanh phân biệt.
Còn có ba
pháp hay quá ma nghiệp : Đối với chúng sanh chẳng sanh ác
tâm, hai là lúc bố thí chẳng quán phước điền và phi phước
điền, ba là quán tất cả pháp bình đẳng vô nhị dường
như hư không bất sanh bất diệt không hành không vật không
có tướng mạo chẳng tuyên nói được.
Bồ Tát
có đủ các pháp như vậy thì được thậm thâm trí hay quá
ma nghiệp”.
Luân Vương
có một phu nhơn tên là Thiện Kiến cùng với tám vạn bốn
ngàn thể nữ đồng cúng dường Phật, cúng dường rồi nói
kệ rằng :
Đại Thiên
thế giới không ai hơn
Thường
thích tịch tĩnh tu đại bi
Khéo hành
xa lìa không trần cấu
Thế nào
khiến tôi lìa thân nữ
Đã được
xa lìa tất cả oán
Chơn thiệt
thấy sanh lão bịnh tử
Ngưỡng
mong vì tôi diễn nói đạo
Khiến tôi
có đủ thân nam tử
Lìa các
cõi được đạo vô thượng
Hay ban hoan
hỉ thêm pháp hành
Đầy đủ
thập lục tứ vô úy
Thế nào
khiến tôi lìa nữ thân
Xô diệt
tứ ma tu tứ phạm
Thiệt ngữ
đầy đủ phương tiện khéo
Ba mươi
hai tướng tám mươi tốt
Thế nào
khiến tôi lìa nữ thân
Phật Hương
Công Đức nói :
“Nầy thiện
nữ nhơn ! Có phương tiện khó được lìa thân nữ hay phá
nữ nghiệp nhẫn đến lúc được Vô thượng Bồ đề trọn
chẳng thọ thân nữ nhơn, trừ vì thệ nguyện độ chúng sanh.
Phương tiện
khéo ấy là Bữu tràng đà la nỉ môn. Nếu có thể tu tập
môn đà la ni ấy thì được lía thân nữ tịnh thân khẩu
ý được lìa ba chướng.
Nếu người
được nghe tên môn Bửu Tràng đà la ni ấy thì lìa nữ thân
được thân nam tử, đầy đủ thân vi diệu trí huệ, tịnh
thân khẩu ý thích các hạnh lành, đầy đủ đa văn xa lìa
ác nghiệp và chẳng thọ khổ báo, có thể diệt tội trọng
ngũ nghịch vô gián. Tại sao vậy, vì Bữu Tràng đà la ni như
vậy được diễn nói nơi vô lượng chẳng phải quá khứ
để phá ác nghiệp và tăng trưởng thiện pháp vậy. Hiện
tại mười phương vô lượng chẳng phải cũng đồng nói đó
để phá ác nghiệp và tăng trưởng thiện pháp vậy. Đời
vị lai thập phương chẳng phải cũng đồng nói đó để phá
ác nghiệp khiến thiện pháp tăng trưởng vậy.
Hiện tại
nay ta cũng lại tuyên nói môn Bữu Tràng đà la ni như vậy.
Mười phương hiện tại chư Phật thảy đều tán thán đà
la ni ấy.
Nầy Thiện
nữ nhơn ! Nếu trong quốc độ được thống lãnh của Quốc
Vương có tên đà la ni như vậy mà tán thán thọ trì đọc
tụng thơ tả, thì nước ấy được mười phương hiện tại
chư Phật bộ niệm ngợi khen, tất cả chư Thiên nhẫn đến
Sắc Cứ Cánh Thiên cũng đồng hộ niệm ngợi khen. Nơi
mà Quốc Vương ấy đi đứng ngồi nằm cũng có vô lượng
Thiên, Long Dạ Xoa đều đồng hộ niệm làm cho quốc độ
ấy hoà an vô tranh, không có tật bịnh, binh cách chẳng khởi,
không có mưa gío xấu ác, chẳng lạnh chẳng nóng, ngũ cốc
được mùa, chư ác quỉ thần và ác cầm thú đều có tâm
lành chẳng sanh lòng ác hại. Quốc độ nào có kinh điển
nầy thì những ác tính bất tường ác tướng ác bịnh thảy
đều trừ diệt. Nếu Quốc Vương khởi binh chinh phạt mà
chuyên niệm kinh nầy thì có thể dẹp cường địch khiến
mình đắc thắng. Nếu cả hai Vương đều niệm thì hai binh
hòa đồng chẳng xâm hại nhau.
Nếu có
quốc độ thành ấp thôn xóm mà người ho8ạc xúc vật có
bịnh dịch thì nên chép kinh nầy đặt trân đầu tràn phan,
thì những tật dịch bất tường ấy thảy đều trừ diệt.
Nếu có
pháp sư trì giới tinh tiến, ngày thứ mười lăm trong tháng,
tự tắm rửa sạch sẽ dùng diệu hương hoa cúng dường Tam
bữu, lên toà sư tử tán thán đà la ni nầy. Pháp sư ấy có
thể hộ trì quốc độ mình ở, những hiện tượng xấu ác
liền tiêu diệt, cũng có thể điều phục giáo hóa chúng sanh
nhẫn đến được Vô thượng Bồ đề.
Nầy Thiện
nữ nhơn ! Nếu có người hay đọc tụng kinh nầy nhẫn đến
một bài kệ, người như vậy trọn chẳng còn thọ thân nữ
nhơn, cũng được chẳng thối thất tâm Bồ đề.
Lúc Phật
Hương Công Đức nói đà la ni ấy rồi lấy ngón chơn ấn
đất. Liền đó cả đại địa chấn động sáu cách, mười
phương đại địa cũng chấn động như vậy. Trong các cõi
ấy những hàng Thiên Long Dạ Xoa do công đức lực của Phật
Như Lai nên lòng sanh vui mừng cũng đều thấy va nghe diễn
nói đà la ni”.
Đức Như
Lai nói Bữu Tràng đà la ni rằng :
Nam mô bà
gìa bà đế thọ đế tam miệu, gìa đà bà sa thất lợi đầu
đa đà gìa đa dã, na ma xá ca mâu na đầu, đa tha gìa đa dã,
da đà gìa đa dã, da đà dã, tha ám lạc sí, ám lạc sí mục
sí, xà lệ, xà la xà lân nê, xà la bạt lại đế, xà hê lệ
ba la, phú lũ sa, tam ma xa, a ma di, trầm ma di, ma ha di, xà ma
di, bà la di, bà bà tì, bà bà tì, bà bà tì, bà xà tì, ba la
ha, bà lệ tỉ, xà ha di, bà la ha, bà lệ tỉ. A la xà hê, xà
đấu mục khê, bà phái la, sa phái la tu đà, bạt lại kỳ.
Đàn đế lệ. Đàn đế la, đàn đế lệ, tu lệ tì ha gìa,
chiên đà tì ha gìa, chiên đà tì ha gìa. Chiết thu, thọ đề
sa tì a gìa, tát bà xoa thương, đế đa phàm tu la tì ha ca da
xà la xà la ca xa di lệ a, xa di lệ a, xa di lệ a, xa di lệ a,
xa di lệ a, tỳ bà xa, a yết, ma đậu ninh, đậu ninh, đậu
ninh, ôn ma, ốc tỳ bà xa đề, xà na khất lật đa, a nột
bà đà lệ, nô ương quật lệ cứu la a, nhơn đà bà lệ,
ba ha na tỳ bà xa đà yết bà gía bà kỳ, gía bà kỳ, gía
bà kỳ, a mộ a đà xá ni, bà lệ bạt kỳ, bà sư cửu ma yết
ma thọ kỳ, yết xa hê, xà hê thọ kỳ, ni ca tỳ la sa, tỳ
la sa, tỳ la sa, tỳ la sa, tỳ lại xà, tỳ lại xà, kiếp bà
ma na kiếp sa, hê lợi hi lệ, hi lệ a na bà kỳ đàm ma đàn
na xà na, a bà la di lệ đà, a la quân đà, ba thực tỳ bà kỳ
na đế lệ bà phàm, yết ma xoa đế bà la đốt phả bà, phú
lâu sa đa phàm, a tam ma, tam ma, tam ma, tỳ kỳ nhã đa đà, a
kiệt đà, sá ha.
Đức Thế
Tôn vì đại chúng nói đà la ni ấy, năm trăm thể nữ nghe
rồi liền được thân nam tử. Còn có vô lượng người nữ
và Thiên nữ cũng thọ thân nam tử và được bất thối
tâm Bồ đề dứt hẳn tất cả nghiệp quyết định nữ thân.
Lúc phu nhơn
Thiện Kiến nghe đà la ni ấy rồi, hàng quyết thuộc theo phu
nhơn tám vạn bốn ngàn nữ nhơn cũng chuyển thân nữ được
thân nam tử, còn có vô lượng nhơn nữ Thiên nữ cũng chuyển
nữ thân được thân nam tử.
Lúc ấy
Chuyển Luân Vương đem tứ thiên hạ giao phó Thái Tử rồi
cùng vô lượng người xuất gia tu Phật đạo.
Vô lượng
chư Thiên nghĩ rằng Chuyển Luân vương do nhơn duyên gì bỏ
nước xuất gia. Họ lại bảo nhau rằng cõi nầy có Như Lai
diễn nói diệu pháp, do nơi pháp lực nên nữ chuyển thân
nam, có bỏ nhà mặc ca sa có thể vì hàng bạch y diễn nói
vui nhơn thiên phá khổ tam ác đạo diệt tất cả cõi xô ngã
ma nghiệp làm cho ma thọ khổ. Ma đã thọ khổ chẳng thích
nghe pháp cho rằng đại ảo thuật sư đó là Hương Công Đức
Sa Môn vậy. Còn có kẻ nói nên biết Sa Môn ấy tức là ma
vậy, tại sao, vì hay chuyển thân nữ được thân nam tử.
Lúc ấy
có một đại thần tên là Thiện Hạnh nói như vầy : Các
phụ nữ của ta đều làm nam tử. Vô lượng vợ thiếp con
gái các người cũng chuyển bổn hình mà thọ thân nam tử
rồi cạo bỏ tác râu mặc ca sa quy hướng thuộc về Sa Môn
ấy. Chỉ còn lại mình ta chẳng đi.Chúng ta nên bỏ quốc
độ nầy vĩnh viễn chẳng thấy chẳng nghe đại ác nhơn ấy.
Mọi người nghe lời nói ấy của đại thần đồng xướng
lên rằng : Phải đó, nay ta nếu muốn chẳng thấy chẳng nghe
xa lìa ác Sa Môn ấy thì nên vào thâm sơn. Mọi người bỏ
nhà vào thâm sơn xuất gia tu pháp Bà La Môn mà nói rằng :
Không có giải thoát không có thiện ác quả báo. Trong đời
nầy có một Sa Môn xuất hiện tuyên nói đoạn kiến nói ma
nghiệp khi dối chúng sanh, với ác Sa Môn đại ảo thuật sư
ấy nếu người nào qua thấy nghe lời nói của ổng thân cận
lễ bái cúng dường cung kính thì tâm sẽ cuồng loạn không
còn hiểu biết nên cạo bỏ tóc râu mặc ca sa bỏ nhà cửa
của cải thọ pháp xin ăn ở gò mả, thọ pháp ăn một bữa,
ở trong sanh tử ý tưởng nhàm lìa chẳng còn thích ưa vui
ngũ dục và các thứ hương hoa chuỗi ngọc trang sức kỹ nhạc,
chẳng còn ưa nói đến sự việc thế gian, có đủ những
pháp bất thiện như vậy, nói đoạn kiến hành nơi ma nghiệp,
là kẻ oán thù lớn của các chúng sanh, giáo hóa vô lượng
vô biên chúng sanh khiến họ sanh đoạn kiến. Nếu ai chẳng
thấy ác Sa Môn ấy và chẳng nghe lời của ổng thì được
lợi ích lớn.
Lúc đó
Hoa Mục Tỳ Kheo nghe có vô lượng người sanh đại tà kiến
tự nghĩ rằng nếu ta chẳng điều phục chúng sanh tà kiến
như vậy thì làm sao được Vô thượng Bồ đề.
Hoa Mục
Tỳ Kheo đến thỉnh Phật Hương Công Đức cùng vô lượng
Tỳ Kheo Tăng đi khắp cả nước thành ấp tụ lạc các nơi
thuyết chánh pháp, đó là xa lìa ác pháp tu hành thiện pháp,
hoặc nói pháp Đại thừa, hoặc nói pháp Duyên Gíac thừa,
hoặc nói pháp Thanh Văn thừa, hoặc nói Sa Môn quả, hoặc
giới Tỳ Kheo, hoặc giới Ưu Bà Tắc, hoặc nói pháp Tam Quy,
hoặc lại nói pháp chuyển thân nữ, hoặc nói môn Bửu Tràng
đà la ni, hoặc nói pháp thập thiện nghiệp đạo.
Lúc nói
các pháp ấy, phá trừ được lưới nghi của vô lượng chúng
sanh, khởi tâm lành phát tâm Vô thượng Bồ đề, làm cho vô
lượng chúng sanh đến chỗ Phật, chỉ trừ một đại thần
Thiện Hạnh hướng về Hoa Mục Tỳ Kheo phát ác thệ
nguyện : Nếu đời vị lai người thành Vô thượng đạo thì
ta sẽ ở cõi nước người làm ác ma đến Bồ đề thọ làm
sự khủng bố lớn. Nếu người thành Phật rồi ta sẽ phá
pháp của người. Nếu ta ở nơi người mà sanh tín tâm thì
người sẽ thọ ký cho ta”.