LVI
PHÁP HỘI VÔ
NGÔN BỒ TÁT
THỨ NĂM MƯƠI
SÁU
(Hán
bộ từ quyển 142 Ðến quyển 143)
Hán
dịch: Tam tạng Ðàm Vô Sấm-Việt dịch: Tỳ kheo Thích
Trí Tịnh.
Lúc
đức Phật nói pháp ấy, có mười ngàn Bồ Tát được chánh
kiến như vậy.
Tôn
giả Xá Lợi Phất nói với Vô Ngôn Bồ Tát rằng: “Thưa
Ðại Sĩ! Theo ai nghe pháp mà được chánh kiến ?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói : “Thưa Ðại Ðức! Nếu có người chẳng
được tâm Bồ đề quá khứ vị lai hiện tại, tôi từ nơi
người ấy nghe pháp mà được chánh kiến.
Người
quán tam thế bình đẳng, tất cả pháp bình đẳng, nơi tất
cả pháp chẳng sanh giác quán, tâm chẳng trụ hữu vi vô vi,
xa lìa tất cả tướng chúng sanh mà vì chúng sanh tu tất cả
khổ hạnh, cũng xa lìa hai thứ tướng, một là tướng chúng
sanh và hai là tâm tướng. Xa lìa hai tiết biết thiệt pháp
tánh, thiệt pháp tánh là không có không chẳng có, thông đạt
tất cả thâm pháp của chư Phật mà chẳng sanh lòng kiêu mạn
tự nói là ta biết. Thưa Ðại Ðức! Tôi từ người ấy nghe
thọ chẳng pháp. Người ấy cũng chẳng tuyên nói một chữ
mà làm cho tất cả đều thích nghe. Biết pháp chơn thiệt
chẳng thể tuyên nói được mà vì chúng sanh tuyên nói đó,
ra khỏi thế gian chẳng bị thế gian nhiễm ô, cứu cánh tu
tập không có ai biết được là tu cùng chẳng tu. Tôi từ
nơi người ấy nghe thọ chánh pháp trụ nơi pháp tánh, nơi
chúng sanh tánh chẳng sanh phân biệt. Quán chúng sanh tánh pháp
tánh không tánh thảy đều bình đẳng. Tôi ở bên người
ấy nghe pháp. Người ấy chẳng ngồi dưới cây Bồ đề,
chẳng dậy, chẳng đi, chẳng nghỉ, chẳng nằm, chẳng ngủ,
chẳng thức mà được Bồ đề, được Bồ đề rồi trọn
chẳng hiện tướng nói là được Bồ đề, tất cả chúng
sanh cũng chẳng biết người ấy đã được Bồ đề, không
được mà được nên không có tướng được.
Thưa
Ðại Ðức! Luận về chánh pháp không có quang minh, không có
quang minh tức là không có xứ sở, không có xứ sở tức là
không có thân, không có thân tức là vô sở úy, vô úy tức
là bất xuất, bất xuất tức là bất sanh, bất sanh tức là
bất diệt, bất diệt tức là bất trước, bất trước tức
là bất động, bất động tức là bất biến, bất biến tức
là không phóng chạy không tối tăm, không phóng không tối
tức là không giác quán, không giác quán tức là không thời
gian, không thời gian tức là không có các môn vật, không vật
thì không có tham, không tham tức là tánh thanh tịnh, tánh tịnh
ấy chẳng hiệp với phiền não, chẳng hiệp với phiền não
thì không điên đảo, chẳng điên đảo thì là bình đẳng,
bình đẳng tức là chơn thiệt, chơn thiệt là bất sanh bất
diệt, bất sanh bất diệt ấy gọi là từ nhơn duyên, từ
nhơn duyên ấy tức là chẳng khứ chẳng lai, chẳng khứ chẳng
lai tức là không có cảnh giới, không cảnh giới tức là
vô cú, vô cú tức là chẳng cuồng, chẳng cuồng ấy tức
là không có nghe, không có nghe ấy tức là không có tạo tác,
không có tác ấy tức là không có trụ, không trụ ấy tức
là không có chữ, không có chữ tức là không có tướng, không
có tướng tức là quá tâm ý thức, quá tâm ý thức tức là
tịch tĩnh, tịch tĩnh ấy tức là không nhiệt não, không nhiệt
tức là không có sân, không sân ấy tức là cứu cánh, cứu
cánh tức là không có, không có tức là Niết bàn đây gọi
là pháp.
Thưa
Ðại Ðức! Tức là chánh pháp tức là thuyết pháp tức là
nghe pháp tức là chánh kiến.
Thưa
Ðại Ðức! Luận về người chánh kiến chẳng thấy có thân,
hễ thân hành thì bịnh hành, chẳng thấy nơi thấy chẳng
sanh tham trước chẳng giác chẳng quán, đây gọi là Phật
pháp thánh kiến chánh kiến.
Còn
nữa, thưa Ðại Ðức! Quán vô minh và ái bình đẳng với
giải thoát không có sai biệt, đây gọi là chánh kiến. Chánh
kiến như vậy chẳng trước chẳng thủ, đây gọi là thánh
kiến.
Còn
nữa, thưa Ðại Ðức! Quán tham sân và si với không vô tướng
và cô nguyện bình đẳng không có hai chẳng thấy nơi tướng
thấy tướng không có tướng, đây gọi là thánh kiến. Chẳng
thấy một hai bình đẳng tất cả pháp, gọi là thánh chánh
kiến.
Còn
nữa, thưa Ðại Ðức! Nếu có thể quán ngã và chúng sanh
bình đẳng, vì chúng sanh bình đẳng nên Như Lai bình đẳng,
vì Như Lai bình đẳng nên Phật pháp bình đẳng, vì Phật
pháp bình đẳng nên thánh và chúng sanh bình đẳng, vì thánh
và chúng sanh bình đẳng nên đại từ bình đẳng, vì đại
từ bình đẳng nên hư không bình đẳng, dùng bất trụ mà
trụ bình đẳng như vậy gọi là thánh chánh kiến.
Thưa
Ðại Ðức! Như tất cả pháp âm thanh cũng như vậy. Như âm
thanh tức là thánh kiến tức là chánh kiến.
Thưa
Ðại Ðức! Thánh chánh kiến cũng không có sanh không có xuất.
Nếu không có sanh xuất thì theo ai điều phục nghe pháp!
Tôn
giả Xá Lợi Phất nói: “Như tôi hiểu nghĩ của Ðại Sĩ
nói thì tất cả các pháp không có ngữ ngôn”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Ðúng như vậy đúng như vậy, thưa Ðại
Ðức! Tất cả các pháp thiệt không có ngôn ngữ”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất hỏi: “Thưa Ðại Ðức! Nếu nói Như Lai
thành tựu công đức. Trong lời nói ấy mắc những tội gì?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Ðức! Nếu có nói như vậy
thì phải biết người nói ấy có tội lỗi lớn. Tại sao,
vì Như Lai công đức chẳng quyết định vậy, tại sao, vì
không phước không tội gọi là Như Lai. Nếu thấy Như Lai
có công đức đây gọi là dục, luận về người có dục
tức là đại dục. Có dục và đại dục tức là lỗi lầm
vậy”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất hỏi: “Thưa Ðại Ðức! Thế nào được
gọi là không tội lỗi?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói : “Thưa Ðại Ðức! Như đệ ngũ đại,
như đệ thất căn, như đệ thập cửu giới vô xuất vô nhập
vô sanh vô diệt, không có tạo tác, không có tâm ý thức mới
gọi là không lỗi. Nếu có tri kiến xa lìa chứng tu đây gọi
là tội lỗi. Nếu có các giới đây gọi là tội lỗi, nếu
không có các giới đây gọi là không lỗi”.
Ðức
Phật nói: “Lành thay, lành thay, nầy Vô Ngôn! Ðúng như lời
ông nói. Lời ông nói đó tức là thiện thuyết”.
Lúc
nói pháp nầy, có một vạn hai ngàn Bồ Tát được Vô sanh
Pháp nhẫn.
Vô
Ngôn Bồ Tát lại bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Như Phật đã nói đại Bồ Tát có bốn thứ lực. Ðó là
tín lực, tiến lực, niệm lực và huệ lực. Ngưỡng mong
đức Như Lai rộng phân biệt nói thế nào gọi là bốn lực
của Bồ Tát?”.
Ðức
Phật nói: “Nầy Vô Ngôn! Chí tâm lắng nghe nay Phật sẽ
nói.
Nếu
có Bồ Tát ở nơi chánh pháp của Phật thâm tín thuận hiểu
chẳng sanh lòng nghi đây gọi là tín lực. Nếu siêng năng
tinh tiến cầu Phật pháp chẳng nghĩ chẳng thôi chẳng sanh
lòng nghi hối, đây gọi là tiến lực. Nếu có Bồ Tát cầu
thiện pháp được rồi chẳng mất niệm Bồ đề tâm, thiện
căn được làm nguyện đến Bồ đề, đây gọi là niệm lực.
Nếu có Bồ Tát nội tâm tư duy chẳng theo lời người rõ
biết pháp tánh, đây gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Nếu cótín tâm thân cận thánh nhơn, đây
gọi là tín lực. Nếu hay cúng dường thánh nhơn như vậy,
đây gọi là tiến lực. Chí tâm nghe thọ lời dạy của thánh
nhơn, đây gọi là niệm lực.
Nghe
thánh pháp rồi như pháp mà trụ, đây gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Tin nghiệp quả đây gọi là tín lực.
Ðã có lòng tin rồi chẳng làm các việc ác, đây gọi là
tiến lực. Thiện nghiệp quá khứ hiện nay vẫn tăng trưởng,
đây gọi là niệm lực. Nếu biết các pháp có nhơn có quả,
đây gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Nếu tin tâm pháp chẳng thể nói được,
đây gọi là tín lực. Nếu nhơn lòng tin nầy mà điều phục
tâm, đây gọi là tiến lực. Nếu hay chí tâm, đây gọi là
niệm lực. Quán pháp như huyễn, đây gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Nếu thấy pháp không, đây gọi là tín
lực. Nếu đoạn dứt tà kiến, đây gọi là tiến lực. Nếu
thấy nội ngoại thảy đều không tịch chẳng sanh bố úy,
đây gọi là niệm lực. Nếu hay quán thấy đệ nhứt nghĩa
không, đây gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Nếu hay quán thấy vô tướng vô nguyện,
đây gọi là tín lực. Vì người mà diễn nói vô tướng vô
nguyện, đây gọi là tiến lực. Chí tâm quán sát vô tướng
vô nguyện, đây gọi là niệm lực.
Biết
rõ pháp ấy chẳng tuyên nói được, đây gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn ! Hay bố thí tất cả chẳng cầu quả báo,
đây gọi là tín lực. Bố thí rồi chẳng hối tiếc cũng
chẳng thôi nghỉ thường làm chẳng tuyệt, đây gọi là tiến
lực. Lúc thí chí tâm niệm Bồ đề phát nguyện hồi hướng
Bồ đề, đây gọi là niệm lực. Chẳng quán tài vật người
thí người thọ và quả báo, đây gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn ! Nếu có thọ trì thanh tịnh cấm giới
chẳng cầu quả báo, đây gọi là tín lực, chẳng sanh phiền
não hủy hoại cấm giới, đây gọi là tiến lực. Tịnh giới
như vậy chí tâm hộ trì nguyện hồi hướng Bồ đề, đây
gọi là niệm lực. Quán thân khẩu ý như thủy nguyệt như
hương như ảo như diệm v.v…, đây gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn ! Nếu có tu hành pháp nhẫn nhục chẳng
cầu quả báo, đây gọi là tín lực. Nếu có bị đánh mắng
hay nhịn lặngười yên, đây gọi là tiến lực. Vì nhẫn
nhục mà tu tâm từ bi bất phóng dật nguyện hướng Bồ đề,
đây gọi là niệm lực. Quán thân khẩu ý đều không có gì
để nhẫn, đây gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn ! Nếu có rõ biết do siêng năng tinh tiến
được Vô thượng Bồ đề chẳng phải đời giải đãi, đây
gọi là tín lực. Nếu hay điều phục tất cả chúng sanh,
hộ trì người nghe thọ, cúng dường chánh pháp, hay vì chúng
sanh mà cung cấp phục dịch, hay tịnh Phật độ, đây gọi
là tiến lực. Hay làm cho chúng sanh xa lìa giải đãi siêng
tu hành tinh tiến nguyện hướng Bồ đề, đây gọi là niệm
lực. Nếu tu tinh tiến chẳng tăng chẳng giảm, đây gọi là
huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Nếu thích tịch tĩnh lìa nói việc đời,
đây gọi là tín lực. Nếu trụ không tịch được tứ thiền
và bát giải thoát, đây gọi là tiến lực. Nếu ở nơi các
thiền giải thoát không có thối thất, đây gọi là niệm
lực. Nếu quán các thiền vô thường khổ vô ngã, đây gọi
là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Nếu nghe các Ba la mật các phẩm trợ đạo
tin mà không nghi, đây gọi là tín lực. Nghe rồi vì chúng
sanh mà diễn nói, đây gọi là tiến lực. Tâm khéo tư duy,
đây gọi là niệm lực. Như pháp mà trụ, đây gọi là huệ
lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Vì các chúng sanh mà tu tập tâm từ, đây
gọi là tín lực. Thương mến chúng sanh làm cho họ lìa khổ,
đây gọi là tiến lực. Quan sát pháp rồi lòng được đại
hỉ, đây gọi là niệm lực. Với oán thân tâm luôn bình đẳng
tu tập đại xả, đây gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Quán sát thân nầy do vô lượng thứ ác
xấu làm thành gạt gẫm kẻ phàm phu dường như hình tướng
ảo huyễn, đây gọi là tín lực. Lúc thọ tử khổ chuyên
tâm hệ niệm Phật Pháp Tăng Tam bửu chẳng tiếc thân mạng,
đây gọi là tiến lực. Cũng chẳng sanh các tâm ác, tâm Thanh
Văn, tâm Bích Chi Phật, tâm tham, tâm sân, tâm si, tâm tật
đố, tâm xan lẫn, tâm hủy giới, đây gọi là niệm lực.
Nếu quán pháp giới, quán vô ngại trí, cũng biết quá khứ
vị lai hiện tại, đây gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Hỉ gọi là tín, bất thối chuyển gọi
là tinh tiến, chẳng cuồng loạn gọi là niệm lực, biết
rõ rang gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Do tín lực mà có được làm, do tiến
lực mà việc được cứu cánh, do niệm lực mà không sót
mất, do huệ mà có thể nói đúng chánh pháp.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Vì quán lưới nghi nên gọi là tín lực,
xa lìa nghi gọi là tiến lực, không còn sanh nghi nữa gọi
là niệm lực, nói pháp có thể phá nghi gọi là huệ lực.
Còn
nữa, nầy Vô Ngôn! Tin Phật pháp đây gọi là tín lực. Vì
Bồ đề mà tu hành đây gọi là tiến lực. Ðược nhu thuận
nhãn đây gọi là niệm lực. Ðược Vô sanh nhẫn đây gọi
là huệ lực.
Nầy
Vô Ngôn! Tín căn tín lực không có sai biệt, tiến căn tiến
lực, niệm căn niệm lực, huệ căn huệ lực cũng như vậy
không có sai biệt”.
Ðức
Phật nói pháp nầy, có trăm ngàn Bồ Tát được bực Vô sanh
nhẫn. Bốn vạn hai ngàn chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ
đề.
Lúc
ấy trong đại hội có một Bồ Tát tên là Liên Hoa nói với
Vô Ngôn Bồ Tát rằng: “Thưa Ðại Sĩ! Vừa rồi Ðại Sĩ
hỏi Phật. Ðức Thế Tôn đã phân biệt giải nói. Ðại Sĩ
có mừng chăng ?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Sĩ! Tôi cũng chẳng hỏi chẳng
nghe một pháp thì thế nào có lòng mừng”.
Liên
Hoa Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Sĩ! Ngài ở chỗ đức Phật
chẳng có nghe pháp sao?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Chư Phật Như Lai đều không có nói, làm
sao tôi có nghe. Tại sao, vì tôi chẳng phải là pháp khí vậy”.
Liên
Hoa Bồ Tát nói: “Thưa Ðại Sĩ! Nay Ngài chẳng phải là pháp
khí, vậy là khí gì?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Nay Ðại Sĩ chẳng phải là chơn pháp
khí thí làm sao được Vô thượng Bồ đề?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Vô thượng Bồ đề cũng chẳng phải
là khí. Nầy Ðại Sĩ! Nếu rời Phật pháp mà có Bồ đề
nên biết là có khí. Tất cả Phật pháp tức là Bồ đề,
Bồ đề tức là Phật pháp. Nầy Ðại Sĩ! Vì thế nếu tôi
xa lìa phiền não chẳng thấy Phật pháp chẳng thấy Bồ đề.
Phiền não Phật pháp và Bồ đề không có sai biệt. Nếu trong
phiền não mà thấy Bồ đề tức là như như kiến. Nếu rời
phiền não thấy Bồ đề là điên đảo kiến”.
Liên
Hoa Bồ Tát hỏi: “Thưa Ðại Sĩ! Thế nào là đảo kiến?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Thấy ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng,
rời ngoài các thứ ấy riêng có tham dục, sân hận, ngu si
đây gọi là đảo kiến. Tất cả pháp tánh và Bồ đề tánh
không có sai biệt, vô tác vô thọ. Ngã tánh, nhơn tánh, chúng
sanh tánh, thọ mạng tánh tức là tham dục, sân hận, ngu si.
Các pháp như vậy tức là Bồ đề đây gọi là như như kiến.
Chính
ở trong tứ đại và trong tứ đại sở tạo mà cầu Bồ đề
chẳng ở chỗ khác cầu.
Thế
nào gọi là cầu? Lúc cầu chẳng thấy tất cả các vật.
Chẳng thấy ấy tức là vô xứ. Vô xứ ấy tức là vô trụ.
Vô trụ ấy tức là tánh của tất cả pháp. Tất cả pháp
nếu là vô tánh tức là thiệt tướng. Thiệt tướng ấy chẳng
phải thuờng chẳng phải đoạn gọi là cứu cánh tiết. Nếu
có thể thấy được các tiết như vậy, nên biết người
ấy chẳng lưu chẳng tán. Chẳng lưu chẳng tán tức là không
sanh diệt, tức là Niết bàn, tức là Chơn như. Tất cả các
pháp nếu là như vậy, người được Niết bàn tức là Thánh,
nhập vào Niết bàn. Vì vậy nên trong khế kinh đức Như Lai
nói: tự chẳng điều phục có thể điều phục người, tự
chẳng giải thoát có thể giải thoát người, tự chẳng tịch
tĩnh có thể tịch tĩnh người, tự chẳng Niết bàn làm cho
người được Niết bàn thì không bao giờ có lẽ ấy. Nếu
tự điều phục rồi khiến người điều phục, tự đã giải
thoát khiến người giải thoát, tự đã tịch tĩnh khiến người
tịch tĩnh, tự đã Niết bàn khiến người Niết bàn đây
thì có lẽ vậy.
Thưa
Ðại Sĩ! Ðại Bồ Tát tu Bồ đề hạnh hiểu rõ sở hành
của tất cả chúng sanh, nơi các pháp tướng và pháp giới
chẳng sanh phân biệt. Lúc tu hành tất cả thiện pháp cũng
chẳng thấy có các đồ chúng ma. Dầu cầu Phật pháp mà chẳng
thấy người cầu. Dầu điều phục chúng sanh mà không thấy
ngã và nhơn. Dầu hành các pháp mà phiền não chẳng nhiễm
ô. Dầu thuận thế pháp mà chẳng nhiễm thế gian. Dầu mang
gánh ngũ ấm cũng không có sở trụ. Dầu lìa các giới mà
chẳng động pháp giới. Dầu tu các môn giải thoát mà chẳng
thối thất thiện pháp. Dầu thấy rõ tam giới mà chẳng rời
phiền não. Dầu hành Ðàn Ba la mật mà chẳng sanh kiêu mạn
nhẫn đến hành Bát Nhã Ba la mật cũng như vậy. Dầu tùy
theo tất cả hành mà thiệt thì chẳng hành nơi tất cả hành.
Nếu có thể tu hành các hạnh như vậy thì nên biết là hành
Bồ đề đạo. Nơi Bồ đề đạo và Bồ đề hạnh chẳng
sanh phân biệt. Nếu tu hành Bồ đề đạo hạnh như vậy thì
ở trong các pháp chẳng thấy có ngã không, tham không, sân
không, oán không thân không có chướng ngại.
Nếu
không có chướng ngại thì tức là hạnh vô vi. Nếu hạnh
vô vi tức là chơn thiệt Bồ Tát vậy”.
Liên
Hoa Bồ Tát hỏi: “Thưa Ðại Sĩ! Nhơn duyên gì mà gọi là
Bồ Tát ?”.
Vô
Ngôn Bồ Tát nói: “Hay làm cho chúng sanh giác ngộ chỗ chẳng
giác ngộ thì gọi là Bồ Tát. Vì hay giác ngộ vô minh thùy
miên chúng sanh nên gọi là Bồ Tát. Vì diễn thuyết tùy thuận
pháp Bồ đề nên gọi là Bồ Tát. Hay làm cho chúng sanh rất
thích tịch tĩnh đây gọi là Bồ Tát. Tăng trưởng lời Phật
dạy, dựng tràng chánh pháp, hộ niệm Thánh chúng, nơi Bồ
đề tâm không có động chuyển, chẳng trụ tâm Thanh Văn,
Bích Chi Phật, trọn chẳng bỏ lìa tâm chí thành phát nguyện
cứu cánh, hay độ người chưa độ, hay hiểu người chưa
hiểu, vì người không có chỗ nương về hay làm chỗ nương
về, hay diệt chỗ chưa diệt, hay điều phiền não mà chẳng
lìa phiền não, quán lỗi sanh tử cũng cầu các cõi, tu không
tam muội mà chẳng bỏ chúng sanh, tu tập vô tướng mà chẳng
bỏ tướng Bồ đề, tu tập vô nguyện mà rất thích các cõi,
dầu thích Phật pháp mà ở nơi tham chẳng tham, biết các hữu
vi có nhiều tội lỗi mà nơi nội tâm chẳng bỏ hữu vi, dầu
lìa các mê tối mà chẳng được đại minh, được đại trí
huệ dung làm giáp mặc và binh khí, rất ưa bố thí phát đại
trang nghiêm tịnh Phật thế giới, đầy đủ tịnh giới đầy
đủ thệ nguyện, đầy đủ nhẫn nhục hay điều phục tất
cả chúng sanh chẳng nhẫn nhục, siêng tu tinh tiến cầu bất
hoại thân, hay phá hoại Dục giới thích thọ thân cõi Sắc,
dầu thọ các cõi mà tâm chẳng hối, khéo biết phương tiện
thường tự điều phục cầu Bồ đề, vì các chúng sanh mà
tu tập tâm từ, vì trừ khổ cho chúng sanh mà tu tập tâm bi,
vì điều người chẳng điều mà tu tập tâm hỉ, chẳng phải
cứu cánh xả mà tu tập tâm xả, thông đạt rõ ràng hiểu
nghĩa thậm thâm chẳng phải cảnh giới Thanh Văn, Duyên Giác,
y nơi nghĩa nơi pháp nơi kinh liễu nghĩa và trí mà chẳng y
nơi thế pháp, cũng vì chúng sanh mà làm chỗ y chỉ, vì các
chúng sanh mà trang nghiêm thân khẩu, như thuyết mà làm trang
nghiêm nơi tâm, vì các chúng sanh mà trang nghiêm thần thong,
làm lợi ích chúng sanh như đại địa, hay làm sạch tất cả
như nước trong, đốt các phiền não như ngọn lửa, nơi pháp
vô ngại như gió mạnh, nơi pháp bình đẳng như hư không,
được đà la ni trì tất cả pháp được nghe, lạc thuyết
vô ngại khiến người thích nghe, chí tâm niệm Phật để
tịnh tâm niệm, tự sống oai nghi thanh tịnh, tu hành vô tránh
tam muội rất thích tịch tĩnh, ưa điều phục chúng sanh lìa
nói lời thế tục, thấy người thích thế tục thì quở trách
dạy bảo, đủ bảy thánh tài tâm ấy nhu nhuyến, hành bố
thí kiên cố chẳng thối bỏ, quyến thuộc chẳng hư thân
cận thiện hữu biết ơn báo ơn, quán nghiệp quá khứ tùy
theo ý chúng sanh hay phá lòng nghi, quán sát sanh tử nhiều tội
lỗi, chỗ làm thì chí tâm, hiểu tất cả ngữ ngôn, tu tập
Ðại thừa, chẳng nghi Tam thừa, được chúng sanh thích thấy
theo lời hỏi mà giải thích được vô ngại trí, được chư
Phật hộ niệm nói đúng thời tiết chẳng nói nhiều, sáng
rỡ mát mẽ như thu nghuyệt, đầy đủ thiện pháp như trăng
tròn, chúng sanh thích thấy như trăng sáng, tăng trưởng thiện
pháp như trăng đầu tháng, nhứt vị ngọt ngon như trăng nhứt
vị, quán tất cả pháp nhhư trang hiện trong nước, thanh tịnh
vô cấu như trăng không mờ, dễ cùng nói năng các căn đầy
đủ, nơi tất cả pháp như cây cầu hay độ chúng sanh qua
bốn dòng nước chảy, vì các chúng sanh mà làm Phật sự,
tâm vẫn chẳng động cảnh giới Bồ Tát, do các nghĩa như
vậy nên gọi là Bồ Tát”.
Liên
Hoa Bồ Tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Vô Ngôn
Bồ Tát nói thâm pháp như vậy nên biết chẳng lâu sẽ được
Vô thượng Bồ đề chuyển pháp luân diệu bửu vô thượng.
Nếu có ai hay tin thọ trì pháp của Vô Ngôn Bồ Tát nói thí
cũng sẽ được công đức như vậy”.
Ðức
Phật nói: “Lành thay, lành thay, nầy Liên Hoa! Như lời ông
nói, Vô Ngôn Bồ Tát được huệ đăng tam muội, vì vậy nếu
muốn trong vô lượng kiếp nói nghĩa một câu chẳng thể cùng
tận”.
Liên
Hoa Bồ Tát bạch Phật rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Ngưỡng
mong đức Như Lai rủ lòng thương người vì tăng trưởng các
thiện pháp chúng sanh, vì trang nghiêm kinh Ðại Tập vô thượng
mà vì đại chúng khai thị phần ít huệ đang tam muội. Nếu
Bồ Tát có trí huệ được nghe cũng sẽ được tam muội ấy,
được rồi cũng sẽ mau được Vô thượng Bồ đề”.
Ðức
Phật nói: “Nầy Liên Hoa! Chí tâm lắng nghe, Phật sẽ vì
ông mà phân biệt nói ít phần.
Huệ
đăng tức là trí đăng. Trí đăng tức là phá tối. Không
có tối tức là phá nghi, phá nghi tức là huệ đăng. Huệ
đăng ấy tức là các pháp không có hai tướng vậy.
Nầy
Liên Hoa! Trí tỏ rỏ, trí chẳng nghi, trí chẳng mất, trí
chẳng kéo níu, trí chẳng tùy, trí không tối, trí thánh, trí
mạnh mẽ lanh lẹ, trí mau chóng, trí rành rẽ, trí rộng lớn,
trí thuần nhứt, trí biết tất cả, trí biết quá khứ, trí
biết vị lai, trí biết hiện tại, trí tam thế bình đẳng,
trí tam giới, trí bạch môn giải thoát, trí tam huệ, trí tam
bửu, trí tam thừa, trí tam nhãn, trí ba nhơ, trí ba cặn, trí
ba tụ, trí tâm ý thức, trí ấm nhập giới, trí nhơn duyên
hòa hiệp, trí thấy cứu cánh, trí như pháp giới, trí tự
tướng, trí đệ nhứt nghĩa, trí phương tiện, trí nhứt thiết
thanh ngữ, trí nhứt thiết tự, trí vô ngại, trí ngữ bất
hoại, trí hay thuyết pháp, trí thượng trung hạ căn, trí vô
tác vô thọ, trí nhứt thiết chú, trí nhứt thiết y, trí tất
cả thế sự, trí trang nghiêm đà la ni, trí nhựt nguyệt tam
muội, trí nhập tam muội, trí thánh, trí thánh tam muội, trí
kim cương tam muội, trí vô tránh tam muội, trí tâm đẳng tam
muội, trí hoại ma tam muội, trí nhựt quang tam muội, trí vô
tưởng tam muội, trí bửu tràng tam muội, trí nhứt thiết
pháp môn tam muội, trí nhứt thiết pháp khí tam muội, trí
vô biên quang tam muội, trí phước đức tam muội, trí vô trụ
tam muội, trí lạc kiến tam muội, trí thiện kiến tam muội,
trí vô tận khí tam muội, trí cứu cánh tận, nhứt thiết
trí, vô động trí, trí na la diên tam muội, trí tất cả đều
thấy, sáu vạn môn tam muội trí như vậy, lúc xưa ta thấy
Phật Nhiên Ðăng liền được các môn tam muội như vậy. Các
tam muội môn như vậy đều được nhiếp trí tất cả nơi
huệ đăng tam muội.
Nầy
Liên Hoa! Như mặt nhựt mọc lên hay làm bốn việc: một là
phóng ánh sang lớn, hai là trừ diệt tối tăm, ba là hiển
bày các sắc tượng, bốn là hay khiến chúng sanh làm các công
việc.
Ðại
Bồ Tát trụ trong tam muội nầy cũng hay làm bốn việc: một
là xuất đại huệ quang, hai là phá tất cả phiền não tối
tăm, ba là chỉ bày các công hạnh cho tất cả chúng sanh, bốn
là khai thị cho chúng sanh đạo và phi đạo.
Nầy
Liên Hoa! Ví như bửu châu để trên tràng cao ánh sáng của
nó chiếu khắp bốn do tuần, ban cho chúng sanh các thứ vật
cần dung, mà thể tướng của bửu châu vẫn không tăng giảm.
Huệ
đăng tam muội cũng như vậy. Ðại Bồ Tát trụ tam muội nầy
dứt hẳn tất cả phiền não tập khí, tịnh giới, tịnh định,
tịnh huệ, tịnh thân tâm, tịnh các phương tiện, tịnh đà
la ni, tu tập đại bi, phóng đại quang minh chiếu khắp vô
lượng chư Phật thế giới, tùy theo ý chúng sanh mà làm các
Phật sự. Bồ Tát dầu làm các sự việc như vậy mà tướng
tánh Bồ Tát vẫn không tăng giảm.
Nầy
Liên Hoa! Ví như hư không dụng thọ Phật độ không có chướng
ngại. Cũng chẳng chướng ngại tất cả giọt mưa, hỏa tai,
thủy tai, phong tai, vô lượng vô biện tất cả chúng sanh.
Huệ
đăng tam muội cũng như vậy. Ðại Bồ Tát trụ tam muội nầy
vì các chúng sanh nói tất cả pháp không có chướng ngại.
Phương tiện giáo hóa tất cả chúng sanh. Vì người có sức
thiện nhơn mà diễn nói phương tiện khiến họ giải thoát
điều phục thành thục. Vì kẻ tà định mà phương tiện
diễn nói khiến phá tà định. Vì người không có nhơn lành
phương tiện diễn nói khiến gieo nhơn lành. Người không pháp
khí khiến làm pháp khí. Vì người pháp khí phân biệt tuyên
nói Vô thượng Bồ đề. Với người cầu Thanh Văn thì phương
tiện thuyết pháp cho họ được bốn quả Sa Môn. Với người
cầu Duyên Giác thì phương tiện dạy bảo cho họ được Bích
Chi Phật đạo. Lại vì các người cầu Nhị thừa ấy phương
tiện thuyết pháp tiệm kiến khiến họ đều phát tâm Vô
thượng Bồ đề trụ bực bất thối. Thông đạt tám vạn
bốn ngàn pháp môn, vì phá tâm nghi của các chúng sanh mà khai
thị phân biệt giải thuyết chánh pháp. Giải thuyết một
sự trong vô lượng kiếp chẳng thể cùng tận. Dầu làm vô
lượng sự như vậy mà tam muội ấy cũng không có tăng giảm.
Nầy
Liên Hoa! Ví như sức một ngọn đèn lớn hay hiển thị các
sắc tượng.
Huệ
đăng tam muộicũngnhư vậy, Bồ Tát trụ tam muội nầy, trong
một tâm có thể nơi vô lượng thế giới chư Phật thị hiện
các loại sắc tượng mà tam muội nầy không có khuynh động.
Vì
vậy, nên trong Tứ niệm xứ, pháp niệm xứ làm đầu, trong
Tứ chánh cấn chưa sanh thiện pháp hay sanh thiện pháp làm
đầu, trong Tứ như ý túc thân tâm tịch tĩnh gọi là đứng
đầu, trong Ngũ căn, Ngũ lực thì huệ căn và huệ lực làm
đầu, trong Bát chánh đạo thì chánh kiến làm đầu. Tất
cả hàng ngoại đạo chỗ có những xa ma tha thì tỳ bà xá
na làm đầu. Trong tứ chơn đế thì diệt đế làm đầu. Trong
Tứ y thì y nghĩa làm đầu. Trong Tứ vô ngại trí thì nghĩa
vô ngại trí làm đầu. Trong Lục thần thông thì lậu tận
thông làm đầu. Trong Tứ vô lượng tâm thì bi tâm đứng đầu.
Trong tu hành Phạm hạnh thì trí huệ đứng đầu. Trong các
Ba la mật thì Bát Nhã đứng đầu. Trong tất cả Phương tiện
thì biết tâm chúng sanh đứng đầu. Trong tất cả các Lực
thì xứ phi xứ lực đứng đầu. Trong Tứ vô sở úy thì thuyết
nhứt thiết trí vô úy đứng đầu.
Trong
Bất cộng pháp thì vô ngại đứng đầu. Trong ba mươi hai
tướng thì vô kiến đảnh tướng đứng đầu. Trong tám mươi
tùy hảo thì thuyết pháp chẳng luống uổng đứng đầu. Trong
trang nghiêm khẩu thì hiểu tất cả ngữ ngôn đứng đầu.
Trong trang nghiêm tâm thì phá kiêu mạn đứng đầu. Trong tất
cả pháp thì trí huệ đứng đầu. Ðây gọi là huệ đăng
tam muội vậy”.