LVII. PHÁP HỘI
BẤT KHẢ THUYẾT BỒ TÁT
THỨ NĂM MƯƠI BẢY
(Hán
bộ từ quyển 144 đến quyển 145)
Hán
dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm
Việt
dịch: Việt Nam, Tỳ Kheo Thích Trí Tịnh
Tôn giả
Xá Lợi Phất nói : “Thưa Đại Sĩ ! Tôi chỉ nhơn A Thấp
Tỳ Kheo khai đạo trừ diệt khách phiền não nên gọi là pháp
nhãn tịnh kỳ thiệt vô sở đắc. Như có người nói rằng
tôi được hư không. Nói như vậy không đúng nghĩa, tại sao,
vì hư không tánh thường tự thanh tịnh, nếu đã là thường
thanh tịnh thì làm sao khả đắc, do mây mù che phủ nên người
chẳng thấy, trừ mây mù rồi thì gọi là thấy. Tánh pháp
giới cũng như vậy, nên tôi thiệt ra không có được pháp
nhãn. Thưa Đại Sĩ! Nay sao Ngài lại nói những nghĩa chẳng
tương ưng, đó là nói pháp giới tánh hoặc tịnh hoặc bất
tịnh?” .
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Thưa Tôn giả ! Lời của Ngài nói
với lời tôi nói đều là cảnh giới chư Phật Như Lai, chẳng
phải chỗ thấy biết của chúng ta”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất hỏi : Thưa Đại Sĩ ! Nếu cho rằng lời nói
như vậy là cảnh giới Phật, chẳng phải chỗ biết của
tôi, sao lại còn nói tánh pháp giới không có phân biệt. Nếu
có phân biệt thì nên biết pháp giới có vô lượng”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Thưa Tôn giả ! Pháp giới tánh nhứt,
thiệt chẳng phải vô lượng”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nói : “Thưa Đại Sĩ ! Như pháp giới tánh ấy
là nhứt, sao lại nói rằng là Phật cảnh giới chẳng phải
chỗ biết của tôi. Như pháp giới tánh ấy là nhứt, thì
do cớ gì mà tất cả chúng sanh chẳng gọi là Như Lai ?”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Thưa Tôn giả ! Ngài muốn phân biệt
chúng sanh và Như Lai có tướng khác chăng ?”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nói : “Thưa Đại Sĩ ! Như lời nói trước
của Ngài, tôi chẳng muốn chúng sanh và Như Lai có tướng
khác biệt”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát hỏi : “Thưa Tôn giả ! Ý Ngài định cho rằng
có vô sinh chăng ?”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nói : “Thưa Đại Sĩ ! Có, đó là pháp giới
vậy”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát hỏi : “Thưa Tôn giả ! Ý Ngài lại cho rằng
có tà chánh chăng ?”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất nói : “Thưa Đại Sĩ ! Chẳng có, khối
tà chánh ất ức là điên đảo”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát hỏi : “Thưa Tôn giả ! Ngài cho rằng có pháp
chẳng sanh sanh chăng?”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nói : “Chẳng có. Nếu là bất sanh thì cứu
cánh bất sanh”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát hỏi : “Ý Ngài cho rằng pháp bất sanh có
phân biệt chăng?”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nói : “Chẳng có. Thưa Đại Sĩ”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát hỏi : “Thưa Tôn giả ! Như là chẳng có ấy,
cớ sao lại nói tất cả chúng sanh chẳng phải Như Lai. Nếu
là như vậy thì ai là chúng sanh ai là Như Lai?”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nói : “Thưa Đại Sĩ ! Tôi đã trước hiểu
nghĩa như vậy, vì hiển thị trí huệ mà hỏi như vậy .
Thưa Đại
Sĩ ! Nếu ai chẳng hiểu ý của Ngài nói, các chúng sanh ấy
sẽ đọa địa ngục, tại sao, vì sanh phỉ báng vậy”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Thưa Tôn giả ! Pháp như vậy không
người nào có thể phỉ báng, không người hay thọ nhận.
Tại sao, nếu có phỉ báng nhận thọ, thì nên biết người
ấy cũng sẽ được pháp như vậy.
Thưa Tôn
giả ! Như đối với đại lực sĩ, những kẻ yếu kém chẳng
thể sanh nghi. Pháp của tôi cũng vậy. Nếu người chẳng ở
chỗ vô lượng chư Phật trồng thiện căn thì trọn chẳng
thể nghi được, chẳng thể thọ trì được”.
Tôn giả
Xá Lợi Phất nói : “Thưa Đại Sĩ ! Như tôi hiểu nghĩa
lới nói của Ngài thì nếu có người hay tin thuận pháp ngũ
như vậy hơn vô lượng kiếp hành đàn Ba la mật, thì Ba la
mật, nhẫn Ba la mật, tiến Ba la mật, thiên Ba la mật, thế
gian huệ Ba la mật”.
Đức Phật
nói : “Lành thay lành thay ! Như lời Xá Lợi Phất nói, nếu
ai tin hiểu những lời như vậy, thì nên biết người ấy
đã ở nơi vô lượng a tăng kỳ kiếp tu hành sáu Ba la mật
như vậy. Nếu người chẳng thể tin được lời nói ấy thì
chẳng thể được Phật thọ ký thành Vô thượng Bồ đề.
Nếu người có thể tin thì được Phật thọ ký Vô thượng
Bồ đề.
Này Xá Lợi
Phất ! Ta nhớ thuở trước trong vô lượng kiếp tu lục Ba
la mật, vì chẳng thể tin lới nói như vậy nên chẳng được
thọ ký, chẳng thành Vô thượng Bồ đề. Về sau ta tin rồi
liền được thọ ký thành Vô thượng Bồ đề.
Vì thế
nên biết rằng nếu người có thể tin hiểu lời nói ấy
liền được thọ ký thành Vô thượng Bồ đề”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn !
Do phần gì mà được thọ ký thì nghĩa ấy chẳng đúng, tại
sao, vì là diệt pháp vậy. Nếu là phần vị lai mà được
thọ ký thì nghĩa ấy cũng chẳng đúng, tại sao, vì chưa sanh
vậy. Nếu là phần hiện tại mà được thọ ký thì cũng
chẳng đúng, tại sao, vì chẳng nói được vậy. Nếu ba phần
không có thọ ký ấy, sao lại nói rằng Bồ Tát thọ ký”.
Đức Phật
nói : “Nếu đại Bồ Tát tin bất khả thuyết, biết bất
khả thuyết, nói bất khả thuyết, nơi bất khả thuyết chẳng
sanh lòng kinh sợ, biết bất khả thuyết và sắc hai pháp ấy
không có sai biệt, thọ tưởng hành thức, nhãn nhỉ tỷ thiệt
thân ý, Phật Pháp Tăng Tam bữu, sanh tử giải thoát, pháp
giới bất khả thuyết, những hai pháp ấy cũng đều không
có sai biệt, đây gọi là Bồ Tát được nhẫn nhục phần,
vô sanh phần, vô xuất phần, vô thủ phần, vô phần, vô hữu
phần, vô tác phần, được đầy đủ thành tực những phần
như vậy, nơi tất cả pháp chẳng sanh hai tướng hai tâm hai
ý hai phần hai duyên.
Nếu có
Bồ Tát có thể quán như vậy thì gọi là bất khứ bất lai
bất trụ. Vì bất trụ nên không sở tác, vì không sở tác
nên không nguyện cầu, vì không nguyện cầu nên chẳng đoạn
chẳng thường, nếu không đoạn thường tức là trung đạo,
nếu trung đạo tức là mười hai nhơn duyên, mười hai nhơn
duyên không tác không cầu. Do vì nghĩa như vậy nên gọi là
thậm thâm. Chẳng sanh mà sanh chẳng xuất mà xuất, do nghĩa
nầy lại gọi là thậm thâm. Không có tác giả không có thọ
giả, do nghĩa nầy lại gọi là thậm thâm.
Ví như ngọn
lửa từ nhơn duyên lành, không có tác giả không có thọ gỉa.
Lửa ấy tắt rồi không có chỗ đi không có chỗ đến. Tất
cả các pháp cũng như vậy, không có tác giả không có thọ
gỉa.
Nầy Bất
Khả Thuyết ! Nếu Bồ Tát có thể biết được như vậy,
nên biết người ấy được thọ ký Vô thượng Bồ đề”.
Lúc Phật
nói pháp ấy, có tám ngàn Bồ Tát được Vô sanh nhẫn. Được
nhẫn rồi, chư Bồ Tát ấy thăng lên hư không cao bằng bảy
cây đa la chắp tay cung kính nói kệ rằng :
Nếu hay
quán sắc ấm phần nầy
Và bất
khả thuyết không hai tướng
Người nầy
liền được trí bình đẳng
Cũng như
Phật trước đã chứng được
Quán bốn
ấm thọ tưởng hành thức
Cũng không
sắc ấm không có hai
Chơn thiệt
biết rõ bất khả thuyết
Liền được
thọ ký như Phật trước
Và tất
cả pháp không hai tướng
Không tiếng
không chữ không có tiết
Vì vậy
các pháp bất khả thuyết
Bất khả
thuyết phần tam thế phần
Tức là
nhứt phần không sai biệt
Thiệt tánh
chơn tướng đều bình đẳng
Quán như
vậy là chơn Bồ Tát
Tham dục
sân hận và ngu si
Không vô
tướng nguyện đều bình đẳng
Sanh tử
Niết bàn không sai biệt
Phật Pháp
Tăng cũng không có hai
Nghĩa của
các pháp bất khả thuyết
Không có
sanh diệt như hư không
Không tác
không thọ như ngọn lửa
Có duyên
thì sanh không duyên diệt
Diệt rồi
không có chỗ đến đi
Tất cả
các pháp cũng như vậy
Các pháp
đều từ nhơn duyên sanh
Vì nhơn
duyên dứt nên gọi diệt
Nếu các
pháp bất sanh bất diệt
Cũng lại
chẳng thường cũng chẳng đoạn
Tức là
thậm thâm thập nhị duyên
Còn chẳng
theo duyên mà xuất sanh
Vốn không
có sanh mà nay sanh
Vốn không
có xuất mà nay xuất
Không có
tạo tác không thọ gỉa.
Không có
các nhơn và quả báo
Cũng chẳng
phải có chẳng phải không
Chẳng có
thử bỉ hai thứ tướng
Cũng chẳng
tại nội chẳng tại ngoại
Tức là
thậm thâm thập nhị duyên
Pháp ấy
vốn không mà nay có
Pháp có
rồi sau trở lại không
Nếu là
pháp có tam thế nhiếp
Tánh tướng
nó như trên đã nói
Nếu là
nội pháp trung ngoại không
Tánh của
ngoại pháp nội trung không
Tất cả
các pháp cũng như vậy
Đây là
đệ nhứt chơn không nghĩa
Tất cả
chúng sanh tâm bổn tánh
Thanh tịnh
không nhơ như hư không
Phàm phu
chẳng biết tâm tánh không
Nói bị
khách phiền não ô nhiễm
Nếu khách
phiền não làm tâm nhơ
Trọn chẳng
sạch được như hờm bẩn
Vì khách
phiền não che chướng tâm
Nói rằng
phàm phu tâm bất tịnh
Như tâm
tánh ấy là bổn tịnh
Lẽ ra phiền
não khách che chướng
Vì vậy
nên chẳng được giải thoát
Tâm chẳng
sanh được thứ đệ tâm
Tâm chẳng
thấy được thứ đệ tâm
Tất cả
các tâm từ duyên sanh
Vì vậy
thứ đệ tâm chẳng dứt
Có thể
thấy biết tâm như vậy
Dường như
hư không và tướng huyễn
Người ấy
liền được tâm tự tại
Cũng hay
thấy rõ thứ đệ tâm
Dường như
ảo sư làm ảo tướng
Vô lượng
thế nghiệp sư cũng vậy
Như tâm
chúng sanh cũng như vậy
Biết rõ
thì được tâm tự tại
Nếu người
hay được nhẫn như vậy
Dường như
ảo huyễn không nhơn duyên
Biết được
như vậy chẳng sanh tham
Chẳng do
nhơn duyên được giải thoát
Tất cả
chúng sanh các tâm tánh
Như Lai nói
là tam thế nhiếp
Dường như
vật áo không chơn tánh
Tâm các
chúng sanh cũng như vậy
Tâm hay biết
rõ các chúng sanh
Chúng sanh
cũng hay rõ nơi tâm
Tâm chẳng
phải sắc chẳng thấy được
Như tâm
chúng sanh cũng như vậy
Như chúng
sanh tánh chư pháp tánh
Tánh pháp
vô vi bất khả thuyết
Như Lai biết
rõ chơn pháp tánh
Vì vậy
gọi là vô ngại trí
Tất cả
phàm phu chẳng thấy biết
Lưu chuyển
trong vô lượng sanh tử
Bị vô minh
che me chơn thiệt
Chẳng biết
như vậy và pháp giới
Tánh của
pháp giới như hư không
Tất cả
thế gian chẳng nói được
Như Lai tu
tập đại từ bi
Trong pháp
không chữ mà diễn nói
Dường như
thế gian sáu mùi vị
Riêng riêng
đều chẳng tự hay biết
Chúng sanh
dầu nói ấm giới nhập
Mà chẳng
rõ biết tánh tướng nó
Chúng sanh
hư không và ảo huyễn
Vì xa lìa
tất cả điên đảo
Nên gọi
đây là tịnh trí huệ
Như Lai biết
rõ tất cả pháp
Không tác
không thọ như cỏ cây
Nếu hay
quán sát pháp như vậy
Người ấy
liền được Vô sanh nhẫn
Nếu có
vô lượng chư Bồ Tát
Chúng được
Vô sanh nhẫn như vậy
Người ấy
liền được vô lượng Phật
Thọ ký
Bồ đề Vô Thượng đạo
Nếy hay
buông bỏ nội ngoại vật
Nhẫn đến
chẳng tiếc thân mạng mình
Hay điều
tất cả các chúng sanh
Người ấy
liền được Phật thọ ký
Nếu hay
thanh tịnh các chúng sanh
Đã thanh
tịnh rồi chẳng kiêu mạn
Nói các
chúng sanh đều thanh tịnh
Do nhơn duyên
ấy được thọ ký
Nếu biết
các pháp niệm niệm diệt
Vì chúng
sanh mà tu nhẫn nhục
Lại hay
diễn nói chúng sanh nhẫn
Nhơn nơi
nhẫn nầy được thọ ký
Xa lìa ác
pháp siên tinh tiến
Tu tập thiện
pháp chẳng thôi nghỉ
Lại hay
diễn nói siêng tinh tiến
Nhơn tinh
tiến mà được thọ ký
Tất cả
các pháp bổn tánh tịnh
Bình đẳng
không khác như hư không
Lại hay
diễn nói bình đẳng ấy
Nhơm tam
muội nầy được thọ ký
Nếu hay
biết pháp bất khả thuyết
Lúc nói
chẳng sanh lòng kinh sợ
Hay dùng
phương tiện hóa chúng sanh
Do nơi trí
nầy được thọ ký
Lúc bấy
giờ Ma vương đem bốn binh chủng, dù là xa binh, mã binh, tượng
binh và bộ binh đến chỗ đức Phật. Ma vương tự hóa thân
làm tượng Tỳ Kheo nói với Bất Khả Thuyết Bồ Tát rằng
: “Nầy Đại Sĩ ! Ma vương Ba Tuần nay đem bốn binh chủng
đến chỗ Phật, nay Ngài muốn sắp đặt phương tiện gì
?”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Nếu ông ấy đến đây tôi sẽ làm
cho ổng phát tâm Vô thượng Bồ đề”.
Tỳ Kheo
nói : “Nầy Đại Sĩ ! Ma vương Ba Tuần ấy đều không có
tâm lành làm sao khiến ổng phát tâm Bồ đề được?”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Tôi sẽ điều phục khiến ổng được
tâm lành, được tâm lành rồi do nhơn duyên ấy mà ổng phát
tâm Vô thượng Bồ đề.
Ta sẽ điều
phục ổng thế nào ? Ta sẽ ở cung Trời Tha Hoá Tự Tại kia
làm chủ cảnh giới ấy, cung trời kia sẽ thuộc về ta. Đã
thuộc về ta rồi ta sẽ tùy ý mà điều phục họ”.
Ma vương
nghe lời ấy lòng rất lo sợ liền muốn lui về mà không thể
được, tự nghĩ rằng nay đây ta đã chẳng bị trói lại
chẳng thoát được, lại cũng chẳng thể hiện sức thần
thông.
Lúc ấy
ma vương liền nghe trong hư không có tiếng nói rằng đây là
thần thông lực của Bất Khả Thuyết Bồ Tát.
Ma vương
liền đến lễ lạy Bất Khả Thuyết Bồ Tát mà sám hối
rằng : “Nay tôi bỏ lìa tất cả ma nghiệp”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát hỏi : “Nầy Ba Tuần ! Ai trói buột ông ?”.
Ma vương
nói : “Thưa Đại Sĩ ! Tôi không có trói thả mà chẳng đi
được”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát hỏi : “Nầy Ba Tuần ! Như nay ông chẳng trói
chẳng thả mà chẳng thể đi được, tất cả chúng sanh cũng
như vậy, chẳng trói chẳng thả mà chẳng thể đi được.
Tại sao, vì bị vô minh ái v.v điên đảo trói buộc mà chẳng
được giải thoát.
Nầy Ba Tuần
! Nay ông muốn phá hoại sự trói buộc thì ông phải mau phát
tâm Vô thượng Bồ đề”.
Ma vương
hỏi : “Thưa Đại Sĩ ! Tất cả chúng sanh thành tựu mấy
pháp thì có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề ?”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Nầy Ba Tuần ! Chúng sanh thành tựu
mười sáu pháp thì có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Những gì
là mười sáu pháp ? Đó là :
Thường
tu thượng tâm mài sáng các căn, siêng làm các thiện pháp
trang nghiêm công đức, chí tâm trì giới chẳng sanh lòng hối
nhàm. Tu tập đại bi thương xót chúng sanh, tin Phật Thế Tôn
có đại từ bi, vì các chúng sanh thọ làm các điều khổ,
hay phá các khổ não của chúng sanh, điều phục các căn, có
đủ chánh niệm, tâm không kinh sợ, chẳng cầu các cõi, thích
cầu Phật trí, chẳng thích Nhị thừa, thọ vui chẳng kiêu,
thọ khổ chẳng hối, cung kính bực trí huệ, phá hoại kiêu
mạn, biết ơn báo ơn, có đủ sức lực nơi thân hộ trì
chánh pháp chẳng dứt Tam bữu. Đây là mười sáu pháp vậy.
Nầy Ba Tuần
! Nếu chúng sanh có đủ mười sáu pháp như vậy, nên biết
rằng người ấy có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề”.
Ma vương
nói : “Thưa Đại Sĩ ! Nếu chúng sanh có đủ các pháp như
vậy có thể phát tâm Vô thượng Bồ đề, nay tôi thiệt không
có các pháp ấy thì làm sao phát tâm Vô thượng Bồ đề được”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Nầy Ba Tuần ! Như trồng cây là vì
bông trái hột. Lúc đầu đầu chưa có, nên biết về sau chắc
sẽ được chẳng nghi.
Chúng sanh
nếu hướng về Bồ đề tâm mà tu hành cũng lại như vậy,
dầu chưa hiện hữu mà lần lần sẽ được mười sáu pháp
ấy”.
Ma vương
nói : “Lành thay lành thay ! Thưa Đại Sĩ ! Đúng như lời
Ngài nói”.
Lúc nói
pháp ấy, có ba vạn hai ngàn chư Thiên và thế nhơn phát tâm
Vô thượng Bồ đề.
Ma vương
hỏi : “Thưa Đại Sĩ ! Thế nào là hướng về Bồ đề tâm
mà tu hành ?”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Nầy Ba Tuần ! Có ba mươi hai pháp
hướng về Bồ đề tâm mà được tăng trưởng.
Một là
chí tâm. Hai là định tâm. Ba là tịnh tâm. Bốn là nguyện
dục tâm. Năm là tâm chẳng phóng dật. Sáu là tu tập thiện
pháp. Bảy là trang nghiêm xu hướng Vô thượng Bồ đề. Tám
là hay dùng tứ nhiếp pháp nhiếp lấy chúng sanh. Chín là thích
là phương tiện. Mười là điều phục chúng sanh. Mười một
là hay thành thực chúng sanh. Mười hai là có thể biết
nhơn duyên. Mười ba là siêng tu tinh tiến. Mười bốn là thân
cận thiện hữu. Mười lăm là có đủ tín tâm. Mười sáu
là vì có tín tâm bèn sanh lòng hoan hỉ. Mười bảy là cúng
dường cung kính Sư trưởng Hoà thượng người có đức. Mười
tám là có thể săn sóc người bịnh khổ. Mười chín là có
thể thiện tư duy. Hai mươi là như pháp mà trụ. Hai mươi
mốt là vì hộ pháp mà chẳng tiếc thân mạng. Hai mươi hai
là thành tựu tổng trì. Hai mươi ba là có đủ niệm tâm.
Hai mươi bốn là hay nói thâm pháp. Hai mươi lăm là đầy đủ
trí huệ. Hai mươi sáu là có đủ các lực. Hai mươi bảy
là nguyện muốn Bồ đề. Hai mươi tám là chẳng bỏ chúng
sanh. Hai mươi chín là tu tập tâm từ bi hỉ xã. Ba mươi là
du nơi sanh tử mà chẳng sanh hối. Ba mươi mốt là vì thọ
thân mà trang nghiêm trí huệ. Ba mươi hai là biết tất cả
pháp chẳng tuyên nói được. Đây là ba mươi hai pháp hướng
về Bồ đề tâm mà được tăng trưởng.
Bồ Tát
có thể tăng trưởng những pháp nầy quyết được Vô thượng
Bồ đề.
Nầy Ba Tuần
! Ví như đêm mùa thu, mặt trăng đầu tháng tăng trưởng cũng
sáng cũng tịnh. Chúng sanh chưa phát tâm Vô thượng Bồ đề
có đủ ba mươi hai pháp cũng như vậy.
Nầy Ba Tuần
! Bồ Tát nếu có thể đủ ba mươi hai pháp như vậy thì được
thân có sắc tướng đẹp, thường được nhơn thiên
cúng dường, có thể bỏ tất cả chẳng cầu quả báo, phát
đại thệ nguyện, thanh tịnh ba đời, trì giới hoàn toàn
thanh tịnh chẳng lậu chẳng phá, tu tập nhẫn nhục, được
pháp lành từ nội nghe, vo sanh pháp nhẫn trang nghiêm thiện
pháp, thân tâm tịch tĩnh chẳng tham thiện căn, trọn chẳng
tu tập ưa thèm các thiền, cũng chẳng tu tập duyên chúng sanh
từ. Chỉ tu pháp duyên và vô duyên từ, tu tập đại bi, làm
việc làm của người, biết ơn báo ơn chẳng bỏ chúng sanh,
thích nghe chánh pháp như chỗ được nghe mà diễn nói. Lúc
thuyết pháp không có ý tưởng tham lợi danh, hay điều tự
và tha rời lìa tâm tham sân, dùng pháp tứ nhiếp để nhiếp
thủ chúng sanh, tu hành hai thứ phước trí trang nghiêm tỳ
bà xá na và xa ma tha, đầy đủ niệm tâm thanh tịnh các oai
nghi, thành tựu được tứ vô ngại trí, thân khẩu ý ba nghiệp
theo nơi trí huệ, tâm trí kiên cố không có thối chuyển,
thường làm lợi ích cho tất cả chúng sanh.
Nầy Ba Tuần
! Ví các chúng sanh nhập vào Phật pháp nên hiển thị cácvăn
tự âm thanh diễn thuyết. Trong đệ nhứt nghĩa đếu không
có văn tự âm thanh diễn nói như vậy. Đây thì gọi là nhứt
thiết pháp tánh. Nhứt thiết pháp tánh, tánh ấy chẳng nói
được.
Ba Tuần
hỏi : “Thưa Đại Sĩ ! Nếu tất cả pháp chẳng nói được
ấy, làm sao Bồ Tát phát đại thệ nguyện hướng đến Bồ
đề ?”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Nầy Ba Tuần ! Ví như hư không tánh
vô biên, trong ấy chừng có thể làm ao làm giếng được chăng
?”.
Ba Tuần
nói : “Chẳng được, Thưa Đại Sĩ !”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Nầy Ba Tuần ! Nếu tất cả pháp tánh
không có chẳng nói được ấy thì trọn chẳng thể chứng
chẳng thể tuyên nói”.
Ma vương
hỏi : “Thưa Đại Sĩ ! Thế nào gọi là phát Bồ đề tâm
?”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Nầy Ba Tuần ! Biết rõ tham tánh thì
gọi là phát tâm. Nếu biết rõ sân, si xan lẫn, tật đố,
ám, nhập, giới, vô minh đến sanh lão tử khổ lớn, đây
gọi là phát tâm”.
Ma vương
hỏi : “Thưa Đại Sĩ ! Tất cả các pháp có những tánh gì
?”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Nầy Ba Tuần ! Tất cả các pháp, vô
xuất là tánh”.
Ma vương
hỏi : “Thưa Đại Sĩ ! Thế nào là vô xuất ?”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát nói : “Nầy Ba Tuần ! Luận về vô xuất tức
là không có dấu vết của ma. Dấu vết ma ấy tức là ngã
và ngã sở. Lìa ngã và ngã sỡ thì gọi là vô xuất.
Giác quán
nhơn duyên hành tưởng họp lấy, nói tưởng phi tưởng, sanh
diệt thiện ác, hữu lậu vô lậu, hữu vi vô vi, thế xuất
thế, đây tức là dấu ma. Nếu không các điều ấy tức là
vô xuất”.
Lúc nói
pháp ấy, có tám ngàn Bồ Tát được Vô sanh nhẫn.
Trong hư
không phát ra tiếng nói : “Lành thay, lành thay, nầy Ba Tuần
! Lúc nói pháp ấy có tám ngàn Bồ Tát được Vô sanh nhẫn”.
Ma vương
hỏi hư không : “Bồ Tát có đủ những pháp gì mà được
Vô sanh nhẫn?”.
Tiếng trong
hư không đáp rằng : “Người tu tập đầy đủ sáu Ba la
mật thì được Vô sanh nhẫn”.
Bất Khả
Thuyết Bồ Tát bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn !
Ngưỡng mong Như Lai vì chư Bồ Tát mà nói về bất khả thuyết”.
Đức Phật
nói : “Nầy Bất Khả Thuyết ! Nếu có Bồ Tát lúv hành Đàn
Ba la mật, quán thân như ảo huyễn, quán thọ như mộng mơ,
quán Bồ đề như hư không, lúc làm bố thí chẳng thấy một
pháp, đây gọi là Đàn Ba la mật bất khả thuyết.
Nếu Bồ
Tát quán giới và giới địa, hủy giới và hủy giới địa,
quán các chúng sanh không có ngã tánh, quán chư pháp tánh, đây
gọi là trì giới chẳng hủy phá giới , đủ giới rồi chẳng
phát ba nhãn : một trì giới nhãn, hai phá giới nhãn, ba Bồ
Tát nhãn, dầu trì giới mà chẳng cầu một pháp, chẳng thấy
Bồ đề quá khứ vị lai hiện tại. Đây gọi là lúc hành
Giới Ba la mật bất khả thuyết .
Nếu Bồ
Tát quán các chúng sanh bất sanh bất xuất mà tu nhẫn nhục,
quán Bồ đề chúng sanh và các pháp thảy đều không tịch,
trong chúng sanh rỗng không chẳng có tâm giận mừng, cũng lại
chẳng hay biết tướng một pháp oán thù mà tu nhẫn nhục,
cũng lại chẳng biết xa lìa một pháp mà tu nhẫn nhục, đây
gọi là Nhẫn Ba la mật bất khả thuyết.
Nếu Bồ
Tát siêng tu hành tinh tiến trọn không thấy có thân khẩu
ý ba nghiệp là sanh là diệt mà tu tinh tiến, chẳng hoại pháp
giới , vì độ chúng sanh mà tu trang nghiêm hư không vô ngã
chẳng sanh lầm loạn. Ví muốn đầy đủ tất cả Phật pháp
mà hành trang nghiêm, nghe nói Phật pháp tức là không có pháp,
trong sự ấy chẳng sanh lòng kinh sợ, thanh tịnh trang nghiêm
má quán đó như hư không, cũng chẳng trang nghiêm chuyển chánh
pháp luân, tại sao, vì tất cả các pháp chẳng nói được
vậy, đây gọi là Tiến Ba la mật bất khả thuyết
Nếu Bồ
Tát tu Thiền Ba la mật, tu rồi chẳng thấy quá khứ tâm tánh,
tịnh bổn tánh rối chẳng thấy trụ xứ, cũng chẳng thấy
tâm tham sân si, tâm thượng trung hạ tâm huệ vô tham vô sân
vô si, cũng chẳng phân biệt, tại sao, vì như tánh tham sân
si thì vô tham vô sân vô si cũng như vậy, quán như vậy rồi
cũng nhập thiền định, cũng chẳng có thể bình đẳng,
bình đẳng cũng chẳng có thể lấy pháp bất bình đẳng mà
làm bình đẳng, cũng chẳng rõ biết ấm giới nhập, thiện
ác, tịnh uế, hữu lậu vô lậu, thế gian xuất thế gian,
sanh tử Niết bàn các pháp đối trị, đây gọi là Thiền
Ba la mật bất khả thuyết.
Thế nào
gọi là chẳng thể tuyên nói Bát Nhã Ba la mật ?
Nếu không
có huệ hành, không có ngã ngã sở, không có chúng sanh thọ
mạng sĩ phu, không có đoạn thường hữu vô các kiến chấp,
không có Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, đây gọi là
vô hành. Không có tranh tụng không có khứ không có lai đây
gọi là tùy theo huệ hành. Rời lìa tối vô minh và ác tà
kiến quán pháp như vậy tức là chơn thiệt quán.
Nầy Bất
Khả Thuyết ! Lúc hỏa tai khởi lên đốt hết tất cả vô
minh nhơn duyên chỉ trừ hư không. Lúc Bồ Tát hành Bát Nhã
Ba la mật chẳng nói được ấy cũng như vậy, không có nhơn
duyên thấy tất cả pháp bổn tánh tận diệt, do phương tiện
mà vì chúng sanh nói Niết bàn, cũng biết chúng sanh không
có danh tự do phương tiện nên tuyên nói danh tự, do huệ lực
biết quá khứ vị lai nói sanh diệt, dầu biết không có thân
tâm mà do phương tiện nên nói thân tâm, dầu biết các pháp
chẳng thể tuyên nói mà vì chúng sanh nên phương tiện tuyên
nói, dầu biết không có người thí kẻ thọ mà vì phương
tiện nên nói bố thí nói thọ lãnh, dầu biết các pháp bổn
tánh thanh tịnh mà vì phương tiện nên nói có cấm giới,
dầu biết các pháp vốn không tánh sân mà vì phương
tiện nên tu nhẫn nhục , dầu biết không có tu không có viễn
ly mà vì phương tiện nên siêng tu tinh tiến, dầu biết các
pháp bổn tánh tịch tĩnh mà vì phương tiện nên tu hành thiền
định, dầu biết không có sanh tử Niết bàn mà vì phương
tiện nên tu tập trí huệ, dầu biết các pháp bổn tánh tự
diệt mà vì phương tiện nói Niết bàn tức là Bát Nhã. Luận
về Bát Nhã ấy, không có chữ chẳng nói được, chẳng thể
thấy được, chẳng thể nghe được, không có tâm ý thức,
chẳng thủ chẳng xả. Chẳng phải ngã ngã sở. Chẳng phải
có xứ sở, chẳng phải có hình chất quy củ, chẳng cao chẳng
hạ, chẳng phải sắc chẳng phải thấy, chẳng phải đối
đãi. Chẳng phải tạo tác, chẳng phải giác, chẳng phải
tưởng, không có trụ xứ, chẳng phải quá khứ vị lai hiện
tại, chẳng phải sắc thanh hương vị xúc pháp, chẳng phải
sáng chẳng phải tối, chẳng phải hư không, chẳng phải nội
chẳng phải ngoại, chẳng phải làm, chẳng phải có, chẳng
phải mập chẳng phải gầy, chẳng phải tăng chẳng phải
giãm, bổn tánh thanh tịnh chẳng phải tham sân si, chẳng phải
cuồng loạn, không có biên tế, chẳng thể cân lường, đây
gọi là Bát Nhã Ba la mật bất khả thuyết”.
Lúc nói
pháp ấy, Ma vương Ba Tuần ở nơi trói buộc được mở thoát,
lòng rất vui mừng liến nói rằng : “Như nay tôi nghe pháp
bất khả thuyết mà được giải thoát. Nếu có thiện nam
tử thiện nữ nhơn nghe pháp ấy cũng sẽ như tôi ở trong
điên đảo mà được giải thoát, tất cả chúng ma chẳng
được tiện lợi”.
Lúc ấy
trong đại hội có một vạn hai ngàn chúng sanh phát tâm Vô
thượng Bồ đề.
Bấy giờ
Tôn giả A Nan bạch Phật rằng : “Bạch đức Thế Tôn ! Chánh
pháp như vậy gọi tên là gì và phụng trì thế nào?”.
Đức Phật
nói : “Nầy A Nan ! Kinh nầy gọi là Phương Đẳng Đại Tập,
cũng gọi là Bất Khả Thuyết Pháp , cũng gọi là Nhập Nhứt
Thiết Phật Pháp Đoạn Nhứt Thiết Phật Sở Hữu Danh Tự.
Nếu có
người có thể đảnh đới thọ trì pháp như vậy thì có
thể được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.
Lúc ấy
trong hư không trỗi nhiều kỹ nhạc nhiều hương hoa cúng dường
Bất Khả Thuyết Bồ Tát, Đại Thiên thế giới chấn động
sáu cách.
Đức Phật
nói kinh nầy rồi, Tông giả A Nan đại chúng Bồ Tát, Thanh
Văn , Nhơn, Thiên đều rất vui mừng tín thọ phụng hành.
PHÁP HỘI
BẤT KHẢ THUYẾT BỒ TÁT
THỨ NĂM
MƯƠI BẢY
HẾT
Phật tử:
Dương thị chính,
Pháp danh:
Diệu Phẩm đánh vi tính.