Lúc
bấy giờ đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật vẫn ở giữa
hai cõi Dục giới và Sắc giới trong đại bửu phường đình
cùng các hàng đại chúng vây quanh thuyết pháp.
Bấy
giờ nước tràn đầy cả Đại Thiên thế giới như đại
hải, cũng như lúc kiếp tận mà thủy tai khơi lên : Dầu nước
tràn đầy cả Đại Thiên thế giới như vậy, song các thế
giới Thiên cung, quốc độ, thành ấp, tụ lạc, nhà cửa,
rừng vườn đến Trời Sắc Giới không hề bị hư hại, tất
cả đều như cũ, nhưng đại chúng đều thấy nước tràn
đầy khắp mọi nơi. Trong nước mọc ra vô lượng hoa
phân đà lợi thanh lưu ly làm cọng, chơn kim làm cánh, công
đức bửu làm gương, đế thích bửu làm vua, vòng quanh còn
có vô lượng hoa ngang rộng mười dặm tại trong đại bửu
phường đình cao một cây đa la.
Pháp
hội đại chúng mỗi người đều riêng thấy tự mình ở
trên hoa báu ấy. Hoa ấy lại phát ra ánh sáng lớn chiếu
khắp mười phương vô lượng thế giới. Tất cả đại
chúng đều vui mừng nghĩ rằng hôm nay chắc chắn chúng ta
sẽ được nghe pháp thù thắng vi diệu.
Di
Lặc Bồ Tát liền từ chỗ ngồi dậy lễ chưn Đức Phật
hữu nhiễu ba vòng, quỳ dài trên hoa sen báu cung kính chắp
tay bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Có duyên cớ gì mà
nước tràn đầy cả Đại Thiên thế giới như đại hải
lại cũng như lúc kiếp tận thủy tai nổi lên, trong nước
lại mọc vô lượng hoa sen trắng phát ánh sáng lớn chiếu
khắp cả mười phương vô lượng thế giới ?".
Đức
Phật phán dạy : "Nầy Di Lặc ! Ở Hạ phương quá Đại
Thiên thế giới vi trần số quốc độ có một thế giới
ấy hiệu là Bửu Trang Nghiêm, Đức Phật tại thế giới ấy
hiệu là Hải Trí Thần Thông Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến
Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn, nơi
ấy có đại Bồ Tát hiệu là Hải Huệ cùng vô số Bồ Tát
muốn đến đại bửu phường đình nầy để nghe kinh pháp
nên hiện ra thoại ứng như vậy".
Tôn
giả Xá Lợi Phất bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Thế
giới Bửu Trang Nghiêm ở Hạ phương cách đây quá xa, đại
Bồ Tát Hải Huệ ở tại đó mà có nghe được lời đức
Thế Tôn nói pháp tại đây chăng ?".
Đức
Phật nói : "Nầy Xá Lợi Phất ! Như nay người ở trước
ta nghe tiếng ta nói thế nào thì Hải Huệ ở thế giới kia
cũng nghe tiếng ta nói như vậy. Như nay ngươi cùng đại
chúng trong pháp hội nầy thấy ta thế nào thì Hải Huệ ở
thế giới kia thấy ta cũng như vậy".
Tôn
giả Xá Lợi Phất bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn !
Đại Bồ Tát có thần thông chẳng thể nghĩ bàn, ở cách
xa vô lượng thế giới mà có nhãn thông nhĩ thông vô ngại
vô chướng như vậy.
Bạch
đức Thế Tôn ! Có ai được nghe sự bất tư nghị nầy
mà sẽ chẳng phát tâm Vô thượng Bồ đề , chỉ trừ kẻ
hạ liệt bất tiếu thôi".
Bấy
giờ Hải Huệ đại Bồ Tát đầy đủ sức vô lượng thần
thông trong khoảng một niệm ở thế giới kia ẩn mất bỗng
nhiên hiện ra trong đại bửu phường đình nầy rồi nhập
tam muội làm cho tất cả đại chúng đều vói thấy thế giới
Bửu Trang Nghiêm bao nhiêu nhơn dân trời người cùng tất cả
cảnh vật đều rõ ràng, cũng thấy Đức Phật Hải Trí Thần
Thông cùng các đại chúng vây quanh thuyết pháp.
Dùng
thần thông lực cho đại chúng thấy những sự ấy rồi, Hải
Huệ đại Bồ Tát từ tam muội an tường dậy rời chỗ ngồi
đến đảnh lễ chưn đức Phật hữu nhiễu ba vòng, dâng các
thứ hoa hương kỹ nhạc ở thế giới mình cúng dường đức
Phật mà bạch rằng : "Hạ phương Bửu Trang Nghiêm thế giới
Hải Trí Thần Thông Như Lai gởi lời hỏi thăm đức Thế
Tôn cùng tất cả đại chúng vô lượng an ổn".
Bạch
xong, đại Bồ Tát Hải Huệ ngồi qua một phía trên bửu liên
hoa.
Phạm
Thiên Vương hiệu là Tu Bi nghĩ rằng nay cớ sao có nước tràn
đầy Đại Thiên thế giới mà chẳng phải là thủy tai.
Ta nên đến hỏi đức Phật. Phạm Thiên Vương Tu
Bi liền cùng sáu vạn tám ngàn Phạm Thiên Đại Bửu Phường
Đình đảnh lễ hữu nhiễu đức Phật ba vòng rồi quỳ dài
chắp tay bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Có nhơn duyên
gì mà cả Đại Thiên thế giới có đầy những hoa sen bảy
báu trang nghiêm, chư Bồ Tát chúng vô lượng đều thứ đệ
ngồi trên hoa báu, lại còn có nước tràn đầy khắp mọi
nơi".
Đức
Phật bảo Phạm Thiên Vương : "Nầy thiện nam tử ! Đây
là thần thông lực của đại Bồ Tát Hải Huệ ".
Phạm
Thiên Vương Tu Bi bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn !
Nay đức Phật nói kinh điển Đại Tập nầy còn chưa xong
ư ?".
Đức
Phật phán bảo Phạm Thiên Vương : "Nầy thiện nam tử !
Lạc thuyết vô ngại của Như Lai không có cùng tận.
Nầy
Phạm Vương ! Đức Phật cùng vô lượng chư đại Bồ
Tát đại chúng quán sát pháp giới giảng luận pháp giới
pháp lạc vi diệu cũng chẳng cùng tận".
Phạm
Thiên Vương bạch rằng : "Đức Thế Tôn nói đại Bồ Tát
Hải Huệ ấy là ai vậy ".
Đức
Phật nói : "Nầy Phạm Thiên Vương ! Nay ông chẳng thấy
vị đại Bồ Tát đang ngồi trên hoa sen báu lớn mười do
tuần được chư Bồ Tát vây quanh cung kính tán thán đó ư
? Thân đại Bồ Tát ấy đoan nghiêm chiếu sáng, chỉ
trừ Như Lai không còn ai sánh bằng".
Phạm
Thiên Vương Tu Bi được thấy Hải Huệ đại Bồ Tát sanh
lòng cung kính liền đảnh lễ và nói rằng : "Nếu có ai được
thấy bực Chánh Sĩ nầy thì được lợi ích lớn, nay tôi
được gặp cũng có lợi ích lớn như vậy.
Bạch
đức Thế Tôn ! Nay chánh pháp nầy sẽ còn được bao
lâu ?".
Đức
Phật nói : "Nầy thiện nam tử ! Chánh pháp nầy như tuổi
thọ của Như Lai. Sau khi Phật nhập Niết bàn, chư đại
Bồ Tát nầy cũng hộ trì pháp ấy, tại sao, vì kinh điển
nầy là ấn của chư Phật quá khứ vị lai hiện tại".
Bấy
giờ Hải Huệ đại Bồ Tát vọt thân lên hư không cao bảy
cây đa la thị hiện thân mình cùng thần lực trí huệ vì
muốn cho đại chúng sanh tín tâm cùng trang nghiêm kinh nầy
mà tuyên nói kệ rằng :
Hạ
phương thế giới Bửu Trang Nghiêm
Hải
Trí Thần Thông Phật Thế Tôn
Thường
vì chúng sanh diễn diệu pháp
Tôi
nghe thọ trì dạy lại người
Nay
tôi đến trong đại chúng nầy
Cung
kính cúng dường Thích Ca Phật
Quyến
thuộc cùng đến chư Bồ Tát
Vì
phá lòng nghi trong pháp nầy
Nay
tôi kính lễ đấng Vô thượng
Trần
thiết cúng dường đúng như pháp
Vì
muốn trang nghiêm đại Bồ đề
Giáo
hoá chúng sanh đạo vô thượng
Nếu
quán sắc pháp không có tướng
Cũng
đoạn ly được ba thứ thọ
Nếu
không tướng mạo và chủng tánh
Người
nầy hay lễ Vô thượng Tôn
Nếu
chẳng tham trước ngã ngã sở
Cũng
lại tu tập nơi trung đạo
Quán
tất cả pháp như hư không
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Nếu
chẳng tham trước các cảnh giới
Cũng
hay tịch tĩnh nơi lục nhập
Với
các pháp giới chẳng trụ trước
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Nếu
thấy Như Lai chân pháp giới
Dựng
được vô thượng đại pháp tràng
Thấy
tất cả pháp tướng như huyễn
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Nếu
thấy không người thí người thọ
Không
làm không thọ cũng như vậy
Nếu
không chánh kiến và tà kiến
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Chẳng
quyết định ở trong Bồ đề
Cũng
chẳng quyết định ở sanh tử
Xa
lìa tất cả các phiền não
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Nếu
người chí tâm tu thiện pháp
Tịnh
thân khẩu ý cả ba nghiệp
Cũng
điều phục được tất cả căn
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Nếu
nhẫn các pháp không có ngã
Chẳng
thành Bồ đề bỏ chúng sanh
Vì
đại Bồ đề trì tịnh giới
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Nếu
quán các pháp như dương diệm
Chúng
sanh bình đẳng như hư không
Tịnh
tâm chẳng khởi những tâm tưởng
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Vì
các chúng sanh thọ khổ lớn
Vì
đại Bồ đề tu nhẫn nhục
Quán
các pháp như trăng trong nước
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Quán
không chúng sanh nhơn thọ mạng
Cũng
vì chúng sanh tu Bồ đề
Quán
pháp niệm niệm tướng diệt tận
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Thọ
khổ địa ngục tâm chẳng thối
Càng
thêm tinh tiến tu đại đạo
Nghe
các pháp không lòng chẳng sợ
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Tất
cả cảnh giới không quái ngại
Cũng
như động thủ giữa hư không
Cũng
quán tam thế tướng bình đẳng
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Nếu
ma chẳng biết được tâm người
Người
nầy đã được đại thần thông
Nếu
thuyết pháp tự nghĩa vô tận
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Nếu
hay nghe khắp chư Phật âm
Nghe
rồi thọ trì rộng tuyên thuyết
Chẳng
thấy Tam bửu tướng sai biệt
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Nếu
hay nghe khắp chư Phật âm
Nghe
rồi thọ trì rộng tuyên thuyết
Chẳng
thấy Tam bửu tướng sai biệt
Người
nầy hay lễ Vô Thượng Tôn
Như
Lai đủ sáu Ba la mật
Không
khứ không lai như hư không
Biết
rõ tất cả chúng sanh giới
Vì
vậy tôi lễ Vô Thượng Tôn
Như
Lai thành tựu công đức lớn
Trọn
chẳng sanh lòng tợ ngã mạn
Tôi
nay kính lễ Phật sắc tượng
Thân
Phật thế gian chẳng làm được
Phật
quang hơn tất cả các quang
Phật
âm thù diệu cũng tối thượng
Phật
đảnh không ai nhìn thấy được
Vì
vậy tôi lễ Vô Thượng Tôn
Như
Lai biết rõ chúng sanh giải
Tuỳ
giải vì họ diễn nói pháp
Phật
biết pháp trị các phiền não
Vì
vậy tôi lễ Vô Thượng Tôn .
Nói
kệ tán thán đức Phật rồi, Hải Huệ đại Bồ Tát từ
hư không xuống bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn ! Nay
tôi ở đây có ít pháp muốn hỏi mong Thế Tôn hứa cho".
Đức
Phật nói : "Lành thay ! Lành thay ! Nầy Hải Huệ, tùy ý ông
hỏi, Phật sẽ vì ông mà phân biệt giải nói".
Hải
Huệ đại Bồ Tát bạch rằng : "Bạch đức Thế Tôn !
Trước đây tôi có nghe tịnh ấn tam muội, Bồ Tát an trụ
tam muội nầy thì được Vô thượng Bồ đề. Mong đức
Thế Tôn nói về tam muội ấy cho khắp các Bồ Tát đều được
nghe, nghe xong đều sẽ trang nghiêm tu hành vì Vô thượng Bồ
đề vậy".
Đức
Phật nói : "Nầy thiện nam tử chí tâm lắng nghe nay Phật
sẽ nói cho. Nầy thiện nam tử ! Như bửu châu thanh
tịnh được thọ khéo trau giồi nên giá trị vô lượng mọi
người để quý trọng.
Nầy
thiện nam tử ! Bồ Tát sơ phát Bồ đề tâm rồi tu pháp lành
đa văn tư duy quán sát pháp giới thanh tịnh sơ tâm, sơ tâm
đã thanh tịnh thì được chư Phật chư Bồ Tát kính niệm
thì được tịnh ấn tam muội.
Nầy
thiện nam tử ! Tịnh bửu châu đã nói ở trên đó rời
lìa chín thứ bửu, đó là chất vàng, chất bạc, chất lưu
ly, chất pha lê, chất mã não, chất xà cừ, chất liên hoa,
chất san hô và chất công đức bửu.
Rời
lìa chín chất bửu ấy gọi là tịnh bửu châu giá trị vô
lượng, là bửu vật thọ dụng của Chuyển Luân Thánh Vương.
Ánh sáng của tịnh bửu châu các ánh sáng khác không sánh
kịp.
Nầy
thiện nam tử ! Cũng vậy, Bồ Tát phát tâm đại Bồ
đề rời lìa chín thứ chủng tánh được tịnh ấn tam muội,
đó là tánh phàm phu, tánh tín hành, tánh pháp hành, tánh nhẫn,
tánh Tu Đà Hoàn, tánh Tư Đà Hàm, tánh A Na Hàm, tánh A La Hán
và tánh Bích Chi Phật. Bồ Tát rời lìa chín chủng tánh
ấy nhập vào chủng tánh Phật được tịnh ấn tam muội ban
bố quang minh cho tất cả chúng sanh hơn các hàng Thanh Văn và
Bích Chi Phật.
Nầy
thiện nam tử ! Tịnh bửu châu ấy chịu được sự mài
xỏ dũa ép vì vậy mà bửu châu ấy có tên gọi không vết
trầy.
Nầy
thiện nam tử ! Cũng vậy, tịnh ấn tam muội tu tập tam
tụ tịnh giới, đủ mười thiện pháp, tu hành từ bi thương
xót chúng sanh, thấy sự nghiệp người tự qua giùm giúp cho
được thành tựu, nhớ thương tất cả tu tập xả ý tịnh.
Thường nhớ chúng sanh tu tứ nhiếp pháp nhiếp thủ tất cả
chúng sanh, chuyên tu lục chánh niệm điều phục sáu căn, thiểu
dục tri túc, chẳng dứt thánh chủng, ngăn các tranh tụng,
phá các kiêu mạn, cung kính cúng dường các bực Sư trưởng
Hoà thượng kỳ cựu tôn túc, chẳng khinh khi người khác,
cầu chánh pháp hộ chánh pháp xa lìa ác pháp, nơi Phật Pháp
Tăng lòng tin vững chắc, tâm thường duyên niệm tất cả
pháp lành, chẳng tự khen chê người mà thường ca ngợi đức
tốt của người, biết ơn báo ơn, thanh tịnh oai nghi, đủ
hạnh nhẫn nhục, cầu xa ma tha tu tập đà la ni. Tâm luôn
bình đẳng như địa thủy hỏa phong hư không. Thường
thích xuất gia tu tập tịch tĩnh, trì giới tinh tiến thân
cận thiện hữu. Thanh tịnh sáu căn, nhãn nhĩ tỉ thiệt
thân tâm vô ngại. Quán sát bất tịnh để phá tham
ái, tu tập từ tâm để phá giận oán, tu quán thập nhị nhơn
duyên để phá vô minh, xa lìa tất cả pháp chướng ngại thí
pháp không lẫn tiếc, thành tựu lục Ba la mật chẳng cầu
Nhị thừa. Trong ngoài thanh tịnh quán sát tội lỗi sanh
tử. Nơi đạo Bồ đề tâm chẳng hề hối thối.
Thường giáo hóa chúng sanh cho họ an trụ trong Đại thừa.
Nầy
thiện nam tử ! Bồ Tát đầy đủ những pháp như vậy
thanh tịnh ý bất tịnh mà phát tâm Vô thượng Bồ đề, đây
gọi là tịnh bửu châu tịnh ấn tam muội vậy".
Muốn
tuyên lại nghĩa ấy đức Thế Tôn nói kệ rằng :
Nếu
có tu tập đại từ tâm
Đầy
đủ thành tựu thập thiện pháp
Người
nầy chắc thấy Phật Di Lặc
Nên
Bồ đề tâm khó nghĩ bàn
Tu
tập đại bi vì chúng sanh
Cũng
thường giáo hóa pháp Đại thừa
Vì
trừ phiền não tu xả tâm
Nên
Bồ đề tâm khó nghĩ bàn
Đầy
đủ tu tập niệm trí huệ
Và
hay điều phục tự tâm mình
Hay
tu tri túc và thiểu dục
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Xa
lìa tất cả các ác pháp
Tâm
ấy dịu dàng với chúng sanh
Tăng
trưởng tất cả các thiện pháp
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Cung
kính cúng dường Hoà Thượng Sư
Kế
nối thêm lớn chủng tánh Thánh
Xa
lìa tất cả các kiêu mạn
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Tâm
ấy chất trực chẳng khi dối
Thường
thích tịch tĩnh hoá chúng sanh
Trừ
bỏ kiêu mạn chẳng khinh người
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Hay
nghe hay nói trì chánh pháp
Dạy
các chúng sanh lìa phiền não
Chí
tâm chuyên niệm Vô thượng thừa
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Cúng
dường Tam bửu tin tứ đế
Xa
lìa các ác tu pháp lành
Chẳng
giận chẳng hờn các chúng sanh
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Khách
phiền não khởi sanh hổ thẹn
Liền
hướng mười phương Phật sám hối
Tu
tập thiện pháp điều các căn
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Tịnh
thân khẩu ý biết nghiệp quả
Biết
ơn nhớ ơn hay báo đáp
Tin
thập nhị nhân duyên tịnh oai nghi
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Có
xa ma tha tu trí huệ
Trì
đủ tịnh giới thích Bồ đề
Thọ
đại khổ não tâm chẳng động
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Tâm
ấy bình đẳng như tứ đại
Xem
các chúng sanh đồng hư không
Thường
thích xuất gia tu Bồ đề
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Ưa
tịch tĩnh thanh tịnh thân tâm
Tu
hành pháp hạnh quan tứ đế
Thiệt
ngữ pháp ngữ chơn nghĩa ngữ
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Theo
pháp được nói mà an trụ
Siêng
tu tinh tiến phá ma giới
Nơi
pháp được tu không giải đãi
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Gần
kề thiện hữu Phật Bồ Tát
Hay
độ chúng sanh khỏi sanh tử
Hay
tịnh tất cả sáu trần cảnh
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Hay
lìa chướng ngại trừ ngũ cái
Sáu
căn thanh tịnh không kiêu mạn
Đối
trị tham dục sân và si
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Thường
thiện tư duy đủ lục niệm
Tu
trợ Bồ đề được thần thông
Chẳng
sợ sanh tử thích Niết bàn
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Phàm
thuyết chánh pháp chẳng vì lợi
Ở
trong các pháp không tâm hối
Tu
hành thiện pháp chẳng cầu báo
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Chẳng
dùng thừa khác nhiếp chúng sanh
Thuyết
pháp người ưa tin thọ trì
Tâm
ấy vô lượng cũng vô biên
Nên
tâm Bồ đề là tối thắng
Trong
ngoài thanh tịnh không tội lỗi
Chẳng
sợ sanh tử tu Bồ đề
Lúc
tu Bồ đề tâm chẳng hối
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Biết
chúng sanh giới tịnh quốc độ
Trang
nghiêm Bồ đề chẳng vì mình
Với
chúng sanh mê dạy chánh đạo
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Biết
rõ pháp giới chơn thiệt tánh
Trí
vô phân biệt chẳng nói được
Hay
phá chúng sanh lòng kinh sợ
Nên
Bồ đề tâm là tối thắng
Nếu
đầy đủ được pháp như vậy
Thì
hay phát tịnh Bồ đề tâm
Chẳng
bị thế gian làm ô nhiễm
Phiền
não nghiệp ma cũng như vậy
Nếu
người hay phát tâm Bồ đề
Thì
đã hơn hẳn các thừa khác
Hay
tịnh tất cả chúng sanh tâm
Cũng
hay diễn thuyết đạo vô thượng.
Này
Hải Huệ thiện nam tử ! Thế nào gọi là tâm Bồ đề
ép mà chẳng hư hoại ?
Nầy
thiện nam tử ! Ép ấy là nói đại bi, duyên nơi tất
cả chúng sanh nối dòng Tam bửu chẳng cho đoạn tuyệt.
Vì Phật pháp mà trang nghiêm thiện căn ba mươi hai tướng
đại nhơn tám mươi hình đẹp và nghiêm tịnh thế giới.
Vì thủ hộ chánh pháp mà chẳng tiếc thân mạng.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu có bị các chúng sanh ác đánh đập mắng
nhiếc nhiễu hại đều nên nhịn chịu, cũng chẳng ghét bỏ
tất cả chúng sanh, trong lòng chẳng hối chẳng sầu chẳng
giận cũng chẳng báo hại, chỉ nên yên lặng nhẫn nhịn càng
thêm tinh tiến điều phục chúng sanh. Phải suy nghĩ như
vầy : là người ở trong Đại thừa phải trái khác thế tục,
tại sao, vì tất cả chúng sanh trong thế gian thì thuận theo
dòng sanh tử, tất cả chúng sanh trong thế gian thì mỗi mỗi
tranh tụng, còn pháp Đại thừa thì phá sự tranh đấu kiện
tụng, thế gian thì sân hận hại thù, còn pháp Đại thừa
thì diệt lòng thù giận, thế gian thì hư dối, còn pháp Đại
thừa thì chất trực chơn thiệt. Giả sử mười phương
thế giới có các chúng sanh cầm dao gậy rượt đuổi Bồ
Tát mà bảo rằng ai phát tâm Bồ đề thì ta sẽ chặt bằm
thân thể nát nhừ như hột mè, dầu gặp sự ác hại như
vậy mà Bồ Tát vẫn chẳng thối chuyển tâm Bồ đề, cũng
chẳng rời bỏ tất cả hạnh lành từ bi, hỉ xả, bố thí,
trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí huệ.
Tại sao vậy, vì Bồ Tát suy nghĩ rằng ta từ quá khứ trong
vô lượng vô biên kiếp thọ nhiều đời rất khổ trong các
địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ, Nhơn Thiên, các thân trong lục
đạo ấy làm những việc ác chẳng lợi ích mình mà cũng
chẳng lợi ích cho người, làm ác thọ khổ rất lớn ở lục
đạo trong vô lượng vô biên đời như vậy mà còn chịu được,
huống là nhẫn chịu sự khổ để tăng trưởng pháp lành
lợi ích mình lợi ích cho người, nên ta quyết định chẳng
rời bỏ tâm Bồ đề dầu phải bị ác hại trong vô lượng
vô biên đời. Bồ Tát lại nghĩ rằng lúc người thật
hành pháp lành thì phần nhiều có ác pháp đến làm trở ngại
nếu ta không nhẫn chịu thì làm sao thật hành các pháp lành
được. Người ban ta sự ác hại ta cho người lợi lành.
Người ban ta dao gậy chém đập ta cho người vô thượng nhẫn
nhục. Nếu đại Bồ Tát suy nghĩ được như vậy thì
phải biết chẳng lâu sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác. Bồ Tát suy nghĩ như vậy thì có thể nhẫn chịu
được ba sự ép nơi thân khẩu và ý.
Thế
nào là ép thân ? Bồ Tát lúc thân thể bị chém đập
thì y theo pháp mà thuận với người ác ấy để thành tựu
đầy đủ sáu Ba la mật. Thế nào là Bồ Tát bị đập
chém mà được đầy đủ sáu Ba la mật ? Nếu lúc Bồ
Tát bị chém đập chẳng tiếc thân mạng đó là đầy đủ
Đàn na Ba la mật, với người ác ấy tu tập từ tâm chẳng
giận thù đó là đầy đủ Thi Ba la mật, chẳng đem sự tổn
hại độc ác để đáp trả lại người ác ấy đó là sằn
đề Ba la mật, vì các chúng sanh mà siêng tu tinh tiến trọn
chẳng rời bỏ tâm Bồ đề đó là đầy đủ Tỳ lê gia Ba
la mật, lúc bị hại như vậy mà tâm không loạn động chẳng
mất chánh niệm tâm ý thanh tịnh đó là Thiền na Ba la mật,
quán thân vô thường khổ vô ngã như cỏ cây ngói đá đó
là đầy đủ Bát nhã Ba la mật, vì đầy đủ sáu Ba la mật
rồi ép mà chẳng hư hoại Bồ đề tâm, đây gọi là ép thân.
Thế
nào là ép miệng ? Nhịn chịu tất cả lời ác mắng
nhục hoặc chẳng thiệt, chỉ tự trách mình phiền não kiết
sử chẳng hề oán ghét người, vì các chúng sanh mà tu tập
từ bi. Lúc đại Bồ Tát tu tập nhịn chịu lời mắng
nhục như vậy thì đầy đủ sáu Ba la mật. Lúc ấy đại
Bồ Tát nghĩ rằng người này vì xan tham mà gần kề ác hữu
nên có ác tâm ấy, ta vì phá tâm xan tham tu tập bố thí gần
kề thiện hữu nên nay ta có thể bỏ tâm giận hờn thù ghét
đó là đầy đủ Đàn na Ba la mật. Lúc ấy đại Bồ
Tát nghĩ rằng người nầy không tin nghiệp quả phá giới
mắng chửi ta, còn ta tin nghiệp quả thọ trì tịnh giới tu
vững tâm Bồ đề hộ trì chánh pháp tùy thuận chúng sanh
đó là đầy đủ Thi Ba la mật. Lúc ấy đại Bồ Tát
nghĩ rằng người này giải đãi chẳng tu tập pháp lành nên
có ác tâm mắng nhiếc ta, còn ta siêng tu tinh tiến các pháp
lành bỏ rời tâm sân, nơi pháp lành ta chẳng hề nhàm đủ,
nay ta nên lập phương tiện cho người này trước ngồi dưới
cội Bồ đề rồi sau ta mới thành quả Bồ đề đó là đầy
đủ Tinh tiến Ba la mật. Lúc ấy đại Bồ Tát nghĩ rằng
người nầy thất niệm cuồng loạn phóng dật bị phiền não
ô nhiễm nên sanh ác tâm mắng nhiếc ta, nay ta phá hoại tất
cả phiền não vì các ác chúng sanh nầy mà vững phát tâm
Bồ đề, nếu các chúng sanh đếu thanh tịnh cả thì còn có
nhơn duyên gì mà ta phát tâm Bồ đề, vì vậy nên chuyên tâm
duyên niệm Bồ đề tâm chẳng loạn động đó là đầy đủ
Thiền Ba la mật. Lúc ấy đại Bồ Tát lại nghĩ rằng
người nầy chấp ngã ngã sở chúng sanh thọ mạng sĩ phu,
còn ta thì y dựa pháp giới trong pháp giới ai mắng ai chịu
cũng chẳng thấy có một pháp nào là mắng là kẻ mắng đó
là đầy đủ Bát nhã Ba la mật. Lúc bị người mắng
nhiếc nhục mạ mà có thể chí tâm thọ trì tu hành năm Ba
la mật như vậy thì đồng thời đầy đủ Nhẫn Ba la mật.
Đây gọi là ép khẩu.
Thế
nào là ép ý ? Bồ Tát phát Bồ đề tâm chẳng sợ chúng
ma mà thối tâm, chẳng sợ tất cả chúng tà kiến dị kiến
mà thối tâm, chẳng sợ những sự đau khổ nơi địa ngục
súc sanh ngạ quỷ mà thối tâm, nếu thấy có hình tượng
Phật đến bảo rằng ngươi chẳng có khả năng phát tâm Bồ
đề đạo Bồ đề rất khó tu khó được chẳng bằng ngươi
sớm tu pháp Thanh Văn thừa mau chứng Niết bàn hưởng an lạc
lớn, nghe lời trên đây Bồ Tát liền nghĩ rằng đạo Bồ
đề hoặc khó hay dễ ta vẫn vững tâm chẳng thối ta quyết
tự có khả năng sẽ đến ngồi tòa kim cương dưới cội
Bồ đề, trước kia ta vì tất cả chúng sanh mà phát tâm nguyện
sẽ đem pháp Đại thừa vô thượng ban cho họ nay sao ta lại
khi dối họ mà thối tâm, ta phải tuỳ thuận tâm chư Phật
chịu đựng những sự ép tâm ép ý như vậy giữ vững tâm
đại Bồ đề càng thêm tinh tiến tu tập đạo vô thượng
để khỏi khi phụ chư Phật nhơn thiên đại chúng và với
chính mình, đây gọi là ép tâm ý".
Muốn
tuyên lại nghĩa nầy đức Thế Tôn nói kệ rằng :
Hướng
đến Bồ đề tâm chẳng hoại
Đại
từ đại bi cũng chẳng hư
Cũng
chẳng đoạn tuyệt dòng Tam bửu
Vô
lượng trang nghiêm vì Bồ đề
Vì
được thập lực tứ vô úy
Ba
mươi hai tướng tám mươi tốt
Trong
vô lượng đời bố thí của
Cũng
chịu các thứ khổ não lớn
Vì
được Tam bửu các công đức
Nên
trì chánh pháp vì chúng nói
Vì
độ chúng sanh khỏi sanh tử
Do
đó chịu được các sự khổ
Mười
phương thế giới ác chúng sanh
Cầm
nắm dao gậy chém đập tôi
Trọn
chẳng động tâm vững Bồ đề
Vì
thương tất cả chúng sanh vậy
Trong
vô lượng đời chịu khổ não
Mà
chẳng lợi mình chẳng lợi người
Nay
tôi nhẫn khổ được lợi ích
Cũng
được vô lượng Phật công đức
Vì
công đức Phật mà nát thân
Như
hạt mè nhỏ lòng chẳng hối
Cũng
chẳng thối tâm đại Bồ đề
Chịu
nhiều đau khổ vì Phật pháp
Đi
đứng ngồi nằm nhớ Bồ đề
Nội
tâm tịch tĩnh lìa phiền não
Không
hế sanh lòng giận ghét người
Chỉ
nên xét trách mình không trọn
Trong
ba ác đạo chịu nhiều khổ
Vì
các chúng sanh cầu Phật đạo
Chẳng
cầu Nhơn thiên với Nhị thừa
Đành
cam chịu khổ vì chúng sanh
Ở
trong loài người chịu khổ não
Chẳng
bằng phân ngàn của địa ngục
Dầu
chịu khổ lớn ba ác đạo
Cũng
chẳng thối thất tâm Bồ đề
Quán
thân vô thường và vô ngã
Tánh
thân tứ đại như rắn độc
Chí
tâm buông bỏ thân độc nầy
Hay
được trí huệ đạo vô thượng
Lưu
chuyển lục đạo chịu nhiều khổ
Do
chẳng quán xét thân chơn thiệt
Bồ
Tát hay quán thân chơn thiệt
Do
đây lìa hẳn các khổ não
Lúc
làm điều ác ít trở ngại
Còn
tu pháp lành nhiều chướng nạn
Chư
Phật Thế Tôn chứng biết tôi
Nên
tôi vui lòng chịu đựng khổ
Tôi
nay nhẫn được khổ hại ấy
Thân
khẩu và ý khổ vô lượng
Do
duyên cớ nầy tâm Bồ đề
Bị
ép đè cũng chẳng lay động
Xả
thân có đủ Ba la mật
Với
thân chẳng tham là Đàn na
Với
người ác hại có tâm từ
Đây
là có đủ trì giới độ
Chém
thân nhẫn chịu không hề giận
Có
đủ Nhẫn nhục Ba la mật
Lúc
thân bị khổ tâm không động
Đây
là đầy đủ Tỳ lê gia
Vững
tâm Bồ đề vui tịch tĩnh
Thiền
Ba la mật do đầy đủ
Quán
thân vô ngã vô ngã sở
Bát
nhã do đây được đầy đủ
Nếu
ta làm được trang nghiêm nấy
Chẳng
lâu chắc được Vô thượng đạo
Nếu
ta chẳng dứt ác khẩu nghiệp
Làm
sao phá hoại các phiền não
Nếu
ta điều phục thân khẩu ý
Thì
hay nhẫn được các khổ não
Hay
phá tất cả các chúng ma
Với
các tà ác ta chẳng động
Nếu
muốn đủ sáu Ba la mật
Phật
vô sở úy và thập lực
Có
được vô thượng vô giá bửu
Nên
học điều phục thân khẩu ý.
Nầy
thiện nam tử Hải Huệ ! Thế nào gọi là xỏ tâm Bồ đề
?
Bồ
Tát đã phát tâm Bồ đề rồi thì trọn chẳng sanh lòng tương
tợ ngã mạn, chẳng trụ trước Bồ đề tâm, chẳng tham Bồ
đề tâm, chẳng ái Bồ đề tâm, chẳng quán Bồ đề tâm.
Được như vậy thì làm cho tâm tịch tĩnh quán thâm pháp
giới quán pháp chư Phật. Thâm pháp giới ấy là thập
nhị nhơn duyên xa lìa nhị biên, tất cả các pháp tánh nó
tự không có ngã, quán nơi ngã tánh tất cả pháp tánh rỗng
không không có chủ an trụ nơi không tam muội, vô tướng tam
muội, vô nguyện tam muội. Biết các hành pháp không bị
tạo tác, quán sắc ấm như bọt nước, thọ ấm như bong bóng
nước, tưởng ấm như dương diệm, hành ấm như thân cây
chuối, thức ấm như ảo huyễn. Quán thập bát giới
không có tạo tác không có động diêu. Quán lục nhập
như điếc như đui tâm không có tạm dừng ở. Kiết sử
kiêu mạn không có chỗ phát sanh. Tất cả các pháp không
có hai không có phân biệt là nhứt vị, nhứt thừa, nhứt
đạo, nhứt nguyện. Quán tất cả âm thanh không có tướng
âm thanh, tất cả âm thanh đều có thứ đệ chẳng hiệp nhau.
Tất cả các pháp chẳng thể tuyên nói được. Biết
rõ tướng khổ quả, tập nhơn không có ngã sở, nơi diệt
đế chẳng tăng giảm, biết đạo đế rốt ráo không có chướng
ngại. Quán thân niệm xứ, biết khứ lai thọ, niệm tâm
sanh diệt, biết rõ pháp giới. Quán pháp giới chẳng
phải giới nên tu tứ chánh cần, vì muốn tự tại nên tu
tứ như ý, lìa các phiền não gọi là tín căn, ưa thích tịch
tĩnh gọi là tinh tiến căn, vì chẳng phải có niệm nên gọi
là niệm căn, vì chẳng phải tư duy nên gọi là định căn,
xa lìa tất cả gọi là huệ căn. Vì chẳng tuỳ theo người
nên gọi là tín lực, vì không có chướng ngại nên gọi là
tinh tiến lực, vì chẳng thối chuyển nên gọi là niệm lực,
tâm được tự tại gọi là định lực, chẳng quán thiện
ác gọi là huệ lực. Vì chẳng phóng dật nên gọi là
niệm giác phần, vì nhập vào các pháp nên gọi là trạch
pháp giác phần, vì như pháp tu hành nên gọi là tinh tiến
giác phần, thân tâm tịch tĩnh gọi là trừ giác phần, vì
như pháp tu hành nên gọi là tinh tiến giác phần, vì xa lìa
ác nên gọi là hỷ giác phần, thân tâm tịch tĩnh gọi là
trừ giác phần, biết thiệt tam muội gọi là định giác phần,
chẳng thấy có hai gọi là xả giác phần. Xa lìa các
kiến chầp gọi là chánh kiến, lìa các giác quán gọi là
chánh tư duy, biết rõ các tánh âm thanh gọi là chánh ngữ,
thân khẩu và ý chẳng tham trước gọi là chánh nghiệp, lìa
tâm tật đố gọi là chánh mạng, chẳng tăng chẳng giảm
gọi là chánh tinh tiến, nơi thiện nơi bật thiện chẳng nhớ
nghĩ gọi là chánh niệm, quán các tâm giới gọi là chánh
định. Tánh thiệt tướng ấy tánh nó tịch tĩnh.
Về nghĩa rốt ráo ấy gọi là vô thường, là khổ, là vô
ngã, là giả danh, là thanh tịnh, là đại tịnh. Hay điều
tâm thì gọi là bố thí, thân tâm mát mẻ thì gọi là trì
giới, các pháp vô thường thì gọi là nhẫn nhục, siêng tu
trí ấy thì gọi là tinh tiến, nội ngoại thanh tịnh thì gọi
là chánh định, vì quán chơn thiệt nên gọi là trí huệ.
Biết tất cả chúng sanh tâm tánh vốn thanh tịnh đây gọi
là từ, quán tất cả pháp bình đẳng như hư không đây gọi
là bi, dứt tất cả hỉ đây gọi là hỉ tâm, xa lìa tất
cả hành đây gọi là xả tâm. Tất cả các pháp thuở
quá khứ nhiều thứ, thuở vị lai thanh tịnh, thuở hiện tại
không có ngã.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu có thể quán sát biết rõ được
các pháp như vậy đây gọi là xỏ Bồ đề tâm bửu.
Bồ Tát quán sát các pháp như vậy rồi thứ đệ được nhứt
thiết pháp tự tại đà la ni.
Nầy
thiện nam tử ! Như mặt nhựt nguyệt chẳng có tâm nghĩ
qua lại chiếu soi, do nơi thế lực phước đức của các chúng
sanh mà nó tự qua lại phá các tối tăm.
Cũng
vậy, đại Bồ Tát nếu có thể quán sát biết rõ các pháp
như vậy thì chẳng có suy nghĩ rằng tôi sẽ làm lợi ích
vô lượng chúng sanh mà làm cho chúng sanh được lợi ích lớn.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu đại Bồ Tát có thể quán sát được
như vậy thì gọi là Thiền Ba la mật và Bát Nhã Ba la mật.
Tại sao, vì nhập định mới có thể quán sát được như
vậy mà tâm tán loạn thì chẳng thể được. Định ấy
là Thiền Ba la mật và quán ấy là Bát Nhã Ba la mật.
Như vậy mới có thể quán sát chơn thiệt thấy rõ ràng tất
cả pháp tướng. Thế nào gọi là thấy rõ tất cả pháp
tướng ?
Tất
cả pháp tướng ấy gọi là tướng không có tướng.
Nói không có tướng ấy là vô tác, chính vô tác nầy gọi
là tướng. Nếu có thể dứt hẳn vô tướng như vậy
thì gọi là tướng không có tướng.
Lại
vô tướng ấy gọi là tướng vô sanh, tướng không có tướng
ấy gọi là tướng vô diệt. Vô sanh vô diệt gọi là
tướng không có tướng không có tướng. Nếu thấy vô
sanh, vô diệt, vô trụ, vô nhứt, vô nhị, vô sanh, vô tranh,
vô hữu bất động bất chuyển, biết rõ pháp tánh, đây gọi
là chơn tánh là pháp tánh là thiệt tánh.
Nầy
thiện nam tử ! Nếu đại Bồ Tát chơn thiệt biết các
pháp như vậy thì gọi là trụ chẳng phải trụ".
Lúc
đức Thế Tôn nói pháp ấy có mười hai na do tha chúng sanh
phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, một vạn sáu
ngàn vị Thiên tử được vô sanh nhẫn. Muốn tuyên lại
nghĩa ấy đức Thế Tôn nói kệ rằng :
Hay
phá tất cả các pháp tướng
Thanh
tịnh tâm Vô thượng Bồ đề
Thì
được chẳng chấp tất cả pháp
Thấy
rõ các pháp giới thậm thâm
Cũng
chẳng kinh sợ nơi Niết bàn
Do
vì chẳng sợ nơi nhơn duyên
Thì
hay tăng trưởng các Phật pháp
Tin
rõ nơi nhơn và quả báo
Mười
hai nhơn duyên cũng tin rõ
Xa
lìa nhị biên kiến đoạn thường
Tuỳ
ý vì người nói chánh pháp
Nơi
thường vô thường tâm chẳng trước
Lại
hay diễn nói nơi trung đạo
Biết
tất cả pháp lành là tánh không
Không
có chúng sanh không thọ mạng
Tất
cả các pháp không vô tướng
Lại
cũng không có thứ đệ sanh
Tánh
nó bổn lai thường tịch tĩnh
Không
có năng tác như hư không
Chẳng
thấy tất cả các pháp tướng
Biết
hiểu rõ ràng không có tánh
Xem
sắc và thọ như bọt bóng
Tưởng
và hành như diệm chuối cây
Tâm
như ảo huyễn tứ đại không
Lục
nhập thấy như kẻ mù điếc
Còn
xem tâm ý không nội ngoại
Tâm
không trụ xứ giới không hai
Chẳng
trước các pháp sắc sắc tướng
Dầu
biết thấy rõ không kiêu mạn
Xem
tất cả pháp đều bình đẳng
Một
vị một thừa một đạo nguồn
Hay
biết chơn thiệt nghĩa như vậy
Rành
rõ hay quán các pháp giới
Không
có âm thanh hay quán thanh
Không
có tâm ý hay quán tâm
Không
có văn tự hay quán văn tự
Đây
là chơn thiệt biết pháp giới
Tất
cả pháp nghĩa chẳng nói được
Âm
thanh văn tự chẳng nói được
Chơn
thiệt biết khổ tập diệt đạo
Đầy
đủ nhiếp tâm tứ niệm xứ
Nơi
các pháp giới không phân biệt
Tâm
ấy hay được đại tự tại
Xa
lìa tất cả các phiền não
Tu
tứ chánh cần chuyên tinh tiến
Vì
được vô lượng đại tự tại
Tâm
siêng tu tập tứ như ý
Nơi
tất cả pháp chẳng tham trước
Vì
pháp như vậy tu tín căn
Thường
thích an trụ đại tịch tĩnh
Vì
vậy tu tập tinh tiến căn
Tâm
không niêm lự biết chơn thiệt
Vì
vậy tu tập chánh niệm căn
Hay
điều phục được các tâm tưởng
Vì
vậy tu tập chánh định căn
Vì
hay quán sát các pháp giới
Vì
vậy tu tập trí huệ căn
Vì
muốn biết rõ các pháp giới
Vì
vậy tu tập thất giác phần
Chẳng
quán các pháp số một hai
Vì
vậy tu tập bát chánh đạo
Hay
đem của cải thí tùy ý
Cũng
hay tùy ý thọ trì giới
Còn
hay thanh tịnh nội và ngoại
Đây
thì gọi là đại thần thông
Tất
cả các pháp bổn tánh tịnh
Vì
vậy tu tập đại từ bi
Dứt
tất cả hỉ các phiền não
Vì
vậy tu tập tâm hoan hỷ
Tất
cả các pháp bổn tánh tịnh
Khứ
lai hiện tại cũng thanh tịnh
Nếu
quán các pháp không sanh diệt
Đây
là trí huệ chơn thiệt biết.
Nầy
Hải Huệ ! Bồ Tát được tịnh đại tịnh ấy rồi,
thì tâm ấy chơn thiệt không có khi dối, với các chúng sanh
bình đẳng không có hai được chơn thiệt trí cứu cánh đại
trí tịnh ấn tam muội an trụ trong tịnh ấn tam muội căn
bổn.
Sao
gọi là tam muội căn bổn ?
Vì
tất cả chúng sanh mà tu đại từ bi, dầu được cúng dường
mà tâm không có cao, dầu bị giận hờn hủy nhục mà tâm
không có hạ. Vì tâm không có hạ thì hay sanh được
bất kiêu pháp tánh và bất kiêu danh tự cũng chẳng sanh tương
tự ngã mạn, thân khẩu ý ba nghiệp đều tùy trí huệ sanh,
do đây mà tất cả sự việc được làm đều tùy trí huệ
hành.
Thế
nào là Bồ Tát thân nghiệp tùy trí mà được ? Thân
hình Bồ Tát thù thắng vi diệu, chúng sanh thấy được thì
liền điều phục, bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi cũng hay
điều phục chúng sanh, rời lìa những lầm lỗi những cong
vạy những cặn bã nơi thân, thân ấy thanh tịnh tướng hảo
trang nghiêm đầy đủ các căn không có thiếu sót, chẳng cậy
thân ấy mà sanh kiêu mạn, thấy người thân kém thua thì tâm
cũng chẳng khinh, đối với thân của mình tâm không tham trước,
quán sát thân pháp giới cùng nghiệp dụng của thân.
Biết rõ thân này rồi niệm tưởng pháp thân mà chẳng cầu
thực thân, dùng định lực làm món ăn mà vì điều phục
chúng sanh nên thị hiện nhận lấy sự cúng thí, thường tu
Thánh hạnh ủng hộ chánh pháp, tất cả sở hành đều rời
lìa tham dục sân khuể ngu si. Đại Bồ Tát đầy
đủ thân nghiệp tùy trí như vậy thì được đại thần thông
lực và vô sở úy lực. Do nơi lực ấy mà hiện thân
mình khắp các Phật độ, như thân được hiện ở thế giới
này, ở các thế giới mười phương cũng hiện thân như vậy,
phóng đại quang minh chiếu suốt khắp mười phương thế giới,
ánh sáng ấy dịu mát chúng sanh nào được gặp thì lìa rời
các phiền não, đã rời lìa phiền não rồi thì nội tâm khoan
khoái an vui. Đây gọi là Bồ Tát thân nghiệp tùy trí.
Thế
nào là Bồ Tát khẩu nghiệp tùy trí ?
Đó
là xa lìa sáu mươi bốn thứ khẩu nghiệp ác, những là lời
thô, lời trược, lời phi thời, lời vọng, lời lậu, lời
cao, lời đại, lời khinh, lời phá, lời bất liễu, lời tán,
lời cúi, lời ngửa, lời lầm, lời ác, lời sợ, lời xin,
lời tranh, lời nịnh, lời phỉnh, lời não, lời khiếp, lời
tà, lời tội, lời câm, lời xơi, lời đốt, lời địa ngục,
lời hư, lời mạn, lời khi, lời ghét, lời kể tội lỗi,
lời có lỗi, lời biệt ly, lời thêm ác, lời đâm chọc,
lời vô nghĩa, lời không giữ gìn, lời mừng, lời cuồng,
lời sát, lời hại, lời trói, lời nhốt, lời buộc, lời
đánh, lời ca, lời phi pháp, lời tự khen, lời kể lỗi người,
lời hủy báng Tam bảo v.v. Đại Bồ Tát xa lìa những
khẩu nghiệp ác như vậy thì lúc có nói là những lời thiệt,
lời chơn, lời giải thoát, lời đúng, lời đế lý, lời
lợi ích người, lời thuận lòng người thiệt hay chẳng thiệt,
lời người ưa nghe, lời đủ tất cả âm thanh, lời đủ
tất cả lời, lời làm căn chúng sanh thanh tịnh, lời làm
cho chúng sanh lìa phiền não, lời Phật ngữ, lời cam lộ,
lời được nghe khắp mười phương thế giới, lời làm cho
chúng sanh lìa hẳn khổ não, lời nói nghĩa thậm thâm, lời
điều chúng sanh, lời khiến chẳng tạo ác, v.v. Đây
gọi là Bồ Tát khẩu nghiệp tùy trí.