LVI
PHÁP HỘI VÔ
NGÔN BỒ TÁT
THỨ NĂM MƯƠI
SÁU
(Hán
bộ từ quyển 142 Ðến quyển 143)
Hán
dịch: Tam tạng Ðàm Vô Sấm-Việt dịch: Tỳ kheo Thích
Trí Tịnh.
Lúc
đức Phật nói pháp ấy, Liên Hoa Bồ Tát và một vạn Bồ
Tát được huệ đang tam muội. Ðại địa khắp Ðại Thiên
thế giới chấn động sáu cách. Tất cả đại chúng đem hoa
hương các thứ kỹ nhạc cúng dường đức Phật Thế Tôn
và kính trọng tán thán.
Chư
Bồ Tát trong đại hội đều nói rằng: “Bạch đức Thế
Tôn! Từ trước đến nay chúng tôi chưa từng được nghe tên
hiệu của tam muội nầy, huống là được nghe phân biệt rộng
nói huệ đăng tam muội. Nay chúng tôi đều được tam muội
ấy nên vì báo ơn mà làm sự cúng dường nầy. Nếu có người
được nghe danh hiệu huệ đăng tam muội thì có thể được
lợi ích lớn chẳng mất tâm Vô thượng Bồ đề”.
Ðức
Phật nói: “Lành thay, lành thay, đúng như lời các ông nói.
Nầy chư thiện nam tử! Nếu có chúng sanh đã ở chỗ vô lượng
vô biên chư Phật vun trồng thiện căn thân cận thiện tri
thức rồi sau mới được nghe diễn nói tam muội huệ đăng
nầy”.
Lúc
nói lời trên, trong rún của Phật xuất hiện một Bồ Tát
thân màu chơn kim đủ ba mươi hai tướng tốt tám mươi tùy
hảo phóng đại quang minh nào bằng. Bồ Tát ấy kính lễ chưn
Phật hữu nhiễu bảy vòng quỳ dài chắp tay bạch Phật rằng:
“Bạch đức Thế Tôn! Ðức Huệ Kiều Như Lai chuyên ý vô
lượng thăm hỏi Thế Tôn đi đứng nhẽ nhàng thân không có
bịnh hoạn, đại chúng có an ổn chăng?.
Nay
cõi nầy của tôi có sáu vạn ức chư Bồ Tát đến nghe thọ
kinh điển Ðại Tập thâm diệu và cũng muốn thấy Vô Ngôn
Bồ Tát cùng chư Bồ Tát từ mười phương đến, đồng thời
được nghe huệ đăng tam muội.
Lành
thay, lành thay, đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn mong được khai
thị khiến các người đều đến được huệ đăng tam muội
trở lại cõi nầy”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất bạch đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn!
Huệ Kiều Như Lai ở phương nào cách đây bao xa, thế giới
ấy tên gì, Bồ Tát này tên là gì, sáu vạn ức chư Bồ Tát
ở tại đâu?”.
Ðức
Phật nói: “Nầy Xá Lợi Phất! Thế giới Phật ấy ở phương
Ðông cách đây số thế giới bằng số cát sông Hằng trong
những sông Hằng bằng số cát một sông Hằng. Thế giới
tên là Kim Cương Kiên Căn, Phật hiệu Huệ Kiều Như Lai Ứng
Cúng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
Nầy
Xá Lợi Phất! Có nhơn duyên gì mà thế giới ấy tên là Kim
Cương Kiên Căn?
Nầy
Xá Lợi Phất! Thế giới ấy đất bằng kim cương, do nguyên
lực của Huệ Kiều Như Lai làm thành. Thân thể của Phật
ấy và thân của Bồ Tát của chúng sanh đều là kim cương
nên thế giới ấy có tên như vậy.
Bồ
Tát nầy hiệu là Kim Cương Tê. Bồ Tát nầy có thể trong
một niệm phá hoại tất cả núi kim cương, thẳng đến vô
lượng thế giới chư Phật thị hiện trong rún của chư Phật
mà đi ra. Do thần lực của Phật và tự nguyện lưc nên hiệu
là Kim Cương Tê vậy.
Nầy
Xá Lợi Phất! Vừa rồi ông có hỏi chư Bồ Tát như vậy
nay ở tại chỗ nào. Ông nên hỏi Bồ Tát Kim Cương Tê sẽ
được giải đáp cho ông”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất liền hỏi Kim Cương Tê Bồ Tát: “Thưa
Ðại Sĩ! Ngài nói sáu vạn ức Bồ Tát ấy, nay ở tại đâu!”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức! Như Lai nói Ðại
Ðức là bực trí huệ nhứt, Ðại Ðức nên dung thánh trí
xem coi chư Bồ Tát ấy ở tại đâu?”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất liền dùng thánh trí để xem mà chẳng thấy,
liền nói với Kim Cương Tê Bồ Tát rằng: “Thưa Ðại Sĩ!
Tôi đã dung tận thánh trí mà chẳng thấy”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát nói: “Ðồng học của Ðại Ðức là Tôn
giả A Nâu Lâu Ðà có thiên nhãn đệ nhứt nên bảo xem coi
ở tại chỗ nào?”.
Lúc
ấy Tôn giả A Nâu Lâu Ðà dung thiên nhãn xem khắp Ðại Thiên
thế giới rồi nói với Tôn giả Xá Lợi Phất: “Tôi dùng
thiên nhãn xem mà chẳng thấy được”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát nói với Tôn giả Xá Lợi Phất: “Bạn
đồng học của Ðại Ðức nếu chẳng thấy được thì chẳng
nên gọi là thiên nhãn mà nên gọi là nhục nhãn”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất hỏi: “Thưa Ðại Sĩ! Thiên nhãn của Ðại
Sĩ có nghĩa là gì?”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức! Thiên nhãn của
tôi, những sắc mà hang Thanh Văn các ông chẳng thấy được,
tôi đều có thể thấy”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất hỏi: “Thưa Ðại Sĩ! những sắc gì tôi
chẳng thấy được mà Ðại Sĩ thì thấy”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát hỏi : “Thưa Ðại Ðức! Nay đại đức
có thấy thế giới Kim Cương Kiên Căn, Phật Huệ Kiều và
chúng Bồ Tát ở thế giới ấy chăng?”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất nói : “Tôi không thấy, thưa Ðại Sĩ.
Tôi chỉ nghe danh mà chẳng được thấy”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức! Phật độ ấy cùng
Phật và chư Bồ Tát cùng các chúng sanh ở cõi ấy, thiên
nhãn của tôi đều thấy rõ cả. Ðây gọi là Bồ Tát thanh
tịnh thiên nhãn.
Thiên
nhãn như vậy, hàng Thanh Văn và Duyên Giác không có được”.
Lúc
nói pháp ấy, có sáu vạn chúng sanh cầu Thanh Văn liền bỏ
chí cũ mà phát tâm Vô thượng Bồ đề, đều nói rằng: nguyện
tôi được vô ngại Phật nhãn mà chẳng cần chướng ngại
nhãn của Thanh Văn và Bích Chi Phật.
Kim
Cương Tê Bồ Tát liền nhập tam muội, đời thần thông lực
của Phật và tự nguyện lực làm cho đại chúng tất cả
đều thấy sáu vạn ức chư Bồ Tát ở tại trong thân Phật
ngổi đài liên hoa chí tâm chuyên niệm nghe lời nói của Phật,
mà chẳng bức chạm thân Phật, thân của Phật cũng không
tăng không giảm không có chướng ngại. Ðại chúng thấy rồi,
cúng dường cung kính hoan hỉ tán than sự việc của Như Lai
bất khả tư nghị. Ðại chúng còn đồng nói rằng: “Thân
Như Lai, trí huệ tam muội Như Lai tất cả thảy đều bất
khả tư nghị. Tại sao, vì sáu ức chư Bồ Tát đều ở tại
trong thân Phật mà không chướng ngại”.
Quan
sát đại chúng, Kim Cương Tê Bồ Tát nói: “Thưa đại chúng!
Các Ngài chẳng bình đẳng thân Như Lai như hư không chăng?
Thân Như Lai là thân vô biên, là thân không chướng ngại,
là thân rộng, là thân pháp, là thân không có tướng mạo,
là thân vô lượng.
Thưa
đại chúng! Ðức Như Lai nếu muốn nạp tất cả vật như
là quốc độ, thành ấp, thôn xóm, tụ lạc, núi sông, cây
cỏ, để trong thân cũng không có chướng ngại, vì vậy nên
Như Lai bất khả tư nghị.
Thưa
đại chúng! Mười phương thế giới vô lượng tịnh độ
vô lượng Bồ Tát đến chỗ Như Lai nghe kinh Ðại Tập thành
tựu diệu sắc đủ hai mươi tám tướng đại nhơn, đức
Như Lai cũng nạp để trong thân của mình. Tại sao, vì nếu
để chúng sanh cõi Ta Bà nầy cả đến hang Ðế Thích, Phạm
Thiên, các Thiên Vương mà thấy thì họ sẽ hổ thẹn, vì
vậy mà chẳng cho thấy một người”.
Lúc
ấy do công đức lực của Phật và oai thần lực của Kim
Cương Tê Bồ Tát đều làm cho đại chúng thấy sáu vạn ức
chư Bồ Tát ấy từ một lỗ lông của Phật đi ra. Ra rồi
lễ Phật hữu nhiễu bảy vòng rồi ngồi một phía.
Kim
Cương Tê Bồ Tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Nhơn duyên gì mả Vô Ngôn Bồ Tát có tên là Vô Ngôn?”.
Ðức
Phật nói: “Nầy Kim Cương Tê! Ông tự nên hỏi Vô Ngôn Bồ
Tát, ông ấy sẽ giải đáp cho ông”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát liền hỏi Vô Ngôn Bồ Tát: “Thưa Ðại
Sĩ! Nhơn duyên gì mà Ngài tên là Vô Ngôn ?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nín lặng. Hỏi lần thứ hai lần thứ ba, Vô
Ngôn Bồ Tát vẫn nín lặng như vậy.
Kim
Cương Tê Bồ Tát hỏi: “Thưa Ðại Sĩ! Sao Ngài không đáp?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Tôi tìm ngôn từ trọn không thể được,
vì vậy nên tôi nín lặng không chỗ tuyên nói”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát hỏi: “Thưa Ðại Sĩ! Nếu tìm ngôn từ
không thể được sao lại có lời nói là không thể được
ấy?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Sĩ! Tôi đáp tất cả Phật
ngữ, tất cả thế ngữ.
Thế
nào gọi là đáp Phật ngữ?
Tôi
dung niệm lực thọ trì chỗ nói của tất cả chư Phật chẳng
quên chẳng mất mà trọn chẳng thấy âm thanh tự cú, vì lưu
bố mà tuyên nói đó, cũng vì chúng sanh phá hoại âm thanh
tự cú ấy mà diễn thuyết pháp.
Thế
nào gọi là đáp thế ngữ?
Hiểu
các loại ngôn ngữ âm thanh của tất cả chúng sanh, tùy theo
ngữ ngôn của họ mà diễn thuyết pháp”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát hỏi: “Thưa Ðại Sĩ! Ngài có thể tùy
thuận thuyết pháp như vậy từ bao lâu rồi?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Tôi từ lúc trừ diệt giác quán thì có
thể tùy thuận thuyết pháp như vậy”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát hỏi: “Do nhơn duyên gì mà thuyết pháp
như vậy?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Nếu không có giác quán thì âm thanh làm
sao phát xuất. Vì nhơn duyên ấy mả thuyết pháp như vậy”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát hỏi: “Luận về âm thanh phát xuất ấy,
là từ thân phát xuất hay từ nơi tâm phát xuất?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Luận về âm thanh thì nó chẳng ở thân
và tâm. Tại sao, vì thân như cỏ cây còn tâm thì như ảo
hóa, do các nhơn duyên có âm thanh phát xuất. Nếu từ nhơn
duyên mà phát xuất tức là vô thường. Nếu là vô thường
tức là vô định. Vô thường vô định tức là rỗng không
không có. Luận về âm thanh ấy dường như hư không chẳng
thể nhìn thấy được cúng dường thể tuyên nói được,
nhhư hư không tất cả các pháp cũng như vậy. Nếu âm thanh
không có thì pháp do âm thanh biểu thị cũng không có. Vì âm
thanh rỗng không nên tất cả pháp rỗng không. Vì âm thanh
tịch tĩnh nên tất cả pháp tịch tĩnh. Vì âm thanh chẳng
thấy được nên tất cả pháp cũng chẳng thể thấy. Vì âm
thanh chẳng xuất sanh nên tất cả pháp cũng chẳng xuất sanh.
Nếu chẳng xuất sanh thì không khứ lai. Nếu không khứ lai
thì là thậm thâm mười hai nhơn duyên không tạo tác không
hệ thuộc. Nếu không có tác thuộc thì không có sanh xuất.
Không sanh không xuất tức là câu không có. Nếu là câu không
có tức là chẳng sanh nhãn sắc và thức, chẳng sanh nhĩ thanh
và thức, chẳng sanh tỷ hương và thức, chẳng sanh thiệt
vị và thức, chẳng sanh thân xúc và thức, chẳng sanh ý, pháp
và ý thức. Không có các khổ sanh lão bịnh tử. Không có
quan niệm nhựt nguyệt quang minh oán thân, dứt tất cả hành,
khó nhìn thấy được, chẳng gần chẳng xa”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát hỏi: “Thưa Ðại Sĩ! Các lời nói như
vậy là nói những gì?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Như vậy tức là cứu cánh chẳng xuất”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát hỏi: “Những gì gọi là cứu cánh chẳng
xuất?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Chẳng gần chẳng xa là cứu cánh chẳng
xuất”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát hỏi: “Nhựng gì gọi là chẳng gần chẳng
xa?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Tức là hư không vậy. Nếu thấy các
pháp như hư không thì gọi là bình đẳng”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát hỏi: “Do nghĩa gì mà gọi tất cả pháp
như hư không?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Pháp quá khứ không có chung cánh, pháp
vị lai và pháp hiện tại cũng không có chung cánh. Tam thế
vô chung tức là thiệt tướng tức là không có hai. Luận về
hai ấy tức là nhãn sắc, nhĩ thanh, tỹ hương, thiệt vị,
thân xúc, ý pháp. Nếu có hai tức là nói được. Nếu không
hai tức là chẳng nói được. Chẳng nói được tức là không
có thức không có tâm không có ý. Vì nghĩa ấy nên chẳng
tuyên nói được.
Luận
về có nói được tức là hai pháp, còn chẳng nói được
tức là không hai”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát nói: “Ai làm hai ấy?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Luận về không hai thì chẳng có thể
làm hai, mà hai cũng chẳng có thể làm không hai. Nhu vững chắc
chẳng thể làm mỏng manh, mà mỏng manh cũng chẳng thể làm
vững chắc. Pháp sanh tử chẳng thể làm không hai, pháp Niết
bàn chẳng thể làm hai. Tánh chánh kiến chẳng làm tà kiến,
tánh tà kiến chẳng làm chánh kiến”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Vô Ngôn Bồ Tát phàm có giải quyết tợ như đã được huệ
đăng tam muội như vậy”.
Ðức
Phật nói: “Lành thay, lành thay, nầy Kim Cương Tê! Ông cho
rằng Vô Ngôn Bồ Tát chẳng được huệ đăng tam muội chăng?”.
Lúc
đó chư Bồ Tát chúng của Huệ Kiều Như Lai ở Kim Cương
Kiên Căn thế giới hỏi Vô Ngôn Bồ Tát : “Thưa Ðại Sĩ!
Ngài trụ địa nào có thể đáp như vậy?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Như lời Phật có nói Bồ Tát trụ giới
địa thì có thể đáp như vậy”. Chư Bồ Tát nói: “Lành
thay, lành thay, thưa Ðại Sĩ! Mong được giải nói giới địa
như vậy”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Nếu không có thân trụ tâm trụ ý nội
trụ ngoại trụ và nội ngoại trụ tức là trụ nơi giới
vậy.
Nếu
vô tướng vô mạng vô tác vô hành tức là trụ nơi giới
vậy.
Nếu
Bồ Tát trụ giới như vậy tức là vô trụ. Nếu là vô trụ
thì hẳn chẳng quan niệm rằng tôi hay phát ra tiếng có chỗ
diễn thuyết.
Thưa
chư Ðại Sĩ! Như các Ngài có hỏi trụ tại địa nào có
thể đáp như vậy? Tôi trụ pháp tánh thiệt tướng pháp giới
nên có thể đáp như vậy. Nếu biết pháp chơn thiệt như
vậy thì không giác quán, nếu không giác quán thì làm sao có
nói”.
Chư
Bồ Tát hỏi: “Lúc nói như vậy là nói những gì?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Lúc nói như vậy là nói hai pháp. Ðó
là diệt tận và bất xuất, là quá khứ và vị lai, vì hiện
tại chẳng trụ nên chẳng nói được.
Pháp
quá khứ chẳng thể duyên lấy, pháp vị lai và pháp hiện
tại cũng như vậy. Giả như có người ở nơi pháp tam thế
mà duyên lấy có tướng tức là điên đảo. Vì vậy nên nghĩa
của tất cả pháp chẳng thể tuyên nói được. Nghĩa của
tất cả pháp thân khẩu ý v.v… chỗ chẳng nói được. Tại
sao, vì không nghiệp không tác không có sắc mạo không có
khẩu nghiệp không có giác quán, vì như vang như hóa.
Chư
Phật và Bồ Tát phàm có ngôn thuyết đều trái nghịch thế
ngữ, vì vậy nên chư Phật chư Bồ Tát bất khả tư nghị.
Chư Phật chư Bồ Tát chỗ có trí huệ bất khả tư nghị
bất khả cùng tận, chẳng động pháp giớI”.
Chư
Bồ Tát đồng lên tiếng tán than Vô Ngôn Bồ Tát: “Lành
thay, lành thay, Vô Ngôn Bồ Tát khéo có thể phân biệt pháp
môn như vậy làm cho chúng tôi được lợi ích lớn và được
ty vô lượng đại Bồ Tát như vậy”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát nói với Vô Ngôn Bồ Tát rằng: “Thưa Ðại
Sĩ! Tôi muốn cùng Ngài trở về Kim Cương Kiên Căn thế giới
để lễ kính cúng dường Huệ Kiều Như Lai ”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Kim Cương Kiên Căn thế giới tức là
nơi đây Ta Bà thế giới, Huệ Kiều Như Lai tức là Thích
Ca Mâu Ni Như Lai, tôi cần gì qua thế giới kia”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát nói: “Phật thế giới nầy đất chẳng
phải kim cương, sao lại nói tức là thế giới kia”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Thần thông của Ngài có thể phá hoại
vô lượng núi kim cương đi thẳng qua vô ngại. Nay Ngài thử
phá hoại với trần cõi này. Như với trần nầy bị phá hoại
vậy sau mới biết tên hiệu Ngài là Kim Cương”.
Nói
xong, Vô Ngôn Bồ Tát liền nhập kim cương tam muội biến hết
cõi nầytất cả núi rừng cỏ cây vi trần đều là kim cương.
Kim
Cương Tê Bồ Tát tận thần lực mình nhẫn đến chẳng phá
hoại được một vi trần.
Kim
Cương Tê Bồ Tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Thần lực của tôi có thể phá hoại tất cả thế giới kim
cương và các núi vách. Do cớ gì nay ở cõi nầy nhẫn đến
chẳng hoại được một vi trần, là chỗ thần lực của Như
Lai hay là do đạo lực của Vô Ngôn Bồ Tát ?”.
Ðức
Phật nói: “Nầy Kim Cương Tê! Ðây là do Vô Ngôn Bồ Tát
nhập kim cương tam muội, vì sức tam muội ấy làm cho Ðại
Thiên thế giới nầy tất cả sở hữu đều là kim cương,
nếu muốn lại làm cho vô lượng thế giới làm kim cương
sức tam muội ấy cũng có khả năng”.
Kim
Cương Tê Bồ Tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Bồ
Tát có đủ mấy pháp thì có thể được tam muội ấy?”.
Ðức
Phật nói: “Ðại Bồ Tát có bốn pháp thì có thể được
kim cương tam muội như vậy: một là chí tâm niệm Bồ đề,
hai là thiện pháp được làm thí cứu cánh, ba là chí tâm
trang nghiêm thiện pháp nguyện hướng Bồ đề, bốn là có
thể quán mười hai nhơn duyên.
Còn
có bốn pháp: một là thành tựu thần thông, hai là tu hành
bạch môn giải thoát, ba là trì giới tinh tiến thường quán
pháp giới, biết tất cả pháp không có căn bổn, không có
giác quán chẳng tuyên nói được, bốn là biết nghĩa biết
thời biết thiệt biết tất cả pháp thảy đều bình đẳng.
Còn
có bốn pháp: theo tâm đại bi cầu đại trí huệ, hai là theo
thiện phương tiện cầu bạch mươi bảy pháp trợ Bồ đề,
ba là theo tâm đại từ quán tất cả chúng sanh thảy đều
bình đẳng, bốn là từ tâm xả quán từ chơn đế.
Còn
có bốn pháp đó là thân nghiệp khẩu nghiệp ý nghiệp và
Bồ đề tâm chẳng bị trở ngại hư hoại đều như kim cương.
Nầy
Kim Cương Tê! Ðại Bồ Tát thành tựu đầy đủ những pháp
như vậy thì có thể được kim cương tam muộI”.
Lúc
đức Phật nói pháp ấy, sáu vạn ức Bồ Tát đều được
kim cương tam muội.
Bấy
giờ Vô Ngôn Bồ Tát thưa cha mình là Sư Tử Tướng Quân rằng:
“Thưa Tôn Trưởng! Phật xuất thế tức là đầy đủ vô
lượng công đức, khối đại công đức tức là Như Lai.
Lúc
Phật xuất thế vô lượng chúng sanh được đại lợi ích,
đại lợi ích ấy tức là Niết bàn. Luận về Niết bàn ấy
thường chẳng biến đổi. Cớ sao Tôn Trưởng chẳng phát
tâm Vô thượng Bồ đề?”.
Người
cha đáp rằng: “Lúc ta sơ sanh đã phát tâm vô thượng Bồ
đề rồi.
Lúc
ấy cũng có vô lượng chư Thiên đến bảo rằng:
Như
Ngài vậy không có khác. Sự việc như vậy chỉ có Phật chứng
biết.
Quyến
thuộc theo Sư Tử Tướng Quân số đủ năm trăm người đều
phát tâm Vô thượng Bồ đề”.
Vô
Ngôn Bồ Tát khen quyến thuộc mình: “Lành thay, lành thay,
khéo có thể trang nghiêm tâm Bồ đề”.
Các
quyến thuộc hỏi: “Thế nào gọi là trang nghiêm tâm Bồ
đề?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Có bốn mươi sự trang nghiêm tâm Bồ
đề.”.
Những
gì là bốn mươi? Ðó là:
Tin
Phật chẳng nghi. Chẳng động pháp giới. Cúng dường Thánh
chúng. Thân cận thiện hữu. Nơi chư Bồ Tát quan niệm là
y vương. Nơi các chúng sanh tâm mình bình đẳng. Cúng dường
cung kính các Sư trưởng, Hòa thượng, cha mẹ có đức. Thuận
thọ lời dạy bảo của các bực ấy. Hộ pháp, cầu pháp,
chí tâm nghe pháp. Ðã thọ trì rồi vì người diễn nói rộng.
Cúng dường cung kính người hộ pháp. Vì người thuyết pháp
chẳng có ý tham. Phá hoại kiêu mạn. Biết ơn báo ơn. Thường
khéo tư duy. Như pháp mà trụ. Hay xả thí vật khó xả thí.
Chí tâm hô giới. Tinh tiến siêng tu tất cả pháp lành. Ðầy
đủ thành tựu công đức trang nghiêm. Tâm không tật đố.
Hộ trì chúng sanh. Phòng ngừa chế ngự phiến não. Ðiều
phục tâm mình và tâm người. Ðiều phục chúng sanh. Hay dứt
phiền não. Tri túc tịch tĩnh. Tu tịch phạm hạnh. Chẳng dứt
giống Thánh. Thế pháp chẳng ô nhiễm. Cúng dường cung kính
người thuyết pháp. Tùy thuận thế gian. Xa lìa giải đãi.
Không có phóng dật. Chẳng cầu tâm Bồ đề hạ thừa. Tâm
Vô thượng Bồ đề trọn chẳng động chuyển. Ở tại sanh
tử long chẳng nhàm hối. Xa lìa tất cả pháp bất thiện.
Ðầy đủ tất cả diệu pháp thuần thiện. Trang nghiêm phạm
hạnh. Ðây gọi là bốn mươi sự trang nghiêm tâm Vô thượng
Bồ đề vậy”.
Sư
Tử Tướng Quân nói với Vô Ngôn Bồ Tát: “Ðại Sĩ nên
luôn luôn thường thị hiện thân mình để cho chúng tam muội
chẳng thối tâm Vô thượng Bồ đề”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Thưa Tôn Trưởng! Nếu có đủ mười
pháp thì thường được thân cân thận Phật và Bồ Tát. Những
gì là mười? Ðó là:
Tự
xả bỏ vật vui thích của mình để ban cho chúng sanh. Tu tập
nhẫn nhục hộ trợ kẻ vô lực. Thường khuyên chúng sanh
tu tập thiện pháp. Hóa đạo tất cả xu hướng Bồ đề.
Nguyện cho chúng sanh trước được Vô thượng Bồ đề, tôi
sẽ cúng dường nghe họ thuyết pháp thọ trì ủng hộ rồi
sau tôi sẽ thành đạo vô thượng. Biết thiện pháp tánh.
Vì hộ pháp mà chẳng tiếc thân mạng. Nghe thâm pháp giới
chẳng sanh kinh sợ. Quán không có Bồ đề không có người
được. Quán mình bình đẳng tất cả chúng sanh cũng bình
đẳng. Do chúng sanh bình đẳng quán pháp giới cũng bình đẳng.
Do pháp bình đẳng quán hư không bình đẳng. Quán sanh tử
khổ cũng chẳng bỏ lìa. Thấy lỗi sanh tử long không thối
hối. Ðầy đủ các thiện pháp như vậy thì thường thấy
chư Phật chư Bồ Tát và thường thân cận”.
Lúc
nói pháp ấy, tướng quân và quyến thuộc được nhu thuận
nhẫn.
Ðức
Phật bảo Tôn giả A Nan: “Nầy A Nan! Ông nên thọ trì đọc
tụng thơ tả kinh điển như vậy. Tại sao, trong kinh điển
nầy phân biệt diễn nói tất cả pháp tướng, cũng làm cho
vô lượng vô biên chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề.
Nầy
A Nan! Nếu có người ở chỗ vô lượng chư Phật trồng các
thiện căn, người ấy mới có thể ở nơi kinh nầy thọ trì
đọc tụng biên chép rộng phân biệt nói nghĩa ấy. Người
thọ trì kinh nầy có ba sự: quyết định phát tâm Vô thượng
Bồ đề, hai là tâm bất thối, ba là hay hộ trì chánh pháp”.
Ðại
chúng nghe lời nầy, có bảy na do tha Bồ Tát đứng dậy bạch
Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi có thể sau khi
Như Lai diệt độ thọ trì đọc tụng thơ tả kinh nầy”.
Vô
Ngôn Bồ Tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Như
Lai Thế Tôn được những pháp gì mà khiến chư Bồ Tát nầy
thọ trì đọc tụng thủ hộ?”.
Ðức
Phật nói: “Nầy Vô Ngôn! Nếu có thể hộ người trì pháp
ấy tức là hộ pháp. Ðó là người biên chép người đọc
tụng người giải nói văn tự. Văn tự nói được còn pháp
thì chẳng nói được.
Nầy
Vô Ngôn! Có hai hạng người có khả năng hộ pháp, đó là
người như pháp mà trụ và người tụng văn tự nầy. Nếu
không có văn tự pháp chẳng thể nói được”.
Nghe
Phật nói xong, tất cả đại chúng và Sư Tử Tướng Quân
các quyến thuộc chư Thiên thế nhơn đều rất vui mừng tín
thọ phụng hành.
Pháp
Hội Vô Ngôn Bồ Tát –
Thứ
Năm Mươi Sáu
Hết
WP:
Chơn Mỹ Thanh